Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng và xác định s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÚY
KĨ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHMER Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, luận án tiến sĩ “Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập
của sinh viên Khmer ở một số trường đại học vùng Đồng bằng sông Cửu Long” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Minh Loan và PGS.TS Hoàng Mộc Lan, hai nhà khoa học đã quan tâm sâu sắc, tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và động viên tôi hoàn thành luận án này Những năm đầu của khóa học NCS, tôi đã được PGS.TS Hoàng Mộc Lan hướng dẫn, truyền cho tôi tri thức và gợi ý cho tôi những ý tưởng về luận án Cô đã giúp cho tôi tiếp cận các phương pháp nghiên cứu, tạo nền tảng vững chắc cho tôi trong học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tôi được PGS.TS Lê Thị Minh Loan luôn sát cánh cùng tôi trong suốt thời gian làm nghiên cứu Cô dạy tôi tiếp cận cách tư duy mới trong nghiên cứu, giúp tôi lựa chọn những phương pháp thực hiện khả thi nhất, cập nhật các phương pháp xử lý để kết quả nghiên cứu mang tính khách quan, trao đổi
để tôi liên tục xây dựng và thực hiện mọi ý tưởng có thể trong luận án
Tôi xin kính gửi đến Quý thầy cô giáo trong khoa Tâm lý học và cán bộ phòng Sau đại học trường Đại học KHXH & Nhân văn Hà Nội cùng toàn thể quý thầy cô tham gia giảng dạy, tư vấn hỗ trợ tôi suốt trong quá trình học tập và nghiên cứu lời cảm ơn chân thành!
Cám ơn Ban giám hiệu, thầy cô giáo trường Đại học Trà Vinh đã luôn ủng
hộ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian tôi làm luận án
Các bạn học viên cùng lớp NCS khóa 2016 đã nhiệt tình, tương tác trực tuyến giúp đỡ tôi ở xa nhưng vẫn cập nhật đầy đủ những kiến thức và tài liệu mới nhất từ các hội thảo chuyên môn, từ các khóa tập huấn và buổi báo cáo chuyên đề Xin chân thành cám ơn các bạn
Cuối cùng, tôi đặc biệt cám ơn gia đình đã luôn quan tâm, khích lệ và chăm sóc tôi để tôi có thể thực hiện đến cùng công trình này
Hà Nội, ngày 16 tháng 6 năm 2020
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Mục lục 1
Danh mục các từ viết tắt 4
Danh mục bảng 5
Danh mục hình vẽ, biểu đồ 7
MỞ ĐẦU 8
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KĨ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 16
1.1 Nghiên cứu những khó khăn về giao tiếp trong hoạt động học tập ở sinh viên 16
1.2 Nghiên cứu về các kĩ năng giao tiếp thành phần trong hoạt động học tập của sinh viên 21
1.3 Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên 24
1.4 Nghiên cứu về ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp tới kết quả học tập của sinh viên 28
1.5 Nghiên cứu về biện pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho sinh viên 31
Tiểu kết chương 1 và khoảng trống nghiên cứu 35
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ KĨ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHMER 37
2.1 Kĩ năng giao tiếp 37
2.2 Hoạt động học tập của sinh viên Khmer 46
2.3 Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer 54
2.4 Ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập tới kết quả học tập của sinh viên Khmer 65
2.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer 66
Trang 6Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 72
3.1 Địa bàn và khách thể nghiên cứu 72
3.2 Tổ chức nghiên cứu 76
3.3 Phương pháp nghiên cứu 77
Tiểu kết chương 3 91
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ KĨ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHMER 92
4.1 Thực trạng kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer 92
4.1.1 Đánh giá chung về thực trạng kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer 92
4.1.2 Thực trạng nhóm kĩ năng thành phần thuộc kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer 94
4.1.3 Đặc trưng kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer dựa trên phân tích cụm và phân tích biệt số 111
4.1.4 So sánh kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer theo các biến số nhân khẩu 120
4.2 Mức độ ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp đến kết quả học tập của sinh viên Khmer 126
4.2.1 Mối quan hệ giữa kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp và kết quả học tập của sinh viên Khmer 126
4.2.2 Dự báo ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập đến kết quả học tập của sinh viên Khmer 129
4.3 Thực trạng và mức độ tác động của yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer 132
4.3.1 Thực trạng của các yếu tố ảnh hưởng 132
4.3.2 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer 138
Trang 74.4 Phân tích chân dung tâm lý điển hình 145
4.4.1 Trường hợp 1 145
4.4.2 Trường hợp 2 149
4.4.3 Trường hợp 3 154
4.5 Một số biện pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp cho sinh viên Khmer 158
Tiểu kết chương 4 169
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 171
1 Kết luận 171
2 Kiến nghị 173
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 175
TÀI LIỆU THAM KHẢO 176 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG Tên bảng Trang
Bảng 3.1 Đặc điểm của nhân khẩu về khách thể nghiên cứu .75
Bảng 3.2 Độ tin cậy của phiếu khảo sát 84
Bảng 4.1 Biểu hiện tập trung và ghi chú trong HĐHT của sinh viên Khmer 95
Bảng 4.2 Biểu hiện hiểu khi lắng nghe trong HĐHT của sinh viên Khmer 96
Bảng 4.3 Biểu hiện vận dụng trong lắng nghe nội dung học tập của sinh viên Khmer 97
Bảng 4.4 Biểu hiện sử dụng từ ngữ, ngữ pháp trong kĩ năng trình bày nội dung học tập của sinh viên Khmer 100
Bảng 4.5 Biểu hiện ngôn ngữ không lời khi trình bày nội dung học tập của sinh viên Khmer 102
Bảng 4.6 Biểu hiện về khả năng truyền tải thông tin khi trình bày nội dung học tập của sinh viên Khmer 103
Bảng 4.7 Biểu hiện đóng góp ý kiến trong học tập nhóm của sinh viên Khmer 105
Bảng 4.8 Biểu hiện giao tiếp với các thành viên nhóm trong học tập nhóm của sinh viên Khmer 107
Bảng 4.9 Khả năng kiểm soát hành động để đạt được mục tiêu trong học tập nhóm của sinh viên Khmer 108
Bảng 4.10 Bảng hệ số Eigenvalue và Wilk trong phân tích biệt số 113
Bảng 4.11 Hệ số hàm phân biệt dự đoán các Cụm (Nhóm) KNGT trong HĐHT 114
Bảng 4.12 Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập giữa các trường Đại học 120
Bảng 4.13 Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập giữa các nhóm ngành 121
Bảng 4.14 Kĩ năng giao tiếp trong HĐHT giữa nam và nữ sinh viên Khmer 124
Bảng 4.15 Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập giữa sinh viên Khmer là cán bộ lớp và không là cán bộ lớp 125
Bảng 4.16 Mối quan hệ giữa KNGT trong HĐHT và điểm tích lũy của sinh viên Khmer 127
Bảng 4 17 Mối quan hệ giữa KNGT trong HĐHT và các Chỉ số học tập 128
Bảng 4.18 Hồi quy đơn biến của kĩ năng giao tiếp dự báo kết quả học tập 130
Trang 10Bảng 4.19 Nhận thức của sinh viên Khmer về tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp 132
Bảng 4.20 Động cơ học tập của sinh viên Khmer 133
Bảng 4.21 Các nét tính cách của sinh viên Khmer 134
Bảng 4.22 Điều kiện học tập ở lớp học và ở trường Đại học 136
Bảng 4.23 Sự khích lệ của giảng viên trên lớp 136
Bảng 4.24 Hệ số tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng với KNGT trong HĐHT 138
Bảng 4.25 Các yếu tố dự báo kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập một cách độc lập 140
Bảng 4.26 Các yếu tố dự báo kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập một cách độc lập (theo cụm) 141
Bảng 4.27 Mức độ dự báo của các yếu tố đến KNGT trong HĐHT của sinh viên Khmer 142
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Tên hình vẽ, biểu đồ Trang
Hình 2.1 Biểu hiện của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer 63
Hình 2.2 Khung lý thuyết về KNGT trong HĐHT trên lớp của sinh viên Khmer 71
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ phân bố điểm của KNGT trong HĐHT 92
Biểu đồ 4.2 Điểm trung bình của các nhóm KNGT thành phần trong HĐHT 93
Biểu đồ 4.3 Biểu đồ phân tích cụm 112
Biểu đồ 4.4 Biểu đồ phân bố các cụm phân biệt 115
Biểu đồ 4.5 Xu hướng về mức độ KNGT trong HĐHT theo năm học 123
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch
sử xã hội, cũng như quá trình hình thành và phát triển của từng cá nhân Xét về mặt
lý luận, trường phái tâm lý học hoạt động đã chỉ ra: ý thức và nhân cách của cá nhân được hình thành, phát triển và bộc lộ trong hoạt động và giao tiếp (Lê Đức Phúc, 2004) Cùng với hoạt động, giao tiếp đã trở thành một phương thức tồn tại xã hội của con người Xét về mặt thực tiễn, giao tiếp đã được nhiều nhà tâm lý học trong
và ngoài nước nghiên cứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của hoạt động học tập,
nghề nghiệp và cuộc sống (Green, 2003, 2009; Huỳnh Văn Sơn, 2011; Hargie,
2011, 2018)
Đối với sinh viên ở môi trường đại học, giao tiếp có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động học tập Bởi vì, nhờ có giao tiếp mà sinh viên nắm bắt các tri thức khoa học, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp Mặt khác, nhờ có giao tiếp sinh viên mở rộng đối tượng giao tiếp trong trường đại học, thoả mãn được các nhu cầu giao tiếp của bản thân, đồng thời tăng cơ hội việc làm sau khi ra trường Tuy nhiên, vẫn còn nhiều sinh viên ở các trường đại học gặp khó khăn trong giao tiếp như: giao tiếp vụng về, cứng nhắc, ấp úng, một số khác không thể trình bày, diễn đạt ý kiến hay nội dung học tập một cách mạch lạc (Nguyễn Văn Đồng, 2005; Nguyễn Thị Cẩm & Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2016) Những khó khăn trong giao tiếp ở sinh viên dân tộc thiểu số trong môi trường đại học còn được chứng minh là nhiều hơn so với sinh viên dân tộc Kinh vì đa số họ sử dụng song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc), một số sinh viên nói tiếng Việt chưa tốt, một số khác còn nhút nhát, dè dặt, ít bộc lộ nên thiếu linh hoạt và nhạy bén khi giải quyết những tình huống xảy ra trong quá trình giao tiếp và trong hoạt động học tập (Nguyễn Thị Hoài, 2007; Nông Thị Nhung, 2016)
Sử dụng song ngữ (tiếng Việt và tiếng Khmer) cũng là một đặc điểm nổi bật của sinh viên Khmer vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó, vốn tiếng Việt của sinh viên Khmer sử dụng trong hoạt động học tập còn hạn chế (Phạm Văn Tuân,
Trang 132016; Bùi Thị Luyến, 2016) Từ những nét đặc thù trong ngôn ngữ của sinh viên Khmer dẫn đến nhiều em gặp khó khăn trong diễn đạt suy nghĩ, e ngại, lẩn tránh tiếp xúc với giảng viên, với bạn Ngoài ra, trong hoạt động học tập trên lớp, sinh viên Khmer còn gặp nhiều khó khăn về mặt tâm lý như: có cảm giác căng thẳng, lo lắng, bất an khi phải trình bày trước lớp và cảm giác bất lực khi không hiểu bài (Phạm Văn Tuân, 2017) Kết quả học tập của sinh viên dân tộc Khmer cũng vì vậy
mà thấp hơn so với sinh viên dân tộc Kinh1 Ngoài ra, các kĩ năng liên quan đến làm việc nhóm, truyền đạt thông tin, giải quyết vấn đề tại nơi làm việc của sinh viên Khmer sau tốt nghiệp cũng không được các đơn vị tuyển dụng đánh giá cao (Nguyễn Thị Thúy, 2018) Liệu những khó khăn tâm lý trong học tập và khả năng giao tiếp tại nơi làm việc sau khi ra trường có mối liên hệ với kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer? Thực tế này đặt ra một yêu cầu cấp thiết về mặt thực tiễn là cần làm rõ thực trạng kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer, các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng và mức độ ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập đến kết quả học tập của sinh viên Khmer; trên cơ sở đó, có những biện pháp phát triển các kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập còn yếu hoặc thiếu để giúp các em học tập đạt kết quả tốt hơn
Xét về mặt lý luận, hoạt động học tập ở đại học là hoạt động đặc thù gắn với một lĩnh vực nghề nghiệp tương lai và sinh viên đại học cần có cả kĩ năng giao tiếp
cá nhân và kĩ năng giao tiếp nhóm để lĩnh hội hiệu quả các tri thức khoa học cơ bản
và nghề nghiệp Tuy nhiên, khi nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên đại học, các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu các kĩ năng giao tiếp cá nhân (Trần Thị Phụng Hà & Nguyễn Ngọc Lẹ, 2015; Nông Thị Nhung, 2016) hoặc chỉ tập trung vào kĩ năng giao tiếp nhóm (Nguyễn Thị Thúy Hạnh, 2012; Nguyễn Thị Diễm My, 2017) Đặc biệt chưa có một công trình nào
1 Theo số liệu thống kê điểm tổng kết năm học 2016 - 2017, 2017 - 2018 của khoa chuyên môn, trường đại học Trà Vinh
Trang 14nghiên cứu chuyên biệt nào về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của nhóm khách thể là sinh viên Khmer Vì vậy, việc xây dựng khung lý luận về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên, mô tả những nét đặc trưng về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer, xác định mức độ ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập tới kết quả học tập là một nhiệm vụ cần thiết trong nghiên cứu tâm lý học tại Việt Nam Với những vấn đề lý luận và
thực tiễn trên tôi chọn đề tài: Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh
viên Khmer ở một số trường đại học vùng Đồng bằng sông Cửu Long
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng và xác định sự ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập đến kết quả học tập của sinh viên Khmer, luận án đề xuất một số biện pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp cho sinh viên Khmer
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh
viên Khmer
3.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên Khmer và giảng viên có giảng dạy sinh viên Khmer
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận
- Tổng quan các nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên và chỉ ra khoảng trống trong nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer
4.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Đánh giá thực trạng về biểu hiện và mức độ kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer
Trang 15- Xác định mức độ ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp tới kết quả học tập của sinh viên Khmer
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp cho sinh viên Khmer
5 Gi i hạn phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu kĩ năng giao
tiếp trong hoạt động học tập diễn ra trên l p của sinh viên Khmer dựa trên ba kĩ
năng thành phần: Kĩ năng lắng nghe nội dung học tập, Kĩ năng trình bày nội dung học tập và Kĩ năng hợp tác trong học tập nhóm
- Về đ àn nghiên cứu Luận án nghiên cứu tập trung ở ba 3 trường Đại
học ở Đồng bằng Sông Cửu Long – nơi có nhiều sinh viên Khmer theo học, bao gồm: trường Đại học Cần Thơ, trường Đại học Trà Vinh và trường Đại học Kiên Giang
- Về h ch th nghiên cứu 426 sinh viên dân tộc Khmer từ năm thứ nhất
đến năm thứ ba và 20 giảng viên có ít nhất 5 năm thâm niên trong giảng dạy sinh viên Khmer
6 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer
ở mức độ nào và được biểu hiện ra sao?
(2) Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer
có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên Khmer không? Nếu có, ở mức
Trang 167 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer
ở mức trung bình với biểu hiện đặc trưng là thiên về tập trung các giác quan để lắng nghe nội dung học tập và hạn chế ở khả năng diễn đạt nội dung học tập bằng lời khi tương tác với giảng viên trong các giờ học và các bạn cùng lớp trong các hoạt động học tập nhóm
(2) Kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer ảnh hưởng thuận chiều đến kết quả học tập của sinh viên khmer
(3) Nhận thức về tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp, động cơ học tập, hành vi giao tiếp mang tính khích lệ của giảng viên và điều kiện học tập ở lớp, ở trường ảnh hưởng thuận chiều đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer, trong khi đó nét tính cách đặc trưng của sinh viên Khmer ảnh hưởng nghịch chiều đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer
(4) Có thể nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho sinh viên Khmer bằng các khóa tập huấn kĩ năng giao tiếp
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Việc thiết kế nghiên cứu kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer dựa vào nguyên tắc tiếp cận khoa học sau:
- Nguyên tắc tiếp cận duy vật iện chứng Theo quan điểm duy vật biện
chứng, mọi hiện tượng tâm lý con người đều phụ thuộc một cách tất yếu và có tính quy luật vào các tác động bên ngoài (các điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể) tác động vào con người thông qua các điều kiện bên trong Như vậy, các yếu tố bên ngoài tác động đến KNGT trong HĐHT của sinh viên Khmer là giảng viên, điều kiện học tập của trường, của lớp; đặc điểm truyền thống, văn hóa của dân tộc, của gia đình; môi trường giao tiếp với tất cả các mối quan hệ xã hội mà sinh viên tham gia vào,… Các điều kiện bên trong chính là những đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên Khmer như đặc điểm tâm lý lứa tuổi, nhận thức, động cơ học tập, Đây chính là đặc điểm chủ
Trang 17đạo khi nghiên cứu KNGT trong HĐHT của sinh viên nói chung và sinh viên Khmer nói riêng
- Nguyên tắc hoạt động: Theo quan điểm của tâm lý học hoạt động: tâm lý,
ý thức con người được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động Hoạt động của cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở, là nhân tố quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách Đối với sinh viên ở các trường đại học, hoạt động học tập chính là hoạt động chủ đạo, vì vậy nghiên cứu KNGT trong HĐHT của sinh viên Khmer cần dựa trên cơ sở hoạt động học tập của sinh viên Điều này có nghĩa
là cần nghiên cứu những hành động, hoạt động cụ thể của sinh viên khi tham gia
học tập và khi giải quyết các nhiệm vụ học tập trong các hoạt động học tập
8.2 Các phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, luận án sử dụng phối hợp các
phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình
- Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0
9 Đóng góp m i của luận án
9.1 Về lý luận
Trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hóa và phân tích các nghiên cứu trong nước và nước ngoài, luận án chỉ ra:
- Những khó khăn trong giao tiếp học thuật trên lớp của nhóm sinh viên thiểu
số và những yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của nhóm sinh viên này khi học ở môi trường đại học
- Chỉ ra các nhóm biểu hiện của kĩ năng giao tiếp thành phần trong hoạt động học tập đặc trưng của sinh viên Khmer bao gồm kĩ năng lắng nghe nội dung học tập (với các biểu hiện tập trung và ghi chú, hiểu và vận dụng), kĩ năng trình bày
Trang 18nội dung học tập (với các biểu hiện sử dụng tiếng Việt, ngôn ngữ không lời, khả năng truyền tải thông điệp) và kĩ năng hợp tác trong học tập nhóm (với các biểu hiện đóng góp ý kiến, giao tiếp với thành viên nhóm, kiểm soát hành động để đạt mục tiêu nhóm)
9.2 Về thực tiễn
- Chỉ ra nét đặc trưng của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp
ở sinh viên Khmer là có sự tập trung cao các giác quan để lắng nghe, ghi chú các nội dung học tập, nhưng hạn chế trong khả năng diễn đạt nội dung học tập bằng lời khi tương tác với thầy cô và bạn trong nhóm và trên lớp
- Áp dụng phương pháp phân tích cụm, phân tích biệt số và phân tích hồi quy, nghiên cứu chỉ ra 3 nhóm sinh viên Khmer có KNGT trong HĐHT ở 3 mức độ cao, trung bình và thấp với những đặc trưng riêng cả về biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng Nhóm sinh viên Khmer có KNGT thấp có đặc trưng là tập trung giác quan
để lắng nghe và ghi chú nội dung học tập, nhóm chịu ảnh hưởng mạnh bởi hành vi giao tiếp mang tính khích lệ của giảng viên Trong khi đó, nhóm sinh viên có KNGT trung bình có đặc trưng là giao tiếp bằng lời trong diễn đạt nội dung học tập tốt, nhưng khả năng tập trung lắng nghe không cao, những SV này bị ảnh hưởng mạnh bởi điều kiện học tập Nhóm sinh viên có KNGT cao có đặc trưng tốt ở tất cả các KNGT thành phần, nhóm chịu tác động mạnh bởi yếu tố động cơ học tập
- Bổ sung thêm bằng chứng khẳng định một số yếu tố ảnh hưởng tới KNGT trong HĐHT trên lớp của sinh viên Khmer Phát hiện động cơ học tập của sinh viên Khmer là yếu tố tác động mạnh nhất, trong khi đó nét tính cách của sinh viên Khmer không ảnh hưởng đến KNGT trong HĐHT trên lớp của sinh viên Khmer
- Chỉ ra sự ảnh hưởng của KNGT trong HĐHT trên lớp đến kết quả học tập (điểm tích lũy môn học và các chỉ số học tập) của SV Khmer theo xu hướng thuận
- Đề xuất 3 biện pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho sinh viên Khmer phù hợp với thực trạng KNGT trong HĐHT và điều kiện thực tế của môi trường đại học vùng ĐBSCL cụ thể là: kích thích động cơ học tập cho sinh viên Khmer, tăng cường hành vi giao tiếp mang tính khích lệ của giảng viên, và tập huấn về KNGT trong HĐHT cho sinh viên Khmer
Trang 1910 Ý nghĩa của nghiên cứu
10.1 Về lý luận
Những tổng hợp trong nghiên cứu liên quan đến KNGT trong HĐHT nằm trong nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của con người xuất hiện trong hoạt động của chính người đó với sự tham gia của các tri thức, kinh nghiệm trong quá khứ, định hướng tới tương lai và tương tác với hiện thực Mô hình lý thuyết tổng quát của luận án góp phần làm rõ các biểu hiện thành phần tạo nên KNGT trong HĐHT của sinh viên Khmer và vai trò của yếu tố tâm lý cá nhân sinh viên và sự khích lệ trong giảng dạy của giảng viên trong việc đề xuất những biện pháp nâng cao KNGT trong HĐHT cho sinh viên Khmer
- Giúp các nhà tâm lý học, giáo dục học lưu ý tới các nhóm sinh viên Khmer
có biểu hiện kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập khác nhau để có biện pháp tác động phù hợp
11 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình khoa học
đã được công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên
- Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer
- Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KĨ NĂNG GIAO TIẾP TRONG
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
Có thể khái quát các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước và nước ngoài về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên theo các lĩnh vực: (1.1) Những khó khăn về giao tiếp trong hoạt động học tập ở sinh viên; (1.2) Các kĩ năng giao tiếp thành phần trong hoạt động học tập của sinh viên; (1.3) Những yếu
tố ảnh hưởng đến KNGT trong HĐHT của sinh viên; (1.4) Sự ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp tới kết quả học tập của sinh viên; và (1.5) Biện pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho sinh viên
1.1 Nghiên cứu những khó khăn về giao tiếp trong hoạt động học tập ở sinh viên
Từ những năm 80 của thế kỷ XX, nghiên cứu của Rubin (1982) đã chỉ ra những khó khăn của giao tiếp trong hoạt động học tập ở sinh viên đại học như nhiều sinh viên chưa nghe giảng tốt nên gặp khó khăn trong xác định những ý chính của bài học; một số không hiểu đầy đủ các hướng dẫn của người dạy cũng như mục tiêu
mà môn học hướng tới; một số gặp khó khăn trong trình bày ý kiến, tóm lược ý kiến, hay phát âm Trong quá trình học tập ở lớp, nhiều sinh viên còn không biết đặt câu hỏi để lấy thông tin hoặc gặp khó khăn trong diễn đạt câu trả lời, ngay cả khi họ biết câu trả lời Trong nghiên cứu gần đây của Iksan và cộng sự (2012) về kĩ năng giao tiếp ở 533 sinh viên ở trường Đại học ở Malaysia, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vẫn còn 20,0% - 27,3% sinh viên tự đánh giá còn yếu ở kĩ năng lắng nghe và trình bày ý kiến Ganguly (2017) cũng có kết luận là sinh viên đại học còn hạn chế
về kĩ năng giao tiếp thể hiện trong việc thiếu sự tự tin để diễn đạt các thông tin, kiến thức một cách hiệu quả
Trong ngữ cảnh đại học ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng chỉ ra một
số sinh viên còn diễn đạt không rõ ràng chính xác, hoặc không dám trình bày những suy nghĩ, ý đồ của bản thân trong giao tiếp; một số khác lại luôn có cảm giác hồi hộp, lo lắng khi giao tiếp với người khác (Đậu Minh Long, 2007; Nguyễn Mỹ Lộc
& Đinh Thị Kim Thoa, 2009) Khi nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của sinh viên
Trang 21trường đại học Hà Tĩnh, Nguyễn Thị Cẩm và Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2016) chỉ ra còn 50,7% sinh viên gặp những khó khăn trong diễn đạt, biểu hiện những suy nghĩ, quan điểm và tình cảm của bản thân Nguyên nhân của những hạn chế này có thể là
do sinh viên thiếu tự tin, do không tập trung trong giao tiếp, một số sinh viên do bị chi phối bởi cảm xúc cá nhân như lo sợ nói sai, sợ bị đánh giá, một số khác nôn nóng trong bày tỏ ý kiến, hay lời nói không theo kịp suy nghĩ, không hiểu hết vấn
đề, do vội vã nên chưa nghe hết ý của người đối thoại hoặc chưa nắm được cách nhận định chính xác về người đối thoại (Nguyễn Thị Cẩm & Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2016)
Ngoài những hạn chế trong kĩ năng lắng nghe và kĩ năng trình bày ý kiến, Edwards (2012) còn chỉ ra, sinh viên đại học ít hoặc hầu như không đầu tư vào học tập nhóm do đó sinh viên thường thiếu những kĩ năng cơ bản trong những tình huống cần phối hợp, hợp tác với bạn cùng lớp để giải quyết các nhiệm vụ giáo viên yêu cầu Nguyễn Thị Lan Anh (2015) cũng chỉ ra trong làm việc nhóm, một số sinh viên biết thiết lập và duy trì quan hệ với giảng viên và các bạn trong lớp, nhưng còn yếu trong khả năng kiềm chế cảm xúc bản thân trong khi trao đổi, đưa ra quan điểm
và thống nhất ý kiến với các bạn trong nhóm Nguyễn Thị Diễm My (2017) nghiên cứu về kĩ năng hợp tác trong học tập được biểu hiện trong mối quan hệ với thầy cô
và với các bạn trong lớp ở trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cũng có chỉ ra sinh viên còn hạn chế ở kĩ năng truyền thông thể hiện khi trình bày ý kiến, khi thắc mắc về bài học với giáo viên và kĩ năng quản lý cảm xúc khi tương tác với các bạn cùng nhóm Như vậy, trong kĩ năng hợp tác trong học tập nhóm, khả năng truyền tải được các nội dung học tập từ trong đầu mỗi cá nhân cho những người khác trong nhóm hiểu, sự phối hợp và khả năng kiểm soát cảm xúc khi tương tác với các thành viên khác nhau trong nhóm đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu học tập Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra sinh viên đại học còn hạn chế
Trang 22Đối v i nhóm SV thiểu số 2 trong môi trường đại học, những khó khăn
trong giao tiếp cũng được biểu hiện rõ nét hơn Powell và Avila (1986) đã thực hiện nghiên cứu về KNGT của 4 nhóm sinh viên dân tộc đang học ở trường đại học phía nam California, Hoa Kỳ Trong đó sinh viên châu Á (Asian) chiếm 25%, sinh viên
mỹ gốc Tây Ban Nha (Hispanic) chiếm 26%, sinh viên da đen (Black) chiếm 12%
và SV da trắng (White) chiếm 33% Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau
có ý nghĩa về KNGT giữa các nhóm dân tộc (p<0,05) Nhóm sinh viên da trắng (nhóm chiếm đa số ở trường đại học, Hoa Kỳ) đạt kết quả về KNGT ở các biểu hiện như phát âm, sự rõ ràng, thể hiện quan điểm,… cao hơn 3 nhóm còn lại Nhóm sinh viên da đen (nhóm thiểu số) có điểm về KNGT thấp nhất trong toàn nhóm khách thể Kết luận này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Martín-Pastor, González-Gil, Robaina và Castro (2013), các tác giả cho rằng những sinh viên thuộc về nhóm nhập cư và những sinh viên xuất thân trong những hoàn cảnh bất lợi
về văn hóa hoặc những nhóm sinh viên dân tộc thiểu số yếu về từ vựng có vấn đề trong việc xác định ý nghĩa của các cụm từ thông dụng trong văn bản… và các KNGT khác trong HĐHT Có thể thấy rằng, khó khăn nổi trội trong giao tiếp ở nhóm sinh viên trong những nghiên cứu này thể hiện ở mặt ngôn ngữ Sự chưa thành thạo về mặt ngôn ngữ chính thống dùng trong môi trường học thuật dẫn đến những bất cập trong việc hiểu và diễn đạt các nội dung giao tiếp trong các hoạt động học tập
Trong một nghiên cứu về nhóm sinh viên Trung Quốc theo học cùng với các sinh viên thuộc các nền văn hóa khác ở trường đại học ở New Zealand, Holmes (2005) chỉ ra sinh viên Trung Quốc có một số hạn chế trong giao tiếp trên lớp như không thoải mái với việc diễn đạt ý kiến của mình, ngại hỏi và trả lời câu hỏi của người khác Kết quả nghiên cứu cũng tiết lộ rằng nhiều sinh viên có những ý kiến
về nội dung học tập, tuy nhiên, đa số những sinh viên này lại chọn cách im lặng giữ
2 Sinh viên thiểu số theo nghĩa là sinh viên thuộc dân tộc khác, chiếm tỷ lệ ít hơn so với sinh viên bản địa trong môi trường đại học
Trang 23ý kiến đó trong đầu thay vì chia sẻ Trong học tập nhóm cùng với những sinh viên nhóm đa số, sinh viên trung Quốc cũng gặp khó khăn trong chia sẻ, tiếp nhận, phối hợp và hợp tác để đạt được mục tiêu nhóm Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Kim (2006) Nghiên cứu được thực hiện trên 289 sinh viên đến từ các nước Đông Á đang học ở các trường đại học ở Hoa Kỳ Đặc điểm giao tiếp điển hình của nhóm sinh viên này là ít nói và trầm tính trong lớp học Kết quả nghiên cứu chỉ ra trong HĐHT trên lớp, nhóm sinh viên này gặp phải một số khó khăn khi tham gia vào thảo luận chung trong ngữ cảnh toàn lớp, khi đặt câu hỏi trong quá trình học tập và cả khi tương tác với các thành viên khác trong các buổi thảo luận nhóm Trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy không có sự khác biệt về mức độ khó khăn trong giao tiếp của sinh viên giữa các ngành học, học lực, giới tính hay đến từ những nước khác nhau Điều này cho thấy xu hướng tập trung vào nghe, tiếp nhận nội dung học tập một chiều và im lặng là nét giao tiếp đặc trưng mang tính điển hình trong HĐHT trên lớp ở những nhóm sinh viên ít người học chung với sinh viên nhóm đa số
Trong nghiên cứu khác, Fernandez, Wang, Braveman, Finkas và Hauer (2007) đã thực hiện một nghiên cứu trên 135 sinh viên đang học ngành Y ở Hoa Kì trong đó 33% sinh viên châu Á, 3% sinh viên da đen, 8% sinh viên Latin và 56% sinh viên da trắng, trong số những sinh viên này, có 43% sinh viên có ngôn ngữ mẹ
đẻ khác với tiếng Anh Kết quả nghiên cứu chỉ ra những sinh viên châu Á và sinh viên da đen (nhóm chiếm thiểu số) có điểm trung bình về KNGT thấp hơn một cách
có ý nghĩa so với sinh viên da trắng (nhóm chiếm đa số) Những sinh viên có tiếng
mẹ đẻ là tiếng Anh có KNGT cao hơn những sinh viên có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ khác Kim (2006) khi nghiên cứu trên nhóm sinh viên các nước Đông Á trong môi trường học tập đại học ở Hoa Kì cũng chỉ ra những sinh viên thành thạo về ngôn ngữ tiếng Anh dùng trong học tập sẽ có ít khó khăn hơn trong giao tiếp và mức độ sẵn sàng tham gia ý kiến vào các hoạt động học thuật trong lớp nhiều hơn so với những sinh viên không thạo về mặt ngôn ngữ
Trang 24Trong ngữ cảnh sinh viên thiểu số ở các trường đại học Việt Nam, Nông Thị Nhung (2016) trong nghiên cứu về KNGT trong HĐHT của sinh viên dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam cũng chỉ ra: trong học tập, sinh viên dân tộc Tày còn ngại ngùng phát biểu hoặc trình bày ý kiến, quan điểm của mình, đồng thời thiếu linh hoạt và nhạy bén khi giải quyết các tình huống xảy ra trong HĐHT Ngoài ra, trong giao tiếp học thuật trên lớp, sinh viên Tày cũng rất rụt rè và thường ngồi im, không phát biểu ý kiến cho dù một số tình huống các em biết câu trả lời Khi chưa hiểu bài, các em cũng ngại bày tỏ với giảng viên Phát hiện này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu ở nhóm khách thể là sinh viên dân tộc Khmer năm nhất của Phạm Văn Tuân (2017) Tác giả chỉ ra sinh viên Khmer năm thứ nhất ngại phát biểu ý kiến cá nhân trong nhóm và trước lớp, ngại hỏi lại giảng viên khi chưa hiểu bài Theo tác giả, lý do cho khó khăn này vì sinh viên Khmer sợ nói sai Tuy nhiên theo chúng tôi, việc sợ nói sai có thể không phải là nguyên nhân chính Việc ít tham gia ý kiến
cá nhân trong học tập nhóm và trước lớp có thể còn do bởi cả các yếu tố thuộc về cá nhân sinh viên Khmer và yếu tố khách quan bên ngoài Vấn đề này sẽ được khám phá trong luận án nghiên cứu về KNGT trong HĐHT của sinh viên Khmer
Như vậy, kết quả tổng quan trên cho thấy sinh viên đại học còn gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp học thuật với thầy cô và bạn bè trong lớp Những khó khăn này thể hiện ở cả giao tiếp cá nhân và giao tiếp nhóm Đối với sinh viên thuộc nhóm thiểu số học trong môi trường học tập chung với sinh viên nhóm đa số, thì những khó khăn trong giao tiếp này được thể hiện rõ nét hơn Do ngôn ngữ học tập ở đại học không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ nên những sinh viên thuộc nhóm dân tộc thiểu số thường gặp khó trong hiểu các từ ngữ học thuật, trong diễn đạt ý tưởng, tóm lược ý kiến hay trả lời các câu hỏi trên lớp Trong học tập nhóm, họ cũng gặp khó khăn trong chia sẻ, tiếp nhận, phản hồi hay phối hợp với các bạn để cùng thực hiện nhiệm
vụ người hướng dẫn phân công Có thể thấy, một nét điển hình trong giao tiếp học thuật trên lớp của nhóm sinh viên thiểu số trong môi trường đa số là ít nói, trầm tính
và có xu hướng im lặng trong các hoạt động học tập
Trang 251.2 Nghiên cứu về các kĩ năng giao tiếp thành phần trong hoạt động học tập của sinh viên
Nghiên cứu về các KNGT thành phần trong HĐHT trên lớp, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến hai KNGT thành phần đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức khoa học trên lớp đó là: kĩ năng lắng nghe và kĩ năng nói (Rubin, 1982; Rubin & Graaham, 1988; Idrissova & cs, 2015) Trong các HĐHT trên lớp, kĩ năng lắng nghe giúp sinh viên hiểu được nội dung bài học, hiểu được những yêu cầu, hay phản hồi, còn kĩ năng nói giúp SV truyền tải nội dung học tập một cách mạch lạc, ngắn gọn, dễ hiểu Các tác giả cũng nhấn mạnh, hai kĩ năng này khó tách rời mà luôn hòa quyện vào nhau trong các cuộc giao tiếp học thuật Lắng nghe là trung tâm của quá trình giao tiếp, trong đó nói là kết quả của lắng nghe hiệu quả (Brownell, 2010) Ngoài kĩ năng lắng nghe và kĩ năng nói được biểu hiện trong HĐHT trên lớp, Iksan và cộng sự (2012) trong nghiên cứu về KNGT của SV trường Đại học ở Malaysia còn chỉ ra 3 nhóm kĩ năng giao tiếp thành phần cần thiết không chỉ trong HĐHT mà còn cả trong nghề nghiệp tương lai của SV, bao gồm: kĩ năng nói, kĩ năng viết và KNGT xã hội Theo tác giả kĩ năng nói thể hiện trong khả năng trình bày ý kiến của bản thân, hiểu những gì thầy cô và bạn bè giao tiếp, đưa thông tin phản hồi và thuyết trình được các nội dung học tập; kĩ năng viết thể hiện ở khả năng trình bày ý kiến, đưa thông tin phản hồi bằng ngôn ngữ viết; và KNGT xã hội liên quan đến các kĩ năng đàm phán, giao tiếp với những người đến từ những nền văn hóa khác nhau, giao tiếp bằng những ngôn ngữ khác nhau trong các hoạt động cần có sự tương tác trên lớp
Trong một nghiên cứu khác về KNGT trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học chuyên sâu, Mercer-Mapstone và Matthews (2015) nhấn mạnh tầm quan trọng của hai loại kĩ năng giao tiếp: là kĩ năng viết khoa học và kĩ năng thuyết trình, đây là 2
kĩ năng cần thiết cho SV ngành khoa học thể hiện trong việc thiết kế bài báo cáo và trình bày nội dung báo cáo hiệu quả giúp người nghe hiểu được ý tưởng, mục đích của mình Cũng cùng với quan điểm này, Kamal và cộng sự (2016) nhấn mạnh đến hai loại KNGT trong HĐHT thể hiện trong thiết kế và trình bày nội dung học tập
Trang 26(dự án học tập được yêu cầu bởi giảng viên) trên một khổ giấy lớn (poster), đó là (1) kĩ năng thiết kế và trình bày nội dung học tập trong poster thể hiện trong các tiêu chí như dễ đọc, sáng tạo, hấp dẫn chuyên nghiệp và (2) kĩ năng trình bày nội dung học tập trong poster thể hiện trong các tiêu chí là lưu loát, rõ ràng, ngôn ngữ hình thể phù hợp và tự tin Dưới góc độ tâm lý học xã hội, cả 2 nghiên cứu này đều nhấn mạnh đến kĩ năng trình bày hay truyền tải nội dung học tập bằng ngôn ngữ nói
và ngôn ngữ không lời một cách lưu loát, tự tin hướng tới mục tiêu là thầy cô và các bạn trong lớp hiểu được ý định mà bản thân SV muốn trình bày được xem như là một thành phần của kĩ năng giao tiếp
Ở Việt Nam, trong một nghiên cứu ở SV trường Đại học Cần thơ, Trần Thị Phụng Hà và Nguyễn Ngọc Lẹ (2015) cũng cho rằng trong hoạt động học tập, các kĩ năng giao tiếp liên quan đến nói, thuyết trình các nội dung học tập qua các bài tập nhóm ở lớp là rất quan trọng Theo các tác giả, kĩ năng nói tốt là dùng ngôn từ để truyền đạt thông tin thể hiện tư tưởng, tình cảm một cách chính xác, sinh động và có tính thuyết phục khi tương tác với đối tượng giao tiếp Bên cạnh đó, SV đại học cần
có kĩ năng thuyết trình để trình bày các nội dung học tập, các kết quả thảo luận trong nhóm nhỏ để các bạn và thầy cô nắm được ý tưởng của bản thân Muốn vậy,
SV cần chú ý thực hiện các bước như: có sự chuẩn bị kĩ các nội dung trình bày, sử dụng ngôn ngữ không lời hiệu quả, rèn kĩ năng thuyết trình, trình bày ý kiến và kĩ năng trả lời câu hỏi thảo luận Nông Thị Nhung (2016) trong nghiên cứu về KNGT trong HĐHT ở nhóm SV dân tộc Tày đã chỉ ra 3 nhóm kĩ năng quan trọng cấu thành KNGT trong HĐHT trên lớp của sinh viên là (1) nhóm kĩ năng thiết lập mối quan hệ trong hoạt động học tập trên lớp được biểu hiện ở khả năng tìm hiểu, tôn trọng, trung thực và biết hợp tác với đối tượng giao tiếp; (2) Nhóm kĩ năng giải quyết vấn đề học tập trên lớp được biểu hiện ở kĩ năng diễn đạt, lắng nghe và điều chỉnh cảm xúc bản thân trong hoạt động học tập trên lớp; và (3) Nhóm kĩ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp được biểu hiện qua giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ không lời và ngôn ngữ viết Điểm mạnh của nghiên cứu chỉ ra là 3 nhóm kĩ năng thành phần này không tách rời nhau mà có mối
Trang 27quan hệ biện chứng, tác động và bổ sung cho nhau cấu thành nên KNGT trong hoạt động học tập Tuy nhiên nghiên cứu chưa chỉ ra được kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập tốt hay không tốt có mối quan hệ như thế nào với kết quả học tập của sinh viên
Có thể thấy, các nghiên cứu trên đa phần đều đề cập đến các KNGT cá nhân Tuy nhiên, trong HĐHT ở đại học, ngoài các HĐHT đòi hỏi sự tương tác qua lại giữa người dạy và người học, thì hoạt học tập nhóm cũng trở lên phổ biến Trong học tập nhóm, Nickels, Parris, Gossett và Alexander (2009) nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của kĩ năng hợp tác, trong đó khả năng phối hợp của các SV nhằm đạt được mục tiêu của những dự án học tập mà người hướng dẫn phân công là rất quan trọng Muốn vậy, SV cần có cả kĩ năng giao tiếp cá nhân và các kĩ năng phối hợp với các bạn trong nhóm nhằm thực hiện các mục tiêu chung của nhóm một cách tốt nhất Cùng chung quan điển, Edwards (2012) cho rằng trong hoạt động học tập ở môi trường đa văn hóa hiện nay, ngoài những kĩ năng giao tiếp cá nhân, SV cần có
kĩ năng làm việc nhóm thể hiện trong các hoạt động học tập hợp tác Và để có kĩ năng hợp tác hiệu quả, Loughry và cộng sự (2007) nhấn mạnh khả năng đóng góp ý kiến, duy trì hoạt động làm việc của nhóm, khả năng giao tiếp tương tác với các thành viên trong nhóm Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2012) trong nghiên cứu về kĩ năng học tập hợp tác của SV đại học cũng chỉ ra 5 kĩ năng thành phần tạo nên kĩ năng hợp tác là kĩ năng nhận thức, kĩ năng thiết kế, kĩ năng kết cấu, kĩ năng giao tiếp và kĩ năng tổ chức Theo tác giả, các kĩ năng thành phần này được phân chia một cách rõ ràng theo từng bước và muốn hình thành và phát triển kĩ năng học tập hợp tác thì phải tác động đến tất cả các kĩ năng này Tuy nhiên, theo chúng tôi trong học tập hợp tác, các kĩ năng thành phần luôn có sự đan xen và phối hợp với
nhau, thậm chí kĩ năng thành phần này có thể nằm trong kĩ năng thành phần khác
Như vậy, đứng ở những góc nghiên cứu khác nhau, mỗi nghiên cứu lại chỉ ra
có những kĩ năng giao tiếp thành phần đặc trưng cho nghiên cứu của mình Có một điểm chung là nhiều tác giả đều nhấn mạnh đến hai nhóm kĩ năng giao tiếp thành phần trong HĐHT là nhóm kĩ năng giao tiếp cá nhân liên quan đến kĩ năng diễn đạt
Trang 28các nội dung học tập, kĩ năng lắng nghe, tiếp nhận các nội dung học tập, và nhóm kĩ năng giao tiếp nhóm liên quan đến khả năng trao đổi qua lại, khả năng phối hợp, hợp tác để thực hiện các HĐHT nhóm mà người hướng dẫn phân công Đây được xem như là những kĩ năng giao tiếp quan trọng trong HĐHT trên lớp giúp SV đại học lĩnh hội tri thức khoa học trên lớp và cũng là cơ sở cho chúng tôi lựa chọn các
kĩ năng thành phần khi nghiên cứu KNGT trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên Khmer
1.3 Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên
Kinh nghiệm ngoài giờ lên lớp gồm các công việc bán thời gian và công việc thiện nguyện của SV được tìm thấy có mối quan hệ thuận với KNGT (Rubin &
cs, 1990) Edmonds và cộng sự (2016) trong nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến KNGT của SV ngành nông nghiệp cũng chỉ ra những kinh nghiệm từ khi còn học phổ thông, những kinh nghiệm tham gia trong các tổ chức hay câu lạc bộ ngoài giờ lên lớp ảnh hưởng tích cực đến KNGT của SV Điều này giải thích rằng, nếu
SV có cơ hội tiếp xúc, tham gia các hoạt động xã hội, trải nghiệm các công việc bán thời gian trong thực tế, cũng là một biện pháp rèn luyện, giúp KNGT trong HĐHT của SV tốt hơn
Trong một nghiên cứu khác, Marteau, Humphrey, Matoon, Kidd, Lloyd và
Horder (1991) khi tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến KNGT của 88 SV năm nhất ngành y, với câu hỏi nghiên cứu liệu các yếu tố như: định hướng chuyên ngành, thái độ đối với KNGT, sự tự tin về khả năng giao tiếp với bệnh nhân và việc đào tạo về KNGT có tác động tới kết quả KNGT trong thực tế của SV không? Kết quả nghiên cứu cho thấy định hướng chuyên ngành có mối liên hệ ý nghĩa với mức
độ KNGT Những SV được đánh giá KNGT thấp có khuynh hướng chọn ngành y khoa chung chung và những SV KNGT cao hơn khuynh hướng chọn chuyên khoa bác sĩ hay phẫu thuật Có mối quan hệ thuận chiều giữa việc đào tạo về KNGT với KNGT thực tế của SV Tuy nhiên, sự tự tin trong đánh giá về KNGT với bệnh nhân lại có mối quan hệ nghịch với kết quả thực tế Những SV tự đánh giá mình tự tin
Trang 29trên phiếu khảo sát, nhưng thực tế khi giao tiếp với bệnh nhân lại thể hiện lúng túng trong ngôn ngữ bằng lời và không lời và thường không thỏa mãn cao với các tiêu chí đánh giá về kĩ năng của nhà nghiên cứu Kết quả này được tác giả giải thích có thể do bởi SV tự tin với khả năng bẩm sinh của mình về KNGT, do đó không chú ý đến các tiêu chí đánh giá của giáo viên Kết quả cũng chỉ ra thái độ đối với KNGT không ảnh hưởng đến KNGT thực tế của sinh viên
Rocca (2008) thực hiện một nghiên cứu trên 189 SV đại học về ảnh hưởng của giảng viên tới sự tham gia giao tiếp vào HĐHT của SV trong lớp học Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ thuận giữa sự tham gia ý kiến vào HĐHT của
SV và hành vi tích cực từ phía giảng viên Cả những hành vi bằng lời và không lời của giảng viên đều giúp SV tích cực tham gia vào HĐHT Mottet và cộng sự (2004) nhận thấy SV có động lực học tập và đưa ra nhiều ý kiến tham gia vào các HĐHT trên lớp nếu SV cảm nhận được giảng viên cùng tham gia với họ, khích lệ họ, truyền cảm hứng cho họ Goodboy và Myers (2008) cũng chỉ ra những hành vi giao tiếp tích cực của giảng viên thể hiện trong sự lắng nghe và phản hồi hiệu quả với
SV, sử dụng các phương pháp tương tác trong dạy học, có thể làm tăng sự tham gia
ý kiến vào bài học cũng như vào những buổi làm việc nhóm trên lớp của người học
Trong một nghiên cứu lý luận về sự tham gia vào HĐHT của SV trong lớp học, Rocca (2010) đã tổng hợp các nghiên cứu trong lĩnh vực giao tiếp trong HĐHT trên lớp trong 51 năm (1958 – 2009) Nghiên cứu đã chỉ ra năm lý do giải thích SV tham gia hoặc không tham gia vào HĐHT trên lớp gồm: (1) những vấn đề liên quan đến lớp học (số lượng SV trong một lớp, vị trí ngồi, buổi học trong ngày, chính sách của môn học, đặc thù môn học, trang thiết bị hỗ trợ); (2) Sự tự tin của SV; (3) Thuộc tính nhân cách của SV; (4) Giảng viên (thái độ, phương pháp giảng dạy); và (5) Bầu không khí lớp học Đây được xem là những yếu tố tác động đến quá trình giao tiếp trong HĐHT của SV với bạn và thầy cô trong quá trình lĩnh hội và khám phá nội dung học tập
Ngoài ra, khi tìm hiểu yếu tố nào đã ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới việc học các kĩ năng giao tiếp của sinh viên đại học, Asemanyi (2015) còn chỉ ra tình
Trang 30trạng lớp học đông, sự thiếu trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động học tập ảnh hưởng không tốt đến việc rèn luyện kĩ năng của sinh viên, trong khi đó, thái độ tích cực của sinh viên trong rèn luyện kĩ năng giao tiếp tác động tích cực đến kết quả rèn luyện kĩ năng giao tiếp của sinh viên
Trong một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam, tính tích cực chủ động trong giao tiếp và trong HĐHT (Phạm Văn Tuân, 2015; Hoàng Thị Quỳnh Lan, 2016) cũng được xem là tác động mạnh đến kĩ năng và năng lực giao tiếp của SV Phạm Văn Tuân (2015) tìm thấy có mối tương quan thuận mạnh (r=0,50, p<0,001) giữa tính tích cực trong rèn luyện năng lực giao tiếp với thực trạng năng lực giao tiếp ở SV Điều này giải thích rằng, nếu SV tích cực tham gia các hoạt động nhóm, hoạt động đoàn đội, chủ động rèn luyện năng lực giao tiếp của mình thì các em sẽ giao tiếp tốt hơn Hoàng Thị Quỳnh Lan (2016) cũng chỉ ra tính tích cực, chủ động, thái độ học tập có chỉ số tương quan thuận với kĩ năng giải quyết vấn đề trong HĐHT của sinh viên
Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến nhân khẩu của SV như giới tính, năm học, cũng ảnh hưởng đến KNGT trong HĐHT của SV đại học
Nhìn từ góc độ giới tính, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác biệt về
KNGT giữa nam và nữ Nữ giỏi hơn nam trong KNGT liên quan đến khía cạnh tình cảm như làm cho người khác cảm thấy thoải mái và khả năng kiểm soát cảm xúc, diễn đạt bằng lời nói; trong khi đó, nam tốt hơn nữ trong kĩ năng thuyết phục, đàm thoại (Burleson, Kunkel, Samter & Werking, 1996; Holmstrom, 2009) Yilmaz, Kumcagiz, Balci-Celik và Eren (2011) khi điều tra KNGT của SV đại học cũng chỉ
ra điểm trung bình của KNGT ở nữ (X=158,73) cao hơn điểm trung bình về KNGT của nam (X = 135,51) Phát hiện này cũng được tìm thấy trong một nghiên cứu trước đó của Marteau và cộng sự (1991) Ở Việt Nam, Trần Thị Phụng Hà và Nguyễn Ngọc Lẹ (2015) cũng chỉ ra nữ đánh giá về KNGT trong HĐHT liên quan đến kĩ năng nói hay làm việc nhóm là tốt hơn nam Tuy nhiên, trong một nghiên cứu khác, Russell và Cahill-O’Callaghan (2015) chỉ ra trong các hoạt động thảo luận nhóm trên lớp, SV nữ có cảm giác bị xa lánh và thiếu tự tin hơn, gặp khó khăn
Trang 31trong bối cảnh nhóm nhỏ và không muốn tham gia nhiều hơn các bạn nam SV Như vậy, các kết quả nghiên cứu về sự khác biệt trong KNGT giữa nữ và nam chưa có
sự đồng thuận Điều này có thể liên quan đến ngữ cảnh nghiên cứu và yếu tố văn hóa Trong nghiên cứu về KNGT trong hoạt động học tập trên nhóm khách thể là
SV Khmer, chúng tôi tiếp tục xem xét yếu tố này
Theo năm học, Rubin và cộng sự (1990) đã chỉ ra, KNGT, năng lực giao
tiếp của SV giảm một cách có ý nghĩa khi SV năm nhất bước sang năm hai Kết quả của việc giảm nhẹ KNGT của SV đại học khi bước sang năm thứ hai cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Gurdogan và cộng sự (2016) trên nhóm khách thể là SV ngành y Các nhà nghiên cứu gọi là sự khủng hoảng nhẹ ở năm hai (sophomore slump), nhưng sau đó lại tăng lên khi SV học ở năm 3 và năm 4 (Rubin & cs, 1990) KNGT trong HĐHT của SV năm nhất là thấp hơn so với năm ba cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Iksan và cộng sự (2012) Như vậy, những nghiên cứu này chỉ ra SV càng có thâm niên học ở trường đại học lâu, thì kĩ năng cũng như năng lực giao tiếp của họ sẽ cao hơn, kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở một số nghiên cứu ở Việt Nam (Trần Thị Phụng Hà & Nguyễn Ngọc Lẹ, 2015) Sự khác nhau theo chiều hướng cao hơn của những SV năm sau so với những SV mới vào đại học có thể giải thích dựa trên Học thuyết Lĩnh hội Kĩ năng (Theories of Skill Acquisition) Học thuyết khẳng định kĩ năng của con người được lĩnh hội và phát triển theo hướng tích cực từ từ theo thời gian (Greene, 2009)
Nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến KNGT trong HĐHT ở nhóm SV
thi u số trong môi trường học tập với SV nhóm đ số, một số nhà nghiên cứu trên
thế giới đã nhấn mạnh đến việc sử dụng song ngữ (tiếng mẹ đẻ và tiếng phổ thông)
và đặc biệt vốn ngôn ngữ của tiếng phổ thông là yếu tố ảnh hưởng mạnh tới KNGT của các sinh viên trong HĐHT (Powell & Avila, 1986; Martín-Pastor & cs, 2013) Martín-Pastor và cộng sự (2013) khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của KNGT ở SV nhập cư tới quá trình dạy và học ở Vương quốc Tây Ban Nha cho rằng những SV thuộc nhóm nhập cư và những SV xuất thân trong những hoàn cảnh bất lợi về văn hóa hoặc những nhóm SV dân tộc thiểu số yếu về từ vựng được chứng minh là
Trang 32những yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp trong HĐHT của sinh viên Ở Việt Nam, vốn ngôn ngữ phổ thông cũng được xem là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến KNGT trong HĐHT của học sinh, SV dân tộc thiểu số (Nguyễn Văn Giỏi, Nông Khánh Bằng & Phạm Văn Cường, 2011, Nông Thị Nhung, 2016) Việc chưa thành thạo ngôn ngữ tiếng Việt dẫn đến các em hay mắc lỗi về phát âm, về sử dụng từ, ngữ pháp và điều này cản trở khả năng trình bày và diễn đạt các nội dung học tập Bên cạnh đó, việc yếu về từ vựng liên quan đến ngôn ngữ chính dùng trong học tập cũng ảnh hưởng đến khả năng nghe hiểu và ghi chép của SV trong HĐHT trên lớp
Ngoài ra, một số yếu tố liên quan đến nét tính cách dân tộc (Nông Thị Nhung, 2018), nếp sống của gia đình, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc mình (Nguyễn Văn Giỏi & cs, 2011) cũng ảnh hưởng đến KNGT của học sinh, SV dân tộc thiểu số
Từ những nghiên cứu trên cho thấy, các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến KNGT trong HĐHT của SV Các yếu tố này có thể đến từ những nhận định chủ quan của SV (như nhận thức, tính tích cực, kinh nghiệm ngoài giờ lên lớp, vốn ngôn ngữ) và những yếu tố khách quan (giảng viên, môi trường lớp học, trang thiết bị, truyền thống văn hóa dân tộc) Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến biến nhân khẩu như giới tính, năm học ở trường cũng ảnh hưởng đến mức độ giao tiếp của SV Đây là cơ sở để chúng tôi xác định những yếu
tố ảnh hưởng đến KNGT trong HĐHT của SV Khmer
1.4 Nghiên cứu về ảnh hưởng của kĩ năng giao tiếp t i kết quả học tập của sinh viên
Trước hết, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của KNGT trong HĐHT trên lớp
ở môi trường đại học, nhiều tác giả (Rubin, 1982, Rubin & Granham, 1988; Iksan &
cs, 2012; Ganguly, 2017) khẳng định kĩ năng giao tiếp đóng vai trò quan trọng giúp
SV lĩnh hội các tri thức khoa học, hình thành những kĩ năng nghề nghiệp Rubin (1982) nhấn mạnh SV đại học phải có mức độ tối thiểu của các kĩ năng liên quan đến nói, nghe, quản lý lớp học và giao tiếp liên cá nhân để lĩnh hội tri thức và hoàn thành khóa học đại học của bản thân Rubin và Graham (1988) cũng chỉ ra trong
Trang 33HĐHT trên lớp, để học tập tốt, SV cần có khả năng trình bày ý kiến của mình một cách khoa học và cô đọng, cần có khả năng đặt câu hỏi và trả lời các câu hỏi, biết tóm tắt các quan điểm, phân biệt những ý thuộc về nội dung hay những ý thuộc về quan điểm của người nói, biết giao tiếp, tương tác với bạn cùng lớp và người hướng dẫn để thực hiện các nhiệm vụ học tập Trong một nghiên cứu khác, Edwards (2012) nhấn mạnh đến sự cần thiết của một loạt các kĩ năng giao tiếp học thuật trong quá trình lĩnh hội kiến thức như: kĩ năng trình bày, kĩ năng tranh luận, kĩ năng thảo luận nhóm, kĩ năng tư duy tích cực, kĩ năng đọc phản biện, kĩ năng nghiên cứu,
kĩ năng viết học thuật, kĩ năng đánh giá, kĩ năng ghi chú, kĩ năng tóm tắt Trong đó, Edwards (2012) chỉ ra trong môi trường học tập đại học, không thể thiếu được mô hình học tập hợp tác, do vậy, bên cạnh những kĩ năng giao tiếp cá nhân, thì việc sinh viên rèn luyện các kĩ năng phối hợp, hợp tác với các bạn trong nhóm để hoàn thành mục đích học tập được xem là cần thiết Như vậy, có thể thấy, dù đứng ở góc
độ nghiên cứu khác nhau, nhưng các nghiên cứu đã chứng minh rằng để có thể lĩnh hội được tri thức khoa học, biến tri thức đó thành của mình thì sinh viên cần có những kĩ năng giao tiếp nhất định trong hoạt động học tập thể hiện ở việc biết lắng nghe để thu thập thông tin, để hiểu vấn đề và nắm vững tri thức khoa học, nghề nghiệp; biết trao đổi qua lại với thầy cô và bạn để hiểu rõ các vấn đề học tập; có khả năng diễn đạt hiệu quả thông tin, tri thức, ý tưởng trong hoạt động học tập với thầy
cô và bạn trong lớp
Trong mối quan hệ giữa kĩ năng giao tiếp với kết quả tập, một số nhà nghiên cứu đã chứng minh kĩ năng giao tiếp của sinh viên có mối quan hệ thuận với điểm trung bình các môn học Rubin và Graham (1988) trong một nghiên cứu thực hiện theo chiều dọc 2 năm về năng lực giao tiếp của SV đại học đã chỉ ra mối quan hệ thuận giữa năng lực giao tiếp với điểm trung bình các môn học ở năm thứ nhất với
hệ số tương quan với r = 0,48 (p<0,01), và năm thứ hai cao hơn với r = 0,52 (p<0,01) Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong công trình nghiên cứu tiếp theo của Rubin và cộng sự (1990) Nghiên cứu được thực hiện theo chiều dọc từ năm nhất đến năm 4 đã chỉ ra các biến liên quan đến năng lực giao tiếp có ý nghĩa
Trang 34dự đoán theo chiều thuận số tín chỉ hoàn thành và điểm học tích lũy của sinh viên Như vậy, hai công trình nghiên cứu này cho thấy nếu sinh viên có năng lực giao tiếp hoặc kĩ năng giao tiếp tốt, thì kết quả học tập trung bình tích lũy từ các môn
học của các em sẽ cao
Khi nghiên cứu về giao tiếp hiệu quả với sự thành công trong học tập trên lớp, Frymier (2005) chỉ ra rằng nếu SV giao tiếp hiệu quả thì kết quả học tập sẽ cao Tham gia vào nghiên cứu này có 297 SV từ năm nhất đến năm 4 của trường đại học Midwestern ở Hoa Kỳ Giao tiếp trong học tập của SV được đo với 4 biến: Sự tương tác trong lớp học (Interaction Involvement), Tính quả quyết trong giao tiếp (Assertiveness), Sự phản hồi trong giao tiếp (Responsiveness) và Giao tiếp ngoài lớp với giảng viên (Out-of-Class Communication) Kết quả học tập được đo dựa trên 2 biến: biến liên quan đến HĐHT trong lớp như: thái độ học tập (affective learning) và các chỉ số học tập (learning indicators) và biến liên quan đến điểm số (GPA) Kết quả nghiên cứu cho thấy biến Sự tương tác trong lớp có hệ số Beta lớn nhất trong phương trình hồi quy và là biến duy nhất đóng góp vào sự biến thiên điểm tích lũy của SV Có nghĩa là nếu SV có quá trình tương tác hiệu quả với giáo viên và bạn bè về các HĐHT trên lớp thì điểm tích lũy trong các môn học của các
em sẽ cao hơn Bên cạnh đó, Sự tương tác trong lớp học cũng dự đoán có ý nghĩa theo chiều thuận các chỉ số học tập trong lớp (ví dụ: SV có thể giải thích được nội dung của khóa học với SV khác hay so sánh được những kiến thức đã học ở môn học này với môn học khác) Trong khi đó, Tính quả quyết, Sự phản hồi trong giao tiếp, mức độ giao tiếp ngoài lớp với giảng viên không dự đoán điểm tích lũy, tuy nhiên những biến này có mối quan hệ thuận với thái độ học tập và các chỉ số học tập trong lớp học
Mansson (2014) nghiên cứu 365 SV đại học chỉ ra mối bận tâm về HĐHT của SV là động cơ duy nhất tác động đến quá trình giao tiếp của SV với giảng viên Khả năng trình bày ý kiến bằng lời về những bận tâm trong học tập của SV với giảng viên có mối tương quan thuận với kết qủa học tập bao gồm cả kết quả học tập
Trang 35liên quan đến tình cảm (affective learning) và nhận thức (cognitive learning) của
SV Kết quả cũng cho thấy, nếu SV thường xuyên giao tiếp với thầy cô để chia sẻ những khó khăn, mối bận tâm trong HĐHT thì kết quả học tập của những SV này sẽ cao hơn
Trong học tập nhóm, Tsay và Brady (2010) cũng chỉ ra những SV tích cực tham gia vào các hoạt động học tập trong nhóm như có sự chuẩn bị cho nội dung thảo luận nhóm, cùng với các thành viên trong nhóm thực hiện các mục tiêu, có những phản hồi tích cực và hợp tác với các bạn trong nhóm, thì kết quả học tập của những SV này sẽ cao hơn Cụ thể điểm của tương tác trong học tập nhóm có mối tương quan thuận với điểm bài đánh giá cá nhân (r = 0,62, p<0,001); điểm bài đánh giá nhóm (r = 0,46, p<0,001) và điểm toàn khóa học của cá nhân (r = 0,58, p<0,001) Như vậy, có thể nói, nếu sinh viên có kĩ năng hợp tác trong học tập nhóm thì kết quả học tập của họ cũng sẽ cao hơn
Kết quả trên khẳng định, kĩ năng giao tiếp có vai trò quan trọng trong HĐHT của SV đại học Đặc biệt, kĩ năng giao tiếp có ảnh hưởng thuận chiều tới kết quả học tập của sinh viên (bao gồm cả các chỉ số học tập trên lớp và kết quả học tập tích lũy bằng điểm số) Đây cũng là cơ sở để chúng tôi xem xét khi xây dựng cơ sở lý thuyết cho luận án
1.5 Nghiên cứu về biện pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho sinh viên
Việc nghiên cứu về biện pháp nâng cao KNGT trong HĐHT của SV cũng được nhiều tác giả trong nước và trên thế giới quan tâm Có thể kể đến một số nghiên cứu sau:
Light và Cox (2001) nghiên cứu về hoạt động dạy và học ở trường đại học đã chứng minh thành công của hoạt động tổ chức cho SV học theo nhóm trên những nhiệm vụ cụ thể hoặc làm dự án học tập trong việc nâng cao KNGT cho SV Những cách học này giúp người học tự mình khám phá tri thức trên cơ sở hướng dẫn của người dạy Ngoài ra, việc trình bày các dự án trong tập thể lớp cũng giúp nâng cao
Trang 36KNGT ở cấp độ liên nhóm, rèn cho SV các kĩ năng phân tích, tư duy phê phán Nâng cao KNGT của SV trên cơ sở học nhóm cũng được nhiều tác giả trên thế giới khẳng định là hiệu quả giúp các em tự tin hơn trong các HĐHT và trong cuộc sống (Kamarudin & cs, 2012; Vani, 2016) Cùng trong quan điểm này, Requena-Carrión
và cộng sự (2010) đã thành công trong nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên ngành kĩ thuật trên cơ sở học tập hợp tác lấy người học làm trung tâm Phương pháp mà nhóm tác giả này sử dụng là học tập dựa trên dự án và
sự đánh giá lẫn nhau của các bạn cùng lớp Nghiên cứu thực nghiệm trên các nhóm nhỏ dưới sự giám sát của giảng viên, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ ghi lại trong một công cụ chỉnh sửa trên Wiki và được trình bày bằng poster trong một buổi hội thảo công cộng Bằng cách này, các tác giả đã tạo điều kiện cho sinh viên của mình (1) được tiếp cận dự án của nhóm bạn và chia sẻ kết quả của nhóm mình, (2) phân tích và bình luận dự án của bạn bè và đưa ra những phản hồi về những kết quả đạt được, và (3) nâng cao kĩ năng viết và kĩ năng trình bày trong hoạt động học tập Kết quả thực nghiệm sử dụng trưng bày poster này đưa lại một kết quả tích cực trong phát triển kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho người học trong cả lối
tư duy phản biện, kĩ năng thuyết trình ở sinh viên chuyên ngành kĩ thuật
Trong nghiên cứu về nâng cao KNGT cho sinh viên thông qua cách tiếp cận đổi mới phương pháp dạy học, các tác giả Stephenson, Mayes, Combs và Webber (2015) đã nghiên cứu thực nghiệm tác động trên các SV khóa 2012 thuộc khoa dinh dưỡng của trường Đại học Kentucky ở Anh dựa trên việc học nhóm và đóng vai với các vai diễn được thuê và được mô phỏng giống như tình huống thực tế Trong số học viên hoàn thành khóa học với các buổi học mô phỏng đóng vai, 100% SV cảm thấy tự tin trong các kĩ năng tư vấn cho bệnh nhân của mình sau ba tháng khi khóa học hoàn thành So với kết quả đánh giá của SV ở các khóa năm 2010, 2011, thì kết quả đánh giá về KNGT, tư vấn ở SV khóa 2012 cao hơn một cách có ý nghĩa với ĐTB = 3,6, trong khi đó SV 2011 (ĐTB = 3,3), SV 2010 (ĐTB = 2,6) Cách tiếp cận giảng dạy dựa vào học nhóm và đóng vai này đã được chứng minh là nâng cao
Trang 37KNGT bằng lời nói của sinh viên và đây là một sự chuẩn bị tốt cho sinh viên trong quá trình làm việc sau này
Awang và Daudb (2015) trong nghiên cứu của mình đã sử dụng phương pháp thực nghiệm trên 60 sinh viên học ngành kĩ thuật ở một trường đại học ở Malaysia Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là kĩ năng giao tiếp của sinh viên, biến độc lập là phương pháp giảng dạy và biến trung gian là học dựa vào giải quyết vấn đề Kết quả nghiên cứu đã chứng minh kĩ năng giao tiếp của nhóm được học theo phương pháp giải quyết vấn đề cao hơn một cách có ý nghĩa về mặt thống kê (ĐTB = 74,50) so với nhóm đối chứng (ĐTB = 67,82) Những sinh viên ở nhóm thực nghiệm có khả năng tham gia vào các hoạt động nhóm với sự chủ động trao đổi với nhau trong thu thập thông tin, giải quyết nội dung học tập và luôn thể hiện
sự hợp tác, sự thông cảm và hiệu quả hơn trong quá trình giao tiếp với các bạn trong lớp trong các hoạt động học tập
Kĩ thuật mảnh ghép (Jigsaw) vận dụng trong dạy học tương tác được phát minh bởi E Aronson - đã ghi nhận những thành công trong việc giảm thiểu xung đột chủng tộc và nâng cao hiệu quả giáo dục (Aronson & Patnoe, 2011) Áp dụng kĩ thuật Jigsaw trong hoạt động dạy và học trên lớp đã được chứng minh là có thể nâng cao được nhiều kĩ năng giao tiếp của người học như kĩ năng lắng nghe, kĩ năng trình bày Ngoài ra, kĩ thuật này còn khuyến khích sự cảm thông vì mỗi thành viên của nhóm cần thực hiện một phần thiết yếu của nhiệm vụ và nhóm thành viên phải làm việc cùng nhau như một đội để hoàn thành mục tiêu chung; mỗi người phụ thuộc vào tất cả những người khác, nhờ vậy mà tính hợp tác của sinh viên tăng lên (Aronson & Patnoe, 2011; Wilson, Pegram, Battise & Robinson, 2017)
Ngoài ra, việc nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho SV bằng biện pháp tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cũng được nhiều nhà nghiên cứu chứng minh có hiệu quả trong việc rèn luyện và cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho sinh viên (Hausberg
& cs, 2012, Nông Thị Nhung, 2016)
Trang 38Nghiên cứu về nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của SV thiểu số cũng được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm, Liu và Fang (2017) gợi ý để nâng cao khả năng giao tiếp của sinh viên, các nhà giáo dục cần giảng dạy lồng ghép sự hội nhập giữa văn hóa dân tộc của nhóm thiểu số và các nền văn hóa dân tộc khác nhau vào chương trình giảng dạy Tamam, Idris và Tien (2011) cũng ngụ ý rằng để sinh viên có thể hòa nhập, có KNGT tốt với mọi người trong môi trường liên dân tộc thì mỗi sinh viên cần biết các loại văn hóa ở môi trường đại học, biết tôn trọng sự khác biệt và có các chiến lược tương tác để hòa nhập với các thành viên ở dân tộc khác nhau
Bên cạnh các cách tiếp cận trên, Fiocco và Fleming (2007) cũng cho rằng nâng cao KNGT cho SV thông qua sự hiểu biết về những tiểu văn hóa và những giá trị ở môi trường đại học là rất cần thiết Những văn hóa và giá trị này là bản chất bên trong của KNGT được dạy ở đại học Những nhận thức về kĩ năng học thuật không thể được dạy và được học một cách riêng biệt mà cần được trao đổi thông qua giao tiếp bởi một đội ngũ giáo viên tiếp cận trên cơ sở học tập của SV Một trong yếu tố cần lưu ý nữa trong nâng cao KNGT của SV, đó là tập trung vào giảng dạy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ học thuật nói riêng cho nhóm SV thiểu số để
SV có thể diễn đạt những suy nghĩ của bản thân, chia sẻ những giá trị, những bản sắc của dân tộc mình tới những người khác trong môi trường đa văn hóa
Cùng quan điểm trên, Martín-Pastor và cộng sự (2013) cũng gợi ý một số phương pháp để cải thiện kĩ năng giao tiếp cho những sinh viên nhập cư học trong môi trường mà tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữ dùng trong HĐHT, đó là cần tận dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận những nguồn dữ liệu kĩ thuật số giúp người học tăng lượng mã hóa về hệ thống biểu tượng từ trong giao tiếp Khi dạy học trong môi trường có sinh viên nhập cư, sinh viên dân tộc thiểu số, cần khuyến khích tất cả sinh viên ở các nền văn hóa khác nhau cùng nhau chia sẻ những giá trị chung, có sự gắn kết xã hội dưới nguyên tắc chúng ta khác nhau, nhưng chúng ta đều bình đẳng
Trang 39Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã gợi ý các biện pháp khác nhau để nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Biện pháp phổ biến nhất trong phát triển kĩ năng giao tiếp mà các nhà nghiên cứu chứng minh hiệu quả
là thông qua phương pháp giảng dạy của giảng viên trong lớp học Ngoài ra, việc nâng cao năng lực ngôn ngữ dùng trong học tập, tập huấn và tổ chức các hoạt động giúp sinh viên nhóm thiểu số có thể thoải mái chia sẻ những giá trị văn hóa riêng của dân tộc mình và hiểu những giá trị văn hóa chung trong môi trường đa văn hóa
ở đại học cũng được chứng minh có thể nâng cao hiệu quả của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho sinh viên thuộc nhóm thiểu số
Tiểu kết chương 1 và khoảng trống nghiên cứu
Tóm lại, qua phần tổng quan các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài về KNGT trong HĐHT của sinh viên, chúng tôi nhận thấy có hai nhóm KNGT thành phần trong HĐHT được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
là nhóm kĩ năng giao tiếp cá nhân liên quan đến lắng nghe, đặt câu hỏi, trình bày, diễn đạt và thuyết trình các nội dung học tập và nhóm kĩ năng giao tiếp nhóm liên quan đến khả năng trao đổi qua lại, khả năng phối hợp, hợp tác trong các HĐHT nhóm Các nghiên cứu đều có chung một nhận định KNGT trong HĐHT đóng vai trò quan trọng trong việc giúp sinh viên lĩnh hội các tri thức khoa học và hình thành những kĩ năng nghề nghiệp và nếu sinh viên có KNGT tốt thì kết quả học tập của
SV sẽ cao hơn Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác còn chỉ ra SV đại học, nhất là nhóm SV dân tộc thiểu số học cùng với nhóm sinh viên chiếm đa số còn hạn chế trong một số KNGT liên quan đến nghe hiểu, diễn đạt, trình bày ý tưởng và hợp tác trong HĐHT nhóm KNGT trong HĐHT của sinh viên đại học chịu ảnh hưởng bởi
cả yếu tố chủ quan và khách quan Việc nâng cao KNGT trong HĐHT thông qua các phương pháp giảng dạy tích cực của giảng viên, khuyến khích sinh viên nhóm thiểu số chia sẻ những giá trị văn hóa của dân tộc mình; và tìm hiểu các giá trị của các nền văn hóa khác trong môi trường đại học được nhiều nhà nghiên cứu chứng minh là hiệu quả
Trang 40Với kết quả nghiên cứu như trên, trong bối cảnh ở Việt Nam, nghiên cứu cho rằng khoảng trống về KNGT trong HĐHT của sinh viên trong môi trường đại học
liên quan đến 3 khía cạnh Thứ nhất, chưa có một nghiên cứu nào đưa ra được
khung lý thuyết về các biểu hiện của KNGT trong HĐHT của sinh viên - HĐHT đặc thù gắn với một lĩnh vực nghề nghiệp tương lai, đòi hỏi sinh viên cần có cả KNGT cá nhân và KNGT nhóm để lĩnh hội hiệu quả các tri thức khoa học cơ bản
và nghề nghiệp Thứ h i liên quan đến yếu tố văn hóa của nhóm sinh viên Khmer
trong môi trường lớp học với các sinh viên nhóm đa số ở ĐBSCL Nhiều nghiên cứu chỉ ra sinh viên trong nhóm thiểu số thường có xu hướng im lặng và gặp khó khăn trong trình bày nội dung học tập trên lớp và khi cần phối hợp với các bạn trong học tập nhóm Bên cạnh đó, việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập ở môi trường đại học khác với ngôn ngữ mẹ đẻ cũng ảnh hưởng đến KNGT trong HĐHT của sinh viên Vậy những kết quả nghiên cứu trên có phản ánh đúng thực tế về
KNGT trong HĐHT của sinh viên Khmer hay không Thứ , ở nhóm khách thể là
sinh viên Khmer, thì KNGT trong HĐHT tốt hay không tốt có sự ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên không và những yếu tố nào là yếu tố chính yếu ảnh hưởng đến KNGT trong HĐHT của sinh viên Khmer Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về ba vấn đề này, do vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài này
là một yêu cầu cấp thiết có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn