Ở Việt Nam, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở chưa được nghiên cứu nhiều.. Đối với đối tượng học
Trang 1Nguyễn Thị Ngọc Hành
KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TÂM LÝ
TRONG GIAO TIẾP VỚI BẠN BÈ
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành Phố Hồ Chí Minh, 2018
Trang 2Nguyễn Thị Ngọc Hành
KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TÂM LÝ
TRONG GIAO TIẾP VỚI BẠN BÈ
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS MAI HIỀN LÊ
Thành Phố Hồ Chí Minh, 2018
Trang 3Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, tôi đã nhận được
sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Nghiên cứu khoa học cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị Đặc biệt hơn nữa là sự hợp tác của cán bộ giáo viên các trường Trung học Cơ sở Trần Bội Cơ, trường Trung học Cơ sở Vĩnh Lộc B và sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật
chất và tinh thần từ phía gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô Mai Hiền Lê – người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, phòng sau đại học cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý
báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến
đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 09 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Hành
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Hành
Trang 5Lời cám ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP VỚI BẠN BÈ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 11
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 11
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu xung đột tâm lý và kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè trên thế giới 11
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu xung đột tâm lý và kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè ở Việt Nam 15
1.2 Kỹ năng 20
1.2.1 Khái niệm kỹ năng 20
1.2 2 Đặc điểm kỹ năng 24
1.2.3 Các giai đoạn hình thành và mức độ của kỹ năng 25
1.3 Xung đột tâm lý 28
1.3.1 Định nghĩa xung đột 28
1.3.2 Định nghĩa xung đột tâm lý 30
1.3.3 Phân loại xung đột tâm lý 32
1.4 Kỹ năng giải quyết xung đột 37
1.4.1 Khái niệm kỹ năng giải quyết xung đột 37
Trang 6Cơ sở 43
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Trung học Cơ sở 43
1.5.2 Khái niệm kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp của học sinh Trung học Cơ sở 46
1.5.3 Biểu hiện kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp của học sinh Trung học Cơ sở 47
1.5.4 Mức độ kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp của học sinh Trung học Cơ sở 48
1.5.5 Tiêu chí đánh giá kỹ năng giải quyết xung đột trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 48
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng kỹ năng giải quyết xung đột trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 54
1.6.1 Yếu tố chủ quan 54
1.6.2 Yếu tố khách quan 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 59
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TRONGGIAO TIẾP VỚI BẠN BÈ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 60
2.1 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 60
2.1.1 Khách thể nghiên cứu 60
2.1.2 Các giai đoạn nghiên cứu 61
2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP VỚI BẠN BÈ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 71
Trang 7a Kỹ năng tìm kiếm người trung gian hòa giải 73
b Kỹ năng thỏa hiệp với bạn bè 76
c So sánh kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở theo giới tính 79
d So sánh kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở theo khối lớp 80
2.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh 83
a Yếu tố ảnh từ phía nhà trường 83
b Yếu tố ảnh từ phía gia đình 87
2.3 Đánh giá tính khả thi một số biện pháp nhằm hình thành kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh 91
2.3.1 Biện pháp từ phía nhà trường 91
2.3.2 Biện pháp từ phía gia đình 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 9Bảng 2.1: Mẫu khách thể 60Bảng 2.2: Thực trạng kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 72Bảng 2.3: Kỹ năng tìm kiếm người trung gian hòa giải của học sinh Trung học Cơ
sở tại Thành phố Hồ chí Minh 73Bảng 2.4: Kĩ năng thỏa hiệp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh 76Bảng 2.5: So sánh kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở theo giới tính 79Bảng 2.6: So sánh kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở theo khối lớp 81Bảng 2.7: Yếu tố ảnh hưởng từ phía nhà trường đến kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 83Bảng 2.8: Yếu tố ảnh hưởng từ phía gia đình đến kỹ năng giải quyết xung đột tâm
lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 87Bảng 2.9: Đánh giá tính khả thi biện pháp từ phía nhà trường đến kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 91Bảng 2.10: Đánh giá tính khả thi biện pháp từ phía gia đình đến kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 96
Trang 10bè
Các nhà triết học đã cho rằng nơi nào có con người sẽ xảy ra xung đột Sự xung đột ban đầu được biết đến với các hình thức bảo vệ quyền lợi cá nhân như: bảo vệ nòi giống, lãnh thổ, chủ quyền, Dựa trên cơ sở lí luận các nghiên cứu đi trước, nhiều nhà khoa học, tâm lý học đã đưa ra các hướng nghiên cứu về thực trạng xung đột, kỹ năng giải quyết xung đột,…Trong đó, những vấn đề về giải quyết xung đột ở độ tuổi học sinh Trung học Cơ sở cũng được các nhà xã hội học và tâm lý học quan tâm
Tuổi học sinh Trung học Cơ sở là một giai đoạn phát triển đầy biến động của một đời người Đây là thời kỳ quá độ chuyển tiếp từ thế giới trẻ con sang thế giớingười lớn Sự phát triển “nhảy vọt” về thể chất, sự thay đổi điều kiện sống và hoạt động (học tập, giao tiếp, ), nhất là sự trưởng thành về mặt sinh dục và sự thay đổi
vị thế trong gia đình, nhà trường và xã hội đã tạo điều kiện phát sinh nét cấu tạo tâm
lý mới trung tâm của tuổi học sinh Trung học Cơ sở: ý thức của học sinh Trung học
Cơ sở được hình thành và phát triển mạnh mẽ Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này là hoạt động học tập và hoạt động giao tiếp với bạn bè Trong hoạt động giao tiếp ở tuổi học sinh Trung học Cơ sở có những thay đổi về chất so với hoạt động giao tiếp
ở tuổi học sinh tiểu học, đặc biệt trong giao tiếp với người lớn và bạn bè đồng trang lứa Giao tiếp mang tính chất tâm tình trở thành hoạt động chủ đạo của tuổi học sinh
Trang 11Trung học Cơ sở Vì vậy, trong giai đoạn tuổi học sinh Trung học Cơ sở, quan hệ bạn bè chiếm một vị trí quan trọng trong lòng các em và mức độ ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi từ những xung đột với bạn bè là điều không thể tránh khỏi Xung đột với bạn bè, tập thể có thể thúc đẩy các em sửa chữa, hoàn thiện bản thân
để hoà nhập với bạn, nhưng cũng có thể khiến các em đau khổ, tổn thương về mặt tâm lý, dẫn đến lệch lạc về nhận thức và hành vi: gia nhập nhóm bạn khác, nảy sinh hành vi tiêu cực như phá phách, gây hấn, phạm tội và tệ nạn
Một trong những biện pháp giúp các em có được sự hình thành và phát triển đầy đủ về nhân cách là trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết để tồn tại và phát triển Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè là một trong những kỹ năng quan trọng mà các em cần trau dồi và ứng dụng vào thực tiễn một cách thành thục, linh hoạt và đúng đắn nhằm ứng phó trước nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống
Ngày nay, trên phương tiện thông tin đại chúng, khi nhắc đến học sinh Trung học Cơ sở là nhắc đến các vấn đề bạo lực học đường, trầm cảm, bỏ học, gia nhập nhóm tệ nạn, thậm chí nguy hiểm hơn là tự tử và trở thành tội phạm hình sự, ngày càng nổi cộm và lên đến mức báo động, đòi hỏi các nhà giáo dục, xã hội và tâm lý quan tâm, can thiệp nhằm giúp các em có cuộc sống lành mạnh, đúng đắn và ý nghĩa hơn Những hậu quả đáng tiếc trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân như gia đình, áp lực thành tích học học tập, điểm số hay đáng chú ý hơn là do xung đột với bạn bè Trước tình hình này, không chỉ các nước trên thế giới mà cả Việt Nam cũng
đã đưa ra nhiều dự án nhằm hạn chế những điều đáng tiếc trên, một trong những biện pháp hiệu quả nhất là giáo dục kỹ năng sống, đặc biệt là kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè để các em có thể bảo vệ bản thân và các mối quan hệ của mình trong cuộc sống
Trên thực tiễn, một số nghiên cứu về xung đột, kỹ năng giải quyết xung đột trong các mối quan hệ liên nhân cách như: Nghiên cứu “Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới” của tác giả Phạm Thành Tài (2011), “Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh Trung
Trang 12Học Cơ Sở về nhu cầu độc lập” của tác giả Đỗ Hạnh Nga (2014), vấn đề “Xử lí xung đột giữa giáo viên và phụ huynh học sinh từ việc xử phạt học sinh” của tác giả
Đỗ Quốc Huy (2016), tác giả Trang Đặng Thị Thu (2016) đã nghiên cứu về “Xung đột tâm lý vợ chồng trong gia đình tri thức trẻ trên địa bàn Hà Nội”, tác giả Nguyễn Đức Mạnh (2017) nghiên cứu về “Kỹ năng giải quyết xung đột của công nhân công
ty cổ phần nhựa Bình Minh, tình Bình Dương” và vấn đề “Xung đột tâm lý trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” đã được nghiên cứu tổng quát bởi tác giả Nguyễn Thị Hiền (2017) Các nghiên cứu đều nhằm tìm hiểu lí luận, quan điểm chung về vấn đề xung đột, kỹ năng giải quyết xung đột, các yếu tố ảnh hưởng của
kỹ năng giải quyết xung đột và từ đó đề xuất biện pháp can thiệp
Thực tế, ngày này, chưa có nhiều trường trang bị kiến thức đến việc giáo dục
kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè đối với học sinh Trung học Cơ sở Bên cạnh đó, vẫn có một số trường đã chú trọng đến việc giáo dục
kỹ năng này cho các em, mặc dù chưa thống nhất các nội dung, biểu hiện của kỹ năng này và việc giáo dục còn mang tính chất hình thức, hạn chế
Ở Việt Nam, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở chưa được nghiên cứu nhiều Phần lớn các nghiên cứu, dự án đều được thực hiện dưới dạng bài báo, giáo dục, công tác xã hội Đối với đối tượng học sinh Trung học Cơ sở, các nghiên cứu về xung đột thường dừng lại ở việc đề xuất biện pháp giải quyết xung đột, chưa
đi sâu vào việc phân tích biểu hiện, đặc điểm của kỹ năng và tiêu chí đánh giá kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm, nghiên cứu đi trước về các vấn đề liên quan đến xung đột, kỹ năng giải quyết xung đột và học sinh Trung học Cơ sở, tôi sẽ nghiên cứu một khía cạnh của vấn đề kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở nhằm nghiên cứu thực trạng kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh để đưa ra cách nhìn tổng quát về thực trạng, nguyên nhân và từ
đó đề xuất biện pháp phát huy kỹ năng giải quyết xung đột của tuổi học sinh Trung
Trang 13học Cơ sở, nhằm giúp các em giảm bớt áp lực trong quan hệ bạn bè và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đời sống tâm lý của các em
Từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong
giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Tp.HCM và tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Tp.HCM
3 Giả thuyết khoa học
- Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm 2 kỹ năng thành phần là: kỹ năng tìm kiếm người trung gian hòa giải, kỹ năng thỏa hiệp với bạn bè ở mức độ trung bình
- Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ hình thành kỹ năng giữa các khối lớp
- Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở của học sinh nữ tốt hơn học sinh nam
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Mức độ và biểu hiện kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn
bè
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Luận văn tiến hành nghiên cứu trên 310/400 học sinh cả 4 khối của 2 trường Trung học Cơ sở: trường Trần Bội Cơ (quận 5) và trường Vĩnh Lộc B (Bình Chánh)
.5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu biểu hiện và mức độ kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè mà không nghiên cứu về Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong học tập của học sinh Trung học Cơ sở
Trang 14- Đề tài chỉ nghiên cứu Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn
bè của học sinh Trung học Cơ sở trên hai trường: trường Trung học Cơ sở Trần Bội
Cơ (quận 5) và trường Trung học Cơ sở Vĩnh Lộc B (quận Bình Chánh) lần lượt đại diện cho khu vực nội thành và khu vực ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh
- Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở, chẳng hạn: sự thay đối tâm sinh lí, năng lực của học sinh, cơ chế tâm lý xã hội, yếu tố ảnh hưởng từ phía gia đình, nhà trường hay hoạt động truyền thông Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng từ phía gia đình và nhà trường đến
kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống một số vấn đề lý luận về kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao
tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh: khái niệm kỹ năng, khái niệm kỹ năng giải quyết xung đột, mức độ và biểu hiện kỹ năng giải quyết xung đột, các yếu tố ảnh hưởng kỹ năng giải giải quyết xung đột
- Mô tả thực trạng kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm vụ của đề tài thông qua sách, báo, tài liệu tham khảo và những công trình nghiên cứu có liên quan
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản
a Mục đích
Trang 15Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản nhằm góp phần xây dựng cơ sở lí luận của
đề tài
b Nội dung
Nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến nhiệm vụ đề tài đã được đề cập từ trước đến nay: khái niệm kỹ năng, khái niệm kỹ năng giải quyết xung đột, khái niệm xung đột, khái niệm giao tiếp, mức độ và biểu hiện của kỹ năng giải quyết xung đột, phương pháp nghiên cứu, luận chứng lí giải
Địa điểm: Giờ ra chơi, buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ
c Cách tiến hành
Xây dựng hệ thống các mức độ biểu hiện kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở
Quan sát và đánh giá về biểu hiện của học sinh
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
a Mục đích
Trang 16Phương pháp chuyên gia nhằm thu thập thêm dữ liệu cũng như lấy thêm ý kiến của chuyên gia, người hướng dẫn giúp hoàn thành có chất lượng, đảm bảo tính khách quan, tính giá trị của luận văn
b Nội dung
Phương pháp chuyên gia được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài này Việc tham khảo ý kiến góp ý của chuyên gia, người hướng dẫn trong quá trình thực hiện đề tài nhằm thu thập thêm dữ liệu, đối chứng những dữ liệu đã có sẵn, chỉnh sửa, hoàn thành luận văn
Vấn đáp bằng tranh ảnh thích hợp cho việc thu thập dữ kiện với trẻ em và người lớn không đủ khả năng đọc và hiểu các câu hỏi Thay vì đặt các câu hỏi viết, ta đưa các tranh ảnh, hình vẽ và dùng lối khẩu vấn để lấy ý kiến của người đối thoại
Nội dung câu hỏi được chuẩn bị sẵn phù hợp với phiếu tham dò ý kiến ban đầu và được thử nghiệm, chỉnh sửa, đảm bảo tính giá trị của bảng hỏi
Trang 17c Cách tiến hành
Giai đoạn 1: Đưa ra bảng thăm dò mở nhằm trưng cầu ý kiến khách thể nghiên cứu
về kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh Sau đó phân tích và xử lý câu hỏi mở Trên
cơ sở kết quả của phiếu điều tra câu hỏi mở kết hợp với lý luận về kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng phiếu thăm dò ý kiến chính thức
Giai đoạn 2: Phát phiếu thăm dò chính thức
Bảng 1: Dành cho khách thế nghiên cứu chính của đề tài, gồm 2 phần:
A.Những thông tin chung về học sinh: giới tính, thời gian học, kết quả học, hoàn cảnh gia đình
B Câu hỏi
Câu hỏi được xây dựng phải đảm bảo tính khách quan, tính giá trị, tính tin cậy, tính phù hợp của đề tài Ngôn ngữ trong bảng hỏi phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, tránh dùng từ địa phương, chuyên ngành giúp người trả lời dễ dàng trả lời câu hỏi Hệ thống câu hỏi bao gồm nhiều câu hỏi có nhiều lựa chọn, mức độ phù hợp với câu hỏi, khách thể trả lời Kết quả thu thập thông tin từ thang đo thái độ nhằm xác định mức độ, cường độ, tần số của các biến số trong vấn đề kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở
Bảng 2: Dành cho khách thể nghiên cứu bổ trợ là ban hiệu trưởng, thầy cô Thiết kế câu hỏi mở nhằm thu thập ý kiến về thực trạng, nhận thức, biểu hiện của học sinh về vấn đề kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả thu được từ bảng hỏi là cơ sở xác định thực trạng kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố
Hồ Chí Minh, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân từ đó đề xuất biện pháp phát huy
7.2.5.Phương pháp phỏng vấn
a Mục đích
Phỏng vấn là phương pháp nghiên cứu trong đó người nghiên cứu trực tiếp nêu ra một hệ thống câu hỏi bằng lời cho đối tượng để thu thập những dữ kiện cần thiết
Trang 18b Nội dung
Khi sử dụng phỏng vấn, người nghiên cứu cần lưu ý đến những nguyên tắc sau giúp việc phỏng vấn đạt hiệu quả:
1 Xác định nhân vật được phỏng vấn
2 Chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn
3 Dàn bài phỏng vấn và cách chuẩn bị câu hỏi
4 Thử trước các câu hỏi
7.2.6 Phương pháp bài tập tình huống
a Mục đích
Đây là phương pháp dùng trong đề tài này nhằm đưa ra cách đánh giá kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở dựa trên các tiêu chí: tính đúng đắn, tính thành thục, tính linh hoạt và tính hiệu quả của
kỹ năng một cách khách quan nhất
b Nội dung
Phương pháp này được sử dụng như một bảng hỏi bao gồm nhiều bài tập tình huống
về kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở nhằm giúp đánh giá chính xác nhất khả năng nhận thức kỹ năng và mức
độ thực hiên kỹ năng của các em
c Cách tiến hành
Người thực hiện đề tài soạn các câu hỏi bài tập tình huống về giá kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở, bao gồm nhiều đáp án cụ thể và có mức điểm cụ thể Dựa trên câu trả lời của người làm bài,
Trang 19người thực hiện tổng hợp và tính điểm nhằm đánh giá mức độ khả năng nhận thức
kỹ năng và mức độ thực hiên kỹ năng của người làm bài
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê:
-Phương pháp toán thống kê: xử lý thống kê theo chương trình thống kê SPSS For Win 10.0 Tính tần số, tỉ lệ phần trăm, tính trung bình, độ phân cách, độ lệch tiêu chuẩn, kiểm nghiệm Chi-Square, tính hệ số tương quan, xếp thứ hạng
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP VỚI BẠN BÈ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
tư duy để tìm giải pháp và thực hiện giải pháp Từ đó, các tác giả tập trung nghiên cứu về xung đột và kỹ năng giải quyết xung đột, cấu trúc, các thao tác của quá trình giải quyết xung đột và đặc biệt là cơ chế giải quyết, đồng thời ứng dụng kỹ năng giải quyết xung đột trong đời sống con người trên các khía cạnh khác nhau
Các nhà tâm lý học trên thế giới bao gồm các nhà tâm lý học phương Tây và các nhà tâm lý học Liên Xô cũ đã đưa ra 2 hướng nghiên cứu chính về xung đột tâm lý:
Hướng thứ nhất: Nghiên cứu xung đột tâm lý của chính sự phát triển nhân cách cá nhân
Nghiên cứu xung đột tâm lý của chính sự phát triển nhân cách cá nhân được các nhà tâm lý học nổi tiếng thuộc nhiều trường phái khác nhau đề cập đến như: J Frued, J Piaget, L.X Vuwgotxki, X.L Rubinstein,…
J Freud và các nhà phân tâm học xung đột cho rằng xung đột tâm lý là sự đấu tranh giữa các lực lượng tâm lý: cái tôi, cái siêu tôi và cái ấy Kurt Lewin cũng
đã nhấn mạnh đến vấn đề xung đột động cơ cá nhân trong công trình nghiên cứu theo hướng phân tâm xã hội của mình.( dẫn theo Nguyễn Văn Tuân, 2015)
Trang 21J.Piaget và các nhà tâm lý học nhận thức (1987) nghiên cứu xung đột tâm lý như là một trạng thái thiếu hụt, mất cân bằng giữa các quá trình đồng hóa và điều ứng các kích thích từ các môi trường Ông chỉ ra sự nguyên lý của sự phát triển nhận thức bắt nguồn từ sự đan xen thường xuyên giữa đồng hóa và điều ứng
Trong tâm lý học học hoạt động, L.X Vugotxki, X.L Rubinstein và một số nhà tâm lý học cùng hướng tiếp cận đều cho rằng xung đột là mâu thuẫn giữa các yêu tố tâm - sinh lý bên trong của cá nhân với các yếu tố bên ngoài thuộc về môi trường Sự phát triển của các yếu tố bên trong và điều kiện khách quan bên ngoài không thống nhất với nhau sẽ dẫn đến xung đột tâm lý, làm cho cá nhân đó sẽ bị khủng hoảng trong quá tình phát triển, tạo nên hoạt động chủ động và cấu tạo tâm lý mới ở trẻ (Lê Minh Nguyệt, 2016)
Như vậy, dưới góc độ tâm lý, sự hình thành và phát triển các chức năng tâm
lý là hình thành và phát triển các cấu trúc tâm lý mới Trong quá trình phát triển đó, thường xuyên xuất hiện các trạng thái xung đột giữa cấu trúc mới và cũ, giữa khả năng thực tế của cá nhân, đáp ứng yêu cầu về biến đổi của môi trường Trong các nghiên cứu của J Frued và các nhà tâm lý học trị liệu phân tâm cho thấy, việc giải quyết không đúng các xung đột tâm lý của cá nhân dẫn đến các lệch lạc tâm lý, hành vi
Hướng thứ hai: Nghiên cứu xung đột Tâm lý của cá nhân trong mối quan hệ liên nhân cách
Nhìn chung, trong thời kỳ này, các nhà nghiên cứu tập trung giải thích và gọi tên hiện tượng xung đột xảy ra ở trẻ với nhiều hướng tiếp cận khác nhau nhằm tạo
ra tiền đề cho việc tìm ra phương thức giải quyết xung đột Đa số nghiên cứu trong thời kì này đều xem xét nguyên nhân xảy ra xung đột xuất phát từ sự thay đổi về tâm sinh lý của học sinh Trung học Cơ sở Trên cơ sở đó, một số nhà tâm lý học bắt đầu đề cập đến những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết xung đột của thiếu niên nhưng chưa đi sâu vào cách giải quyết cụ thể
Anna (2015) cho rằng xung đột giữa cha mẹ và con cái là “biểu hiện bình thường của một quá trình tách ra và là một kích thích cần thiết cho quá trình phát triển” Các nhà phân tâm học xem “sự hòa hợp với cha mẹ là dấu hiệu của sự chưa
Trang 22trưởng thành về mặt tâm lý bên trong (Phạm Thị Cường, 2017) Như vậy, xung đột của học sinh Trung học Cơ sở trong gia đình được nhìn nhận như nhân tố thúc đẩy
sự phát triển và có vai trò quan trọng trong sự trưởng thành về mặt nhận thức của thiếu niên
Peter Blos trong thuyết “Quá trình cá thể hóa”của mình đã nêu lên quan điểm giai đoạn khủng hoảng tuổi dậy thì của thiếu niên chính là cơ hội để các em tích lũy những khác biệt và khoảng cách với người khác để vượt qua ràng buộc từ thời thơ ấu” Nhận định này đã góp phần lý giải cho những mối bất hòa trong quan hệ bạn bè của tuổi học sinh Trung học Cơ sở Trong quá trình cá thể hóa, học sinh Trung học
Cơ sở được “hình thành cảm giác nhạy bén để phân biệt mình với người khác và nâng cao nhận thức về những giới hạn của bản thân” (Lê Minh Nguyệt, 2016)
Quan điểm của Vưgotsky khi nhìn sự phát triển tâm lý gắn liền với các yếu
tố văn hóa lịch sử được quan tâm trong thế kỷ XXI Nhiều nghiên cứu đã bác bỏ quan điểm tuổi thiếu niên là thời kỳ đầy bão táp và giông tố, sự nhìn nhận bi quan
về lứa tuổi này và xây dựng khái niệm mới thay thế (Dương Thủy Nguyên, 2016) Các nhà tâm lý học hiện đại nhận thấy có sự liên quan giữa mức độ gần gũi trong quan hệ bạn bè với khuynh hướng xảy ra xung đột Trong giai đoạn này, các lĩnh vực của xung đột giữa học sinh Trung học Cơ sở với bạn bè như: nguyên nhân, giải pháp, kết quả, biểu hiện được nghiên cứu sâu hơn
Nghiên cứu về kết quả của xung đột, các nhà tâm lý đưa ra khái niệm về
“xung đột có lợi” và “xung đột có hại” Theo Barrera & Stice (1998), Fuller & Krupinski (1994), Shek (1991), xung đột có hại liên quan đến sự lo âu, buồn khổ của mỗi cá nhân nói chung và đặc biệt là tính khó kiểm soát ở học sinh Trung học
Cơ sở nói riêng Mặt khác, Montemayor (1983) cho rằng xung đột với mức độ thấp hoặc trong quá trình xảy ra xung đột có sự giao tiếp hiệu quả,có giải pháp giải quyết xung đột và không để lại hậu quả học sinh Trung học Cơ sở được xem là xung đột
có lợi – tạo điều kiện để thiếu niên và thỏa mãn nhu cầu độc lập của bản thân
Nghiên cứu về biểu hiện và nguyên nhân xung đột, D.E Way, Brett laursen (1987) đã nghiên cứu về xung đột tuổi thiếu niên Tác giả đã đưa ra hàng loạt biểu hiện xung đột của trẻ Ông cho rằng biểu hiện xung đột của trẻ rất đa dạng và phong
Trang 23phú Cùng xuất phát từ một nguyên nhân nhưng biểu hiện hành vi xung đột lại rất khác nhau: Cãi lí, lí sự, bỏ đi lang thang hoặc mắc bệnh trầm cảm
Trong xung đột tâm lý vợ chồng, tác giả John Gary (2009) đã đưa ra các nguyên nhân dẫn đến xung đột tâm lý cơ bản nhất là do nhận thức chưa đúng về sự khác nhau Ông nhấn mạnh sự khác nhau theo câc yếu tố: Giá trị bản thân, phản ứng khi bị căng thẳng, việc khích lệ, sự bất đồng về ngôn ngữ, về tình yêu Ông cho rằng, nguyên nhân sâu xa nhất của việc xung đột tâm lý là do cảm thấy mình không được yêu thương
Nghiên cứu về các mức độ và bản chất của xung đột, Murnich Zamnes, V.A Sysenko đã chỉ ra các mức độ xung đột tâm lý cụ thể như: Sự đồng nhất, sự khác nhau, sự đối lập, mâu thuẫn và cuối cùng là xung đột bùng nổ Ông đã đưa ra các trình tự của quá trình gây nên xung đột, từ sự đồng nhất tiêu cực, xung đột được ẩn dấu đến khi xung đột trở nên gay gắt đến mức không thể điều hòa được giữa các cá nhân, giữa cá nhân với nhóm về nhận thức, quan điểm, thái độ, hành động, lúc này xuất hiện sự phản kháng mạnh mẽ từ cả hai bên xung đột (dẫn theo Đỗ Hạnh Nga, 2014)
Cùng quan điểm và mục đích nghiên cứu về mức độ xung đột, Zắcke đã đưa
ra ba mức độ của xung đột đi kèm với những dấu hiệu dựa vào cường độ căng thẳng trong quan hệ: Thái độ tiêu cực kéo dài trong quan hệ, sự căng thẳng tiêu cực và mức độ cuối cùng là xung đột đi kèm với những dấu hiệu Trong đó, xung đột có những dấu hiệu rõ nhận biết nhất như: bùng nổ, cắn dứt, xúc phạm đến nhau, cãi nhau, dùng vũ lực, từ bỏ công việc, so với những dấu hiệu khó nhìn thấy, thông thường ở thời kỳ đầu như: lo lắng, giọng nói không thân thiện, không hiểu nhau, ý kiến khác nhau, (dẫn theo Lê Sơn, 2016)
Nghiên cứu về ảnh hưởng và phương thức giải quyết xung đột, A Rapport, Ja.Cob Becrcovich đã nghiên cứu sâu về sự ảnh hưởng của của xung đột tới bầu không khí tâm lý trong tập thể Các nhà nghiên cứu cho rằng xung đột thường nảy sinh trong nhóm và tập thể Trong những tập thể phát triển nhanh, có tính ổn định thì xung đột có vẻ ít xuất hiện hơn Ngược lại trong những nhóm, tập thể đang ở gia
Trang 24đoạn hình thành và phát triển thì mâu thuẫn kết thúc bằng sự xung đột là không ít (dẫn theo Nguyễn Thi Hiền, 2017)
Tác giả G.P Sedronixki và R.G Nadetxki (Phạm Thị Cường, 2017) đã khuyên các nhà giáo dục không nên bỏ qua những tình huống xung đột trong quan
hệ của trẻ mà phải chú ý đến và biến nó trở thành phương tiện giáo dục hiệu quả Nhiệm vụ của các nhà giáo dục là phải biết điều chỉnh những xung đột, xác định nguyên nhân xung đột và thông qua đó điều chỉnh mối quan hệ của trẻ
Dr Brenda Davies (2001) trong tác phẩm “làm thế nào để đối phó với những xung đột trong tình bạn” đã đưa ra cách thức giải quyết xung đột trong tình bạn như: tìm ra động cơ xảy ra xung đột là xuất phát từ yêu thương hay trả đũa vết thương lòng của bạn Tác giả đưa ra lời khuyên khi xảy ra xung đột, chúng ta cần tìm ra nguyên nhân xung đột và cư xử với thái độ cởi mở ngay cả khi bản thân đang tức giận và có cách nhìn bao quát dựa trên cả hai quan điểm của bạn và đối phương Như vậy bạn sẽ củng cố và duy trì được tình bạn lâu dài dù có xung đột xảy ra
Nhìn chung ở giai đoạn sau này, các nhà khoa học đã chỉ ra những nghiên cứu thực tiễn có liên quan đến biểu hiện, mức độ, sự ảnh hưởng từ xung đột và từ
đó đưa ra các lời khuyên cách giải quyết cụ thể và đã được đối chứng với cơ sở lí luận ban đầu Các nhà nghiên cứu Tâm lý học cho rằng xung đột là điều tất yếu xảy
ra, đòi hỏi được giải quyết trong quá trình phát triển cá nhân Nếu xung đột không được giải quyết thì cá nhân không thể có một cuộc sống bình thường giữa các cá nhân và giữa các nhóm với nhau trong xã hội Ngược lại, nếu xung đột được giải quyết phù hợp thì sẽ làm dịu đi sự căng thẳng, xóa bỏ cảm giác nặng nề trong mỗi
cá nhân và tập thể, tạo điều kiện cho mọi người hướng đến trách nhiệm chung và sự phát triển của tập thể, thúc đẩy cá nhân và tập thể phát triển theo chiều hướng tích cực Vì vậy, xung đột tâm lý được nghiên cứu và phân tích dưới nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu xung đột tâm lý và kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè ở Việt Nam
Cũng như ở nước ngoài, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã đưa ra lí luận và thực tiễn về vấn đề xung đột Xu hướng chung của các nhà nghiên cứu là làm sáng
Trang 25tỏ nguyên nhân, bản chất, mức độ, sự ảnh hưởng của xung đột và đưa ra cách giải quyết, từng bước thử nghiệm đối chứng và ứng dụng vào cuộc sống hiện tại
Các nhà nghiên cứu tâm lý học Việt nam đã đi sâu nghiên cứu về xung đột tâm lý theo 2 hướng chính:
Hướng thứ nhất: Nghiên cứu xung đột tâm lý giữa các cá nhân trong tập thể
Vũ Dũng (2000) đã đưa ra khái niệm phân biệt giữa mâu thuẫn và xung đột, trong đó xung đột là mức độ cao hơn của mâu thuẫn và là sự va chạm của các “xu hướng đối lập nhau trong tâm lý của các cá nhân trong hoạt động chung của tổ chức” Nhận định của các tác giả trên khẳng định xung đột xuất phát từ những sự đối lập, va chạm về nhận thức, quan điểm, phải bộc lộ qua thái độ và hành vi ứng
xử, “nếu chỉ dừng lại ở nhận thức thì chưa phải xung đột”
Nghiên cứu về sự ảnh hưởng và phương thức giải quyết, tác giả Nguyễn Ngọc Phú (2016) đã nói đến vấn đề xung đột tâm lý và giải quyết vấn đề xung đột tâm lý và giải quyết vấn đề xung đột trong lãnh đạo, quản lí bộ đội nhằm xây dựng quân đội vững mạnh
Nghiên cứu về biểu hiện và mức độ xung đột, tác giả Ngô Minh Tuấn và Nguyễn Văn Tuân (2015) đã tìm hiểu những biểu hiện của xung đột giữa các cá nhân trong tập thể quân nhân và ảnh hưởng của xung đột tới bầu không khí trong tập thể
Tác giả Đỗ Thị Vân Anh nghiên cứu mức độ đoàn kết và xung đột giữa các thành viên trong doanh nghiệp hiện nay, cho rằng đoàn kết và xung đột là không thể triệt tiêu, nhất là xung đột về quyền và lợi ích Để hạn chế đến mức có thể được những xung đột, không để xung đột bị đẩy lên cao, tác giả đưa ra các giải pháp quản
lý đảm bảo hài hòa về mặt lợi ích của công nhân và doanh nghiệp (dẫn theo Dương Thủy Nguyên, 2016)
Tác giả Đỗ Văn Phúc (2008) đã đưa ra quan điểm rằng cách giải quyết xung đột tận gốc (triệt để) cần loại trừ được mâu thuẫn về lợi ích và tránh được nhiều tình trạng xúc phạm nhau như “ngồi không đúng chỗ”, qua mặt nhau, coi thường nhau
Tóm lại, các nhà nghiên cứu Việt nam về xung đột Tâm lý giữa các cá nhân trong tập thể đã cung cấp cái nhìn tổng quát về thực trạng và lí luận xung đột trong
Trang 26các mối quan hệ của tập thể, từ đó đưa ra các nội dung của vấn đề và làm sáng tỏ hơn về mức độ xung đột và đưa ra biện pháp đề phòng ngừa
Hướng thứ hai: Nghiên cứu xung đột Tâm lý giữa các cá nhân trong nhóm nhỏ
Nghiên cứu về bản chất, nguyên nhân xung đột, Ngô Công Hoàn (1993) đã nghiên cứu về bản chất xung đột, cho rằng sự xung đột trong gia đình là “sự xung đột về nhận thức, quan điểm, thái độ và những thói quen hành vi ứng xử trong tổ chức đời sống sinh hoạt của các thành viên ở gia đình” Tác giả nhấn mạnh sự bất hòa, xung đột trong nhận thức phải bộc lộ qua hành vi và thái độ của các thành viên mới được xem là xung đột
Tương tự, bản báo cáo “Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe tâm thần (SKTT) trẻ em” – Hoàng Cẩm Tú (2017), đề cập đến một số vấn đề như nguyên nhân tạo ra xung đột kéo dài ở trẻ là sự thiếu gắn bó giữa các thành viên trong gia đình Chỉ ra những sai lầm ở cha mẹ trong quá trình giáo dục con cái [dẫn theo 23]
Một số nghiên cứu thực tiễn về xung đột trong các mối quan hệ liên nhân cách như : Tác giả Đinh Thị Kim Thoa (2002) “Xung đột tâm lý của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi”, tác giả Nguyễn Xuân Thức (2005) với tác phẩm “Xung đột tâm lý trong giao tiếp nhóm bạn bè của học sinh Tiểu học”, Ths Phạm Thành Tài (2011) với tác phẩm “Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp
luật một số nước trên thế giới” Tác giả Nguyễn Thị Hải (2014) đã đi sâu nghiên
cứu về “Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm” các nghiên cứu đều nhằm tìm hiểu lí luận, quan điểm chung về vấn đề kỹ năng, kỹ năng sống, xung đột tâm lý, nguyên nhân vấn đề và từ đó đề xuất biện pháp can thiệp Các biện pháp đề xuất của tác giả không chỉ có thể ứng dụng trong xung đột của mối quan hệ
vợ chồng, tình yêu nam nữ mà còn đóng góp vào cơ sở lý luận chung về vấn đề xung đột những cách thức, giải pháp để giải quyết cho các vấn đề xung đột liên nhân cách
Trang 27Lê Đức Phúc, Mạc Văn Trang (2003) đã có một số bài nghiên cứu về mặt lý luận, tìm ra các cấp độ xung đột trong gia đình và đưa ra cách giải quyết xung đột kịp thời cho vấn đề này
Tác giả Đỗ Hạnh Nga (2005) đã tiến hành nghiên cứu sâu về vấn đề “xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở về nhu cầu độc lập” trên 1460 học sinh Trung học Cơ sở và 1460 cha mẹ của học sinh các trường Trung học Cơ sở Nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống lý luận chung nhất về xung đột như bản chất của xung đột, đồng thời có nghiên cứu thực nghiệm nhằm có góc nhìn toàn diện nhất
Nguyễn Xuân Thức (2005) đã chỉ ra nguyên nhân xảy ra xung đột trong nhóm bạn bè học sinh Tiểu học và xu hướng giải quyết mâu thuẫn của học sinh tiểu học Ông cho rằng xung đột với bạn bè là điều tất yếu, điều quan trọng là giáo viên, người lớn nhận thức được xung đột của học sinh, phân loại xung đột, các nguyên nhân dẫn đến xung đột đế tìm ra cách giải quyết phù hợp Trong đó, ông đã chỉ ra nguyên nhân đẫn đến xung đột đa dạng, nhưng nhiều nhất là do bất đồng quan điểm, ý kiến cá nhân của các thành viên trong nhóm, người đứng ra giải quyết xung đột gồm nhiều lực lượng khác nhau, thủ lĩnh - người có uy tín trong nhóm là lực lượng tham gia giải quyết chủ yếu nhất Ông còn cung cấp thêm xu hướng giải quyết xung đột trong nhòm bạn bè của học sinh tiểu học là giải quyết trong nội bộ, hạn chế nhờ “ngoại bang” bên ngoài
Nguyễn Thị Oanh (2009) đã xuất bản bộ sách Tư vấn tâm lý học đường gồm những câu chuyện tư vấn tâm lý của tác giả, được tập hợp theo các chủ đề chính: gia đình; bản thân và các giá trị sống; chuyện học hành, hướng nghiệp; tình bạn, tình yêu… Những tình huống thực tế trong bộ sách giúp người nghiên cứu có cái nhìn khái quát về các vấn đề phổ biến của học sinh Trung học Cơ sở cũng như về mối quan hệ với bạn bè cùng tuổi và cung cấp nhiều góc nhìn trong việc giải quyết các vấn đề này
Theo tác giả Lê Minh Nguyệt (2016), xung đột tâm lý được chia làm 3 hướng tiếp cận: Xung đột tâm lý là một nguyên lý của sự phát triển tâm lý cá nhân, xung đột trong mối quan hệ xã hội giữa câc cá nhân và xung đột tâm lý thiếu niên
Trang 28Nhà nghiên cứu đã đưa ra được khái niệm, biểu hiện, phân loại và các yếu tố ảnh hường đến xung đột Tâm lý cụ thể Từ đó, tác giả đã đề xuất một số phương thức giải quyết xung đột tâm lý giữa thiếu niên và cha mẹ như: nâng cao kỹ năng giao tiếp của cha mẹ với con ở độ tuổi thiếu niên, dùng người trung gian hòa giải và cuối cùng là xây dựng bầu không khí tâm lý trong gia đình vui vẻ, hòa thuận, đoàn kết, yêu thương nhau
Ở Việt Nam, vấn đề xung đột ở lứa tuổi học sinh Trung học Cơ sở cũng có một số tác giả nghiên cứu như: Tác giả Nguyễn Thị Tế (2014) trong “Một số biểu hiện xung đột tâm lý trong quan hệ cha mẹ với con cái tuổi thiếu niên về nhu cầu độc lập” đã chỉ ra những biểu hiện của xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con cái và đưa ra những biện pháp tác động phù hợp nhằm khắc phục
Trong bài viết “Xử lí xung đột giữa giáo viên và phụ huynh học sinh từ việc
xử phạt học sinh” của tác giả Đỗ Quốc Huy (2016) đã chỉ ra và giải quyết một số tình huống xung đột trong thực tiễn giáo dục, cụ thể là việc xử phạt học sinh
Tác giả Thomas Crum (2016) trong tác phẩm “Hóa giải xung đột” đã cung cấp một số minh chứng cụ thể về xung đột: biểu hiện, nguyên nhân và bản chất của xung đột Từ đó đưa ra cách thức phản ứng trước xung đột như: hủy hoại, suy sụp, sống còn, thành công và nghệ thuật Từ đó, tác giả đưa ra biện pháp giải quyết xung đột đầy sáng tạo, có ý nghĩa nhằm giúp chúng ta tạo lập những mối quan hệ tốt đẹp hơn
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra cách nhìn khái quát về xung đột và kỹ năng giải quyết xung đột đi từ biểu hiện, mức độ, và cách giải quyết xung đột Trước hết, về lý luận, các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà tâm lý học trên thế giới cũng như Việt Nam chủ yếu hướng vào khái niệm về xung đột, giải quyết xung đột, các mức độ cụ thể, các yếu tố ảnh hưởng hay có liên quan đến quá trình giải quyết xung đột cũng như xây dựng các chiến lược giúp giải quyết xung đột tốt hơn Bên cạnh đó, những nhà khoa học cũng tập trung nghiên cứu về kỹ năng giải quyết xung đột trên rất nhiều lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực quản lý, điều trị tâm lý, học tập, đời sống
Trang 291.2 Kỹ năng
1.2.1 Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là hiện tượng tâm lý được nghiên cứu sâu trong tâm lý học Những năm trở lại đây, ngày càng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về kỹ năng của con người trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau bởi giá trị thực tiễn của kỹ năng trong cuộc sống Trước hết, về thuật ngữ kỹ năng, theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thì kỹ năng là: “Khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.”
Từ điển Oxford định nghĩa “skill” – kỹ năng là khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện
Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng (2000) chủ biên, kỹ năng là “năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thành thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, kỹ năng được hình thành qua luyện tập.”
Trong Từ điển Tâm lý học của A.M.Colman, “Kỹ năng là sự thông thạo, hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định; cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành” (dẫn theo Nguyễn Ngọc Duy, 2015)
Ph.N Gonobolin (1973) cho rằng: “Kỹ năng là những phương thức tương đối hòan chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo - những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động”
V.A Krutretxki (1980) cho rằng: “Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động- cái mà con người lĩnh hội được” Tác giả cho rằng: “Trong một số trường hợp thì kỹ năng là phương thức sử dụng các tri thức vào trong thực hành, con người cần áp dụng và sử dụng chúng vào trong cuộc sống, thực tiễn Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành kỹ năng được trở nên hoàn thiện và trong mối quan
hệ đó hoạt động của con người cũng trở nên hoàn hảo hơn trước”
Trang 30A.V Barabasicoov (1963) cho rằng: “Kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức và
kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá tình hoạt động thực tiễn Khả năng này là khả năng tự tạo của con người.”
Trần Trọng Thủy (1978) trong quyển sách “Tâm lý học lao động” cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có
kỹ thuật của hành động, có kỹ thuật
Tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Ánh cho rằng: “Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức
mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn năng lượng của cơ thể” (dẫn theo Nguyễn Hữu Long, 2010)
Tác giả N.D.Levitovxam xét kỹ năng gắn liền với hành động Theo ông người
có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động và thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh muốn hình thành kỹ năng, con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế
Từ điển Tâm lý học của Mỹ do tác giả J.P Chaplin chủ biên (1968) định nghĩa
kỹ năng là “thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn”
Các nhà tâm lý học phương Tây, khi nghiên cứu kỹ năng lao động của người công nhân trong qúa trình vận hành máy móc đã coi trọng mặt kỹ thuật của hành động, đó là yếu tố quy định hoạt động tâm lý con người, kể cả tư duy và việc hình thành kỹ xảo Quá trình này được rèn luyện công phu và có phương pháp trong quá trình thao tác với máy móc Trong một số lĩnh vực hoạt động chuyên môn, người công nhân có trình độ cao thì thao tác chính xác và nhanh Xét về một phương diện nào đó, sự thành thạo về thao tác là điều quan trọng để nâng cao hiệu quả lao động A.V Petrovxki (2015) cho rằng “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” Cụ thể hơn, tác giả viết: “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc
Trang 31tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành con những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi là kỹ năng”
Đồng quan điểm, tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng quan niệm kỹ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả (Mai Hiền Lê, 2010)
Các tác giả Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân (2014) cho rằng kỹ năng là cách vận dụng tri thức và thực tiễn, kỹ xảo là kỹ năng được củng cố và tự động hóa Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2017) cho rằng kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm
đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép
Hai nhà nghiên cứu K.K Platonov và G.G.Golubev (1977) cũng cho rằng kỹ năng là năng lực của một người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong một khoảng thời gian tương ứng Đồng thời, “Kỹ năng luôn được nhận thức Cơ sở tâm lý của nó là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động”
Tác giả Nguyễn Công Khanh (2004): “Kỹ năng là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm, kỹ xảo đã có để hành động phù hợp với những mục tiêu và những điều kiện thực tế đã cho
Người có kỹ năng về một hoạt động nào đó cần phải:
- Có tri thức về loại hoạt động đó, gồm: Mục tiêu, các cách thức thực hiện hành động, các điều kiện phương tiện để đạt mục đích
- Biết cách tiến hành hoạt động đó có hiệu quả và đạt đến kết quả phù hợp với mục đích
- Biết hành động có kết quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc Theo tác giả Phạm Thành Nghị (2012): “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể”
Trang 32Theo các tác giả trên, tri thức, kinh nghiệm, sự linh hoạt, sáng tạo đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành kỹ năng Đồng thời, kỹ năng được xác định là năng lực vận dụng tri thức
J.N Richard (2003) coi kỹ năng là hành động được thể hiện ra bên ngoài, chịu
sự chi phối của cách cảm nhận và suy nghĩ của cá nhân Như vậy, với các tác giả này, trong kỹ năng, ngoài việc cần có tri thức, hiểu biết, khả năng hành động, kết quả hành động, còn cần có thái độ, quan điểm, giá trị của các cá nhân
Tóm lại các quan điểm trên về kỹ năng, ta thấy:
- Kỹ năng được biểu hiện trong hành động và hoạt động của cá nhân qua hệ thống các thao tác cụ thể
- Để có được kỹ năng, con người phải biết vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào trong hành động, hoạt động sao cho phù hợp với điều kiện của hoạt động (biểu hiện mặt năng lực)
- Việc vận dụng tri thức, kinh nghiệm của cá nhân phải đảm bảo đúng với yêu cầu của hành động (tính nhận thức đúng đắn), thực hiện đầy đủ các thao tác của hoạt động (tính đầy đủ), thực hiện nhuần nhuyễn các thao tác mà không mắc lỗi (tính thành thạo) và có thể áp dụng được ở các tình huống đa dạng (tính linh hoạt)
- Để hình thành một kỹ năng cần có sự tổng hợp của nhiều kỹ năng khác có liên quan
Nguyễn Đức Hưởng đã đưa ra các chỉ báo đánh giá mức độ thuần thục, thành thạo của kỹ năng như: (dẫn theo PHạm Thành Tài, 2011)
- Mức độ hiểu biết hành động và các thao tác cấu thành nên hành động
- Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động
- Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động
- Hiệu quả của hành động
Khi đánh giá kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ báo trên Nếu chỉ sử dụng một chỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn (chẳng hạn như coi người có tri thức, người có thao tác linh hoạt là người có kỹ năng)
Trang 33Trong đề tài luận văn này, chúng tôi nhất trí với khái niệm của tác giả Nguyễn Công Khanh (2004) về kỹ năng để xác lập khái niệm về kỹ năng như sau:
Kỹ năng là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động có kết quả phù hợp với những mục tiêu và điều kiện đã cho
Như vậy, một người được xem là có kỹ năng trong một lĩnh vực nào đó phải là người:
- Nắm được các mục đích hành động, có tri thức về hành động, nắm được các cách thức và điều kiện thực hiện hành động
- Thực hiện hành động đúng, đạt được kết qủa hành động phù hợp mục đích đề
ra
- Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện đã thay đổi
1.2 2 Đặc điểm kỹ năng
Kỹ năng được hiểu như là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định,
cơ chế hình thành kỹ năng thực chất là cơ chế hình thành hành động, kỹ năng là mức độ cao của tính đúng đắn, thành thạo và sáng tạo trong việc triển khai hành động trong thực tiễn Kỹ năng phải gắn liền với hành động hay hoạt động cụ thể Khi xem xét đến kỹ năng, ta có thể thấy kỹ năng có 4 đặc điểm cơ bản sau:
- Tính đúng đắn (đúng –sai): Kỹ năng không có đối tượng riêng Đối tượng của
nó là đối tượng của hoạt động, hành động Không có kỹ năng chung chung, trừu tượng tách rời hành động Khi nói đến kỹ năng là nói đến một hành động cụ thể đạt tới mức đúng đắn nhất định Như vậy, tính đúng đắn của kỹ năng chính là sự tuân theo và thực hiện đúng những yêu cầu khách quan của kỹ năng về tất cả các mặt: Tri thức, tốc độ, thao tác, kĩ thuật, hành động
- Tính thành thục: Đó là sự vận dụng phù hợp các thao tác của kỹ năng với mục đích và điều kiện của hoạt động Tính thành thục được thể hiện ở sự thành thạo, tốc
độ của từng thao tác và sự kết hợp hợp lý của thao tác về số lượng cũng như trình
tự Trong quá trình thực hiện các thao tác không có những thao tác dư thừa, không còn gặp vướng mắc khi triển khai hành động Tác giả Nguyễn Đức Hưởng đã đưa ra
Trang 34các chỉ báo đánh gái mức độ thành thục của kỹ năng như: (Nguyễn Đức Mạnh, 2017)
+ Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động
+ Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động + Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động
Khi đánh giá kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ báo trên Nếu chỉ sử dụng một chỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn
- Tính linh hoạt: Là sự thể hiện ổn định, bền vững và sáng tạo của kỹ năng trong các điều kiện khác nhau của hoạt động Tính linh hoạt còn được thể hiện ở chỗ chủ thể biết bỏ đi những thao tác không cần thiết trong những tình huống nhất định hoặc thêm vào những thao tác phù hợp để thực hiện có hiệu quả hành động
- Tính hiệu quả: Là việc đạt được mục đich của hoạt động ở những mức dộ khác nhau Tri thức, kinh nghiệm đã có và các thao tác phù hợp sẽ không có ý nghĩa nếu cá nhân không đạt hiệu quả của hành động Vì vậy, có thể nói, tính hiệu quả của
kỹ năng là biểu hiện cao nhất của kỹ năng hành động Tình hiệu quả của kỹ năng được tạo thành từ 3 đặc điểm: Đúng đắn, thành thục, linh hoạt và được bộc lộ cũng trên cơ sở tổng hợp các tính chất này
Những đặc điểm của kỹ năng sẽ là cơ sở để xây dựng các tiêu chí đánh giá kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học
Cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh
1.2.3 Các giai đoạn hình thành và mức độ của kỹ năng
Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách phân chia khác nhau về mức độ của kỹ năng Nhưng nhìn chung các tác giả đều phân chia kỹ năng từ những kỹ năng ban đầu đến kỹ năng đạt ở mức hoàn hảo Theo quan điểm V.P.Bexpalko có năm mức
độ: ( dẫn theo Phan Trịnh Hoàng Dạ Thùy, 2010)
- Mức độ 1: Kỹ năng ban đầu
Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng kỹ năng nào đó, và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động nhất định Tuy nhiên, ở mức độ kỹ năng ban đầu này thì người học thường chỉ thực hiện được yêu cầu của kỹ năng này dưới sự hướng dẫn của người dạy
Trang 35- Mức độ 5: Kỹ năng hoàn hảo
Đây là mức độ cao nhất của kỹ năng Người học nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hành động khác nhau, biết chọn lựa những thao tác, hành động cần thiết và ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì
Theo quan điểm của K.K.Platonov (1963), G.G.Golubev (1967) có năm mức độ hình thành kỹ năng như sau:
- Mức độ 1: Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm
- Mức độ 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
- Mức độ 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng
lẻ
- Mức độ 4: Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động
- Mức độ 5: Vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình huống khác
nhau
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, sự hình thành kỹ năng gồm ba bước:
- Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động
- Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu
Trang 36- Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt được mục đích đặt ra
Theo Nguyễn Phụ Thông Thái, kỹ năng được hình thành qua 2 giai đoạn:
- Bước 1: Có tri thức về hành động (mục đích, cách thực hiện, các điều kiện hành động) và các kinh nghiệm cần thiết
- Bước 2: Vận dụng các tri thức, kinh nghiệm đã có vào hành động và thực hiện hành động có kết quả
Theo Vũ Dũng (2000) thì sự hình thành kỹ năng trải qua ba bước:
- Bước 1: Người học lần đầu làm quen với vận động và lần đầu lĩnh hội nó
Sự học vận động bắt đầu từ việc phát hiện các thành phần của vận động - tập hợp các thành tố vận động, trình tự thực hiện và mối liên kết của chúng Việc làm quen này diễn ra trên cơ sở người học được xem và trình diễn lại, thuật lại, giảng giải và quan sát một cách trực quan quá trình thực hiện vận động
Tiếp theo là giai đoạn đòi hỏi nhiều nỗ lực Người học phải lặp lại vận động nhiều lần để nắm bắt bức tranh bên trong của vận động Đồng thời học bản mã hóa những tín hiệu từ các mệnh lệnh Việc tích lũy “những từ điển chuyển mã” là một trong những sự kiện quan trọng nhất của giai đoạn này Cần phải lặp đi lặp lại nhiều lần để người học có thể tìm ra “bảng mã” trong bất kỳ phương án nào của vận động, kể cả khi có sự lệch chuẩn
- Bước 2: Giai đoạn tự động hóa vận động Ở đây các thành phần chủ đạo của vận động được giải phóng từng phần hoặc hoàn toàn khởi sự liên quan đến nó, thoát khỏi sự kiểm soát của ý thức và sự “thoát khỏi” này cần sự hỗ trợ
- Bước 3: Diễn ra sự “mài bóng” kỹ năng như quá trình ổn định hóa và tiêu chuẩn hóa Trong quá trình ổn định hóa, kỹ năng đạt được tính bền vững và không bị phá hủy trong bất kỳ tình huống nào Trong quá trình tiêu chuẩn hóa,
kỹ năng dần được định khuôn lặp đi lặp lại vận động nhiều lần
Theo K.K.Platonov (1963), G.G Golubev (1967) thì kỹ năng được hình thành
và phát triển qua 5 bước: (dẫn theo Nguyễn Văn Danh, 2016)
Trang 37- Bước 1: Kỹ năng còn rất sơ đẳng khi chủ thể mới ý thức được mục đích và tìm cách thức hành động dưới dạng “thử” và “sai”
- Bước 2: Kỹ năng đã có, nhưng chưa đầy đủ
- Bước 3: Kỹ năng chung, song còn mang tính riêng lẻ
- Bước 4: Kỹ năng ở trình độ cao, khi này cá nhân sử dụng thành thạo các thao tác kỹ thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích
- Bước 5: Kỹ năng tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo vừa sáng tạo trong sử dụng các kỹ năng ở những điều kiện khác nhau
Các giai đoạn hinh thành và mức độ biểu hiện trên đây của kỹ năng sẽ là cơ
sở để xây dựng các mức độ biểu hiện kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh Trong đề tài này, dựa theo quan điểm V.P.Bexpalko, tôi xin đề ra 3 mức độ cho
Kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
-Mức độ thấp: Học sinh chưa biết sử dụng kỹ năng một cách phù hợp
-Mức độ trung bình: Học sinh sử dụng kỹ năng tốt hơn vào những trường hợp quen thuộc, chưa thành thạo, còn máy móc, rập khuôn
-Mức độ cao: Học sinh biết sử dụng sáng tạo, linh hoạt kỹ năng trong mọi trường hợp
1.3 Xung đột tâm lý
1.3.1 Định nghĩa xung đột
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng chủ biên (2000): “Xung đột là sự mâu thuẫn về các mục tiêu, lợi ích, quan điểm, ý kiến, cách nhìn có khuynh hướng đối lập của những người đối lập hoặc các chủ thể có tác động qua lại với nhau” Xung đột có nguồn gốc từ tiếng latinh là “Conflitus” - tức là sự va chạm, bất hòa, sự tranh cãi, đụng độ, chống đối giữa những khuynh hướng đối lập nhau trong
ý thức của mỗi cá nhân, trong sự tác động qua lại giữa các cá nhân hay nhóm người gắn liền với các trạng thái cảm xúc tiêu cực
Theo Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (2006) cho rằng xung đột được hiểu theo hai nghĩa:
Trang 38Thứ nhất: Xung đột là sự đánh nhau giữa các lực lượng đối địch
Thứ hai: Xung đột là sự va chạm, chống chọi nhau do có mâu thuẫn gay gắt Theo Từ điển tâm lý, tác giả Nguyễn Khắc Viện (1989) xác định xung đột là sự tranh chấp giữa những xu hướng lợi ích trong đó chủ thể thấy mình bị giằng xé giữa những sức mạnh ngược chiều và ngang sức nhau Xung đột theo nghĩa này là xung đột nội tâm của chủ thể
Erik.J Van Slyke (2004) trong tác phẩm Nghệ thuật lắng nghe để xử lý xung đột cho rằng xung đột là sự cạnh tranh giữa các phe liên quan, phụ thuộc lẫn nhau,
có nhận thức xung đột với nhau về mục đích, ước mơ hay ý kiến Nó là tình trạng
mà người ta không thể tán thành hay hòa thuận với ai khác Tác giả cho rằng nhận thức là nguyên nhân dẫn đến xung đột, ngoài ra xung đột xuât hiện ở mối quan hệ
mà giữa những cá nhân có sự phụ thuộc lẫn nhau
Tác giả Văn Kim Cúc (2003) cho rằng xung đột là sự bất đồng quan điểm, bất đồng nhận thức, từ đó dẫn đến những ứng cử không phù hợp với nhau, không hòa đồng với nhau Tác giả đã tiếp cận xung đột dưới góc độ nhận thức và ứng xử khi nhận thức bất đồng sẽ dẫn đến việc xuất hiện những ứng xử không phù hợp Như vậy, trong xung đột có mối quan hệ giữa nhận thức với cảm xúc và hành vi
Từ những định nghĩa của các tác giả trên về xung đột, chúng tôi xây dựng khái niệm mới như sau:
Xung đột là sự va chạm, mâu thuẫn có khuynh hướng đối lập nhau trong sự phát triển nhân cách của cá nhân hoặc giữa các chủ thể trong mối quan hệ tác động lẫn nhau
Với định nghĩa trên, ta có thể hiểu xung đột như sau:
Thứ nhất, xung đột bao gồm sự khác nhau, bất đồng, mâu thuẫn, đến va chạm giữa các yếu tố trong mỗi chủ thể hoặc giữa các chủ thể Xung đột bao giờ cũng được xảy ra trong tương tác giữa các yếu tố tâm lý của cá nhân hoặc tương tác giữa hai hay nhiều chủ thể Không có xung đột ngoài tương tác
Thứ hai, xung đột không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một quá trình động, theo một vòng khâu của tương tác và hoạt động của chủ thể: bắt đầu từ sự thống nhất -> sự khác nhau -> sựu khác biệt -> sự đối lập -> sựu mâu thuẫn -> xung khắc
Trang 39Thứ ba, xung đột không phải bao giờ cũng mang tính tiêu cực, triệt tiêu, phá hủy, mà nó có cả ý nghĩa tích cực Xung đột là phương thức giải quyết mâu thuẫn, đưa sự vật phát triển lên trình độ mới
Thứ tư, nguyên nhân dẫn đến sự xung đột là do sự khác biệt, đối lập về những mục đích, lợi ích, những xu hướng tâm lý; sự khác biệt, mâu thuẫn về nhận thức, cảm xúc, của cá nhân hay nhóm
1.3.2 Định nghĩa xung đột tâm lý
Xung đột tâm lý là xung đột có phổ rộng hơn, không chỉ là mức độ cao của mâu thuẫn, mà ngay cả khi có sự khác nhau, sự đối lập của các hiện tượng tâm lý trong một chủ thể hoặc giữa các chủ thể cũng được coi là mức độ nhất định của xung đột Xung đột có biên độ khác nhau đến mâu thuẫn, xung khắc nhau về các yếu tố tâm lý
cá nhân hoặc giũa các cá nhân, các nhóm xã hội
Nếu xung đột chỉ xảy ra khi mâu thuẫn trở nên đối kháng không điều hòa được thì xung đột tâm lý không nhất thiết chỉ từ mâu thuẫn đối kháng mà từ nhiều mức
độ khác nhua Bởi lẽ, trong một cá nhân có một nhân cách, nhận thức, thái độ sống, quan điểm,… và nhiều khi đối lập với người khác Vì thế, trong hoạt động cùng nhau, sự va chạm, bất đồng giữa người này với người khác là điều khó tránh khỏi Xung đột dù diễn ra dưới dạng xung đột nội tâm hay xung đột liên cá nhân (diễn ra giữa mỗi cá nhân, nhóm hay dân tộc) đều có biểu hiện tâm lý của cá nhân, nhóm hay dân tộc đó Khái niệm xung đột tâm lý nhấn mạnh hơn những biểu hiện
về tâm lý như xu hướng đối lập, các trạng thái cảm xúc, hành vi ứng xử,
A.V Petrovxki (1963), định nghĩa xung đột tâm lý là sự va chạm của những quan điểm, hoài bão, lợi ích đối lập nhau
Tác giả Mai Hữu Khuê (1993) nghiên cứu xung đột tâm lý trong quá trình tổ chức, quản lý cho rằng xung đột tâm lý là mâu thuẫn giữa các chủ thể về vị thế xã hội, quyền lợi, uy tín cá nhân
Theo Vũ Dũng (2000), xung đột tâm lý là sự va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lý của các cá nhân, trong hoạt động chung của tổ chức
Trang 40Tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007) cho rằng xung đột tâm lý là sự va chạm, đụng độ, đấu tranh giữa các mục đích, lợi ích, những xu hướng tâm lý khác biệt, tồn tại trong một cơ cấu thống nhất của bản thân mỗi người, hoặc giữa các cá nhân trong mối quan hệ liên nhân cách hay liên nhóm, cùng với những trạng thái cảm xúc tiêu cực như: hoang mang, lo lắng, khó chịu, bực bội, phẫn nộ, căm giận
Tác giả Đỗ Hạnh Nga (2014) định nghĩa xung đột tâm lý là sự va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lý - ý thức của mỗi cá nhân, trong quan hệ qua lại giữa các cá nhân hay các nhóm người, nó biểu hiện trong các trải nghiệm cảm xúc kèm theo những chấn động về tình cảm (thường là cảm xúc âm tính: nóng giận, bực bội, khó chịu, )
Theo tác giả Lê Minh Nguyệt (2016), xung đột tâm lý là “sự khác nhau, bất đồng, mâu thuẫn, giũa các yếu tố tâm lý trong mỗi chủ thể hoặc giữa các chủ thể có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, được bộc lộ bằng những quan niệm, trạng thái cảm xúc và hành vi khác nhau ở mỗi chủ thể”
Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2017) định nghĩa xung đột là quá trình trong đó một bên nhận ra rằng quyền lợi của mình hoặc đối lập hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi một bên khác Nói khác đi, xung đột liên quan đến hành vi không hài lòng phát sinh
từ một tiến trình, qua đó một phía nhằm tìm ra sự trội hơn về quyền lợi trong mối quan hệ, trong giao tiếp
Theo tác giả Nguyễn Hữu Thụ, xung đột trong tập thể sản xuất, kinh doanh là
sự mâu thuẫn, sự cọ sát va chạm về lợi ích, bất đồng quan điểm của cá nhân (hay nhóm người) trong hoạt động sản xuất kinh doanh về một vấn đề, sự việc nào đó có liên quan tới sự tồn tại và phát triển của họ
Từ những khái niệm về xung đột tâm lý của các tác giả trên, chúng tôi dựa theo quan điểm của tác giả Đỗ Hạnh Nga (2014) và xây dựng khái niệm vê xung đột tâm
lý như sau:
Xung đột tâm lý là sự va chạm, mâu thuẫn có khuynh hướng đối lập nhau trong
sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân hoặc trong mối quan hệ qua lại giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với nhóm (liên nhân cách), biểu hiện qua các trải nghiệm nhận thức, cảm xúc, hành vi kèm theo những chấn động về tình cảm