1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ Năng Quản Lý Cảm Xúc Của Học Sinh Trung Học Cơ Sở Trong Giao Tiếp Với Cha Mẹ

113 192 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến các phản ứng mạnh mẽ ở các em như: vô lễ hoặc thậm chí là bỏ nhà đi, sử dụng các chất kích thích, các chất gây nghiện, tụ tập với các nhóm bạn ngoà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Thành Đạt

KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

TRONG GIAO TIẾP VỚI CHA MẸ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Thành Đạt

KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

TRONG GIAO TIẾP VỚI CHA MẸ

Chuyên ngành : Tâm lí học

Mã ngành : 60310401

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS LÊ THỊ MINH HÀ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả

Lê Thành Đạt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập, nghiên cứu nhằm hoàn thành luận văn này tôi xin bày

tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:

Giáo viên hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Thị Minh Hà – Trường Đại học Văn Lang

Các thầy, cô giáo khoa Tâm lí học, phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học

và thực hiện luận văn

Bên cạnh đó, sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Do kiến thức và thời gian còn hạn chế, luận văn còn nhiều khiếm khuyết Tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô để luận văn hoàn thiện hơn

Tác giả

Lê Thành Đạt

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG GIAO TIẾP VỚI CHA MẸ 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc 8

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 8

1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 16

1.2 Lý luận về kỹ năng quản lý cảm xúc ở tuổi THCS trong giao tiếp với cha mẹ 18

1.2.1 Kỹ năng quản lý cảm xúc 18

1.2.2 Học sinh THCS và hoạt động giao tiếp của HS THCS trong giao tiếp với cha mẹ 35

1.2.3 Kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS trong giao tiếp với cha mẹ 39

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của HS THCS trong giao tiếp với cha mẹ 41

1.3.1 Yếu tố chủ quan 41

1.3.2 Yếu tố khách quan 43

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA HỌC SINH THCS TRONG GIAO TIẾP VỚI CHA MẸ 46

2.1 Thể thức và phương pháp nghiên cứu 46

Trang 6

2.1.1 Mục đích nghiên cứu 46

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.1.3 Khái quát về khách thể nghiên cứu 51

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS trong giao tiếp với cha mẹ 52

2.2.1 Học sinh tự đánh giá khả năng quản lý cảm xúc của bản thân trong giao tiếp với cha mẹ 52

2.2.2 Các lĩnh vực học sinh THCS thường không quản lý được cảm xúc của mình 53

2.2.3 Các lĩnh vực học sinh THCS thường không quản lý được cảm xúc của mình theo giới tính 56

2.2.4 Các lĩnh vực học sinh THCS thường không quản lý được cảm xúc của mình theo lớp 58

2.2.5 Biểu hiện kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS trong giao tiếp với cha mẹ 61

2.2.6 So sánh kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS trên một số phương diện 71

2.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS trong giao tiếp với cha mẹ 78

2.2.8 Mức độ mong muốn được học tập kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS trong giao tiếp với cha mẹ 80

2.3 Một số biện pháp nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS 81

2.3.1 Nâng cao nhận thức học sinh về cảm xúc 81

2.3.2 Thực hành quản lý cảm xúc 81

Tiểu kết chương 2 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cách quy điểm các câu hỏi có ba mức độ lựa chọn 47

Bảng 2.2 Cách quy điểm các câu hỏi có năm mức độ lựa chọn 48

Bảng 2.3 Cách quy điểm đối với các tình huống 48

Bảng 2.4 Cách quy điểm trung bình các câu hỏi có ba mức độ lựa chọn 49

Bảng 2.5 Cách quy điểm trung bình các câu hỏi có năm mức độ lựa chọn 49

Bảng 2.6 Cách quy điểm cho mức độ kỹ năng QLCX của học sinh THCS trong giao tiếp với cha mẹ 50

Bảng 2.7 Khái quát về khách thể nghiên cứu 51

Bảng 2.8 Tự đánh giá của học sinh về kỹ năng quản lý cảm xúc của bản thân 52

Bảng 2.9 Các lĩnh vực học sinh THCS thường không quản lý được cảm xúc của mình trong giao tiếp với cha mẹ 53

Bảng 2.10 Các lĩnh vực học sinh THCS thường không quản lý được cảm xúc của mình theo giới tính 56

Bảng 2.11 Các lĩnh vực học sinh THCS thường không quản lý được cảm xúc của mình theo lớp 58

Bảng 2.12 Biểu hiện của kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS trong giao tiếp với cha mẹ 61

Bảng 2.13 Kỹ năng nhận biết cảm xúc của học sinh THCS qua tự đánh giá 63

Bảng 2.14 Kỹ năng nhận biết cảm xúc của học sinh THCS qua tình huống 65

Bảng 2.15 Kỹ năng hiểu cảm xúc của học sinh THCS qua tự đánh giá 66

Bảng 2.16 Kỹ năng hiểu cảm xúc của học sinh THCS qua tình huống 67

Bảng 2.17 Kỹ năng điều khiển cảm xúc của học sinh THCS qua tự đánh giá 68

Bảng 2.18 Kỹ năng điều khiển cảm xúc của học sinh THCS thông qua các tình huống giao tiếp với cha mẹ 69

Bảng 2.19 So sánh kỹ năng điều khiển cảm xúc của học sinh THCS qua tự đánh giá với bài tập tình huống 71

Bảng 2.20 So sánh kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS theo giới tính 72

Trang 9

Bảng 2.21 So sánh kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS theo khối

lớp 75 Bảng 2.22 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh

THCS trong giao tiếp với cha mẹ 78 Bảng 2.23 Mức độ mong muốn được học tập kỹ năng quản lý cảm xúc của

học sinh THCS 80

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Biểu hiện của kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS

trong giao tiếp với cha mẹ 61 Biểu đồ 2.2 Kỹ năng quản lý cảm xúc theo giới tính 73 Biểu đồ 2.3 Kỹ năng quản lý cảm xúc theo khối lớp 76

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với cuộc sống hiện đại ngày nay, vai trò của cảm xúc ngày càng được xem trọng hơn trong tất cả các lĩnh vực Cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tác động mạnh mẽ đến hiệu quả công việc, học tập, khả năng sáng tạo của con người Thật vậy, có vô vàn những tình huống dẫn đến hàng loạt cảm xúc nảy sinh Đó là, chúng ta có lúc vui, buồn, giận dữ,

sợ hãi, xấu hổ,…

Như một quy luật tất yếu của tự nhiên, cái gì cũng có hai mặt, và cảm xúc cũng không ngoại lệ Một mặt, cảm xúc có thể làm nền tảng cho sự thúc đẩy cá nhân làm việc hiệu quả hơn, mặc khác, nếu không được định hướng đúng đắn thì dù cảm xúc tích cực hay tiêu cực cũng dễ dẫn cá nhân đến những sai lầm mù quáng

Lứa tuổi dậy thì là lứa tuổi có nhiều biến động nhất trong đời Ở Việt Nam, lứa tuổi dậy thì rơi vào giai đoạn học sinh THCS Hoạt động chủ đạo của giai đoạn này là hoạt động giao lưu bạn bè Sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh THCS là một hoạt động đặc biệt, mà đối tượng của hoạt động này là người khác – người bạn, người đồng chí, với cái nhìn của lứa tuổi này thì đó

là người “anh em, huynh đệ”

Trong giao tiếp với cha mẹ, các em cũng có sự biến đổi lớn, nhu cầu cần được thừa nhận và tôn trọng ngày càng cao hơn

Ở học sinh THCS, các em có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn có mối quan hệ bình đẵng với người lớn, không muốn người lớn coi nó như trẻ con mà phải tôn trọng nhân cách, phẩm giá, tin tưởng và cho các em quyền độc lập trong các hoạt động hàng ngày

Trong mối quan hệ với người lớn, các em có những hình thức chống đối, không phục tùng, cố ý làm sai yêu cầu của người lớn Tuy nhiên không

Trang 12

phải người lớn đều nhận thức được nhu cầu này của các em, nên điều này là nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa các em với cha mẹ

Các em luôn muốn có quyền độc lập trong tất cả các công việc hàng ngày, cũng như trong học tập, nhưng không phải lúc nào cũng được đáp ứng Tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến các phản ứng mạnh mẽ ở các em như:

vô lễ hoặc thậm chí là bỏ nhà đi, sử dụng các chất kích thích, các chất gây nghiện, tụ tập với các nhóm bạn ngoài xã hội,…

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp của học sinh và sinh viên, nhưng có rất ít các công trình nghiên cứu về việc quản lý cảm xúc trong mối quan hệ giữa học sinh THCS và cha mẹ

Chính vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Kỹ

năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở trong giao tiếp với cha mẹ”

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ

sở trong giao tiếp với cha mẹ và các yếu tố ảnh hưởng Từ đó, đề xuất một số biện pháp nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trong giao tiếp với cha mẹ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài:

+ Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

+ Các vấn đề liên quan tới cảm xúc, kỹ năng, kỹ năng quản lý cảm xúc

- Khảo sát thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ

sở trong giao tiếp với cha mẹ Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh THCS trong giao tiếp với cha mẹ

Trang 13

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Học sinh ở một số trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở trong giao tiếp với cha mẹ

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

5.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu một số kỹ năng liên quan tới cảm xúc của học sinh trung học cơ sở: kỹ năng nhận biết cảm xúc, kỹ năng hiểu cảm xúc và kỹ năng điều khiển các cảm xúc của mình với người khác

5.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở trung giao tiếp với cha mẹ tại ba trường: trường Trung học cơ

sở Trần Quốc Toản (quận Bình Tân), trường Trung học cơ sở Nguyễn Văn Linh (huyện Bình Chánh) và trường Trung học cơ sở Phú Thọ (Quận 11), đại diện cho các khu vực ngoại thành và khu vực nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh

6 Giả thuyết khoa học

Kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở trong giao tiếp với cha mẹ ở mức trung bình Trong đó, kỹ năng nhận biết cảm xúc tốt hơn các kỹ năng còn lại

Kỹ năng quản lý cảm xúc trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan (sự thay đổi tâm sinh lý lứa tuổi dậy thì, hoạt động cá nhân) và yếu tố khách quan (phong cách giáo dục gia đình, bạn

bè, ảnh hưởng của phương tiện truyền thông )

Trang 14

Kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh Trung học cơ sở trong giao tiếp với cha mẹ có sự khác biệt ý nghĩa giữa các khối lớp

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

a Mục đích

Phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm mục đích:

- Hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan tới:

+ Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi trung học cơ sở

+ Các vấn đề về cảm xúc, quản lý cảm xúc, kỹ năng quản lý cảm xúc, giao tiếp ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở Bên cạnh đó, làm rõ các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở

- Dựa vào kết quả tổng hợp của phần lý luận, xác định các yếu tố cần khảo sát là: kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở trong giao tiếp với cha mẹ Tìm hiểu một số yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở trong giao tiếp với cha mẹ

c Cách tiến hành

Trang 15

- Phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu lý luận là phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu Phương pháp này được thực hiện dựa trên

cơ sở đọc, phân tích, hệ thống hóa lý thuyết và các công trình nghiên cứu đã

có trước đây ở nước ngoài và trong nước về các vấn để liên quan đến kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở và việc giao tiếp của các em với cha mẹ

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

a Mục đích

Đây là phương pháp chính của đề tài, sử dụng bảng hỏi nhằm:

+ Thu thập ý kiến của học sinh để đánh giá thực trạng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở trong giao tiếp với cha mẹ và các vấn đề liên quan

b Nội dung

Trong nghiên cứu của mình chúng tôi sử dụng bảng hỏi để đánh giá nhận thức bản thân của học sinh Chúng tôi xây dựng các câu hỏi nhằm đánh giá về các yếu tố:

 Kỹ năng nhận biết cảm xúc, kỹ năng hiểu cảm xúc và kỹ năng điều khiển các cảm xúc của mình với người khác

 Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của các em với cha mẹ

 Mong muốn của học sinh về rèn luyện và nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc của bản thân mình trong giao tiếp với cha mẹ

c Cách tiến hành

Sử dụng bảng hỏi giấy với các câu hỏi đóng và câu hỏi mở để học sinh chọn các đáp án có sẵn về kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ

sở trong giao tiếp với cha mẹ tại Thành phố Hồ Chí Minh

7.2.2 Phương pháp bài tập tình huống giả định:

Trang 16

a Mục đích

Đây là phương pháp nghiên cứu sâu hơn, nhằm mục đích:

+ Thu thập những thông tin về việc xử lý các tình huống thường xuyên xảy ra trong môi trường gia đình của học sinh trung học cơ sở

b Nội dung

Chúng tôi xây dựng các câu hỏi tình huống cho các kỹ năng thành phần trong kỹ năng quản lý cảm xúc của học sinh trung học cơ sở trong giao tiếp với cha mẹ, bao gồm:

Đối với học sinh chúng tôi hỏi về tần suất các em rơi vào tình trạng không quản lý được cảm xúc trong giao tiếp với cha mẹ; khi đó các em có

Trang 17

biểu hiện như thế nào về mặt cảm xúc, hành vi; nguyên nhân dẫn đến cảm xúc

đó và cách của các em thường giải quyết trong các tình huống đó

c Cách thức tiến hành: Dự kiến trước hệ thống câu hỏi nhằm làm rõ những thông tin thu được, lắng nghe, ghi chép làm tài liệu

7.3 Phương pháp xử lý số liệu

a Mục đích

Xử lý các số liệu thu được ở phần điều tra chính thức để phục vụ cho việc phân tích kết quả

b Nội dung và cách thức tiến hành

Sau khi thu lại phiếu điều tra, chúng tôi sẽ loại bỏ các phiếu thiết sót thông tin khảo sát hoặc không hợp lệ nhằm đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu Sau đó, sử dụng phần mềm SPSS (Statistic Package for Social Science) phiên bản 24.0, làm sạch dữ liệu bằng cách lập bảng tần số cho tất cả các biến

8 Những đóng góp mới của đề tài

Đây là nghiên cứu đóng góp thêm cho lĩnh vực quản lý cảm xúc của lứa tuổi trung học cơ sở Ngoài ra, đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành trong việc tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề liên quan

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

TRONG GIAO TIẾP VỚI CHA MẸ

1.1 Tổng quan nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Những nghiên cứu cảm xúc

Cảm xúc đã và đang là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu trong tâm lý học

Có thể khái quát thành một số hướng chính:

Nghiên cứu cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý cá nhân

Nghiên cứu cảm xúc với tư cách là một động lực thúc đẩy cá nhân trong hoạt động và trong cuộc sống

Các nghiên cứu cảm xúc theo lứa tuổi

a Nghiên cứu cảm xúc với tư cách là một hiện tượng tâm lý cá nhân

Theo hướng này, có một số công trình và tác giả tiêu biểu như: L.X.Vưgotxki (1997), X.L Rubinxtein (1989), V.A Cruchetxki (1982), R.S.Fieldman (2003), Jo.Goderfroid (1998), Nicky Hayes (2005), Carrol E Izard (1992), Richard J Gerrig và Philip G.Zimbardo (2013), Trong những công trình này, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện, phân loại cảm xúc, nguồn gốc và sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm - sinh lí cá nhân đến cảm xúc

và ảnh hưởng của cảm xúc đến các hoạt động của cá nhân

Trong công trình “Những cảm xúc của người”, Carrol E Izard (1992) đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản về cảm xúc của cá nhân: cảm xúc là gì? Các loại cảm xúc, biểu hiện cảm xúc qua nét mặt, điệu bộ, mối quan hệ và ảnh hưởng của cảm xúc đến nhận thức, ý thức và hành vi của cá nhân v.v…

P.A Rudich (1986), trong cuốn “Tâm lý học” đã đề cập tới định nghĩa và đặc điểm cơ bản của cảm xúc, quan hệ giữa cảm xúc với nhu cầu, vai trò của cảm xúc trong đời sống của con người, cơ sở sinh lí của cảm xúc, những nét và biểu hiện bên ngoài của cảm xúc qua nét mặt

Trang 19

Stephen Worchel - Wayne Shebilsue (2007), trong tác phẩm “Tâm lý học (nguyên lí và sử dụng)”, đã đề cập tới hàng loạt vấn đề về cảm xúc, từ việc đi tìm một định nghĩa phổ biến về cảm xúc, đến việc giới thiệu hàng loạt thuyết tâm lý học

về cảm xúc như thuyết James - Langer về cảm xúc và cho rằng sự xuất hiện cảm xúc là kết quả của những tác động bên ngoài, của các thay đổi nội tại trong phạm vi vận động chú ý và không chú ý

Theo S Freud (2002) cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ các năng lượng tính dục, bản năng Tổng hợp những cảm giác gắn liền với những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc

Theo James, cảm xúc gắn với phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên còn Langer lại cho rằng cảm xúc với trạng thái phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu; Thuyết Canon-Bar; các thuyết về nhận thức, thuyết phản hồi của Tomkins (1962), sau đó được Izard và Ekman (1977), Friesen (1971) đào sâu và hiện vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu năng động…

b Nghiên cứu cảm xúc với tư cách là một động lực thúc đẩy cá nhân trong hoạt động và trong cuộc sống

Cảm xúc với tư cách là một động lực tâm lý được các nhà tâm lý học đề cập trong hầu hết công trình nghiên cứu tâm lý học cá nhân, tâm lý học phát triển Trong lĩnh vực này, tiêu biểu có các tác giả: B.Skinner (1953), S.Freud (2002), A.Maslow (1970), Carrol E.Izard (1992), Goderfroid (1998), Richard J Gerrig và Philip G.Zimbardo (2013), Nicky Hayes (2005), Helen Greathead (2007), James L.Gibson (2011), Daniel Goleman (2002, 2007),Virender Kapoor (2012),… Trong các công trình này, cảm xúc được nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động Vì vậy, vấn đề là làm thế nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân được tìm hiểu

Đối với Sigmund Freud (2002), ông quy kết cảm xúc vào trong lĩnh vực động

cơ vô thức, gắn với các yếu tố cơ thể và cần được thỏa mãn Còn theo B.Skinner và các nhà tâm lý học hành vi lại chú trọng tới khía cạnh tác động xã hội tới các hành

vi cảm xúc Theo đó, các hành vi cảm xúc của cá nhân được quyết định bởi các củng cố tích cực, tiêu cực hay sự trừng phạt (1953)

Trang 20

Trong nghiên cứu: “Tâm lý học và đời sống”, Richard J Gerrig và Philip G.Zimbardo nghiên cứu về các chức năng của cảm xúc đối với nhận thức và hành vi của cá nhân, trong đó nhấn mạnh đến chức năng động cơ hành động, chức năng điều chỉnh sự tương tác xã hội Cảm xúc được ví như chất keo kết dính xã hội hoặc

là tác nhân để cá nhân xa lánh, từ bỏ xã hội Đặc biệt, cảm xúc vừa là động lực vừa

là người dẫn đường cho các hoạt động nhận thức của cá nhân (2013)

c Các nghiên cứu cảm xúc theo lứa tuổi

Với hướng nghiên cứu này, sự phát triển cảm xúc được chia thành các giai đoạn và có các công trình nghiên cứu gắn liền với các giai đoạn này, đó là:

Nghiên cứu sự phát triển của cảm xúc ở giai đoạn trẻ sơ sinh và ấu thơ

Sự phát triển cảm xúc của trẻ ở giai đoạn tuổi nhi đồng

Sự phát triển cảm xúc của trẻ ở tuổi vị thành niên

Sự phát triển cảm xúc ở thanh niên và người lớn trưởng thành

(1) Nghiên cứu sự phát triển của cảm xúc ở giai đoạn trẻ sơ sinh và ấu thơ

Những nghiên cứu ở giai đoạn này có thể kể đến các tác giả: Lewis, Klein & Marshall, Emde, Gaensbauer, Harmon (1976), Hitchcock & Sullivan (2004), Jacob Gewirtz (1977), Mary Ainsworth (1979), John Bowlby, Sroufe và Waiters (1976),

MC Clintic (1992), Denham (1998), Thompson,…

Những nghiên cứu của Lewis hướng tới những thay đổi trong giai đoạn đầu tiên của sự phát triển trong tình cảm, được thể hiện ở hai nhóm cảm xúc chính, đó là cảm xúc nền tảng và cảm xúc tự ý thức Cảm xúc nền tảng là xuất hiện trong 6 tháng đầu đời còn cảm xúc tự ý thức được xuất hiện khoảng từ 18 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi (Lewis, 2002)

Các nghiên cứu về khả năng giao tiếp bằng cảm xúc của trẻ được thể hiện qua các cung bậc khác nhau: khóc, cười, sợ,…

Chẳng hạn, nghiên cứu về “Khóc” của Klein & Marshall (1992); các nghiên cứu về “cười” của Emde, Gaensbauer, Harmon (1976); các nghiên cứu về sự “Sợ” của Emde, Gaensbauer, & Harmon (1976) Các nghiên cứu này đã phát hiện khá nhiều điều thú vị về cảm xúc của trẻ sơ sinh

Trang 21

Nhà hành vi học John Watson (1928) cho rằng cha mẹ dành quá nhiều thời gian phản ứng với trẻ sơ sinh khóc, điều đó giống như phần thưởng với trẻ và càng làm tăng tỷ lệ khóc của trẻ

Nghiên cứu của Jacob Gewirtz vào năm 1977 cho thấy, sự đáp ứng nhanh chóng, nhẹ nhàng của người chăm sóc càng làm trẻ tăng số lần khóc Ngược lại, các nghiên cứu Mary Ainsworth (1979) và John Bowlby (1989) về trẻ sơ sinh cho rằng, trẻ sơ sinh được mẹ trả lời nhanh chóng khi chúng đã khóc lúc 3 tháng tuổi đã khóc

ít hơn ở giai đoạn sau này trong năm đầu tiên của cuộc sống (Ainsworth, 1972) Một hướng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là nghiên cứu về việc điều chỉnh cảm xúc trong năm đầu tiên của trẻ, bao gồm: Eisenberg (2001) Spinrad (2004), Thompson (1994), Grolnick (1996) Theo Kopp và Neufeld (2002), đến hai tuổi, trẻ có thể sử dụng ngôn ngữ để xác định trạng thái cảm xúc của mình và những yếu tố gây khó chịu

Nghiên cứu của Harter vào năm 1999, cho thấy trẻ bắt đầu nhận thấy sự xuất hiện của những cảm xúc tự ý thức như xấu hổ, tội lỗi, bối rối và tự hào từ khi 3 tuổi Trong các nghiên cứu của Stipek năm 1995 cho thấy trẻ ở tuổi trước khi đến trường đánh giá thành tích của của chúng và phản ứng cảm xúc đối với thành công và thất bại, biểu hiện kinh nghiệm vui thích, không hài lòng không chỉ đối với nhiệm vụ mà còn đối với chính bản thân trẻ

Những nghiên cứu về cảm xúc của trẻ em ấu thơ dưới góc độ giới cũng được nhiều sự quan tâm từ các nhà khoa học: Stipek, Recchia, & Mc Clintic (1992), Cummings, Braungart-Rieker, & Du Rocher-Schudlich (2003),… Các nghiên cứu của Stipek, Recchia, & Mc Clintic (1992) cho thấy rằng các em gái thường thấy xấu

hổ hơn và tự hào hơn các em trai Còn các nghiên cứu của Cummings, Rieker, & Du Rocher-Schudlich (2003) phát hiện khía cạnh giới của các nguy cơ rối nhiễu cảm xúc trẻ em tuổi ấu thơ Em gái có nhiều nguy cơ bị rối loạn nội tâm, chẳng hạn như sự lo lắng và trầm cảm, trong đó cảm giác xấu hổ và tự phê bình thường rõ ràng (Cummings, Braungart-Rieker, & Du Rocher-Schudlich, 2003) Trong một nghiên cứu tiến hành trong bối cảnh giao tiếp cùng bạn bè hàng ngày của trẻ, cho thấy sự phát triển khả năng tự điều chỉnh cảm xúc xã hội của trẻ

Trang 22

Braungart-(Fabes và những người khác 1999) Những trẻ em kiểm soát phản ứng cảm xúc tốt

có nhiều khả năng ứng xử theo tiêu chuẩn xã hội trong một tình huống cảm xúc đầy khiêu khích (như khi một trẻ khác nói xấu hoặc lấy một cái gì đó của trẻ)

(2) Sự phát triển cảm xúc của trẻ ở giai đoạn tuổi mẫu giáo

Trong giai đoạn tuổi nhi đồng, có các nghiên cứu tiêu biểu của: P.L Harris (1994), Saarni, Mumme và Campos (1998), Josephs (1994), Saarni (1998), Kuebli (1994), Cole (1986), Thomson (1994),…

Các nghiên cứu của P.L Harris (1994), Saarni, Mumme và Campos (1998) về việc sử dụng tên gọi của các cảm xúc để nói về cảm xúc của mình; Nghiên cứu của Josephs (1994), Saarni (1998) về sự che đậy cảm xúc; Nghiên cứu của Kuebli (1994); Wintre và Vallance (1994) về sự thay đổi cảm xúc của trẻ em tuổi nhi đồng Chẳng hạn P.L Harris, Saarni, Mumme và Campos phát hiện, ở giai đoạn này, trẻ có

xu hướng biểu lộ cảm xúc của bản thân trong mối liên quan với người, vật, hoặc sự kiện làm tăng mức độ cảm xúc và trẻ thường tiếp cận bằng cách nói về vui mừng vì sinh nhật

Nghiên cứu của Cole vào năm 1986 đã cho thấy, trẻ ở độ tuổi mẫu giáo cố gắng để che đậy sự thất vọng bằng cách mỉm cười khi nhận được món quà đáng thất vọng, nhưng trẻ không thể che giấu cảm xúc tiêu cực khi trẻ ở một mình

Nghiên cứu của Saarni và cộng sự vào năm 1998 cho thấy, những tín hiệu xã hội có thể hướng dẫn trẻ đưa ra phản ứng xã hội thích hợp

Các nghiên cứu (Josephs, 1994, Saarni, 1998) cho thấy, trẻ từ 4 -5 tuổi có thể che giấu người khác bằng cách áp dụng một biểu hiện gây hiểu lầm khi nói dối Theo Thomson (1994), điều chỉnh cảm xúc là khả năng theo dõi, đánh giá và

bổ trợ đáp ứng cảm xúc của chính mình nhằm để hoàn thành một nhiệm vụ Điều chỉnh cảm xúc cần phải có khả năng để định dạng, hiểu được và làm nhẹ đi cảm xúc của mình khi thích hợp Điều chỉnh cảm xúc có thể liên quan đến việc làm dịu bớt các phản ứng cảm xúc, ví dụ: trẻ có thể thở sâu, đếm đến 10 nhằm giúp trẻ bình tĩnh khi đối mặt với cảm xúc khó chịu, tức giận, …

Trang 23

Kuebli (1994); Wintre và Vallance, (1994) đã phát hiện trẻ ngày càng phát triển nhận thức về quản lý và kiểm soát cảm xúc của mình để đáp ứng các tiêu chuẩn xã hội và có sự thay đổi quan trọng trong sự phát triển cảm xúc

(3) Sự phát triển cảm xúc của tuổi vị thành niên

Trọng tâm trong những nghiên cứu cảm xúc của trẻ em tuổi thiếu niên là nghiên cứu sự “biến động” trong cảm xúc của lứa tuổi này

Nghiên cứu về rối loạn cảm xúc (Hall, 1904); trạng thái căng thẳng kéo dài hay "cơn bão và căng thẳng", nhưng có sự gia tăng các cảm xúc cao và thấp trong giai đoạn đầu tuổi vị thành niên

Nghiên cứu sự mất cân bằng giữa cường độ cảm xúc của trẻ với các sự kiện Theo Steinberg và Levine (1997), ở giai đoạn này, đây cảm xúc dường như không tương ứng với các sự kiện gợi ra chúng Nghiên cứu dưới góc độ giới, trẻ gái đặc biệt dễ bị trầm cảm ở tuổi vị thành niên (Nolen - Hoeksema, 2007)

Các nghiên cứu của Larson và Maryse Reed Richards (1994) thấy rằng, trẻ vị thành niên tự đánh giá những cảm xúc tiêu cực và những cảm xúc thoáng qua nhiều hơn so với cha mẹ chúng đánh giá ở trẻ

Các nhà nghiên cứu Larson và Lampman-Petraitis (1989) cũng cho thấy, trẻ trong độ tuổi từ lớp 5 đến lớp 9, ở cả nam và nữ đều có trải nghiệm cảm xúc "rất hạnh phúc" bị sụt giảm 50% Cũng trong nghiên cứu này, trẻ vị thành niên có nhiều khả năng tự đánh giá trạng thái cảm xúc tiêu cực cao hơn cảm xúc tích cực so với trẻ ở lứa tuổi trước đó

Trong một số công trình, đã chỉ ra nguyên nhân của sự “biến động” cảm xúc của trẻ tuổi thiếu niên Chẳng hạn, nghiên cứu sự thay đổi hormone của (Rosenbaum và Lewis, 2003) Khi trẻ bước vào giai đoạn trưởng thành, cảm xúc trở nên ít khắc nghiệt hơn và điều này làm giảm sự biến động về tình cảm, có thể phản ánh mức độ thích ứng với hormone trong cơ thể

(4) Sự phát triển cảm xúc ở thanh niên và người lớn trưởng thành

Trong các nghiên cứu về cảm xúc ở giai đoạn này, người ta thấy rằng cũng giống như trẻ em, người lớn thích ứng hiệu quả hơn khi có trí tuệ cảm xúc - khi họ

có khả năng nhận thức và thể hiện cảm xúc, hiểu biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc để

Trang 24

tư duy và quản lý cảm xúc hiệu quả Sự thay đổi cảm xúc tiếp tục phát triển trong những năm ở độ tuổi trưởng thành (Carstensen, Mikels và Mather 2006); (Knight và Mather 2006)

Theo Thompson và Goodvin (2005), chủ đề của phát triển tình cảm ở tuổi trưởng thành là sự tích hợp thích ứng của cảm xúc vào đáp ứng cuộc sống hàng ngày và các mối quan hệ thành công với những người khác

Từ câu hỏi được đặt ra “Cuộc sống tình cảm của người trưởng thành có khác

so với khi còn trẻ không?”, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng trên mẫu nghiên cứu đa dạng, Na Uy, người Mỹ gốc Phi, Trung Mỹ, châu Âu và châu Mỹ- người trưởng thành lớn tuổi có khả năng kiểm soát tốt những cảm xúc của họ và có ít cảm xúc tiêu cực hơn so với người trưởng thành trẻ tuổi các nghiên cứu Carsiensen và Lockenhoff (2004); Carstensen, Mikels và Mather, (2006); Charles và Carstensen, (2004); Mroczek, (2001)

Thông thường theo khuôn mẫu, chúng ta thường nghĩ rằng, ở người cao tuổi, cảm xúc của họ thường mang tính ảm đạm, mà hầu hết sống buồn, cuộc sống cô đơn, nhưng các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một hình ảnh khác (Carstensen và Lockenhoff, 2004; Carstensen, Mikels, và Mather, 2006) Một nghiên cứu của một mẫu người Mỹ cho thấy: Những người lớn tuổi trải qua những cảm xúc tích cực hơn

và ít cảm xúc tiêu cực hơn so với người lớn ít tuổi, và cảm xúc tích cực tăng theo tuổi ở người lớn với một tốc độ gia tăng

Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng cuộc sống tình cảm của người lớn tuổi là tích cực hơn so với giả thuyết Carstensen (1998), Carstensen, Mikels, và Mather, (2006), Castensen và những người khác, (2003), Charles và Carstensen, 2004; Mroczek, (2001)

Một lý thuyết được phát triển bởi Laura Carstensen (1991, 1995, 1998); Carstensen, Mikels, (2006); Carstensen và những người khác, (2003) có ý nghĩa quan trọng trong suy nghĩ về những thay đổi trong sự phát triển cảm xúc ở tuổi trưởng thành, đặc biệt là ở người lớn tuổi, đó là lý thuyết chọn lọc cảm xúc xã hội (Socioemotional selectivity Theory) Lý thuyết chọn lọc cảm xúc xã hội cho rằng, người lớn tuổi trở nên có chọn lọc về các mạng xã hội của họ, bởi vì họ đặt giá trị

Trang 25

cao về sự hài lòng cảm xúc Người cao niên thường dành nhiều thời gian hơn với các cá nhân quen thuộc, người mà họ đã có mối quan hệ thân thiện Sự lựa chọn này thu hẹp tương tác xã hội, tối đa hóa trải nghiệm cảm xúc tích cực và giảm thiểu rủi

ro về tình cảm khi đã cao tuổi Theo lý thuyết này, người lớn tuổi trau dồi có hệ thống mạng xã hội của mình để các đối tác xã hội đáp ứng nhu cầu tình cảm của họ

1.1.1.2 Những nghiên cứu quản lý cảm xúc

Trong các nghiên cứu về quản lý cảm xúc trên Thế giới, có các nhà nghiên cứu tiêu biểu: Fischer, Manstead, Evers, Timmers, & Valk (2004), Aspinwall & Diamond (2003), Hochschild (1983), Thoits (1984), Collins và Miller (1994), Zech

& Rime (1996),…

Các nhà khoa học Erber, Wegner và Therriault (1996) đưa ra thực nghiệm về việc tăng cường hay ức chế cảm xúc để có kinh nghiệm và thể hiện cảm xúc mà họ tin rằng sẽ tạo điều kiện thực hiện trong một tình huống cụ thể

Vào năm 2003, Diamond & Aspinwall kết luận rằng, cảm xúc tốt hay cảm xúc xấu không phải là bất biến và động lực điều chỉnh cảm xúc chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh cụ thể mà trong đó cảm xúc xảy ra

Còn theo Hochschild (1983), ông ra rằng các khuôn mẫu cảm xúc (được xây dựng trên quy tắc hiển thị cảm xúc ra ngoài và có thể là kinh nghiệm cảm xúc trong một hoàn cảnh đã cho) đã tạo động lực cho quản lý cảm xúc

Các nghiên cứu của Rime và các cộng sự (1991), chỉ ra sự chia sẻ xã hội không chỉ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin mà có thể phục vụ chức năng quan trọng về tâm lý và xã hội Chia sẻ xã hội, có thể làm giảm khoảng cách vật lý và các đặc điểm cá nhân và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ gần gũi

Nghiên cứu của Thoits (1984), Collins và Miller (1994) tìm thấy rằng những người chia sẻ cảm xúc của họ và cảm xúc với những người khác có nhiều hơn những người thích giữ chúng ở lại

Các nghiên cứu của Zech & Rime (1996) đã phát hiện sự chia sẻ cảm xúc được đánh giá là có ý nghĩa hơn và thú vị hơn là nói chuyện một cách khách quan

và mô tả

Trang 26

McCanne và Anderson (1987) cho thấy sự ngăn chặn biểu lộ cảm xúc trong khi những hoàn cảnh cảm xúc dễ chịu hoặc khó chịu làm suy giảm khả năng của những người tham gia để cảm nhận những cảm xúc tương ứng Giảm khả năng nhận thức cho sự ngăn chặn hành vi biểu cảm đến từ một sự nghiên cứu bởi Ginbe, Krull,

và Pelham (1988) đã cho thấy sự kiềm chế cái nhìn làm suy yếu sự thực hiện hành

vi nhận thức

Richards và Gross (1999) cho thấy, ngăn chặn biểu hiện cảm xúc làm suy yếu

bộ nhớ cho thông tin gặp phải trong thời kỳ ngăn chặn Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy sự ngăn chặn biểu hiện cảm xúc tự nhiên dẫn đến suy giảm kinh nghiệm cảm xúc và kích thích sinh lý ngoài các thao tác của biểu hiện sự đau đớn Carstensen, Gottman và Levenson (1995), Levenson, Carstensen và Gottman (19940 và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng, sự hài lòng của hôn nhân tăng khi giảm biểu hiện cảm xúc tiêu cực Thành công việc sửa đổi nét mặt của cảm xúc, có thể quan trọng trong mối quan hệ của con người xã hội và hôn nhân, nhưng nó không giúp nhiều để làm giảm cảm xúc tiêu cực của một người

Lazarus và Alfert (1964) cho thấy, đánh giá lại, một cách hiệu quả để giảm bớt cảm xúc tiêu cực cũng như kích thích sinh lý đi kèm Các nghiên cứu của Kramer

và các đồng nghiệp cho thấy, đánh giá lại không tiêu thụ các nguồn lực nhận thức

nó, không làm ảnh hưởng bộ nhớ Trong truyền thông tâm lý (Bucci, 1995) sự tích

tụ của những cảm xúc không thể hiện được có liên quan đến các rối loạn tâm thần

và thể chất

Tất cả các các giả trên khi nghiên cứu về quản lý cảm xúc cũng chỉ ra những biểu hiện cảm xúc và nguyên nhân có những cảm xúc đó, nhưng vẫn chưa tìm thấy phương pháp nhằm quản lý cảm xúc trong các nghiên cứu trên

1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của giáo viên, học sinh, sinh viên, trẻ nhỏ tại nhiều nơi Các tác giả Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Huy Tú, Trần Trọng Thủy, … được coi là những tác giả tiên phong trong lĩnh vực này

Trang 27

Bài viết của tác giả Nguyễn Huy Tú (2003): “Chỉ số thông minh cảm xúc cao - một tiêu đề thành công”, “Trí tuệ cảm xúc - bản chất và phương pháp chẩn đoán” và

“Các mô hình lý thuyết về trí thông minh cảm xúc” do Nguyễn Công Khanh (dịch, 2003) đã bước đầu tiếp cận đến trí tuệ cảm xúc Gần đây, các tác giả Nguyễn Công Khanh, Đinh Thị Kim Thoa và Nguyễn Thành Đoàn cũng đã bàn đến phương pháp luận nghiên cứu trí thông minh cảm xúc

Tác giả Dương Thị Hoàng Yến (2009) với đề tài: “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học” đã rút ra kết luận: Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học là một yếu

tố quan trọng tạo nên thành công trong sự nghiệp

Một nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước của tác giả Nguyễn Công Khanh (2009):

“Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở học sinh Trung học phổ thông” đã sử dụng trắc nghiệm MSEIT của J Mayer, P Salovey và D Caruso được Việt hóa đo lường trên

17000 học sinh Kết quả cho thấy sự phát triển trí tuệ cảm xúc của học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và là sản phẩm của quá trình tương tác liên tục giữa bản thân và môi trường sống

Tác giả Đào Thị Oanh (2010), trong đề tài khoa học cấp bộ: “Thực trạng biểu hiện của một số cảm xúc và kỹ năng đương đầu với cảm xúc tiêu cực ở thiếu niên hiện nay”, cho thấy: Nhìn chung, biểu hiện trạng thái cảm xúc của thiếu niên được nghiên cứu là tích cực và phần lớn đạt ở mức tốt Thiếu niên nam trải nghiệm sự lo

âu, căng thẳng nhiều hơn so với các thiếu niên nữ và các thiếu niên nữ thường cảm thấy tự tin hơn Có thể là do các em nữ trưởng thành sớm hơn các em nam, các cách thức biểu hiện cảm xúc kín đáo hơn, trong khi các em nam tỏ ra hồn nhiên, bộc lộ cảm xúc trực tiếp và bột phát hơn Có sự mâu thuẫn nhất định trong tự đánh giá về trạng thái cảm xúc của học sinh ở lứa tuổi này Đó là mâu thuẫn giữa sự tự đánh giá

về “tính tích cực” của bản thân học sinh với “tâm trạng” và với những trạng thái có liên quan tới “sức khoẻ” sinh lí thể chất: một mặt các em luôn tự cho mình là “mạnh mẽ”, “vui vẻ”, “yêu đời”, “hạnh phúc”, “tươi tỉnh”, “sung sức”,… Nhưng cùng lúc

đó lại cảm thấy “thụ động”, “không muốn làm việc”, “không muốn động chân tay”,

“đầu óc mụ mẫm” không tập trung được Điều này có thể lí giải bằng đặc điểm phát triển tâm sinh lí của lứa tuổi này do sự chi phối của quy luật về tính mất cân đối tạm

Trang 28

thời trong sự phát triển cá nhân của trẻ Và chính đây là điều làm cho bản thân thiếu niên vấp phải những khó khăn không nhỏ Tương tự, sự khác biệt rõ rệt giữa nữ và nam thiếu niên vừa được đề cập ở trên cũng có thể được giải thích bằng quy luật về tính không đồng đều trong sự chín muồi giới tính, kéo theo những khác biệt về tâm

lý, trong đó có khác biệt về cảm xúc (Dẫn theo Nguyễn Thị Hải, 2014)

Ngoài ra còn có các tác giả khác nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc như: Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012), Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ; Phan Trọng Nam (2012), Trí tuệ cảm xúc của sinh viên đại học sư phạm

1.2 Lý luận về kỹ năng quản lý cảm xúc ở tuổi THCS trong giao tiếp với cha

về kỹ năng, nhưng tổng kết lại có 2 quan niệm về kỹ năng như sau:

Quan niệm thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động Đại diện cho loại quan niệm này là các tác giả V A Cruchetxki, V.V Tsebưseva, A.V Petrovxki… chẳng hạn, A.V Petrovxki quan niệm rằng: kỹ năng là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở tri thức và kỹ xảo Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, kỹ năng tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà trong những điều kiện đã thay đổi Xuất phát từ chỗ coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, các tác giả này quan niệm rằng, khi nắm được kỹ thuật hành động, hành động đúng các yêu cầu kỹ thuật của

nó thì sẽ đạt kết quả Muốn nắm được kỹ thuật hành động và thực hiện được hành động theo đúng kỹ thuật thì có phải quá trình học tập và rèn luyện Như vậy, theo loại quan niệm này, kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững (Dẫn theo Nguyễn Thị Hải, 2014)

Trang 29

Quan niệm thứ hai, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người

Đó là quan niệm của các tác giả: N.Đ.Levitov, X.I Kixegof, K K Platonov, Xavier Roegiers, Kevin Barry, Ken King, Trần Quốc Thành (1992), Nguyễn Quang Uẩn (2005)…

Theo N.Đ.Levitov, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có chiếu cố đến những điều kiện nhất định Kỹ năng có liên quan nhiều đến thực tiễn, đến việc áp dụng tri thức vào thực tiễn Tương tự như vậy, X.I.Kixegof cho rằng, kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống hành động này Theo ông, kỹ năng bao giờ cũng diễn ra dưới sự kiểm tra của ý thức nhiều hay ít Kỹ năng đòi hỏi việc sử dụng những kinh nghiệm đã thu được trước đây và những tri thức nhất định nào đó trong các hành động, thiếu những điều này, không thể có kỹ năng K.K Platonov còn nhấn mạnh đến tính linh hoạt mềm dẻo của kỹ năng Theo ông, người có kỹ năng không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt kết quả tương tự trong những điều kiện khác

Như vậy, khác với quan niệm thứ nhất, các tác giả theo quan niệm thứ hai, coi

kỹ năng không chỉ đơn thuần là kỹ thuật hành động mà nó còn là biểu hiện của năng lực, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo Nhờ có sự mềm dẻo mà con người có tính sáng tạo hoạt động thực tiễn Ở đây các tác giả có chú ý đến kết quả của hành động

Trong những năm gần đây khi đề cập tới kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nghề nghiệp người ta không chỉ dừng ở tiêu chí kết quả chính xác, khả năng linh hoạt, mà còn xem xét các yếu tố thái độ, động cơ của cá nhân trong thực hiện hành động có

kỹ năng đó Cách tiếp cận này xem xét kỹ năng ở góc độ rộng hơn khi nó kết nối các yếu tố kiến thức, kỹ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin) trong hành vi của một hoạt động nhất định Cho rằng, mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách mà người ta suy nghĩ, tác giả J.N.Richard coi kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ Còn tác giả I.Louise (1995) cũng khẳng định, kỹ năng là yếu tố mang tính

Trang 30

thực tiễn và là kết quả của sự nối kết giữa lý thuyết và giá trị (thái độ, niềm tin) Mặc dù ghi nhận hành vi có kỹ năng là khả năng lựa chọn những kiến thức, kỹ thuật thích hợp và sử dụng chúng có hiệu quả, song S.A Morales & W.Sheator (1987) và M.Bartte Hariet (1970) nhấn mạnh sự lựa chọn đó chịu ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân đối với hoạt động cụ thể Đây là một xu hướng khá mới về quan niệm kỹ năng Quan điểm này tương đối phù hợp cho nghiên cứu những kỹ năng chuyên sâu trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn

Từ những phân tích các quan niệm trên, chúng tôi đi đến kết luận:

Kỹ năng là sự vận dụng thuần thục tri thức, kinh nghiệm vào hành động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để đạt được mục đích đã đề ra

- Người có kỹ năng hành động trong một lĩnh vực hoạt động được biểu hiện ở những dấu hiệu sau đây:

+ Có tri thức về hành động: nắm được mục đích hành động; nắm được cách thức thực hiện hành động và các điều kiện thực hiện hành động

+ Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của nó

+ Hành động đạt kết quả theo mục đích đề ra

+ Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện thay đổi

b Quá trình hình thành kỹ năng

Tác giả G.Theodorson (1969) cho rằng, ban đầu kỹ năng mới chỉ là các thao tác riêng lẻ chưa được hoàn thiện, trong quá trình rèn luyện, chúng trở nên hành động nhanh chóng, chính xác, và sau đó trở thành kỹ xảo (không cần sự kiểm soát của ý thức)

Hai tác giả K.K.Platonov và G.G.Golubev đưa ra các giai đoạn phát triển kỹ năng với 5 giai đoạn bao gồm:

Giai đoạn 1: kỹ năng còn rất sơ đẳng khi chủ thể mới ý thức được mục đích

và tìm kiếm cách thức hành động dưới dạng “thử và sai”

Giai đoạn 2: kỹ năng đã có, nhưng chưa đầy đủ

Giai đoạn 3: kỹ năng chung, song còn mang tính riêng lẻ

Giai đoạn 4: kỹ năng ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các thao tác

kỹ thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích

Trang 31

Giai đoạn 5: Kỹ năng tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo vừa sáng tạo trong sử dụng các kỹ năn ở những điều kiện khác nhau

Một số tác giả V.A.Cruchetxki, Phạm Minh Hạc, N.Đ.Levitôv, A.V.Petrovxki, Trần Quốc Thành (1992) … cho rằng, quá trình hình thành kỹ năng gồm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động

Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu

Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đặt ra

Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích, cách thức và điều kiện hành động cực kỳ quan trọng Vì mục đích là kết quả hành động mà người ta dự kiến trước khi bắt tay vào hành động Trên cơ sở xác định mục đích hành động, người ta

sẽ lập kế hoạch và tìm các điều kiện, biện pháp phù hợp để đạt được mục đích Như vậy, đây chỉ là bước định hướng hành động Nếu dừng lại ở bước này thì chưa có kỹ năng, vì nó chỉ thể hiện mặt lý thuyết, tri thức về hành động, chứ chưa có mặt kỹ thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra

Giai đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng Ở giai đoạn này con người một mặt thực hiện thao tác theo mẫu để hình thành kỹ năng, một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác, hành động nhằm đạt được kết quả giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động Tùy theo khả năng của từng người mà độ sai sót nhiều hay ít, giai đoạn làm thử dài hay ngắn Sau khi làm thử để nắm vững cách thức hành động, người ta phải tiến hành luyện tập để hoàn thiện kỹ năng Ở giai đoạn này, các tri thức về hành động được củng cố nhiều lần, cách thức hành động cũng được ôn luyện có hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn Đến đây có thể nói, kỹ năng đã được hình thành Tuy nhiên, kỹ năng vẫn chưa ổn định Nhiều khi, người ta có thể đạt được kết quả cần thiết song vẫn còn những sai sót, vấp váp trong hành động kỹ năng thực sự ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau

Trang 32

Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện luyện tập, tính hệ thống của nhiều quá trình luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực của cá nhân

Quan điểm trên đây đã chỉ ra những yêu cầu cần thiết của việc hình thành kỹ năng hành động: nhận thức và triển khai nó trong thực tiễn

Chúng tôi nhất trí với quan điểm của các tác giả V.A.Cruchetxki, Phạm Minh Hạc, N.Đ.Levitov, A.V.Petrovxki, Trần Quốc Thành nêu trên, như vậy quy trình hình thành KN đi từ hình thành nhận thức về mục đích, cách thức, điều kiện hành động tới việc quan sát và làm thử, cuối cùng là luyện tập để tiến hành hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đề ra

và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn Lúc phản ứng chưa phân định gọi là cảm xúc, lúc phân định rõ nét gọi là cảm động, lúc biểu hiện với cường độ cao gọi là cảm kích”

Theo Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng, 2000), cảm xúc: “là sự phản ánh tâm lý

về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp”

Trong tâm lý học, cảm xúc được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, dưới nhiều góc

độ khác nhau:

Theo X.L Rubinstein (1960) khi xem xét cảm xúc về mặt nội dung thì các cảm xúc được xác định bởi mối quan hệ xã hội của con người, bởi tập quán và thói quen trong từng hoàn cảnh xã hội, tư tưởng của nó Theo quan điểm của X.L

Trang 33

Rubinstein khi xem xét dưới góc độ hình thức thì các cảm xúc được phân chia theo cường độ của nó: (1) cảm xúc nội tại hướng vào chủ thể hay nhân cách (2) Trạng thái cảm xúc (3) Xúc động là loại cảm xúc diễn ra rất mạnh và có tác động tổ chức hành vi Tùy theo nguồn gốc nảy sinh liên quan đến những điều kiện hoàn cảnh có thể phân ra những kiểu cảm xúc khác nhau:

- Cảm xúc sơ cấp liên quan trực tiếp đến tri giác đến hoạt động hướng đích, ví dụ: giận dữ, vui vẻ hay sợ hãi

- Cảm xúc sống liên quan đến tri giác cơ thể hay đối tượng tạo ra niềm khoái lạc hay không khoái lạc cơ thể, ví dụ: ốm, đau đớn

- Cảm xúc với môi trường bên ngoài như căm thù, yêu nước, yêu người thân… Các nhà tâm lý học Mác xít khẳng định tâm lý là kết quả hoạt động của não, là

sự phản ánh hiện thực khách quan Trong số đó có quan điểm của nhà nghiên cứu X.L.Rubinstein (1960) cho rằng: “Cảm xúc là một hiện tượng tâm lý, là sự rung cảm của chủ thể đối với môi trường xung quanh, là trạng thái tinh thần của chủ thể trong mối quan hệ với đối tượng”

J.Mayer, P.Salovey và D.Caruso (2000) cho rằng: “Cảm xúc là một hệ thống đáp lại của cơ thể giúp điều phối những thay đổi về sinh lý, tri giác, kinh nghiệm, nhận thức và các thay đổi khác thành những trải nghiệm mạch lạc về tâm trạng và tình cảm, chẳng hạn như hạnh phúc, tức giận, buồn chán, ngạc nhiên…”

Daniel Goleman (2002), dưới góc độ nghiên cứu cảm xúc và mối quan hệ giữa cảm xúc và trí tuệ, đã định nghĩa: “Cảm xúc vừa là một tình cảm và các ý nghĩ, các trạng thái tâm lý và sinh học đặc biệt, vừa là thang của các xu hướng hành động do

nó gây ra” Ông cho rằng số lượng các cảm xúc rất phong phú do không chỉ có các cảm xúc đơn lẻ mà còn có sự kết hợp, sự biến thể và biến đổi của các cảm xúc tạo

Trang 34

Cảm xúc sẽ được cảm nhận một cách tích cực nếu điều quan tâm đó là một sự kiện thuận lợi và một cách tiêu cực nếu đó là một sự kiện mang tính ngăn trở

2- Cốt lõi của một cảm xúc là sự sẵn sàng để hành động và thúc đẩy những dự định; một cảm xúc là tác nhân để bắt đầu một hay một số cách hành động nào đó 3- Một cảm xúc thường được trải nghiệm như một hình thức phân biệt của trạng thái tinh thần, thường dẫn đến những hành động, phản ứng hay thay đổi của một con người (theo Kevin, 2008)”

Theo Carroll E.Izard (1992) nhà tâm lý học Mỹ với các công trình nghiên cứu

về cảm xúc, không nêu một định nghĩa cụ thể của cảm xúc mà cho rằng những cảm xúc tạo nên hệ thống động cơ chính của con người bao gồm ba yếu tố đặc trưng sau: (1) Cảm giác được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc

(2) Các quá trình diễn ra trong hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hóa và các

Cùng quan niệm như vậy, Nguyễn Huy Tú (1975) định nghĩa “Cảm xúc của con người là những rung động khác nhau của chúng ta nảy sinh do sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu nào đó, do sự phù hợp hay không phù hợp của các biến cố hoàn cảnh, cũng như trạng thái bên trong cơ thể với mong muốn, hứng thú, khuynh hướng, niềm tin và thói quen của chúng ta”

Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Xuân Thức đều có chung một nhận định về cảm xúc là những thái độ thể hiện rung cảm của con người đối với những sự vật hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của con người

Trang 35

Tác giả Trần Trọng Thủy (2002) đưa ra khái niệm: “cảm xúc là một quá trình tâm lý, biểu hiện thái độ của con người hay con vật với sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu của cá thể đó, gắn liền với phản xạ không điều kiện, với bản năng”

Chúng tôi nhất trí với quan điểm của X.L Rubinstein, Vũ Dũng, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Huy Tú khi cho rằng: Cảm xúc là những rung động trực tiếp của cá nhân khi có những kích thích tác động tới cá nhân, phản ảnh ý nghĩa của chúng với nhu cầu và động cơ của con người Cảm xúc là những rung động khi thể hiện những thái độ của mình trước những kích thích tác động Những cảm xúc có thể là âm tính như: Sợ hãi, tức giận, tội lỗi Những cảm xúc dương tính là: vui vẻ, hạnh phúc, sung sướng Những kích thích đó là môi trường, quá trình học tập, hệ thần kinh, văn hóa giáo dục, trải nghiệm sống

b Phân loại cảm xúc

Từ những quan sát của mình, Arnold (1950) cho rằng trước khi cảm xúc nảy sinh, có thể phải tri giác được đối tượng và đánh giá đối tượng trên cơ sở nhu cầu của mình Chính sự phản ứng đáp lại sự đánh giá đối tượng đã ảnh hưởng tới chủ thể tri giác làm nảy sinh cảm xúc ở cá thể như là sự chấp nhận hay bác bỏ, thỏa mãn hay không thỏa mãn Như vậy theo Arnold, cảm xúc được cấu tạo bởi 3 thành tố: Tri giác, đánh giá, nhu cầu

Trên cơ sở quan niệm của Arnold, R.S Lazarus và các cộng sự đã cho rằng cảm xúc là một phản ứng đáp lại phức hợp và cảm xúc được cấu tạo bởi 3 thành tố:

- Tín hiệu hay kích thích

- Sự đánh giá – được coi như là chức năng của bộ não mà nhờ đó cá thể đã đánh giá được tình huống kích thích so với nhu cầu của bản thân

- Phản ứng phức hợp – gồm 3 loại phản ứng: phản ứng nhận thức, phản ứng biểu cảm, phản ứng công cụ

+ Loại phản ứng nhận thức được coi như là những cơ chế tự vệ (dồn nén, từ chối) được nghiên cứu và sử dụng nhiều trong bệnh lý học cảm xúc và hành vi

Trang 36

+ Loại phản ứng biểu cảm mà quan trọng nhất là biểu cảm ở nét mặt thường chia làm 2 kiểu: biểu cảm sinh vật và biểu cảm tự tại

+ Loại phản ứng công cụ thể hiện ở 3 loại:

Kí hiệu tượng trưng có chức năng thông báo, đưa ra tín hiệu về sự tồn tại, hiện diện một cảm xúc nào đó hoặc che đậy một cảm xúc nào đó Phản ánh phương thức thể hiện ở những hành động phức tạp và có hướng (sự gây hấn, bỏ chạy) Tập quán chính là những phản ánh công cụ bị quy định về mặt văn hóa (thủ tục đi đến hôn nhân,…)

* Carroll.E.Izard (1992) đưa ra thuyết các cảm xúc phân hóa và cho rằng cảm xúc có cấu trúc tầng bậc bao gồm những cảm xúc nền tảng và những cảm xúc phức hợp Mỗi cảm xúc trọn vẹn phải được tạo thành bởi 3 yếu tố cơ bản nhất là thần kinh chuyên biệt bị chế ước bên trong, những phức hợp biểu cảm nét mặt đặc trưng

và sự thể hiện chủ quan khác biệt

Mười cảm xúc nền tảng theo Carroll E Izard gồm:

1 Hứng thú hồi hộp: Cảm xúc tích cực được thể nghiệm thường xuyên nhất tạo động cơ học tập, phát triển các kỹ năng, kỹ xảo và các khát vọng sáng tạo

2 Vui sướng: Cảm xúc mong muốn tối đa, xuất hiện do đó kích thích thần kinh được hạ thấp một cách mạnh mẽ

3 Ngạc nhiên: Trạng thái ngắn ngủi xuất hiện nhờ nâng cao đột ngột của kích thích thần kinh do xuất hiện sự kiện bất ngờ nào đó

4 Đau khổ, đau xót: Cảm xúc mà khi trải nghiệm con người nản lòng, cảm thấy cô độc, không tiếp xúc với người khác, tự thương thân mình

5 Căm giận: Cảm xúc nền tảng mà việc kiểm soát sự biểu hiện của nó phải được chú ý đặc biệt trong quá trình xã hội hóa

6 Ghê tởm: Thường biểu hiện cùng căm giận, thường kích thích hành vi phá hoại để thoát khỏi một người nào đó hay một cái gì đó

7 Khinh bỉ: Thường xuất hiện cùng căn giận hoặc cùng ghê tởm, nó là cảm xúc “Lạnh lùng” dẫn tới sự mất nhân tính của cá nhân hay của một nhóm người có liên quan tới sự khinh bỉ đó

Trang 37

8 Khiếp sợ: Xúc cảm mỗi người đều ít nhiều trải qua được tạo nên do sự nâng cấp nhanh chóng mật độ kích thích thần kinh báo hiệu sự nguy hiểm hiện thực hay

sự nguy hiểm tưởng tượng Thông thường cảm xúc này có tác dụng huy động năng lượng

9 Xấu hổ: Biểu hiện nhu cầu về mối liên hệ xã hội của con người nảy sinh do chủ thể tự cảm nhận thấy bản thân thấp hơn điều kiện mà đáng lẽ mình phải đạt tới, mình không xứng đáng Tuy nhiên cảm xúc này thường tạo khả năng bảo toàn sự tự trọng

10 Tội lỗi: Xuất hiện khi có những vi phạm có tính chất đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo và hơn nữa trong những tình huống mà trong đó chủ thể cảm nhận được trách nhiệm của riêng mình

C.E Izard (1992) quan niệm cấp bậc thứ hai của cảm xúc là các phức hợp cảm xúc được tạo nên từ “Những tổ hợp có biến thiên của các cảm xúc nền tảng và các quá trình xúc động” như là:

1 Lo lắng: như là phức hợp của các cảm xúc nền tảng, bao gồm sự khiếp sợ, đau khổ, căm giận, xấu hổ, tội lỗi và đôi khi có cả hứng thú và hưng phấn

2 Sự trầm uất: Các cảm xúc nền tảng tham gia và trầm uất là đau khổ, căm giận, ghê tởm, khinh bỉ có liên quan tới bản thân và với người khác

3 Tình yêu: Dạng phức hợp cảm xúc đặc biệt trong mỗi con người, như tình yêu cha mẹ và con cái, tình bạn bè, tình yêu nam nữ, lòng yêu nước Cái chung của các kiểu cảm xúc tình yêu là sự gắn kết con người với nhau, nó có ý nghĩa tiến hóa sinh học, văn hóa xã hội và cá nhân Tình yêu có ảnh hưởng tới tất cả các ngưỡng cảm xúc khác nhau và mọi quá trình nhận thức của con người

4 Lòng thù địch: Sự tác động lẫn nhau của cảm xúc nền tảng như căm giận, ghê tởm, khinh bỉ Nó là cơ sở của hành vi xâm lược

* Daniel Goleman (2002), khi bàn về vấn đề cấu trúc của cảm xúc đã chỉ ra rằng có hàng trăm cảm xúc với những kết hợp, những biến thể và những biến đổi của chúng Những sắc thái của chúng trên thực tế nhiều đến mức chúng ta không đủ

từ để chỉ

Trang 38

Daniel Goleman chỉ ra một số cảm xúc thường được nhắc đến đối với một số thành phần của chúng:

1 Giận: Cuồng nộ, phẫn nộ, oán giận, bực tức, gay gắt, hung hăng, bất mãn, cáu kỉnh, thù địch và có thể đạt tới độ tột cùng, thù hằn, bạo lực

2 Buồn: Buồn phiền, sầu não, rầu rĩ, u sầu, thương thân, cô đơn, ủ rũ, thất vọng và trầm cảm

3 Sợ: Lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo âu, sợ sệt, rón rén, khiếp hãi, khủng khiếp, ghê sợ và khi trở thành bệnh lý thì là chứng hoảng hốt, sợ hãi

4 Khoái: Sung sướng, vui vẻ, nhẹ nhõm, bằng lòng, rất hạnh phúc, hoan hỉ, tự hào, sảng khoái, ngây ngất

5 Yêu: Ưng ý, tình bạn, tin cậy, dễ ưa, cảm tình, tận tụy, hâm mộ, sùng kính

6 Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc

7 Ghê tởm: khinh miệt, coi thường, kinh tởm, chán ghét

8 Xấu hổ: ý thức phạm tội, bối rối, phật ý, ăn năn, nhục nhã, hối tiếc

Daniel Goleman xem xét các cảm xúc theo họ hay theo các chiều kích, giống như P.Ekman và một số nhà tâm lý học khác, ông cho rằng những họ chính của cảm xúc là: giận, buồn, sợ, thích, xấu hổ… Mỗi họ này có một hạt nhân cảm xúc cơ bản

là trung tâm, các cảm xúc có họ hàng với nó thì nằm xung quanh như những làn sóng nối tiếp nhau của vô số những biến đổi, ở ngoại vi có nhưng tâm trạng mà xét

về mặt kỹ thuật chúng ít sinh động hơn và kéo dài lâu hơn những cảm xúc đích thực Sau các tâm trạng đến các tính khí, một thiên hướng gây ra một cảm xúc hay một tâm trạng nào đó, khiến ta thành u buồn, nhút nhát hay vui vẻ Sau đó là những rối nhiễu tâm lý thực sự như sự trầm cảm lâm sàng hay sự lo hãi mãn tính

* Xuất phát từ tính chất và tác dụng của cảm xúc đối với đời sống, hoạt động của con người và căn cứ vào mục tiêu giáo dục, các nhà tâm lý học, giáo dục học đã chia cảm xúc thành 2 loại: Cảm xúc tiêu cực và cảm xúc tích cực Theo đó, cảm xúc tích cực là những cảm xúc có tác dụng thôi thúc con người hoạt động, mang đến cho con người nghị lực, lòng tự tin, sự lạc quan tin tưởng, củng cố ý chí, làm tăng sức sáng tạo, đặc biệt làm cho mối quan hệ người – người tốt đẹp hơn Còn cảm xúc tiêu cực là những cảm xúc làm cản trở hoạt động của con người, làm cho cá nhân

Trang 39

trở nên yếu đuối, tự ti, bi quan, chán nản, thiếu sáng suốt dẫn đến thụ động, bất lực hoặc có thể dẫn tới những cơn tức giận, nỗi sợ hãi, sự khổ tâm, làm giảm chất lượng nhận thức về thế giới xung quanh, thiếu sự quan tâm chú ý đến những người xung quanh Phần lớn những cảm xúc tiêu cực dẫn đến khả năng kiểm soát của ý thức kém, dễ có hành động bột phát

Đến nay các nhà tâm lý học chưa thống nhất về định nghĩa cảm xúc cũng như cấu trúc của cảm xúc có bao gồm những cảm xúc cơ sở hay không theo kiểu “màu xanh, màu đỏ, màu vàng của những tình cảm, từ đó hình thành ra tất cả những sự pha trộn” Tuy nhiên nhiều nhà tâm lý học thống nhất việc sắp xếp các cảm xúc thành các họ cơ sở và có những sắc thái vô tận của đời sống

Trong luận văn này, tham khảo từ các định nghĩa của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đã đưa ra 6 loại cảm xúc cơ bản của con người như sau:

c Vai trò của cảm xúc đối với hoạt động của con người

Trong luận văn này, chúng tôi viết về vai trò của cảm xúc đối với ba khía cạnh của con người: (1) Cảm xúc đối với cơ thể; (2) Cảm xúc đối với nhận thức; (3) Cảm xúc đối với hành động Cụ thể:

(1) Cảm xúc và cơ thể

Cảm xúc và hệ thần kinh có mối quan hệ khăng khít với nhau Khi một cảm xúc xảy ra, nó làm nảy sinh một quá trình thần kinh trên vỏ não, gây nên một hưng phấn thần kinh của chất dưới vỏ não và được chuyển hoàn toàn xuống hệ thần kinh thực vật Do đó hoạt động của các tuyến nội tiết cũng thay đổi theo (chẳng hạn chất đường xuất hiện trong máu và nước tiểu), chiều sâu và nhịp độ làm việc của hệ thống hô hấp và tim mạch bị rối loạn Các đáp ứng nội tiết trong cảm xúc giúp cơ thể đối phó với các tình huống khẩn cấp Song nếu đáp ứng ấy diễn ra quá một thời

Trang 40

lượng nào đó thì hoạt tính của mốt số chất nội tiết cũng tạo điều kiện thuận lợi cho một cảm xúc nào đó dễ dàng xảy ra

Tác động lên hệ thần kinh và hệ nội tiết, cảm xúc cũng ảnh hưởng đến các hệ

cơ quan và toàn bộ cơ thể Khi có cảm xúc, trong các cơ của mặt diễn ra những biến đổi điện sinh lý (nghiên cứu của Rusolova, Izard, Simonov, 1975; Schwartz, Fair, Greeberg, Freedman, Klerman, 1974) Đồng thời cũng có những biến đổi diễn ra trong hoạt tính điện của não, trong các hệ tuần hoàn và hô hấp (Simonov, 1975) Khi căm giận hay khiếp sợ quá mức nhịp tim có thể tăng lên 40 lần đập trong một phút (Tusolova và những người khác, 1975) Những biến đổi mạnh của các chức năng cơ thể trong lúc cảm xúc mạnh chỉ rõ rằng, tất cả các hệ thần kinh sinh lý và những hệ cơ quan của thân thể đều tham gia ít hoặc nhiều, khi con người ở trạng thái cảm xúc Cảm xúc hoạt hóa hệ thần kinh tự trị Hệ thần kinh này làm biến đổi tiến trình hoạt động của hệ nội tiết và hệ thần kinh – thể dịch Trí tuệ và thân thể ở trạng thái hài hòa để thực hiện hành động Nếu các tri thức và hành động phù hợp với các cảm xúc liên kết với nhau thành một khối, thì kết quả là, có thể xuất hiện những triệu chứng tâm thần cơ thể (Dunvar, 1954)

Đánh giá vai trò của cảm xúc, nhà sinh lý học thần kinh Xô Viết nổi tiếng P.K Anôkhin đã xem các cảm xúc như là một công cụ đặc biệt để duy trì quá trình sống trong những giới hạn tối ưu của nó và ngăn ngừa tính chất hủy hoại do thiếu hay thừa những yếu tố nào đó trong cuộc sống của một cơ thể Nhờ những phản ứng và trạng thái cảm xúc, hệ thần kinh trung ương biết và nhận được thông tin rằng hành

vi thỏa mãn nhu cầu quan trọng nào trong cuộc sống đã xảy ra ra sao và kết quả của

nó như thế nào Khi các cảm xúc nảy sinh có tính chất phản xạ có điều kiện, chúng đóng vai trò như các tín hiệu báo trước những thay đổi có thể xảy ra trong môi trường xung quanh và chuẩn bị cho cơ thể thích nghi một cách tương ứng

Bên cạnh những cảm xúc tích cực có tác dụng thúc đẩy cuộc sống và hoạt động các cá nhân còn có những cảm xúc tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến các cơ quan

và các tổ chức mô, hậu quả là làm giảm sức làm việc của con người Sợ hãi làm tim đập nhanh hơn, mạch máu hẹp lại, da xanh xao; sự khiếp sợ quá mức có thể dẫn đến

Ngày đăng: 20/12/2020, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w