1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo Sát Một Số Tính Chất Của Môi Trường Nước Và Trầm Tích Bề Mặt Trong Hệ Sinh Thái Ở Ven Sông

99 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH Võ Thị Bích Thủy KHẢO SÁT MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH BỀ MẶT TRONG HỆ SINH THÁI Ở VEN SÔNG CỬA TIỂU, TỈNH TIỀN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Thà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Thị Bích Thủy

KHẢO SÁT MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH

BỀ MẶT TRONG HỆ SINH THÁI Ở VEN SÔNG CỬA TIỂU, TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Thị Bích Thủy

KHẢO SÁT MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH

BỀ MẶT TRONG HỆ SINH THÁI Ở VEN SÔNG CỬA TIỂU, TỈNH TIỀN GIANG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số : 60420160

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN ĐỨC HƯNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Mọi số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được

các tác giả công bố trong bất kì công trình nào

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 4 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Võ Thị Bích Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Đức Hưng – người thầy luôn tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn đến TS Phạm Văn Ngọt, TS Trần Thị Tường Linh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô Phòng Sau đại học, Khoa Sinh học trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Phòng thí nghiệm Khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Sài Gòn đã đào tạo và tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học

Qua đây tôi xin cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi rất nhiều trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Võ Thị Bích Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục hình

Danh mục bảng

Danh mục từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

1.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của Tỉnh Tiền Giang 5

1.2.1 Đặc điêm tự nhiên của Tỉnh Tiền Giang 5

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Tỉnh Tiền Giang 12

1.3 Ảnh hưởng của môi trường nước và trầm tích bề mặt đến hệ sinh thái ven sông 14

1.3.1 Một số tính chất của môi trường nước ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven sông 14

1.3.2 Một số tính chất của trầm tích bề mặt ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven sông 18

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 22

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 22

Trang 6

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.2.1 Thu mẫu nước mặt, nước lỗ rỗng và trầm tích bề mặt 25

2.2.2 Phân tích các đặc điểm lí hóa của nước mặt, nước lỗ rỗng và trầm tích bề mặt 25

2.2.3 Phân tích số liệu 27

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Đặc điểm hóa lí của nước mặt 29

3.2 Đặc điểm hóa lí của nước lỗ rỗng 31

3.2.1 Nước lỗ rỗng phân vùng theo độ cao 31

3.2.2 Nước lỗ rỗng phân vùng theo độ mặn 34

3.3 Đặc điểm hóa lí của lớp trầm tích bề mặt 36

3.3.1 Trầm tích bề mặt phân vùng theo độ cao 36

3.3.2 Trầm tích bề mặt phân vùng theo độ mặn 41

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Tiền Giang 6 Hình 1.2 Biểu đồ nhiệt lượng của khu vực nghiên cứu năm 2017 (số liệu trạm

khí tượng thủy văn Gò Công – tỉnh Tiền Giang) 7 Hình 1.3 Thang đánh giá độ pH của nước 15 Hình 2.1 Sơ đồ các vị trí nghiên cứu 22 Hình 3.1 Biểu đồ giá trị pH, độ mặn và EC của nước mặt trong các phân vùng

độ mặn 30 Hình 3.2 Biểu đồ giá trị pH, độ mặn và độ dẫn điện (EC) của nước lỗ rỗng

theo phân vùng độ cao 32 Hình 3.3 Biểu đồ giá trị pH, độ mặn và độ dẫn điện (EC) của nước lỗ rỗng

phân vùng theo độ mặn 34 Hình 3.4 Biểu đồ giá trị pH, độ dẫn điện (ECse) của trầm tích bề mặt phân

vùng theo độ cao 37 Hình 3.5 Biểu đồ giá trị dung trọng, chất hữu cơ và lưu huỳnh tổng số phân

vùng theo độ cao 39 Hình 3.6 Biểu đồ giá trị pH, ECse của trầm tích bề mặt phân vùng theo độ mặn 43 Hình 3.7 Biểu đồ giá trị dung trọng, chất hữu cơ, lưu huỳnh tổng số của trầm

tích bề mặt theo độ mặn 44

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm của các ô mẫu tiêu chuẩn trong mỗi vị trí nghiên cứu 24 Bảng 3.1 Giá trị về pH, độ mặn và EC của nước mặt trong các phân vùng độ

mặn 29 Bảng 3.2 Giá trị pH, độ mặn và EC tại 3 độ cao thấp, trung bình và cao của

nước lỗ rỗng theo phân vùng độ cao 32 Bảng 3.3 Giá trị pH, độ mặn và độ dẫn điện (EC) của nước lỗ rỗng phân vùng

theo độ mặn 34 Bảng 3.4 Các giá trị về pH, ECse, dung trọng và lưu huỳnh tổng số của trầm

tích bề mặt phân vùng theo độ cao 37 Bảng 3.5 Các giá trị về pH, ECse, dung trọng và lưu huỳnh tổng số của trầm

tích bề mặt phân vùng theo độ mặn 42

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Rừng ngập mặn (RNM) có rất nhiều vai trò sinh thái quan trọng, ngoài là nơi

cư trú của nhiều hệ động vật và thực vật, RNM còn là nơi cung cấp nhiều sản phẩm về thủy hải sản, xây dựng, nông nghiệp và du lịch cho con người [33] RNM ven biển có vai trò hạn chế những tác hại của thiên tai, bão lũ, góp phần giảm đáng

kể số lượng thiệt hại về người, tài sản, vật nuôi [25] Bên cạnh đó, RNM phân bố ven biển còn là những vùng đất ngập nước quan trọng, có tiềm năng lớn về lắng đọng trầm tích và làm giảm sự ô nhiễm chất dinh dưỡng từ nông nghiệp và các khu đô thị của các vùng thượng nguồn [29] Hiện nay, RNM đã bị biến đổi nhiều

do hoạt động của con người như phá rừng để nuôi trồng thủy sản, phát triển giao thông và đô thị hóa đã dẫn tới suy giảm diện tích và các chức năng sinh thái Sự suy giảm RNM còn hiện diện ở nhiều góc độ khác nhau, một trong những góc độ quan trọng về môi trường có thể nhận thấy là sự thay đổi về tính chất hóa lí chẳng hạn như như thủy chế, chất lượng nước và đất trong RNM

Trong tình hình chung về biến đổi khí hậu xảy ra ngày càng nhanh, những nguy cơ sinh thái do mực nước biển dâng rất cần được quan tâm thích đáng đối với hệ sinh thái RNM [1] Những sự thay đổi về chất lượng nước thường tác động đến sự phân bố và thành phần loài của các thảm thực vật ven sông [32] Ở khu vực ĐBSCL, tính chất độ mặn của nước mặt bị dao động mạnh theo thời gian của mùa (mùa mưa và mùa khô) và chịu chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác như thủy triều, thời tiết, nguồn nước ngọt nội địa từ hệ thống sông Mê Kông Hơn nữa, tác động

từ xâm nhập mặn trong vùng ĐBSCL đã được xác định là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất, có thể gây ra mối đe dọa lớn đối với nông nghiệp

và các hệ sinh thái tự nhiên [42] Ngoài tính chất độ mặn của nước mặt, sự thay đổi tính chất hóa lí của lớp trầm tích bề mặt (0 – 5cm) cũng có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của các thực vật ngập mặn [40], thông qua việc tác động đến đến khả năng tăng trưởng và tái sinh tự nhiên Với những mong muốn đóng góp sự hiểu biết hơn về tính bền vững của hệ thống RNM trong khu

Trang 11

vực ĐBSCL, cụ thể là tỉnh Tiền Giang, đề tài:“Khảo sát một số tính chất của môi

trường nước và trầm tích bề mặt trong hệ sinh thái ở ven sông Cửa Tiểu, tỉnh Tiền Giang” Trong nghiên cứu này, sự thay đổi của một số đặc tính hóa lí của

môi trường nước mặt, nước lỗ rỗng và trong lớp trầm tích bề mặt (0 – 5cm) đã được khảo sát trong một số kiểu thảm RNM phân bố từ vùng mặn nhiều (polyhaline) đến vùng ít mặn (oligohaline) và có độ cao của bề mặt thể nền so với mực nước biển trung bình nằm trong khoảng 0 – 150cm

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Khảo sát nhân tố sinh thái đặc biệt liên quan đến độ mặn cụ thể là sự thay đổi theo mùa về tính chất hóa lí của môi trường nước mặt, nước lỗ rỗng và lớp trầm tích bề mặt trong một số thảm thực vật ngập mặn phân bố ven sông Cửa Tiểu, tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Thảm thực vật ngập mặn, mẫu nước mặt, mẫu nước lỗ rỗng và mẫu trầm tích

bề mặt (0 – 5cm)

4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tiến hành thực địa 1 lần trong mùa khô (đầu tháng 4/2017) và 1 lần trong mùa mưa (cuối tháng 6/2017) để khảo sát một số đặc tính hóa lí liên quan đến sự xâm mặn như sau:

- Khảo sát pH, độ mặn (NaCl), độ dẫn điện (EC) của môi trường nước mặt

- Khảo sát pH, độ mặn, EC của môi trường nước lỗ rỗng

- Khảo sát pHH2O, pHKCl, ECse, dung trọng, hàm lượng chất hữu cơ (SOM) và lưu huỳnh tổng số của trầm tích bề mặt

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Độ mặn của nước và chế độ của thủy triều ảnh hưởng đến sự phân bố và tồn tại của hệ động thực vật vì thế phải có biện pháp hợp lí để không vượt quá giới hạn về độ mặn Chính thực vật cũng làm thay đổi độ mặn của nước [32] Nước mặn gây ra những tác động đáng kể đến đa dạng sinh học của hệ sinh thái ven biển Sự thay đổi độ mặn cũng làm thay đổi dòng chảy của nước và các quá trình vận chuyển trầm tích Độ mặn biến đổi theo mùa kéo theo sự tồn tại và đa dạng loài trong rừng ngập mặn ven biển bị thay đổi [24] Đồng thời sự tăng của mực nước biển cũng ảnh hưởng đến sự xâm nhập mặn hiện nay và rừng ngập mặn chịu ảnh hưởng gần nhất Động lực thủy triều ảnh hưởng đến sự phân bố độ mặn và dòng chảy nước ngầm [51] RNM ven biển chịu sự va chạm liên tục của sóng và dòng chảy, chính điều này gây ra hiện tượng xói mòn hay bồi tụ, đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố này Cụ thể, sóng và dòng chảy là yếu tố gây nên xói mòn hay bồi tụ trầm tích [62] Sự kết hợp của mưa hay địa hình dốc làm xói mòn, hoặc chuyển đổi rừng sang nông nghiệp và đất đai đã dẫn đến gia tăng khối lượng vận chuyển trầm tích qua các lưu vực sông nhiệt đới [29] Sông Mê Kông vào mùa khô thủy triều đem nước biển vào làm tăng độ mặn vùng cửa sông đồng thời tải lượng trầm tích vào và ngược lại mùa mưa nước sông chảy mạnh ra biển làm giảm

độ mặn, khiến trầm tích bị hao hụt [68] Việc xây dưng các đập thủy điện khiến dòng chảy chậm và giảm sự chuyển tải trầm tích ra vào vùng cửa sông đồng thời làm tăng sự xói mòn bờ biển [65], [69]

Đối với vùng đầm lầy cửa sông, độ mặn là nhân tố làm giảm sự tăng trưởng

và phân vùng của thảm thực vật Độ phong phú của thực vật tăng dần từ biển vào cửa sông tương đương với sự giảm của độ mặn [63]

ĐBSCL hiện nay đang bị ảnh hưởng xói lở trên diện rộng, sự sụt giảm lượng cung trầm tích của sông cho các vùng bờ, dường như là nguyên nhân chính của

Trang 13

hiện tượng xói lở RNM vùng cửa sông phát triển trên tầng trầm tích phù sa dày với lượng chất hữu cơ và cacbon hữu cơ khá lớn [35]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đã có nhiều công trình trong nước nghiên cứu về vấn đề này, sau đây là một vài nghiên cứu quan trọng được đề cập đến

Hệ sinh thái RNM ven biển và cửa sông có vai trò quan trọng trong phòng

hộ, bảo vệ môi trường cũng như duy trì đa dạng sinh học Độ mặn của nước, thành phần trầm tích có thể dẫn đến sự suy thoái, sống còn của hệ sinh thái [16] Nước biển dâng làm cho độ mặn của nước trong rừng ngập mặn có thể vượt quá 25%, làm mất đi rất nhiều loài sinh vật và thay đổi mạnh mẽ hệ sinh thái rừng ngập mặn [5] RNM ven biển vừa có tác dụng chắn sóng, hạn chế xói lở bờ, vừa cố định trầm tích, giúp đất liền bồi lấn ra biển Sự xói mòn hay bồi tụ của RNM ven biển chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm địa hình, sự chi phối của gió, lực sóng và độ dốc [9] Vận chuyển trầm tích chịu ảnh hưởng lớn bởi chế độ dòng chảy ven bờ do sự chi phối của gió, thủy triều và các hoạt động của sóng trong vùng sát bờ biển vì thế tiềm ẩn nhiều nguy cơ bào mòn và xói lở bờ biển, đặc biệt trong xu thế mực biển gia tăng hiện nay [14], [17] Xu thế bồi tụ phổ biến ở mùa mưa và xu thế xói mòn phổ biến hơn vào mùa khô điều này góp phần vào sự thay đổi địa hình của vùng cửa sông ven bờ [20], [7] Trong mùa gió Tây – Nam chủ yếu xảy ra quá trình bồi tụ trầm tích, bùn cát và ngược lại trong mùa gió Đông – Bắc trầm tích, bùn cát này bị đào xới, tái lơ lửng và vận chuyển về phía nam hay quá trình xói lở sẽ diễn ra [7] Tốc

độ tích tụ trầm tích trong giai đoạn 40 năm trở lại đây thấp hơn so với tốc độ tích

tụ tính trung bình trong vòng 100 năm qua; nguyên nhân có thể là do sự tụt giảm lượng trầm tích của sông Mê Kông vận chuyển ra biển, xuất phát từ việc xây dựng các đập thủy điện trên vùng thượng nguồn của con sông này [9]

Tuy đã có nhiều nghiên cứu về nước và trầm tích nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về tính chất của môi trường nước và trầm tích bề mặt trong hệ sinh thái

ở ven sông Cửa Tiểu, tỉnh Tiền Giang Nghiên cứu này sẽ góp phần hiểu rõ thêm

Trang 14

về ảnh hưởng của môi trường nước và trầm tích bề mặt đến phát triển và phân vùng của thảm thực vật ven sông trong bối cảnh biến đổi khí hậu

1.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của Tỉnh Tiền Giang

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên của Tỉnh Tiền Giang

1.2.1.1 Vị trí địa lí

Tiền Giang nằm trong tả ngạn sông Tiền, giáp với Biển Đông với tọa độ địa

lí từ 105049' 07" đến 106048'06" kinh độ Đông, từ 10012'20" đến 10035'26" vĩ độ Bắc Phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long và phía Bắc giáp tỉnh Long An, thành phố Hồ Chí Minh Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh khoảng 250.830,33ha (chiếm 6,17% DTTN của ĐBSCL), dân số 1.677.986 người (chiếm 10,06%), gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã, 8 huyện) với 169 đơn vị cấp xã (8 thị trấn, 16 phường, 145 xã) Trong đó, thành phố Mỹ Tho (đô thị loại 2), là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh, đồng thời cũng là trung tâm, là hội điểm giao lưu văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch từ lâu đời của các tỉnh trong vùng, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng Nam và cách thành phố Cần Thơ 90

km về hướng Bắc Chiều dài Sông Tiền chảy qua địa phận Tỉnh Tiền Giang là 103

km, có chiều dài bờ biển Đông là 32 km, nằm trên trục giao thông quan trọng của

cả nước và là cửa ngỏ vào Miền Tây Nam Bộ một địa bàn giao lưu khối lượng lớn nông sản, hàng hóa của miền Tây với Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Đông Nam Bộ

Sông Tiền hay còn gọi là sông Mỹ Tho là nhánh hạ lưu bên trái của sông Mê Công chảy từ Campuchia vào miền Nam Việt Nam qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre rồi đổ ra Biền Đông Sông Tiền chảy qua Bến Tre và Tiền Giang đổ ra ba cửa: cửa Đại (giữa Bình Đại và Gò Công), cửa Tiểu (Gò Công) và cửa Ba Lai (giữa Ba Tri và Bình Đại) Sông Tiền là nơi cung cấp nước sinh hoạt và nuôi trồng thủy hải sản góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của tỉnh Tiền Giang

Trang 15

Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Tiền Giang [70]

Nhìn chung, với vị trí địa lí và giao thông đường thủy, Tiền Giang có nhiều lợi thế trong việc sử dung tài nguyên thiên nhiên, phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường giao lưu, hợp tác về kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch với các vùng trọng điểm phía Nam và thành phố

ẩm không khí, tổng số giờ chiếu sáng và gió được phân bố theo mùa khá rõ rệt, khá ổn định theo thời gian và ít thay đổi trong không gian Tiền Giang chịu ảnh hưởng hai mùa gió chính: gió mùa Tây Nam mang theo nhiều hơi nước, thổi vào mùa mưa Hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc chiếm tầng suất 50 –60%, kế đến là hướng Đông chiếm tầng suất 20 – 30%, tốc độ gió trung bình là 3,8m/s Từ

Trang 16

tháng 11 đến tháng 4, gió mùa Đông Bắc thịnh hành, thổi cùng hướng với các cửa sông, làm gia tăng tác động thủy triều và xâm nhập mặn theo sông rạch vào đồng ruộng, đồng thời làm hư hại đê biển, được gọi là gió chướng Năm 2017 từ tháng 1 đến tháng 4 vào mùa khô Tiền Giang mưa hầu như không có, lượng mưa tăng cao nhất vào tháng 5, 6 và 7; giảm dần từ tháng 8 và tháng 9 Tổng số giờ chiếu sáng không chênh lệch nhiều ở các tháng và tháng 3 và 4 cao nhất (Hình 1.2)

Hình 1.2 Biểu đồ nhiệt lượng của khu vực nghiên cứu năm 2017 (số liệu trạm khí tượng thủy văn Gò Công – tỉnh Tiền Giang)

Tóm lại, Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của đồng bằng sông Cửu Long với đặc điểm nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, ít bão, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Tuy nhiên trong 10 năm qua, điều kiện khí hậu thủy văn diễn biến khá phức tạp so với quy luật, tình hình thiên tai lũ lụt, bão lốc xảy ra liên tiếp, tình trạng thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn khá nghiêm trọng vào mùa nắng tại vùng nhiễm mặn Gò Công và vùng nhiễm phèn Đồng Tháp Mười thuộc huyện Tân Phước, cần được quan tâm trong việc quy hoạch bố trí cây trồng vật nuôi và đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thích hợp để phát triển ổn định của các tiểu vùng kinh tế này và hạn chế phần nào ảnh hưởng xấu do các điều kiện khí hậu thủy văn gây ra (http://www.tiengiang.gov.vn)

Trang 17

Tiền Giang chia làm ba vùng theo phương diện thủy văn:

Vùng Đồng Tháp Mười: Thuộc địa phận tỉnh Tiền Giang giới hạn bởi kênh Bắc Đông, kênh Hai Hạt ở phía Bắc, kênh Nguyễn Văn Tiếp B ở phía Tây, sông Tiền ở phía Nam, quốc lộ 1A ở phía Đông Hàng năm vùng Đồng Tháp Mười đều bị ngập lũ, thời gian ngập lũ khoảng 3 tháng (tháng 9 – 11); độ sâu ngập biến thiên từ 0,4 – 1,8m Về chất lượng nước tại đây thường bị nhiễm phèn trong thời kỳ từ đầu đến giữa mùa mưa, độ PH vào khoảng 3 – 4 Ngoài ra, mặn cũng xâm nhập vào từ sông Vàm Cỏ với độ mặn khoảng 2 – 4% trong vòng 2 – 3tháng tại vùng phía Đông Đồng Tháp Mười Vùng Đồng Tháp Mười có nhiều hạn chế, chủ yếu là ngập lũ và nước bị chua phèn Tuy nhiên, việc triển khai các quy hoạch thủy lợi và kiểm soát lũ trên toàn vùng ĐBSCL nói chung và Đồng Tháp Mười của tỉnh nói riêng đã và đang thúc đẩy sự phát triển nông lâm nghiệp toàn diện cho khu vực

Vùng ngọt giữa Đồng Tháp Mười và Gò Công: Giới hạn giữa quốc lộ 1A và kênh Chợ Gạo có điều kiện thủy văn thuận lợi Địa bàn chịu ảnh hưởng lũ lụt nhẹ theo con triều, chất lượng nước tốt, nhiều khả năng tưới tiêu, cho phép phát triển nông nghiệp đa dạng nhất

Vùng Gò Công: Giới hạn bởi sông Vàm Cỏ ở phía Bắc, kênh Chợ Gạo ở phía Tây, sông Cửa Tiểu ở phía Nam và biển Đông ở phía Đông Đặc điểm thủy văn chung là bị nhiễm mặn từ 1,5 tháng đến 7 tháng tùy vào vị trí cửa lấy nước Khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp vào chế độ bán nhật triều biển Đông Mặn xâm nhập chính theo 2 sông cửa Tiểu và sông Vàm Cỏ mặn thường lên sớm và kết thúc muộn, trong năm chỉ có 4-5 tháng nước ngọt, độ mặn cao hơn sông Tiền từ 2 – 7lần

1.2.1.3 Địa hình

Tiền Giang có địa hình bằng phẳng với độ dốc và cao từ 0 – 0,6m so với mực nước biển, phổ biến từ 0,8 – 1,1m Toàn bộ diện tích tỉnh nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long, bề mặt địa hình hiện tại và đất đai được tạo nên bởi

sự lắng đọng phù sa sông Cửu Long trong quá trình phát triển châu thổ hiện đại

Trang 18

trong giai đoạn biển thoái từ đại Holoxen trung, khoảng 5.000 – 5.500 năm trở lại đây còn được gọi là phù sa mới Nhìn chung đất nền là phù sa mới, giàu bùn sét và hữu cơ (trừ các giống cát) nên về mặt địa hình cao trình tương đối thấp Toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực địa hình thấp trũng hay

gò cao hơn so với địa hình chung Nơi bị thấp trũng thường bị lũ lụt do sông Cửu Long chảy về Ở lưu vực sông Cửa Tiều ở Gò Công phía Bắc ven biển được phù

sa bồi đắp nên cao hơn so với phía Nam

1.2.1.4 Các nguồn tài nguyên

 Tài nguyên đất

Tiền Giang có các nhóm đất chính như sau:

- Nhóm đất phù sa: Chiếm 55,49% diện tích tự nhiên với khoảng 139.180,73

ha chiếm phần lớn diện tích các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, thành phố Mỹ Tho và một phần huyện Gò Công Tây thuộc khu vực có nguồn nước ngọt Đây là nhóm đất thuận lợi nhất cho nông nghiệp, đã được sử dụng toàn bộ diện tích Trong nhóm đất này có loại đất phù sa bãi bồi ven sông có thành phần

cơ giới tương đối nhẹ hơn cả nên thích hợp cho trồng cây ăn trái

- Nhóm đất mặn: Chiếm 14,6% diện tích tự nhiên với 36.621,23 ha, chiếm phần lớn diện tích huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phú Đông, thị xã Gò Công và một phần huyện Chợ Gạo Về bản chất, đất đai thuận lợi như nhóm đất phù sa, nhưng bị nhiễm mặn từng thời kỳ hoặc thường xuyên Việc trồng trọt thường chỉ giới hạn trong mùa mưa có đủ nước ngọt, ngoại trừ các loại cây chịu lợ như dừa, sơri, cói Một ít diện tích được tiếp ngọt về hoặc có trữ nước mưa trong

ao thì có thể tiếp tục trồng trọt vào mùa khô Loại đất này khi có điều kiện rửa mặn sẽ trở nên rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp với chủng loại cây trồng tương đối đa dạng Riêng đất ven biển là thích nghi cho rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản

- Nhóm đất phèn: Chiếm 19,4% diện tích tự nhiên với 48.661,06 ha, phân bố chủ yếu ở khu vực trũng thấp Đồng Tháp Mười thuộc phía Bắc 3 huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước Đây là loại đất hình thành nên trầm tích đầm lầy ven biển tạo

Trang 19

thành trong quá trình biển thoái, nên loại đất này giàu hữu cơ và phèn Hiện nay, ngoài tràm và bàng là 2 cây cố hữu trên đất phèn nông, đã tiến hành trồng khóm và mía có hiệu quả ổn định trên diện tích đáng kể Ngoài ra, một số diện tích khác cũng đã bước đầu được canh tác có hiệu quả với một số mô hình như trồng khoai

mỡ và các loại rau màu, trồng lúa 2 vụ và cả trồng cây ăn quả trên những diện tích

có đủ nguồn nước ngọt và có khả năng chống lũ

- Nhóm đất cát giồng: Chỉ chiếm 3% diện tích tự nhiên với 7.524,91 ha, phân

bố rải rác ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất

ở huyện Gò Công Đông Do đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ nên chủ yếu sử dụng làm thổ cư và canh tác cây ăn trái, rau màu

- Phần diện tích đất còn lại chủ yếu là sông rạch và mặt nước chuyên dùng có tổng diện tích là: 18.842,25 ha, chiếm 7,51% tổng diện tích tự nhiên được phân bố đều khắp các huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh

Nhìn chung, đất đai của tỉnh phần lớn là nhóm đất phù sa (chiếm 55%), thuận lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác sử dụng, hình thành vùng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái chuyên canh của tỉnh; còn lại 19,4% là nhóm đất phèn và 14,6% là nhóm đất phù sa nhiễm mặn

Tài nguyên nước

Nước mặt: Tiền Giang có hai sông lớn chảy qua là sông Tiền, sông Vàm Cỏ Tây và hệ thống kênh ngang, dọc tương đối phong phú, rất thuận lợi cho việc đi lại bằng phương tiện đường thủy và sử dụng nguồn nước mặt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Sông Tiền chảy qua lãnh thổ tỉnh Tiền Giang dài khoảng 103 km, sông có chiều rộng 600 – 1.800 m, là nguồn chủ yếu cung cấp nước ngọt cho toàn tỉnh Sông Vàm Cỏ Tây chảy qua lãnh thổ tỉnh Tiền Giang có khoảng 25km, rộng

185 m, lưu lượng dòng chảy chủ yếu từ sông Tiền chuyển qua và một phần nước tiêu lũ từ Đồng Tháp Mười thoát ra, là tuyến xâm nhập mặn chính trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

Trang 20

Nước ngầm: Tỉnh Tiền Giang có nguồn nước ngầm ngọt có chất lượng khá tốt ở khu vực phía Tây và một phần khu vực phía Đông của tỉnh, nhưng phải khai thác ở độ sâu khá lớn (từ 200 – 500 m) Đây là một trong những nguồn nước sạch quan trọng, góp phần bổ sung nguồn nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, đặc biệt đối với những vùng bị nhiễm mặn, phèn…

Tài nguyên khoáng sản

Theo các chương trình khảo sát, điều tra cơ bản, các loại khoáng sản được tìm thấy trên địa bàn tỉnh Tiền Giang có:

- Than Bùn: Tìm thấy ở xã Phú Cường (Cai Lậy), Tân Hòa Tây và Hưng Thạnh (Tân Phước) Chất lượng nhìn chung không cao, lẫn nhiều tạp chất và hàm lượng lưu huỳnh cao Riêng than bùn ở kênh Tây và Tràm Sập có hàm lượng axít humic đạt yêu cầu làm nền cho phân bón với trữ lượng 1,3 triệu m3, có thể sử dụng cho một nhà máy phân bón công suất 10.000 tấn/năm

- Sét: Sử dụng cho công nghiệp được tìm thấy trong phù sa cổ và mới Sét làm gốm sành đã được phát hiện trong tỉnh dọc theo quốc lộ 1 từ Cổ Cò đến Bà Lâm (Cái Bè), có thể sử dụng làm gốm sành quy mô nhỏ

- Cát: Trên sông Tiền có thể khai thác để làm đường nông thôn và làm nền cho các công trình xây dựng Trữ lượng dự báo 93 triệu m3, khối lượng cho phép khai thác hàng năm 3 – 3,5 triệu m3

Tài nguyên sinh vật

Thảm thực vật: Ngoài các loại cây kinh tế do con người canh tác, Tiền Giang còn có 3 thảm thực vật mang tính chất hoang dại:

- Rừng ngập mặn ven biển: Gặp ở ven biển và gần cửa sông trên đất bùn mặn qua bãi lầy ngập theo triều gồm: Bần, mấm, đước, rau muống biển, cỏ lức…

- Thảm thực vật rừng nước lợ: Gặp ở vùng nước lợ ven sông Vàm Cỏ Tây, sông Tiền thường xuyên ngập theo triều gồm: Dừa nước, bần chua, ô rô, cóc kèn, mái dầm…

Trang 21

- Thảm thực vật vùng đất phèn hoang: Gặp ở vùng Đồng Tháp Mười trên vùng đất phèn ngập lũ gồm: Cỏ năng, cỏ mồm, bàng, tràm tái sinh…

Động vật: Ngoài các loài động vật nuôi tài nguyên động vật có giá trị kinh

tế chủ yếu là thủy sản Tiền Giang có tài nguyên thủy sản phong phú và đa dạng gồm thủy sản nước ngọt, thủy sản nước lợ và hải sản

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Tỉnh Tiền Giang

1.2.2.1 Đơn vị hành chính và dân số

Tiền Giang có 11 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố Mỹ Tho, 2 thị xã Gò Công và Cai Lậy, 8 huyện gồm: Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông, Tân Phước, Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè, Tân Phú Đông với 169 đơn vị hành chính cấp xã (7 thị trấn, 16 phường, 146 xã) Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 2.481,77 km2, chiếm khoảng 6% diện tích ĐBSCL; 0,7% diện tích cả nước Dân cư Tiền Giang phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn Thành phố Mỹ Tho và thị

xã Gò Công có mật độ dân cư cao nhất; tiếp đến là các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Chợ Gạo; huyện Tân Phước có mật độ dân cư thấp nhất Cộng đồng dân cư tại Tiền Giang gồm các dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm, các dân tộc khác

1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

Tiền Giang có vị trí địa lý kinh tế - chính trị khá thuận lợi, nằm trên các trục giao thông - kinh tế quan trọng như quốc lộ IA, quốc lộ 50, quốc lộ 60, quốc lộ 30, đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Trung Lương (Mỹ Tho) - Cần Thơ tạo cho Tiền Giang vị thế của một cửa ngõ của các tỉnh miền Tây về TP Hồ Chí Minh Mặt khác, Tiền Giang còn có 32 km bờ biển và hệ thống các sông Tiền, sông Vàm Cỏ Tây, sông Soài Rạp, kênh Chợ Gạo nối liền các tỉnh ĐBSCL với TP Hồ Chí Minh

và là cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh ven sông Tiền và Campuchia Vì thế, Tiền Giang là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của cả nước với các nông sản có giá trị như lúa - gạo, trái cây, gia súc, gia cầm, thủy sản, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong cả nước mà còn là hàng hoá xuất khẩu quan trọng

Theo báo cáo năm 2016 tổng sản phẩm ước đạt 52.431 tỷ đồng tăng 8,5% so với năm 2015 gồm khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản, khu vực công nghiệp và

Trang 22

xây dựng tăng, và khu vực dịch Tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2016 đạt 39,1 triệu đồng/người/năm, tăng 3,6 triệu đồng so với năm 2015 Cơ cấu kinh

tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và giảm tỷ trọng nông nghiệp Với tình hình hiện nay, sản xuất của tỉnh chủ yếu là trong nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 13% trên tổng GRDP, nhưng có

xu hướng tăng dần (năm 2015) Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 15.782 ha, tăng

so cùng kỳ Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2016 tăng 14,8% so cùng kỳ, trong đó: ngành khai khoáng giảm, ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng Kim ngạch tập trung chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt 2.050,7 triệu USD Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 1.140,3 triệu USD tăng 2,2% so cùng kỳ Trị giá nhập khẩu tập trung chủ yếu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 79,1% Số khách tham quan du lịch đạt 1.591,3 ngàn lượt, tăng 7,8% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế đạt 527,6 ngàn lượt tăng 12,6% so cùng

kỳ

Cùng với sự đầu tư, phát triển về trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản và các ngành công nghiệp thì tình Tiền Giang còn tiếp tục đẩy mạnh và phát huy tối đa trong ngành dịch vụ, thương mại với vốn đầu tư nước ngoài Một trong những tỉnh

có đường bờ biển dài cùng cầu nối các trọng điểm kinh tế như TPHCM, Cần Thơ giúp Tiền Giang phối hợp để phát triển tối ưu nhất về nền kinh tế Bên cạnh đó, toàn tỉnh luộn quan tâm, hỗ trợ trong công tác xóa đói giảm nghèo, sử dụng hết nguồn lao động dồi dào và hợp tác lao động các nước trong khu vực, phát triển toàn diện giáo dục, an sinh xã hội, y tế cho người dân Tính đến nay tỉnh Tiền Giang dần cố gắng hết mình trong việc hài hòa cho cuộc sống người dân được đầy

đủ nhất [70]

Trang 23

1.3 Ảnh hưởng của môi trường nước và trầm tích bề mặt đến hệ sinh thái ven sông

1.3.1 Một số tính chất của môi trường nước ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven sông

pH của nước được đo bởi nồng độ ion H+ trong nước, pH của nước đánh giá nước axit hay kiềm Nước tinh khiết có pH=7 là trung tính và nước có pH<7 là axit và pH>7 là kiềm Các sinh vật vùng cửa sông có pH từ 6,5 đến 8,5 thích hợp cho chúng phát triển Vùng cửa sông có độ pH từ 7,0 – 8,5 Độ pH ảnh hưởng quan trọng đến đời sống sinh vật, chỉ thay đổi trong pH cũng ảnh hưởng đến đời sống của sinh vật hay ảnh hưởng đến độ hòa tan của một số kim loại như sắt, đồng pH của nước thay đổi liên tục trong ngày và mùa bởi quá trình quang hợp bởi các loài thực vật thủy sinh sẽ loại bỏ carbon dioxide khỏi nước, lấy đi H+ điều này làm tăng đáng kể độ pH Sự phân hủy của chất hữu cơ sẽ làm giảm độ pH, làm cho nước có tính axit hơn [61]

Mưa lớn sẽ có xu hướng giảm pH do độ pH của nước mưa tươi là khoảng 5,5

và tăng lên khi chịu ảnh hưởng của axit hình thành từ sự khử của sunfat từ đất [37]

Độ pH của vùng ẩm ướt quanh rễ ảnh hưởng đến việc hấp thụ chất dinh dưỡng bởi thực vật pH ảnh hưởng đến độ tan của kim loại nặng và ion trong nước

Thang đánh giá độ pH của nước [57]

Trang 24

Hình 1.3 Thang đánh giá độ pH của nước

Độ mặn của nước được định nghĩa là tổng các muối hòa tan trong nước Độ mặn của nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ dòng chảy của sông, mùa khô độ mặn cao hơn mùa mưa vì ảnh hưởng của thủy triều, sẽ mang muối vào Độ mặn của nước đi đôi với độ mặn của đất Độ mặn ảnh hưởng đến đa dạng và sự phân vùng của các loài động thực vật, độ mặn càng cao sẽ làm giảm độ phong phú của loài đồng thời giảm khả năng nảy mầm của thực vật ở ven biển [52], [51]

Nước ngọt từ sông ngòi có độ mặn từ 5‰ trở xuống Ở vùng cửa sông, độ mặn được gọi là mặn ít (0,5 – 5,0‰), mặn vừa (5,0 – 18,0‰), hoặc mặn nặng (18,0 – 30‰) Gần kết nối với biển mở, vùng cửa sông có thể là euhaline, nơi có mức độ nhiễm mặn tương đương với đại dương với hơn 30‰ [29]

Độ mặn của nước ảnh hưởng đến sự phát triển của thảm thực vật ở RNM [12]:

+ Nơi có độ mặn thấp (<20‰) và nhiều biến động trong năm 4 – 20‰ ở vùng cửa sông : Rừng bần chua phân bố tự nhiên chiếm ưu thế

+ Độ mặn từ 10 – 25‰ và ít biến động trong năm ( vùng bãi bồi xa cửa sông) : rừng Đước và rừng Đước vòi, phân bố tự nhiên chiếm ưu thế

+ Độ mặn tương đối cao 20 – 30‰ và mức biến động về độ mặn trong năm không nhiều : Rừng Mấm trắng sinh trưởng tốt

Trang 25

+ Nếu độ mặn quá cao >80‰ RNM sinh trưởng rất xấu hoặc không có loại RNM nào có thể tồn tại được

Nước lỗ rỗng hay là nước mao quản được giữ và di chuyển trong đất do tác dụng của lực mao quản Lực mao quản bắt đầu xuất hiện trong những lỗ hổng có đường kính <8mm, nước này cây sử dụng dễ dàng Vì thế nước mao quản là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho cây trồng và là nguồn nước dự trữ chính có ích trong đất Nước lỗ rỗng có độ mặn cao hơn nước mặt và phụ thuộc vào sự phát triển của thực vật, độ mặn tăng hơn đối với rừng già bởi sự tích tụ muối qua các khe hở trong từng lỗ rỗng của đất qua thời gian và được cây giữ lại [54]

Tính chất của nước lỗ rỗng ảnh hưởng bởi sự ngập triều và dòng chảy dưới

bề mặt Sự thay đổi của nước lỗ rỗng theo mùa do thực vật ảnh hưởng đến Kết quả là nước lỗ rỗng trong trầm tích đầm lầy được làm giàu các chất dinh dưỡng như nitrate và sulfate, có thể từ sự phân rã của các vật liệu hữu cơ dưới mặt đất [22] Dòng chảy của nước lỗ rỗng là một quá trình quan trọng trong việc vận chuyển các chất hữu cơ và vật chất vô cơ từ trầm tích đầm lầy đến các vùng nước gần bờ [56]

Nếu bề mặt của trầm tích và thảm thực vật bị ngập hoàn toàn khi triều cao thì lượng nước bốc hơi không đáng kể [44] Độ mặn của nước lỗ rỗng trong các đầm lầy ngập nước thường xuyên bị ngập được kiểm soát chủ yếu bởi độ muối ngập thủy triều và trong khoảng từ 0 đến 35‰ Thay đổi theo chu kỳ của độ mặn nước

lỗ rỗng là do thay đổi trong thời gian ngập nước của thủy triều Sự vận chuyển nước lỗ rỗng có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát sự phân bố muối trong các trầm tích cửa sông [43]

Khi thủy triều thấp, sự thoát nước nhiều khiến nước lỗ rỗng chảy nhanh và cung cấp cho sự phát triển của thực vật Độ mặn của nước bề mặt không thay đổi nhiều đối với vùng ngập triều thường xuyên do sự pha trộn giữa nước lỗ rỗng và thủy triều Khi không có sự ngập triều, pH của nước lỗ rỗng sẽ hơi chua và quá trình oxy hóa sulfat tiếp tục có thể làm giảm độ pH Do sự oxy hóa xen kẽ và ngập

Trang 26

thủy triều thường xuyên, độ pH ngập nước thường xuyên của trầm tích thường dao động từ 5 đến 7 [41]

Độ mặn là nồng độ của tất cả các muối hòa tan trong nước Muối trong đại dương chủ yếu từ các thành phần natri Na (Na) và clo (Cl), chiếm 85,7% lượng muối hòa tan Cùng với nhau với các thành phần chính khác của nước biển, magiê (Mg), canxi( Ca), kali (K) và sunfat (SO42-), chúng chiếm 99,4% muối trong đại dương Độ mặn trong cửa sông thay đổi hàng ngày, theo mùa, vị trí và chu kỳ thủy triều Mức độ mặn ở các cửa sông có thể tăng lên những ngày nắng nóng khi nước bốc hơi mạnh Mặt khác, độ mặn có thể giảm xuống khi lượng mưa lớn hoặc làm tăng lưu lượng nước ngọt chảy vào cửa sông từ sông ngòi

Độ dẫn điện (EC) là khả năng mang một dòng điện trong dung dịch, khả năng này phụ thuộc vào sự hiện diện của các ion, tổng nồng độ, tính linh động của các ion Các dung dịch của hợp chất vô cơ là các chất dẫn tốt và ngược lại dung dịch của hợp chất hữu cơ dẫn điện kém hơn Độ dẫn điện và nồng độ muối (độ mặn) liên quan đến nhau theo tỉ lệ thuận Độ dẫn điện và độ mặn liên quan đến nhau theo tỉ lệ thuận Vùng cửa sông đất và nước luôn có giá trị của độ mặn Mức

độ muối nói chung cao nhất gần miệng của một con sông nơi mà nước đại dương chảy vào và thấp nhất ở thượng lưu nơi nước ngọt chảy vào Tuy nhiên, độ mặn ở các vị trí khác trong cùng cửa sông khác nhau thông qua chu kỳ thủy triều Mức

độ mặn chung ở các cửa sông giảm mùa mưa tạo ra dòng chảy nước ngọt cao từ suối và nước ngầm [34]

Độ mặn, pH của nước lỗ rỗng sẽ tăng khi triều lên và giàm khi triều xuống

Độ mặn cao nhất vào cuối mùa khô và thấp nhất vào cuối mùa mưa do nước ngọt

từ sông đổ ra [60], [46] Độ mặn của nước lỗ rỗng thường giảm từ đất liền ra biển

và sự chênh lệch các mùa không đáng kể nhưng mùa đông sẽ cao hơn những tháng mùa hè [40] pH trong khoảng 7,55 – 7,65 và độ mặn từ 17,7 – 20,9 g/L thì Mấm trắng phát triển tốt nhất [48]

Trang 27

pH của trầm tích thường thấp hơn pH của nước trong các mùa Khi nồng độ muối trong nước tăng, độ dẫn điện tăng lên - độ mặn càng lớn thì độ dẫn điện càng cao [39] Các yếu tố độ mặn, thể nền, chế độ triều, nhiệt độ và lượng mưa đã có ảnh hưởng đến sự phân bố, phát triển và tái sinh của các cây ngập mặn Độ mặn bình quân là 9,5‰ là điều kiện thuận lợi cho cây ngập mặn Thể nền chủ yếu là các bãi bồi ven sông với độ lầy thụt trung bình thấp, có sự phân hóa rõ theo hướng Đông Tây Chế độ triều là nhật triều không đều, biên độ triều thấp 0,4 – 0,7m, ít tạo điều kiện cho sự phát tán của trụ mầm [18]

1.3.2 Một số tính chất của trầm tích bề mặt ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven sông

Trầm tích bề mặt là chất vô cơ do phong hóa và xói mòn của đất đá được tích lũy nhờ dòng chảy của sông, suối hay thủy triều của biển Đặc biệt vùng cửa sông tiếp giáp với biển, trầm tích bề mặt được bồi tụ hay xói mònbởi các tác nhân như dòng chảy ven bờ, thủy triều lên xuống của biển kết hợp thành sóng trong việc phá huỷ, tái vận chuyển và tái phân bố trầm tích Khi triều lên thường tạo điều kiện cho sóng phá huỷ bờ đồng thời vận chuyển vật liệu ra phía ngoài và lắng đọng tạo nên trầm tích bãi triều Sông làm nhiệm vụ mang vật liệu ra biển sau đó thuỷ triều và dòng chảy ven bờ lại làm nhiệm vụ tái vận chuyển và phân bố trầm tích Trầm tích thường thấp trong mùa khô và cao nhất trong những tháng đầu của mùa mưa vì chịu ảnh hưởng của tốc độ dòng chảy

Độ pHlà đại lượng biểu thị độ chua của đất thể hiện qua nồng độ ion H+ và

Al3+ trong dung dịch đất pH phản ánh mức độ rửa trôi các cation kiềm cũng như mức độ tích tụ cation sắt, nhôm Bao gồm : pHH2O (độ chua hoạt tính) biểu thị nồng độ ion H+ tự do trong dung dịch đất và pHKCl (độ chua trao đổi) do ion H+,

Al3+ từ đất tách ra dung dịch khi cho trao đổi với muối trung tính KCl và ion H+ tự

do có sẵn vì thế đối với đất chua pHKCl < pHH2O pH hay độ chua của đất ảnh hưởng đến khả năng trao đổi của các nguyên tố và quá trình hút chất dinh dưỡng của cây Nhờ có tính đệm mà độ pH của đất ít bị biến đổi tạo điều kiện ổn định môi trường có lợi cho sinh trưởng phát triển của cây và vi sinh vật đất Tính đệm

Trang 28

là khả năng chống lại sự thay đổi pH của đất Tính đệm phụ thuộc vào nhiều tính chất đất trong đó đất càng nhiều chất hữu cơ (mùn) thì tính đệm càng cao Sự khử sunfat trong điều kiện kị khí hay sự phân hủy chất hữu cơ sẽ giải phóng acid làm cho độ chua của đất tăng lên [54], [13]

- Độ chua của đất dựa vào pHH2O được phân cấp như sau [13]:

Phần lớn cây trồng sinh trưởng tốt trong khoảng pH đất từ 6,0 – 7,5 [6]

Độ dẫn điện (EC) phản ánh nồng độ muối hòa tan trong dung dịch từ đó cho biết độ mặn của đất EC càng cao chứng tỏ độ mặn của đất và nước càng cao Thành phần và nồng độ các muối tan có thể thay đổi do bón phân, do độ ẩm của đất, sự hút chất dinh dưỡng của vi sinh vật, sự rửa trôi, tương tác giữa dung dịch đất với phần rắn của đất, phản ứng trao đổi giữa dung dịch đất và keo đất Phản ứng dung dịch đất làm thay đổi pH ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật và đặc tính lí hóa của đất Khi độ mặn cao làm thay đổi tính chất của đất, cây khó hấp thụ chất dinh dưỡng Độ mặn đất thay đổi kéo theo hoạt động của vi sinh vật thay đổi và thay đổi đặc tính lí hóa của đất Độ mặn đất tăng làm hàm lượng sunfat tăng [30]

Trang 29

Để phân cấp độ mặn cũng như mức ảnh hưởng đến thực vật người ta dựa

ECse (mS/cm) đối với trầm tích với thang đánh giá sau [71]:

1,5 – 2 : Mặn ít (Cây ít chịu ảnh hưởng)

2 – 6: Mặn vừa (Cây chịu ảnh hưởng nhiều)

6 – 15: Mặn nặng (Cây chịu mặn mới phát triển)

>15: Mặn cực nặng (Rất ít cây chịu mặn phát triển được)

Dung trọng là trọng lượng khô kiệt của một đơn vị diện tích đất ở trạng thái

tự nhiên (kể cả khe hở) Dung trọng được sử dụng trong việc tính độ xốp của đất, tính trữ lượng các chất dinh dưỡng hay trữ lượng nước trong đất,… từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thực vật Đất càng nhiều chất hữu cơ, tơi xốp thường có dung trọng nhỏ và ngược lại đất nghèo chất dinh dưỡng, ít tơi xốp dung trọng cao Dung trọng của đất phụ thuộc vào độ hổng và số lượng chất hữu cơ là yếu tố vât lí của đất ảnh hưởng đến sự trao đổi nước trong đât, sự nảy mầm của hạt, diện tích gốc rễ; dùng dung trong để tính độ xốp, trữ lượng các chất mùn và nước ở trong đất Dung trọng của rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng thường thấp nhất <1g/cm3 [26] Theo thang đánh giá của Katrinski đất có dung trọng <1g/cm3 là đất giàu chất hữu cơ Giá trị dung trọng tỉ lệ thuận với đất sét Chất hữu cơ là một nguồn cung cấp chất dinh dưỡng quan trọng cho cây trồng Nitơ, phốt pho và lưu huỳnh được coi là các chất dinh dưỡng đa lượng, các chất dinh dưỡng cần thiết là sắt, mangan, kẽm, đồng, bo, molybden và clo

Chất hữu cơ giữ nước trong đất ngăn chặn xói mòn đất, tăng độ ẩm và kết cấu tốt giúp thực vật phát triển tốt Chất hữu cơ trong đất có nguồn gốc từ tàn tích sinh vật, bao gồm xác thực vật, động vật, vi sinh vật đất (trong đó xác thực vật chiếm tới 4/5 tổng số chất hữu cơ của đất) và từ các sản phẩm phân giải và tổng hợp được của vi sinh vật Chất hữu cơ của đất là chỉ tiêu số một về độ phì vì thế ảnh hưởng đến nhiều tính chất đất: khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, khả năng hấp thụ, giữ nhiệt và kích thích sinh trưởng cây trồng

Trang 30

Hàm lượng chất hữu cơ trong đất ảnh hưởng đến sự phát triển của RNM [12]:

+ Đất có hàm lượng chất hữu cơ từ 2 – 8% rất thích hợp với RNM

+ Đất có hàm lượng chất hữu cơ từ 8 – 15% thích hợp với RNM

+ Đất có hàm lượng chất hữu cơ < 2% hoặc > 15% ít thích hợp với RNM RNM ven biển trao đổi lượng chất hữu cơ với biển và các vùng lân cận Thời gian phân hủy vật chất hữu cơ từ vật rụng ở hệ sinh thái RNM phụ thuộc vào cấp

độ, tần số ngập do thủy triều, oxi, nhiệt độ và loại cây RNM [38]

Sản phẩm chính của sự khử ở bề mặt lớp trầm tích là H2S (hydro sulfide) làm cho đất vùng đầm lầy nước lợ có mùi hắc Phần lớn các chất oxy hóa vùng cửa sông là sulphate (SO42-) bị khử thành sulfide (S2-) Một số sulfide có thể bị giữ lại trong lớp trầm tích do sự kết tủa với ion kim loại như sắt Hầu hết phần còn lại hòa tan và phân tán vào những tầng hiếu khí trên mặt Ở đây quá trình oxy hóa lại xảy

ra tức khắc trở lại SO42- một cách tự phát (không có trung gian sinh học), hoặc qua

sự xúc tác của vi khuẩn hóa tự dưỡng hay quang tự dưỡng (photo-autotrophic bacteria) Một tỉ lệ của pyrite (FeS2) hình thành trong quá trình tích tụ sẽ bị oxy hóa trở lại thành SO42-

Môi trường giàu vật chất hữu cơ sẽ phân huỷ và giải phóng H2S tiếp theo là thành tạo pyrit RNM chứa hàm lượng lưu huỳnh vô cơ ở mức độ cao dưới dạng chủ yếu là pyrit và lưu huỳnh nguyên tố (S) và chỉ một lượng không đáng kể các monosulfua sắt (FeS) Lưu huỳnh được tích lũy trong trầm tích liên quan đến giảm sunfat và oxy hóa các hợp chất lưu huỳnh Vào mùa mưa, đất ngập nước môi trường yếm khí và quá trình khử xảy ra làm sunfat giảm, chất hữu cơ nhiều và ngược lại vào mùa khô Rễ cây tiết oxy giúp làm suy giảm hàm lượng chất hữu cơ

và axit hóa trầm tích [52] Khử sunfat là cơ chế diễn ra sự oxy hóa chất hữu cơ, trầm tích giàu hữu cơ có thể khiến bị pH tăng do giải phóng ion sắt kết hợp phân giải sunfide tạo sắt pyrite [59]

Trang 31

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 3/2017 – 11/2017 với 2 đợt thực địa vào ngày 8-9 /4/2017 để thu thập các số liệu đại diện cho mùa khô và một lần vào ngày 22-23/6/2017 đại diện cho mùa mưa Các đợt thực địa được thực hiện dựa theo bảng triều của khu vực để

có thể thuận tiện trong di chuyển và thu được mẫu nước lỗ rỗng, mẫu trầm tích khi thủy triều thấp, mỗi đợt thực địa kéo dài 2 ngày

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Dựa theo theo bản đồ Google Earth kết hợp với khảo sát thực địa, chúng tôi xác định 5 vị trí khảo sát dọc theo sông Cửa Tiểu thuộc tỉnh Tiền Giang với tổng chiều dài khoảng 30 km tính từ cửa biển đi vào theo thượng nguồn (Hình 2.1)

Hình 2.1 Sơ đồ các vị trí nghiên cứu [70]

Dựa vào thông số độ mặn trong các báo cáo về tình hình khí tượng thủy văn (Trạm Vàm Kênh và Trạm Hòa Bình) của khu vực nghiên cứu, kết hợp với tiêu chuẩn phân vùng đất ngập nước ven biển [29], có thể phân chia 5 vị trí khảo sát thuộc các vùng như sau:

+ Vùng mặn nhiều (polyhaline): gồm 2 vị trí S1, S2 gần cửa sông

Trang 32

+ Vùng mặn vừa (mesohaline): vị trí S3 và S4, cách vùng mặn nhiều từ 5 – 8

vị trí S4 và S5, các ô mẫu có hướng song song với dòng chảy Sự lựa chọn các ô mẫu tiêu chuẩn này dựa trên thực tế về chiều rộng đai thực vật còn hiện diện và một số tính chất có liên quan đến nhóm thực vật ưu thế cũng như độ cao tương đối của bề mặt thể nền mà trong các nghiên cứu tiến hành trước về thực vật đã được ghi nhận tại các vị trí này (Bảng 2.1)

Trang 33

Bảng 2.1 Đặc điểm của các ô mẫu tiêu chuẩn trong mỗi vị trí nghiên cứu

[4], [11]

Vị trí Tọa độ Ô

mẫu

E (cm)

Phân vùng Thực vật ưu thế Thủy chế và thể nền

S1.2

78

Trung bình

Bần chua, Mấm trắng (Avicennia alba), Trang (Kandelia candel);

Dừa lá (Nypa fruticans)

Ngập triều, cách bờ sông 50m,

Ngập triều; gần khu dân

cư, cách bờ 150m, Sét,

đi lún 10–15cm, ít rễ cây

S2.2 55 Trung bình

Bần chua, nhiều cây trưởng thành, cao 10 – 15 m

Ngập triều, giữa lát cát, cách bờ 50m, đi lún 20 – 15cm, nhiều rễ cây

Bần chua, Mấm trắng Có một số cây già cỗi

Ngập triều; sát đê sông, cách bờ 100m, đi lún 10– 15cm, ít rễ cây

S3.2 96 Trung bình

Bần chua, Mấm

trắng, Trang

Ngập triều, cách bờ 50m, đi lún 10–15cm

Bần chua, Mấm trắng, Trang, Dừa

10°17'26.98N

Trung bình

Bần chua trưởng thành

Ngập triều, sát bờ, thể nền mềm, nhiều rễ cây 10°17'18.17"N

106°41'13.86"E S4.3 85

Trung bình

Bần chua trưởng thành

Ngập triều; sát bờ, thể nền mềm, nhiều rễ cây

S5 10°18'5.70"N

106°31'39.94"E S5.1 95

Trung bình Bần chua, Dừa lá

Ngập triều; sát bờ, sét mềm, nhiều rễ cây 10°18'9.24N

106°31'20.88"E S5.2 93

Trung bình Bần chua, Dừa lá

Ngập triều; gần bờ, sét mềm, nhiều rễ cây 10°18'20.74"N

106°29'37.93"E S5.3 115 Cao

Dừa lá, có nhiều cây con

Ngập triều, thể nền bùn sét mềm, lún 20-30cm, ngọt hóa vào mùa mưa

E : Độ cao tương đối so với mực nước biển trung bình, đo khi thủy triều thấp, sử dụng phương pháp cân bằng mực nước

Trang 34

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thu mẫu nước mặt, nước lỗ rỗng và trầm tích bề mặt

- Tiến hành thu mẫu nước mặt, nước lỗ rỗng, trầm tích bề mặt (0 – 5cm) tại các vị trí nghiên cứu khi thủy triều thấp Mẫu thu nước mặt được thu ở giữa dòng, cách bề mặt 50cm (TCVN 6663-6:2008) Mẫu nước mặt được đựng trong chai nhựa loại 500mL Mẫu nước lỗ rỗng được thu ngẫu nhiên (tránh những chỗ có hang cua còng hay rễ cây) bằng cách đào một lỗ sâu 10 - 15cm [27], chờ 20 - 30 phút rồi thu mẫu nước thấm vào lỗ đã đào 3 mẫu nước lỗ rỗng/ô mẫu đã được thu thập thu thập cùng lúc với thu mẫu trầm tích Mẫu trầm tích lấy từ 0 - 5cm [28], bằng ống nhựa PVC (đường kính 9cm, cao 5cm) cắm vào bề mặt đất, sau đó dùng dao inox đào xung quanh để thu hồi lõi trầm tích bề mặt 3 mẫu phụ/ô mẫu tiêu chuẩn được thu thập Mẫu trầm tích sau đó được đựng trong túi nylon có ghi sẵn

kí hiệu mẫu và bảo quản trong thùng xốp cho đến khi phân tích tại phòng thí nghiệm của Khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Sài Gòn

- Vì lí do khách quan nên các mẫu nước lỗ rỗng của vị trí S4 không được thu thập Ô mẫu S4.1 do có cao độ khá cao, ít bị ngập, thực vật ưu thế là Chà là biển nên không thể thu mẫu nước lỗ rỗng theo phương pháp đã dùng trong nghiên cứu này Các ô mẫu S4.2 và S4.3 bị thất lạc do hoạt động cải tạo và mở rộng nuôi trồng thủy sản của các hộ dân sinh sống xung quanh nên không có mẫu nước lỗ rỗng và mẫu trầm tích

2.2.2 Phân tích các đặc điểm lí hóa của nước mặt, nước lỗ rỗng và trầm tích bề mặt

- Đối với nước mặt và nước lỗ rỗng:

Độ mặn (g/L) được đo bằng máy đo khúc xạ kế (HANA instruments) pH được xác định bằng cách sử dụng một máy đo độ pH EcoTest cầm tay với dung dịch chuẩn 4 và 7 (HANA instruments) Độ dẫn điện (EC) của nước được xác định máy đo độ dẫn điện cầm tay (MW302, Milwaukee) với độ bù nhiệt tự động Tuy

bị phụ thuộc vào tính chất về thời gian và ảnh hưởng của thủy triều, nhưng hầu hết

Trang 35

các phép đo này đều thực hiện tại thực địa và được kiểm tra lại một lần nữa trong phòng thí nghiệm

- Đối với trầm tích bề mặt:

Mẫu trầm tích được cân bằng cân phân tích trước được sấy khô ở nhiệt độ 105°C trong 3 ngày [19]cho đến khi đạt trạng thái khô kiệt, để nguội trong bình hút ẩm ít nhất 45 phút Mẫu trầm tích sau khi sấy được giã bằng cối và chày sứ, cho qua rây 1mm để loại bỏ sỏi, rễ cây hay xác bã hữu cơ Ba mẫu phụ sau khi qua rây (20g) của một ô mẫu được trộn đều thành 1 mẫu hỗn hợp đại điện cho ô mẫu tương ứng Các mẫu sau khi trộn chung được bảo quản trong túi vuốt mép có ghi sẵn kí hiệu Tổng cộng có 13 mẫu (3 mẫu/vị trí, ngoại trừ vị trí S4 chỉ có 1 một) đã được phân tích

Phương pháp xác định pH H2O , pH KCl và độ dẫn điện (EC se )

pHH2O được xác định bằng cách cân 20g trầm tích khô Cho vào 50 ml nước cất (pHH2O) và KCl 1M (pHKCl) Lắc trong 30 phút rồi để yên 2h và đo pH bằng máy pH – 62K Có thể thay đổi khối lượng trầm tích và thể tích nước nhưng phải đảm bảo tỷ lệ 1: 2,5 [49] Độ dẫn điện (EC1:5) được xác định bằng cách cân 20g trầm tích trên cho vào 100ml nước cất đảm bảo tỉ lệ 1:5 lắc trong 2h và để yên 30 phút và đo bằng máy MW302 [16] Độ dẫn điện ECse là độ dẫn điện của dịch chiết bão hòa được quy đổi theo công thức sau: ECse = EC1:5 x 7,46 + 0,43 [21] Sự quy đổi này nhằm có những nhận định về độ mặn của trầm tích dựa vào thang ECse

Phương pháp xác định dung trọng

Xác định dung trọng của các mẫu trầm tích bề mặt theo công thức D = m/v [67] Trong đó: D là dung trọng (g/cm3); m là khối lượng khô kiệt (g); v là thể tích ban đầu (cm3) Trong trường hợp của nghiên cứu này, thể tích 318cm3 được tính cho tất cả các mẫu vì áp dụng thu mẫu bằng ống PVC có đường kính 9cm, cao 5cm

Trang 36

Phương pháp xác định hàm lượng chất hữu cơ (SOM)

Hàm lượng SOM được xác định theo phương pháp nung (Loss-on-ignition) với nhiệt lượng cao Cân khoảng 10g mẫu trầm tích đã sấy khô ở nhiệt độ 105oC, cho vào cốc sứ và nung ở 550oC trong 2 giờ bằng lò nung (LE 9/11/B410, Nabertherm GmbH – Germany), để nguội trong bình hút ẩm ít nhất 45 phút [67]

Sự khác biệt giữa khối lượng trước và sau khi nung của cốc sứ là hàm lượng SOM của mẫu trầm tích Hàm lượng SOM (%) = [(W105 – W550) : W105] x 100% [47] Trong đó: SOM là hàm lượng chất hữu cơ của đất (%); W105 là khối lượng mẫu sau khi sấy ở 105oC; W550 là khối lượng mẫu sau khi nung ở 550oC

Phương pháp xác định lưu huỳnh tổng số

Cân chính xác 1g trầm tích rồi phân hủy mẫu bằng H2O2 và HNO3 Sau đó đưa lưu huỳnh về dạng sunfat với kết tủa thành BaSO4 sau đó xác định theo phương pháp so độ đục tủa BaSO4 theo EPA 9038 Mẫu được phân tích bằng phương pháp tiêm dòng chảy, sử dụng bơm nhu động với hai kênh là mẫu và dung dịch bảo vệ, cho phản ứng trong cuộn dậy rồi đo độ đục ở bước sóng 420 nm Đường chuẩn phi tuyến được sử dụng cho việc quy đổi tín hiệu thành nồng độ bởi đường chuẩn của dung dịch Na2SO4 ở khoảng nồng độ 20 – 100 ppm Mẫu đo lưu huỳnh được thực hiện dịch vụ tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Hóa Phân Tích, Trường Đại học khoa học Tự nhiên TP HCM

2.2.3 Phân tích số liệu

Các phép đo đạc được lặp lại 3 lần rồi lấy giá trị trung bình và độ lệch chuẩn Đối với nước mặt, các số liệu theo mùa, theo vùng (mặn nhiều, mặn vừa và mặn ít) được tính là trung bình của các vị trí trong mỗi vùng Đối với nước lỗ rỗng và trầm tích, ngoài theo mùa và vùng thì còn xét tới ảnh hưởng của độ cao bề mặt (thấp, trung bình, cao) Trung bình và độ lệch chuẩn của các thông số trong các ô mẫu thuộc cùng một nhóm độ cao sẽ được tính toán và so sánh Sự khác biệt thống

kê giữa các mùa được xác định bằng phương pháp ANOVA một chiều, còn phân vùng độ mặn hay phân vùng độ cao được xác định bằng phương pháp ANOVA

Trang 37

một chiều kết hợp với kiểm tra phân hạng LSD Các phân tích thống kê được thực hiện bởi phần mềm SPSS 20.0 Biểu đồ được thực hiện bằng Microsoft Excel

2010

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm hóa lí của nước mặt

Giá trị đo đạc về pH, độ mặn và EC của nước mặt được trình bày trong Phụ lục 1 Các số liệu trong phụ lục này được nhóm lại theo phân vùng độ mặn khác nhau để phân tích ảnh hưởng của mùa đến tính chất hóa lí của nước mặt Vị trí S1

và S2 thuộc vùng mặn nhiều (18 – 30 g/L), S3 và S4 thuộc vùng mặn vừa (5 –18g/L) và S5 thuộc vùng mặn ít (0,5 – 5g/L) [29] Số liệu trung bình và sai số, cũng như sự khác biệt giữa các phân vùng độ mặn được trình bày ở Bảng 3.1 và Hình 3.1

Bảng 3.1 Giá trị về pH, độ mặn và EC của nước mặt trong các phân vùng độ

Chú thích: Kết quả ở mỗi ô trong bảng là giá trị trung bình ± sai số; với n = 6 cho vùng

mặn nhiều và mặn vừa ; n = 3 cho vùng mặn ít Các chữ cái giống nhau trong cùng 1 dòng thể hiện sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Trung bình pH nước mặt dao động từ 7,5 – 8,2 (hình 3.1a) vào mùa khô và từ 6,8 – 7,6 trong mùa mưa Nước ở đây từ trung tính đến kiềm với biên độ dao động rộng hơn so với nghiên cứu trước tại Sông Tiền [2] và pH dao động từ 7,0 – 9,0 thì phù hợp với pH nước lợ vùng cửa sông [37] Trong mùa mưa các vùng có sự khác biệt trong 3 vùng (p<0,05) Tại vùng mặn nhiều, pH giữa 2 mùa khô và mưa chênh lệch rất ít Trong vùng mặn vừa và mặn ít, pH mùa khô cao hơn so với mùa mưa

pH thấp trong mùa mưa có thể do ảnh hưởng pha loãng của nước mưa và nguồn nước ngọt từ thượng nguồn đổ về sông Càng lên dần về phía thượng nguồn giá trị

Trang 39

pH càng cao, nước càng kiềm có thể do sự có mặt của các chất tẩy rửa, xà phòng bởi hoạt động sinh hoạt của con người nhiều [50]

Hình 3.1 Biểu đồ giá trị pH, độ mặn và EC của nước mặt khi phân vùng theo

độ mặn

Độ mặn (hàm lượng NaCl) và EC nước mặt thường có mối tương quan với nhau rất chặt chẽ, đặc biệt là trong những khu vực gần biển [58] Tại khu vực nghiên cứu, có sự phân hóa về độ mặn và EC theo 3 vùng rõ rệt (Hình 3.1b và 3.1c) Tại vùng mặn nhiều nơi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng bởi nước biển nhiều nên giá trị độ mặn cao nhất là 17g/L vào mùa khô và 6g/L vào mùa mưa Càng xa biển

độ mặn giảm rõ rệt, vùng mặn vừa là 11g/L mùa khô và 5g/L vào mùa mưa, giá trị

độ mặn và EC tại 3 vùng đều khác biệt có ý nghĩa thống kê vào cả 2 mùa (p<0,05) Vùng mặn ít có độ mặn thấp nhất giảm xuống còn 2g/L trong mùa khô và bị ngọt hóa hoàn toàn vào mùa mưa (0g/L) So sánh với các giá trị độ mặn đo tại trạm thủy văn Vàm Kênh (cách cửa biển 5km) và trạm thủy văn Hòa Bình (cách cửa biển 30km) phù hợp với các thông số đã đo như trên Vào mùa mưa độ mặn các vùng giảm đột ngột bởi sự pha trộn của dòng chảy từ sông Độ mặn ở đây phù hợp với vùng cửa sông là nơi bần chua chiếm ưu thế và cây Trang phát triển tốt nhất [12], [34] Bần chua là loài có thể mọc khắp nơi trong vùng, cây phát triển tốt với kích thước cao lớn ở các bãi bùn ít cát [8] Trong mùa mưa có giá trị EC thấp hơn hẳn so với mùa khô, vùng mặn nhiều có cao nhất vào mùa khô là 31,1mS/cm và mùa mưa là 9,4mS/cm thuộc khu vực có nồng độ ion nhiều đến trung bình Tiếp

Trang 40

theo vùng mặn vừa tại mùa khô 14.4mS/cm và mùa mưa 6,9mS/cm có nồng độ ion

từ trung bình đến ít cuối cùng vùng mặn ít với mùa khô 2,3mS/cm và 0,2mS/cm vào mùa mưa

Như vậy, sự thay đổi của các thông số pH, độ mặn hay EC của nước mặt đều

rõ rệt khi phân vùng theo độ mặn trong 2 mùa khô và mưa thể hiện cho đặc điểm

lí hóa của nước tại đây từ chua ít đến kiềm với độ mặn từ mặn nhiều ở vùng giáp biển và cách xa hơn là mặn trung bình, đi lên thượng nguồn thì mặn ít thậm chí không mặn Yếu tố nước mặt sẽ chi phối đến nước lỗ rỗng và trầm tích bề mặt, biểu hiện lên thảm TVNM thích nghi với điều kiện môi trường ở đây

3.2 Đặc điểm hóa lí của nước lỗ rỗng

Các giá trị đo đạc về pH, độ mặn và EC của nước lỗ rỗng được trình bày trong Phụ lục 1 Các số liệu trong phụ lục này được nhóm lại theo phân vùng độ cao và phân vùng độ mặn khác nhau để phân tích ảnh hưởng của mùa đến tính chất hóa lí của nước lỗ rỗng

3.2.1 Nước lỗ rỗng phân vùng theo độ cao

Khu vực nghiên cứu dựa theo độ cao tương đối của thể nền so với mực nước biển và các phân vùng TVNM có thể chia thành 3 nhóm Nhóm 1 thuộc vùng thấp

(0 – 50cm), thảm thực vật chủ yếu là bần chua (Sonneratia caseolaris) gồm 3 ô

mẫu (S1.1, S2.1 và S3.1) Nhóm 2 thuộc vùng trung bình (50 – 100cm), thảm thực

vật đa dạng hơn gồm bần chua, mấm trắng (Avicennia alba) và Trang (Kandelia candel) với 3 ô mẫu (S1.2, S2.2 và S3.2) Nhóm 3 thuộc vùng cao trên 100cm với thảm thực vật giống nhóm 2 nhưng có thêm dừa lá (Nypa fruticans) với 3 ô mẫu (S1.3, S2.3 và S3.3) [8] Vị trí S4 có thể nền cao trên 100cm, chà là biển (Phoenix paludosa Roxb) chiếm ưu thế tôi không thu được mẫu nước lỗ rỗng (Bảng 2.1)

Còn vị trí S5 nằm cách xa về phía thượng nguồn bị ngọt hóa vào mùa mưa nên không đưa vị trí này vào để xét độ cao tương đối đến các thông số vì vị trí này chịu ảnh hưởng của nước sông làm pha loãng độ mặn của nước khá nhiều vào mùa

mưa

Ngày đăng: 20/12/2020, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w