Sự tương quan về 3 yếu tố thành phần: nhận thức, thái độ, hành động của sinh viên đại học đến hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá.. Các công trình nghiên cứu phổ biến ở Việt Nam là xu h
Trang 1Lê Thanh Lâm
HỨNG THÚ SỞ HỮU SẢN PHẨM
CÁ NHÂN HOÁ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2Lê Thanh Lâm
HỨNG THÚ SỞ HỮU SẢN PHẨM
CÁ NHÂN HOÁ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 8310401
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác, trung thực và từ những nguồn hợp pháp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
– Thầy hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Phương, trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
– Các thầy, cô giáo khoa Tâm lý học trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi theo học Cao học và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này
– Bên cạnh đó sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng
hộ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể tập trung nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Do về mặt kiến thức và thời gian còn hạn chế, luận văn còn nhiều khiếm khuyết Tôi mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và mọi người để luận văn được hoàn thiện hơn
TpHCM, ngày 03 tháng 10 năm 2018
LÊ THANH LÂM
Trang 5CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỨNG THÚ SỞ HỮU SẢN PHẨM
CÁ NHÂN HOÁ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề hứng thú 6
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu sở hữu sản phẩm cá nhân hoá 13
1.2 Những khái niệm cơ bản 15
1.2.1 Cá nhân hoá 15
1.2.2 Sản phẩm và sản phẩm cá nhân hoá 17
1.2.3 Sở hữu và sở hữu sản phẩm cá nhân hoá 19
1.2.4 Hứng thú và hứng thú sở hữu 20
1.2.5 Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá 31
1.2.6 Đặc điểm của sinh viên đại học 34
1.2.7 Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 55
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỨNG THÚ SỞ HỮU SẢN PHẨM CÁ NHÂN HOÁ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 56
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 56
2.1.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 56
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 56
2.1.3 Mẫu khách thể nghiên cứu 59
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 60
2.2.1 Phương tiện tiếp cận sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học 60 2.2.2 Vị trí của sản phẩm cá nhân hoá đối với sinh viên đại học 61
2.2.3 Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học qua biểu hiện nhận thức 63
2.2.4 Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học qua biểu hiện thái độ 64
Trang 62.2.6 Sự tương quan về 3 yếu tố thành phần: nhận thức, thái độ, hành động của sinh viên đại học đến hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá 67
2.2.7 So sánh sự khác biệt về mức độ hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân
hoá của sinh viên đại học 68
2.2.8 Yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học 71
2.2.9 Khảo sát ý kiến biện pháp nâng cao hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, kéo theo đó là nhu cầu của con người ngày càng cao, từ nhu cầu ăn uống đến nhu cầu tự khẳng định, liên tục đòi hỏi cần được đáp ứng ở mức độ cao hơn Nhu cần ăn uống không chỉ dừng lại ở đủ ăn, “ăn no mặc ấm” như quan niệm trước đây, mà bây giờ còn phải
là “ăn ngon, mặc đẹp” Ngày xưa, người ta khẳng định bản thân bằng những mặt hàng có logo, thương hiệu tên tuổi, thì giờ đây, người ta khẳng định mình bằng món hàng, sản phẩm được cá nhân hoá cho riêng mình, là đặc biệt độc nhất chỉ có mình sở hữu Trên thị trường hiện nay, sản phẩm, hàng hoá liên tục được phát triển, sản xuất để đáp ứng cho nhu cầu của người tiêu dùng Các mặt hàng được bày bán, sản xuất hàng loạt rất đa dạng và phong phú Chính vì thế, người mua hàng với cùng mục đích sử dụng thì những sản phẩm họ sở hữu là tương tự nhau, giống nhau “Người tiêu dùng ngày nay không còn muốn lựa chọn những sản phẩm đại trà, mà muốn những sản phẩm độc đáo, mang đậm dấu ấn phong cách cá nhân của người sử dụng", theo Peter Firth - Giám đốc Công ty nghiên cứu thị trường TNS Global Do vậy “cá nhân hoá sản phẩm” là một hướng đi cho các doanh nghiệp đang tìm hướng đi hoặc làm mới mô hình kinh doanh của mình (Peter Firth, 2014)
Sinh viên đại học là một nhóm xã hội đặc biệt, là những người đang theo học ở các trường để chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội Nhóm xã hội đặc biệt này là nguồn bổ sung cho đội ngũ trí thức, được đào tạo cho lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt động đa dạng có ích cho xã hội Lứa tuổi sinh viên có những nét đặc trưng tâm lý điển hình, đặc biệt là định hình cái tôi trong nhân cách, nhu cầu tự thể hiện, muốn được tự khẳng định trong xã hội Cùng với năng
Trang 8lực và tình cảm trí tuệ phát triển, điều đó đã thôi thúc sinh viên cố gắng hoàn thiện bản thân, khẳng định bản thân, tìm tòi và khám phá cái mới
Tâm lý con người luôn có xu hướng khác biệt, con người thích sở hữu những cái mới, cái độc nhất, mang dấu ấn, bản sắc cá nhân Sở hữu những sản phẩm như vậy, khi đó trở thành một sự thích thú, một nhu cầu Nhà sản xuất cần tạo ra sự khác biệt trong một thế giới phẳng, tạo ra những sản phẩm khác biệt dành cho mỗi cá nhân, tác động vào hứng thú muốn sở hữu sản phẩm của khách hàng
Hứng thú là một trong những vấn đề phức tạp của tâm lý học, nhưng
nó có ý nghĩa quan trọng đối với con người Trên thực tế, muốn cá nhân hướng sự quan tâm của mình tới một hoạt động nào đó cần phải kể đến vai trò quan trọng của hứng thú Hứng thú làm tích cực hoá các quá trình tâm
lý (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng ), giúp cho sự nhận thức về đối tượng trở nên sâu sắc hơn, làm tăng hiệu quả hoạt động nhận thức, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động sáng tạo Khi có hứng thú với một cái gì, thì cá nhân sẽ hoạt động tích cực chiếm lĩnh đối tượng, để thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống Hứng thú sở hữu đóng vai trò quan trọng trong việc kinh doanh các mặt hàng nói riêng là sản phẩm cá nhân hoá nói chung
Vấn đề hứng thú trên thế giới đã xuất hiện từ rất sớm và được nhiều người quan tâm, tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu các công trình khoa học
Và cho đến nay, các công trình nghiên cứu về hứng thú vẫn còn sức hấp dẫn rất lớn và tiếp tục được đào sâu, bởi tính thiết thực và ứng dụng cao của nó, đóng góp vào sự phong phú, đa dạng của đề tài này Các công trình nghiên cứu phổ biến ở Việt Nam là xu hướng nghiên cứu các vấn đề lý luận mang tính đại cương của hứng thú, xu hướng nghiên cứu hứng thú trong các môn học, xu hướng nghiên cứu hứng thú học nghề phổ thông và nghề nghiệp, nhưng chưa có công trình nghiên cứu hứng thú của sinh viên đại học về việc sở hữu những món đồ, sản phẩm mang tính cá nhân hoá
Trang 9Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu “Hứng
thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học” làm đề tài luận
văn Thạc sĩ Tâm lý học
2 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học, nhằm đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học
3.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên đại học các trường đại học
4 Giả thuyết khoa học
Giả thuyết 1: Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học ở mức trung bình
Giả thuyết 2: Có sự khác biệt hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học giữa nam và nữ
Giả thuyết 3: Yếu tố ảnh hưởng cao nhất đến hứng thú sở hữu cá nhân hoá của sinh viên đại học là “gu thẩm mỹ” của sinh viên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản của đề tài: cá nhân hoá,
sản phẩm và sản phẩm cá nhân hoá, sở hữu và sở hữu sản phẩm cá nhân hoá, hứng thú và hứng thú sở hữu, đặc điểm sinh viên đại học, hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học
5.2 Nghiên cứu thực trạng hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá
của sinh viên đại học và nguyên nhân của thực trạng;
5.3 Đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú sở hữu sản phẩm cá
nhân hoá của sinh viên đại học
Trang 106 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá qua các biểu hiện tâm lý của hứng thú như:
+ Biểu hiện nhận thức của hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hóa + Biểu hiện thái độ của hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hóa + Biểu hiện hành động của hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hóa
6.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu khách thể là sinh viên đại học các trường
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm
vụ của đề tài hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hóa của sinh viên đại học
Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp sách, báo, tạp chí, công
trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Khảo sát ý kiến của sinh viên đại học về thực trạng hứng
thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học
Hình thức bảng hỏi: Đề tài sử dụng hai hình thức bảng hỏi là bảng
hỏi viết trên giấy và bảng hỏi trực tuyến được xây dựng bằng công cụ Google Form
Nội dung bảng hỏi: Cả hai bảng hỏi đều có cùng nội dung sau:
- Phương tiện sinh viên đại học tiếp cận sản phẩm cá nhân hoá
- Vị trí sản phẩm cá nhân hoá đối với sinh viên đại học
- Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học qua biểu hiện nhận thức
- Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học qua biểu hiện thái độ
Trang 11- Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học qua biểu hiện hành động
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học
- Khảo sát một số biện pháp nâng cao hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học
Cách tiến hành: Khảo sát ý kiến của sinh viên bằng bảng hỏi về
hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hóa qua biểu hiện nhận thức, thái độ, hành động; gồm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Thiết kế bảng hỏi mở để lấy ý kiến của sinh viên về vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng tiêu chí cho bảng hỏi
- Giai đoạn 2: Hoàn thiện nội dung bảng hỏi viết trên giấy và xây dựng bảng hỏi trực tuyến với nội dung tương tự
- Giai đoạn 3: Phát đến sinh viên và hướng dẫn sinh viên cách thức trả lời và nhận lại phiếu đã hoàn thành
7.3 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Thu thập thông tin bổ sung làm rõ hơn thực trạng hứng
thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá của sinh viên đại học và các yếu tố ảnh hưởng của thực trạng
Cách tiến hành: Phỏng vấn trực tiếp sinh viên Có ghi biên bản
phỏng vấn
7.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Xử lý và phân tích số liệu từ phiếu trả lời bằng chương trình thống
kê SPSS 20, tính tần số, tỉ lệ phần trăm, tính trung bình, độ phân cách, độ lệch tiêu chuẩn, kiểm nghiệm Chi-Square, tính hệ số tương quan, xếp thứ hạng Trình bày kết quả nghiên cứu dưới dạng bảng, biểu đồ
Trang 12CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỨNG THÚ SỞ HỮU SẢN PHẨM
CÁ NHÂN HOÁ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề hứng thú
Vấn đề hứng thú trên thế giới đã xuất hiện từ rất sớm và được nhiều người quan tâm, tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu các công trình khoa học
Và cho đến nay, các công trình nghiên cứu về hứng thú vẫn còn sức hấp dẫn rất lớn và tiếp tục được đào sâu, bởi tính thiết thực và ứng dụng cao của nó, đóng góp vào sự phong phú, đa dạng của đề tài này
Ovide Decroly (1971-1932) bác sĩ và là nhà tâm lý học người Bỉ khi nghiên cứu về khả năng tập đọc, tập làm tính của trẻ, ông đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứng thú và về lao động tích cực (Francine
Dubreucq, 2001)
E.K Strong, nhà tâm lý học người Mỹ với nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú cùng với lứa tuổi”, ông cho rằng sự phát triển của hứng thú gắn liền với sự phát triển lứa tuổi Từ những năm 1931, ông đã đưa ra quan điểm và phương pháp nghiên cứu hứng thú bằng bảng hỏi (Nguyễn Kim Vui, 2011)
Năm 1938, Ch.Buher đã tìm hiểu và phát biểu khái niệm hứng thú trong công trình “Phát triển hứng thú ở trẻ em” (Lê Khánh Vân, 2011)
Từ những năm 1940 của thế kỉ XX một số nhà tâm lý học Nga như S.L.Rubinstein, N.G.Morodov, A.F.Believ, … đã có những công trình nghiên cứu về hứng thú, cũng như con đường hình thành hứng thú (Nguyễn Thị Ái, 2011)
Trang 13Năm 1944, A.F Believ đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về vấn đề: “Tâm lý học hứng thú” Nội dung cơ bản của luận án là những vấn đề
lý luận tổng quát về hứng thú trong khoa học tâm lý (Lê Khánh Vân, 2011)
Năm 1946, E.Clapade đã đưa ra khái niệm hứng thú dựa trên bản chất sinh học trong vấn đề “Tâm lý trẻ em và thực nghiệm sư phạm” Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động của con người (Lê Khánh Vân, 2011)
Năm 1961, D.Super trong “Tâm lý học hứng thú” đã xây dựng phương pháp nghiên cứu về hứng thú trong cấu trúc nhân cách (Lê Khánh Vân, 2011)
John Dewey (1859-1952) nhà giáo dục học và là nhà tâm lý học người Mỹ, ông cho rằng hứng thú thật sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất với một ý tưởng hoặc một vật thể, đồng thời tìm thấy ở chúng phương tiện
biểu lộ (John Deway, 1997) Ông đã xuất bản sách về hứng thú năm 1913:
“Hứng thú và nỗ lực trong giáo dục”
Ainley (1998) đã phát biểu khái niệm của hứng thú bao gồm chiều sâu và độ rộng Chiều sâu của hứng thú là “khuynh hướng mong muốn khám phá và tìm hiểu những đối tượng, sự kiện, ý tưởng mới nhằm hiểu được chúng”, độ rộng của hứng thú là “khuynh hướng mong muốn tìm ra những kinh nghiệm thay đổi và khác biệt để nghiệm ra chúng giống cái gì”
xu hướng xem xét hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức của cá nhân nói riêng, đại diện cho xu hướng này
Trang 14là L.L.Bôgiôvích với “Hứng thú trong quan hệ hình thành nhân cách”, Lukin và Lêvitôp với “Hứng thú trong quan hệ với năng lực”; xu hướng nghiên cứu sự hình thành và phát triển của hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi, đại diện là G.I.Sukina với “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi” (Nguyễn Thị Bích Thuỷ, 2010)
Vấn đề hứng thú ở Việt Nam cũng được quan tâm rất nhiều, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về hứng thú đa dạng và phong phú, và vấn
đề hứng thú ở Việt Nam vẫn còn tiếp tục được đào sâu và phát triển Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam có thể khái quát thành các xu hướng sau:
xu hướng nghiên cứu các vấn đề lý luận mang tính đại cương của hứng thú được trình bày trong các cuốn giáo trình tâm lý học, tiêu biểu nổi bật là tác giả Huỳnh Văn Sơn, Trần Thị Thu Mai với “Giáo trình Tâm lý học giáo dục đại học” …; xu hướng nghiên cứu hứng thú nhận thức, hứng thú học tập, tiêu biểu nổi bật là các tác giả Đinh Thị Sen với “Hứng thú môn học kỹ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học Nha Trang”, Nguyễn Kim Vui với “Thực trạng hứng thú học tập các môn Tâm lý học của sinh viên trường đại học Tài chính Marketing”…Ngoài ra còn có xu hướng nghiên cứu hứng thú học nghề nghiệp với các tác giả tiêu biểu như Trần Phi Hùng với
“Hứng thú nghề nghiệp của học sinh ở một số trường trung học phổ thông tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An”, Nguyễn Hoàng Sơn với “Thực trạng và giải pháp phát triển hứng thú học nghề phổ thông cho học sinh tại trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp” Trong đó xu hướng nổi bật nhất
và có rất nhiều công trình nghiên cứu là xu hướng nghiên cứu hứng thú trong các môn học, hứng thú nhận thức, hứng thú học tập, có thể kể đến một số công trình sau:
Năm 2005, với đề tài “Tìm hiểu hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”, tác giả Vương Thị Thu Hằng đã nêu nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú nghiên cứu
Trang 15khoa học của sinh viên là do chủ quan của sinh viên Đồng thời tác giả đã
đề ra một số kiến nghị nhà trường quan tâm tổ chức các hoạt động ngoại khoá, hội nghị khoa học chuyên đề, câu lạc bộ sinh viên nghiên cứu khoa học, cung cấp nhiều tài liệu cho sinh viên … (Vương Thị Thu Hằng, 2005)
Trong đề tài “Hứng thú học tập của học viên thuộc trung tâm phát triển kỹ năng con người Tâm Việt”, tác giả Phạm Mạnh Hiền đã chỉ ra phương pháp giảng dạy của giáo viên có tác động to lớn đến hứng thú học tập của học viên (Phạm Mạnh Hiền, 2005)
Phan Thị Thơm đã đưa ra kết luận hứng thú học môn Tâm lý học đại cương của sinh viên phát triển chưa cao, chưa đồng đều, có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên, trong đó yếu tố giảng viên giữ vai trò quan trọng trong đề tài “Hứng thú học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học Dân lập Đông Đô”, tác giả (Phan Thị Thơm, 2005)
Năm 2008, Lê Thị Lâm đã kết luận trong đề tài “Hứng thú học tập môn Tâm lý học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng” rằng biểu hiện hứng thú với môn học của sinh viên chưa cao, chỉ có số ít sinh viên thể hiện hứng thú học tập qua một số biểu hiện hứng thú cụ thể Tuy sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của môn học, nhưng lại có sự mâu thuẫn giữa nhận thức và hành động, nguyên nhân chính là do chưa có động cơ học tập đúng đắn, sinh viên chỉ có kết quả học tập cao khi có hứng thú với môn học (Lê Thị Lâm, 2008)
Năm 2009, trong bài viết “Nâng cao hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học môn Công nghệ 12” của Ngô Văn Hoàn và Vương Huy Thọ
in trên Tạp Chí Giáo dục số 213 (kì 1 – 05/2009), tác giả đã đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Công nghệ 12 cho học sinh Trong đó để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh giáo viên cần rèn luyện tay nghề sư phạm, các kỹ năng dạy học và phương pháp dạy, kiểm
Trang 16tra, đánh giá (Ngô Văn Hoàn và Vương Huy Thọ, 2009) Phan Thị Ngọc Châu với đề tài “Một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh”, tác giả đã đề xuất các biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ như: sử dụng câu hỏi “mở”, câu đố, chuyện kể, thơ ca, lời động viên, khuyến khích; sử dụng trò chơi mang tính chất khám phá, thử nghiệm; thiết kế, sử dụng môi trường hoạt động hấp dẫn để kích thích trẻ tích cực khám phá; tổ chức các thí nghiệm đơn giản (Phan Thị Ngọc Châu, 2009)
Năm 2010, Lê Văn Bích đã đề ra một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập của sinh viên qua luận văn thạc sĩ “Hứng thú học tập các môn
lý luận chính trị của sinh viên hệ chính quy trường đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh”, tác giả đã đề ra một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập của sinh viên như: nhà trường cần tổ chức lại lớp với số lượng thích hợp, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, chuẩn hoá trình độ lý luận chính trị cho giảng viên, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo trình; bên cạnh đó, giáo viên cũng cần đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của sinh viên, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học; về phía sinh viên cần xác định rõ mục tiêu học tập, tích cực học tập, nghiên cứu, phát huy tính độc lập sáng tạo, không phân biệt môn chính, môn phụ (Lê Văn Bích, 2010) Nguyễn Thị Bích Thuỷ với luận văn thạc sĩ “Hứng thú học tập của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Văn hiến thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả đã kết luận hứng thú học tập của sinh viên năm thứ nhất được biểu hiện qua nhận thức thái độ và hành động chưa cao, đồng thời tác giả cũng đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên (Nguyễn Thị Bích Thuỷ, 2010)
Năm 2011, Nguyễn Thị Ái với đề tài “Hứng thú học tập môn Giáo dục công dân của học sinh một số trường trung học phổ thông tại thành phố
Trang 17Hồ Chí Minh”, tác giả đã kết luận hứng thú học tập có tác động mạnh mẽ
và quan trọng đến hoạt động học tập của học sinh, là động lực thúc đẩy hoạt động học tập của học sinh đạt hiệu quả cao, tạo cho học sinh có trạng thái tình cảm đặc biệt, làm gia tăng sức lực và hiệu quả trong quá trình học tập Khi các em có hứng thú học tập, các em sẽ tiến hành hoạt động học tập một cách tích cực (Nguyễn Thị Ái, 2011)
Lê Khánh Vân đã kết luận hứng thú học tập môn Giáo dục học đại cương là sự lựa chọn của cá nhân với cảm xúc đặc biệt hướng vào nhận thức, vươn lên nắm kiến thức một cách sâu sắc và toàn diện trong đề tài
“Hứng thú học tập môn Giáo dục học đại cương của sinh viên trường Cao đẳng cộng đồng Hậu Giang”, tác giả (Lê Khánh Vân, 2011)
Nguyễn Kim Vui đã kết luận phần lớn sinh viên chưa có thái độ, hành động học tập tích cực đối với các môn Tâm lý học, biểu hiện hứng thú của sinh viên ở mức độ trung bình, trong những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên, giảng viên là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu trong đề tài “Thực trạng hứng thú học tập các môn Tâm lý học của sinh viên trường đại học Tài chính-Marketing tại thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả (Nguyễn Kim Vui, 2011)
Nguyễn Việt Đức với đề tài “Hứng thú học tập các môn cơ sở của sinh viên khoa sư phạm kỹ thuật, trường Cao đẳng Nông Lâm – Bắc Giang”, tác giả cho rằng trong những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên thì yếu tố về người dạy và người học có ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học các môn cơ sở (Nguyễn Việt Đức, 2011)
Năm 2012, Phạm Lê Thanh Thảo đã nêu ra một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập cho học sinh, đồng thời tiến hành thực nghiệm một số biện pháp sư phạm và khẳng định hiệu quả của chúng trong luận văn thạc sĩ
về “Hứng thú học tập môn Giáo dục công dân của học sinh một số trường
Trang 18trung học phổ thông tại quận 8 thành phố Hồ Chí Minh”, (Phạm Lê Thanh Thảo, 2012)
Năm 2013, Nguyễn Xuân Long cho rằng biểu hiện hứng thú học tiếng Anh của học sinh rõ nhất ở khía cạnh cảm xúc, đồng thời tác giả cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh và một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập của học sinh với luận án tiến sĩ “Hứng thú học tiếng Anh của học sinh trung học cơ sở” (Nguyễn Xuân Long, 2013)
Đinh Thị Sen đã nêu bốn mặt biểu hiện của hứng thú môn học đó là
về mặt nhận thức, mặt cảm xúc, mặt hành động,và mặt kết quả với luận văn thạc sĩ “Hứng thú môn học Kỹ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Nha Trang” (Đinh Thị Sen, 2013)
Năm 2016, Trần Thị Uyên đã khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn tiếng Việt của học sinh với luận văn thạc sĩ “Hứng thú học tập môn tiếng Việt của học sinh lớp năm ở một số trường tiểu học quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh” (Trần Thị Uyên, 2016)
Ngoài hứng thú nhận thức, hứng thú học tập các bộ môn, vấn đề hứng thú còn được nghiên cứu áp dụng trong lĩnh vực nghề nghiệp, có thể
kể đến một số công trình sau:
Năm 2008, Nguyễn Hoàng Sơn với đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển hứng thú học nghề phổ thông cho học sinh tại trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp” Tác giả đề xuất biện pháp nâng cao hứng thú học nghề phổ thông cho học sinh là tổ chức hoạt động ngoại khoá và thiết
kế các bài giảng theo quan điểm tích hợp (Nguyễn Hoàng Sơn, 2008)
Năm 2014, Trần Phi Hùng với đề tài “Hứng thú nghề nghiệp của học sinh ở một số trường trung học phổ thông tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An” Tác giả tìm hiểu thực trạng hứng thú chọn nghề và đề xuất một số
Trang 19biện pháp nâng cao hứng thú nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An giúp cho công tác tư vấn hướng nghiệp (Trần Phi Hùng, 2014)
Nhìn chung, có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú ở Việt Nam, các tác giả đã nghiên cứu về thực trạng của hứng thú, hệ thống cơ sở
lý luận về hứng thú, đề ra các biện pháp nâng cao hứng thú, một số đề tài
đã thực nghiệm các biện pháp đề xuất Các đề tài nghiên cứu đã góp phần làm hoàn thiện hơn cơ sở lý luận về hứng thú Mặc dù vậy nó vẫn là một lĩnh vực hấp dẫn bởi tính thực tiễn và ứng dụng cao
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu sở hữu sản phẩm cá nhân hoá
Năm 2007, “Hứng thú của người tiêu dùng đối với hệ thống thông tin khuyến nghị được cá nhân hoá” của tác giả Nicolas Knotzer, Maria Madlberger, đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Vienna trong kỷ yếu Hội nghị Quốc tế lần thứ 40 về Khoa học Hệ thống ở Hawaii – 2007 Theo
đó tác giả đưa ra kết luận khi thiết kế hệ thống thông tin khuyến ghị cần quan tâm đến yếu tố tâm lý, hành động tiêu dùng của người dùng tuỳ vào mỗi nhóm khách hàng nhắm đến, nên đưa ra nhiều sự lựa chọn thay thế để
họ lựa chọn theo sở thích và phù hợp nhất Bài viết dựa trên sự khảo sát phát phiếu với mẫu ngẫu nhiên, lựa chọn các tiêu chí đánh giá do tác giả quy định (Nicolas Knotzer và Maria Madlberger, 2007)
Năm 2008, “Văn hoá, loại sản phẩm, và giá cả ảnh hưởng đến ý định mua hàng cá nhân hoá trực tuyến của người tiêu dùng” của nhóm tác giả Junyean Moon, Doren Chadee, Surinder Tikoo, các tác giả thuộc khoa Quản trị Kinh doanh, trường Kinh tế và Kinh doanh, đại học Hanyang, Ansan, Hàn Quốc; và thuộc vụ Kinh doanh Quốc tế, trường Thương mại và Kinh doanh, đại học Auckland, Auckland, New Zealand và thuộc trường Kinh doanh, đại học Bang New York ở New Paltz, New Paltz, New York Nhóm tác giả đã nêu tầm quan trọng của sản phẩm ấn tượng, giá cả không
Trang 20ảnh hưởng đến quyết định của những người muốn mua sản phẩm cá nhân hoá, và sự khác biệt văn hoá của người tiêu dùng đến việc mua sản phẩm cá
nhân hoá (Junyean Moon et al., 2008)
Năm 2009, “Mô hình hồ sơ hành động người dùng của cá nhân và
nhóm đối với việc khuyến nghị sản phẩm cá nhân hoá” của nhóm tác giả
You-Jin Park, Kun-Nyeong Chang thuộc phòng Quản trị Kinh doanh, Đại
học Yonsei, Hàn Quốc, nhóm tác giả đã đề xuất một mô hình người tiêu
dùng mới dựa trên hành động nhóm và hành động cá nhân như là cái nhấp chuột, chèn giỏ hàng, mua hàng và mục sở thích (You-Jin Park và Kun-Nyeong Chang, 2009)
Năm 2017, “Sự phát triển của sản phẩm dựa trên trải nghiệm người dùng đối với cá nhân hoá số đông” của nhóm tác giả Pai Zhenga, Shiqiang Yua, Yuanbin Wanga, Ray Y Zhonga, Xun Xua thuộc khoa Cơ khí, đại học Auckland, New Zealand đã nhấn mạnh tầm quan trọng sự trải nghiệm của người dùng trong khâu phát triển sản phẩm mới cũng như khi sản xuất sản phẩm Sản phẩm được phát triển dựa trên những trải nghiệm của người dùng bằng việc sử dụng các công nghệ tiên tiến, theo dõi thói quen người dùng, chụp hình dạng ba chiều của người dùng…để tạo nên những sản phẩm phù hợp với mỗi nhóm người dùng (Pai Zhenga et al., 2017)
Năm 2017, “Cá nhân hoá quảng cáo trên mạng xã hội Facebook: Công cụ tiếp thị hiệu quả cho nhà tiếp thị trực tuyến” trên tạp chí Dịch vụ Bán lẻ và Tiêu dùng của tác giả Trang P Tran trường cao đẳng Kinh doanh, Đại học East Carolina Nghiên cứu đã gợi mở một hướng đi mới cho các nhà tiếp thị trực tuyến cũng như cải thiện nhận thức của khách hàng về các thông tin quảng cáo, làm như thế nào để những quảng cáo trên facebook trở nên hiệu quả (Trang P Tran, 2017)
Ngoài ra còn có những cuốn sách về cá nhân hoá cũng như sự khác biệt giữa các cá nhân, tâm lý học khác biệt như: “Sổ tay Wiley-Blackwell
Trang 21về Nhân cách và Sự khác biệt Cá nhân” xuất bản ấn bản đầu tiên năm 2011 của nhà xuất bản Wiley-Blackwell, sách cung cấp tổng quan về các xu hướng cổ điển, hiện đại và tương lai trong nghiên cứu trên toàn thể nhân cách và sự khác biệt cá nhân Sổ tay “Sự khác biệt cá nhân và Tâm lý học khác biệt” của nhóm tác giả William Revelle, Joshua Wilt, David M Condon trường Đại học Northwestern đã chỉ ra rằng tại sao mỗi cá nhân lại khác biệt, điều gì làm nên thành công và sự khác nhau ở mỗi cá nhân, nhóm người
Ở Việt Nam, vấn đề cá nhân hoá chưa được quan tâm nhiều, có thể
kể đến công trình tiêu biểu sau: Luận văn thạc sĩ công nghệ thông tin của tác giả Bùi An Lộc với đề tài “Cá nhân hoá ứng dụng và dịch vụ di động hướng ngữ cảnh người dùng” trường đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả kết luận “Kết quả sản phẩm của luận văn là đã xây dựng thành công một hệ thống client – server cho các thiết bị di dộng Chức năng chính của hệ thống là tích hợp ngữ cảnh người dùng như vị trí, thời gian và thời tiết hiện tại để hệ thống sẽ đưa ra gợi ý cho riêng người dùng đó với tùy biến cá nhân về các địa điểm du lịch phù hợp với ngữ cảnh động và ngữ cảnh tĩnh của người dùng Kết quả cũng là minh chứng tính khoa học khi lựa chọn và
sử dụng phương pháp CAMF cho các hệ gợi ý dựa trên nhận biết ngữ cảnh” (Bùi An Lộc, 2016)
1.2 Những khái niệm cơ bản
Trang 22Cá nhân hóa rất đa dạng, nhưng nhu cầu của hoạt động này rất rõ ràng, là những cảm xúc thích hoặc không thích một vài đặc điểm về hình dáng, kính thước, màu sắc … của sản phẩm đã làm ra sẵn, họ muốn thay đổi theo sở thích riêng của mình, và yêu cầu người làm ra sản phẩm, yêu cầu công ty, nhà sản xuất làm theo ý muốn đó thì họ đồng ý mua Người mua sản phẩm được tự do cắt ghép, điều chỉnh, đảo trộn để theo ý thích của mình, sau đó gửi mẫu cho nhà sản xuất, gửi đến tay người làm riêng cho mình
Vấn đề cá nhân hoá đã được thế giới nghiên cứu từ lâu Cụ thể, tác giả Nicolas Knotzer, Maria Madlberger, đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Vienna khuyến nghị cần quan tâm đến yếu tố tâm lý, hành động tiêu dùng của người dùng tuỳ vào mỗi nhóm khách hàng nhắm đến, nên đưa ra nhiều sự lựa chọn thay thế để họ lựa chọn theo sở thích và phù hợp nhất (Nicolas Knotzer và Maria Madlberger, 2007) Nhóm tác giả Junyean Moon, Doren Chadee, Surinder Tikoo, các tác giả thuộc khoa Quản trị Kinh doanh, trường Kinh tế và Kinh doanh, đại học Hanyang, Ansan, Hàn Quốc; và thuộc vụ Kinh doanh Quốc tế, trường Thương mại và Kinh doanh, đại học Auckland, Auckland, New Zealand và thuộc trường Kinh doanh, đại học Bang New York ở New Paltz, New Paltz, New York đã nêu tầm quan trọng của sản phẩm ấn tượng, giá cả không ảnh hưởng đến quyết định của những người muốn mua sản phẩm cá nhân hoá, và sự khác biệt văn hoá của người tiêu dùng đến việc mua sản phẩm cá nhân hoá (Junyean
Moon et al., 2008), và một số các công trình nghiên cứu về vấn đề cá nhân
hoá khác … chủ yếu nhằm vào thoả mãn, phù hợp với mỗi cá nhân riêng biệt
Trang 231.2.2 Sản phẩm và sản phẩm cá nhân hoá
a Sản phẩm
Sản phẩm là những hàng hoá, dịch vụ và những thuộc tính nhất định với những ích dụng cụ thể nhằm thoả mãn những nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng Sản phẩm có giá trị sử dụng và giá trị, nó có thể là hữu hình và
vô hình (Nguyễn Ngọc Long, 2015)
Những nhu cầu cấp thiết, mong muốn và nhu cầu của con người gợi
mở nên sự có mặt của sản phẩm Sản phẩm là bất cứ những gì có thể đưa ra thị trường, gây sự chú ý, được tiếp nhận, được tiêu thụ hay sử dụng để thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người Tầm quan trọng của các sản phẩm vật chất là ở chỗ chúng ta dùng nó để thỏa mãn mong muốn của chúng ta Nói cách khác, người ta không mua một sản phẩm, họ mua những lợi ích mà sản phẩm đó đem lại Vì thế, các sản phẩm vật chất thực sự là những công cụ để cung cấp các dịch vụ tạo nên sự thõa mãn hay lợi ích của con người Nói một cách khác, chúng là những phương tiện chuyển tải lợi ích
Đôi khi sản phẩm còn được sử dụng bằng thuật ngữ khác, như là vật làm thỏa mãn (satisfier) nguồn (resource) hay sự cống hiến (offer) Sẽ là sai lầm nếu các nhà sản xuất chỉ chú trọng đến khía cạnh vật chất của sản phẩm mà ít quan tâm đến những lợi ích mà sản phẩm đó đem lại Nếu như thế, họ chỉ nghĩ đến việc tiêu thụ sản phẩm chứ không phải là giải pháp để giải quyết một nhu cầu Vì vậy, người bán phải ý thức được rằng công việc của họ là bán những lợi ích hay dịch vụ chứa đựng trong những sản phẩm
có khả năng thõa mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng chứ không phải bán những đặc tính vật chất của sản phẩm Sản phẩm càng thỏa mãn mong muốn càng nhiều càng dễ dàng được người tiêu dùng chấp nhận hơn Như vậy có thể kết luận rằng, nhà sản xuất cần xác định những nhóm khách hàng mà họ muốn bán, và nên cung cấp những sản phẩm làm thỏa mãn
Trang 24được càng nhiều càng tốt các mong muốn của những nhóm này (Nguyễn Văn Trãi, 2012)
b Sản phẩm cá nhân hoá
Sản phẩm cá nhân hóa là những hàng hoá, dịch vụ và những thuộc tính nhất định với những ích dụng cụ thể được sản xuất, làm ra theo yêu cầu của một hay một nhóm người để thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi sử dụng cá nhân Chính vì thế, sản phẩm cá nhân hoá không sản xuất đại trà
và có số lượng hạn chế Sản phẩm cá nhân hoá thoả mãn được các mong muốn, yêu cầu của khách hàng thông qua việc đặt hàng trước khi sản xuất, khách hàng sẽ liệt kê các yêu cầu về sản phẩm cần đạt được
Mức độ cá nhân hóa sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu thẩm
mỹ, kiến thức và sự sáng tạo của người sở hữu sản phẩm Đôi khi, những sáng tạo đó chưa chắc đã mang tính phổ quát rộng rãi trên thị trường của sản phẩm, thậm chí sản phẩm cá nhân hóa cũng đôi khi đi ngược với xu thế của thời đại về sản phẩm
Bên cạnh nhiều ưu điểm thì sản phẩm cá nhân hóa vẫn còn những điểm hạn chế như: tính phổ biến, việc sản xuất mất khá nhiều thời gian, chi phí cao, kén người dùng Những sản phẩm cá nhân hóa nếu dư tồn thì khó
có thể bán cho khách hàng khác, vì nhu cầu của bất kỳ khách hàng nào là không giống nhau Trường hợp nhà sản xuất tự hình dung những chi tiết theo nhu cầu của phần lớn khách hàng để chế tạo và sản xuất ra những sản phẩm cá nhân hóa thì nhà sản xuất vẫn vấp phải sự không hài lòng, không chọn mua sản phẩm từ những người không thích sở hữu sản phẩm đó Như vậy, sẽ không bao giờ có những sản phẩm đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng, mà chỉ có sở thích và hứng thú của khách hàng mới là nhân tố quyết định đến việc thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm cá nhân hóa đó
Trang 25Do vậy, người làm ra sản phẩm, doanh nghiệp, công ty cần phải hiểu
rõ nhu cầu của người mua và dùng sản phẩm một cách thấu hiểu, hiểu rõ mức độ cá nhân hóa nào quan trọng với họ
1.2.3 Sở hữu và sở hữu sản phẩm cá nhân hoá
a Sở hữu
Sở hữu là một phạm trù cơ bản, chỉ mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm dụng của cải Nó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải Nó có thể được luật hóa thành quyền sở hữu và được thực hiện theo cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu Quyền sở hữu bao gồm 3 quyền sau: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Chiếm hữu: quyền nắm giữ tài sản, tiêu sản trong tay; Sử dụng: quyền sử dụng tài sản, tiêu sản theo ý muốn; Định đoạt: quyền quyết định cho mượn, cho thuê, bán, cầm cố, thế chấp, phá hủy
Theo C.Mác và Ăngghen trong Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin (dùng cho khối ngành kinh tế và kinh doanh), khái niệm sở hữu là
“Sự chiếm hữu” Theo đó: Sở hữu là hình thức xã hội – lịch sử nhất định của sự chiếm hữu, cho nên có thể nói: Sở hữu là phương thức chiếm hữu mang tính chất lịch sử cụ thể của con người, những đối tượng dùng vào mục đích sản xuất và phi sản xuất Sở hữu luôn luôn gắn liền với vật dụng – đối tượng của sự chiếm hữu Đồng thời sở hữu không chỉ đơn thuần là vật dụng, nó còn là quan hệ giữa con người với nhau về vật dụng (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1993)
Sở hữu về mặt kinh tế biểu hiện thông qua thu nhập, thu nhập ngày càng cao, sở hữu về mặt kinh tế ngày càng được thực hiện Sở hữu luôn hướng tới lợi ích kinh tế, chính nó là động lực cho hoạt động kinh tế Sự vận động, phát triển của quan hệ sở hữu về hình thức, phạm vi mức độ không phải là sản phẩm của chủ quan mà là do yêu cầu của quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chấtl trình độ của lực lượng sản xuất Haylà sự
Trang 26vận động của quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử tự nhiên Sự biến động của quan hệ sở hữu xét cả về mặt chủ thể và đối tượng sở hữu Ngày nay, cùng với sở hữu về mặt hiện vật và giá trị của tư liệu sản xuất, người ta chú trọng nhiều đến sở hữu sản phẩm, sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ, giáo dục… Quyền sở hữu cá nhân, mang tính chất pháp lý, nó có nhiệm vụ xác lập và bảo vệ quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt sản phẩm của mình làm ra
b Sở hữu sản phẩm cá nhân hoá
Sở hữu sản phẩm cá nhân hoá là chiếm hữu những hàng hoá, dịch vụ với những thuộc tính nhất định, những ích dụng cụ thể nhằm thoả mãn những nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng với những chi tiết mang dấu ấn cá nhân riêng biệt
và khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi
Một số nhà Tâm lý học, giáo dục phương Tây nổi bật là nhà Tâm lý học I Ph Shecbac cho rằng hứng thú là thuộc tính bẩm sinh vốn có của con người, nó được biểu hiện thông qua thái độ, tình cảm của con người vào một đối tượng nào đó trong thế giới khách quan
Nhà Tâm lý học người Mỹ - Annoi – cho rằng hứng thú là một sự sáng tạo của tinh thần với đối tượng mà con người hứng thú tham gia vào
Trang 27Theo Harlette Buhler, hứng thú không những chỉ toàn bộ những hành động khác nhau mà nó còn thể hiện cấu trúc bao gồm các nhu cầu, là dấu hiệu của nhu cầu bản năng cần được thoả mãn
Theo E.K.Strong và W.James, hứng thú là một trường hợp riêng của thiên hướng biểu hiện trong xu thế hoạt động của con người muốn học một
số đối tượng nhất định, yêu thích một vài loại hoạt động và định hướng tính cách nhất định vào những hoạt động đó, như là một nét tính cách
E.Super cho rằng hứng thú không phải là thiên hướng, không phải là nét tính cách của cá nhân, nó riêng rẽ với thiên hướng, riêng rẽ với tính cách, riêng rẽ với cảm xúc Tuy nhiên ông không đưa ra quan niệm rõ ràng
về hứng thú
Tác giả Klapalet nghiên cứu thực nghiệm và đi đến kết luận “hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu bản năng khát vọng, đòi hỏi cần được thoả mãn của cá nhân
Các tác giả đã đề cập ở trên có những cái nhìn rất khác nhau về hứng thú, có một số quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng nhìn chung các quan điểm này còn phiến diện, không đề cập và phủ nhận vai trò của giáo dục cũng như tính tích cực của cá nhân trong sự hình thành hứng thú
Khác với quan điểm duy tâm, phiến diện siêu hình về hứng thú của các nhà Tâm lý học phương Tây, các nhà Tâm lý học Macxit xem xét hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng Theo đó, hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân, phản ánh thái độ của cá nhân hình thành do sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa điều kiện sống và hoạt động của con người Các nhà tâm lý học Macxit xem xét hứng thú trong mối tương quan với các thuộc tính khác của nhân cách đã chỉ ra tính chất phức tạp của hứng thú (trí tuệ,xúc cảm, ý chí, nhu cầu …)
Trang 28P.A.Rudich xét hứng thú theo khía cạnh nhận thức, coi hứng thú là
sự hiểu biết của xu hướng đặc biệt trong sự nhận thức thế giới khách quan,
là thiên hướng tương đối ổn định với một loại hoạt động nhất định (P.A.Rudich, 1986)
A.N.Lêônchiev coi hứng thú là thái độ nhận thức nhưng đó là thái độ nhận thức đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng hoặc hiện tượng của thế giới khách quan A.V.Daparôzét coi hứng thú như là khuynh hướng lựa chọn của sự chú ý và đưa ra khái niệm hứng thú là khuynh hướng chú ý tới đối tượng nhất định là nguyện vọng tìm hiểu chúng một cách càng tỉ mỉ càng tốt (Nguyễn Kim Vui, 2011)
Trong cuốn Tâm lý học cá nhân (tập 1) được biên dịch, A.G.Côvaliốp đã đưa ra một định nghĩa được coi là tương đối hoàn chỉnh
và đầy đủ về hứng thú: “Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong cuộc sống và sự hấp dẫn về mặt tình cảm của nó” (A.G.Côvaliốp, 1971) Ông coi hứng thú như là sự định hướng của cá nhân vào một đối tượng nhất định
Các nhà tâm lý học Macxit đã xem xét hứng thú theo nhiều khía cạnh như: xem xét hứng thú theo khía cạnh nhận thức, theo sự lựa chọn của
cá nhân đối với thế giới khách quan, theo khía cạnh gắn với nhu cầu … Nhưng nhìn chung, các quan điểm của các nhà tâm lý học Macxit về hứng thú xem xét theo quan điểm duy vật biện chứng, và họ cũng cho thấy tính chất phức tạp của hứng thú
Trong cuốn Giáo trình Tâm lý học đại cương của tác giả Nguyễn Quang Uẩn, ông đã tổng hợp và phát biểu định nghĩa hứng thú như sau: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động (Nguyễn Quang Uẩn et al., 2008) Định nghĩa về
Trang 29hứng thú của Nguyễn Quang Uẩn vừa nêu bản chất của hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động cá nhân
Trong cuốn Giáo trình Tâm lý học đại cương của nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn, Lê Thị Hân, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy, hứng thú được định nghĩa là thái độ đặc biệt của cá nhân với những đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa mang lại sự khoái cảm cho
cá nhân trong hoạt động (Huỳnh Văn Sơn et al 2012)
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, hứng thú có hai nghĩa: “Biểu hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy động sinh lực để cố gắng thực hiện” và “sự ham thích” (Nguyễn Như Ý, 2008)
Nhóm của tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được
ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó (Nguyễn Kim Vui, 2011)
Trong đề tài nghiên cứu này, tôi xây dựng lại định nghĩa hứng thú
như sau: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng có ý
nghĩa trong cuộc sống cá nhân, khiến cá nhân thích thú, hăng say tích cực nhận thức đối tượng và mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động.”
Hứng thú là một thái độ đặc biệt, đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, đối tượng này có ý nghĩa trong cuộc sống cá nhân, làm cá nhân chú ý, khao khát, hăng say, tích cực nhận thức sâu sắc đối tượng, đồng thời cá nhân cũng được thoả mãn, có khoái cảm với đối tượng
Hứng thú càng hình thành và phát triển rõ ràng khi chủ thể nhận thức sâu sắc và đầy đủ ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống Chủ thể chú ý vào cái làm mình hứng thú, điểu chỉnh các quá trình tâm lý, tích cực hoá hoạt
Trang 30động của mình theo hướng phù hợp với hứng thú, luôn cảm thấy thoải mái, đạt được khoái cảm cũng như hiệu quả cao dù cho có nhiều khó khăn, trở ngại, gian khổ Khoái cảm nảy sinh trong quá trình hoạt động của cá nhân với đối tượng, đồng thời chính khoái cảm này tác động ngược lại cá nhân, thúc đẩy cá nhân tích cực hoạt động Hứng thú chỉ có thể hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của cá nhân, chính vì thế, biện pháp để gây ra hứng thú là tổ chức hoạt động, trong quá trình hoạt động và bằng hoạt động với đối tượng mới có thể nâng cao hứng thú của cá nhân
Một đối tượng chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú khi chúng thỏa mãn 2 điều kiện sau đây:
+ Điều kiện cần: Đối tượng đó phải có ý nghĩa với cuộc sống của cá nhân Chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống của mình Nhận thức càng sâu sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của hứng thú
+ Điều kiện đủ: Khi hoạt động với đối tượng đó phải có khả năng mang lại khoái cảm cho chủ thể
* Cấu trúc của hứng thú
Hứng thú là sự kết hợp giữa ba thành tố nhận thức, xúc cảm và hành động Ba thành tố này liên quan chặt chẽ với nhau, tương tác lẫn nhau trong hứng thú của cá nhân Vì vậy khi nói đến cấu trúc của hứng thú, không thể tách rời từng mặt riêng lẻ, sự tồn tại của từng mặt riêng lẻ không có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức độ của hứng thú Ở mỗi giai đoạn phát triển của hứng thú, mỗi thành tố trong ba thành tố kể trên có thể có nhiều hay ít, mạnh hơn hay ít hơn so với những cái còn lại
Trong đó, xúc cảm là yếu tố không thể thiếu trong hứng thú của cá nhân, nếu cá nhân chỉ dừng ở mức độ xúc cảm với đối tượng thì chưa phải
là hứng thú Cùng với đó, nếu chỉ nói đến nhận thức của cá nhân thì chỉ là
sự hiểu biết của con người với đối tượng Còn khi chỉ nói đến mặt hành
Trang 31động là chỉ đề cập đến hình thức biểu hiện bên ngoài, không thấy được xúc cảm, tình cảm của cá nhân với đối tượng
Một người có hứng thú với đối tượng là khi người đó có xúc cảm, tình cảm tích cực với đối tượng mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui và thích thú khi tìm hiểu, nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát
từ bản thân hoạt động, tự đối tượng lôi cuốn, kích thích hứng thú của cá nhân Nói tóm lại, hứng thú phải là sự kết hợp giữa xúc cảm, nhận thức và hành động, hay nói cách khác là có sự kết hợp giữa hiểu biết về đối tượng với sự thích thú và tính tích cực hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng
* Phân loại hứng thú
Đề tài đồng ý với tác giả P.A Rudich và đã phân loại hứng thú dựa vào những tiêu chí sau: (P.A Rudich, 1986)
- Căn cứ vào nội dung đối tượng, nội dung hoạt động, có:
+ Hứng thú vật chất: là loại hứng thú biểu hiện thành nguyện vọng như muốn có chỗ ở đầy đủ, tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp, sở hữu đồ đáng giá
+ Hứng thú nhận thức: ta có thể hiểu hứng thú dưới hình thức học tập như: hứng thú môn vật lý học, hứng thú môn triết học, hứng thú tâm lý học
+ Hứng thú chính trị - xã hội: hứng thú một lĩnh vực hoạt động chính trị
+ Hứng thú nghệ thuật: hứng thú về cái hay, cái đẹp như văn học, phim ảnh, âm nhạc
- Căn cứ vào khối lượng của hứng thú, có:
+ Hứng thú rộng: bao quát nhiều lĩnh vực nhiều mặt thường không sâu
Trang 32+ Hứng thú hẹp: hứng thú với từng mặt, từng ngành nghề, lĩnh vực
cụ thể trong cuộc sống cá nhân đòi hỏi có hứng thú rộng - hẹp, vì chỉ có hứng thú hẹp mà không có hứng thú rộng thì nhân cách của họ sẽ không toàn diện, song chỉ có hứng thú rộng thì sự phát triển nhân cách cá nhân sẽ hời hợt thiếu sự sâu sắc
- Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú, có:
+ Hứng thú bền vững: thường gắn liền với năng lực cao và sự nhận thức sâu sắc nghĩa vụ và thiên hướng của mình
+ Hứng thú không bền vững: hứng thú thường bắt nguồn từ nhận thức hời hợt đối tượng hứng thú
- Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú, có:
+ Hứng thú sâu sắc: thường thể hiện thái độ thận trọng có trách nhiệm với hoạt động, công việc Mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức, đi sâu nắm vững đến mức hoàn hảo đối tượng của mình
+ Hứng thú hời hợt bên ngoài: đây là những người qua loa đại khái trong quá trình nhận thức, trong thực tiễn họ là những người nhẹ dạ nông nổi
- Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú, có:
+ Hứng thú trực tiếp: hứng thú đối với bản thân quá trình hoạt động, hứng thú với quá trình nhận thức, quá trình lao động, và hoạt động sáng tạo
+ Hứng thú gián tiếp: loại hứng thú gắn với kết quả hoạt động
* Vai trò của hứng thú
- Đối với hoạt động nói chung:
Trong quá trình hoạt động của con người, cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích hoạt động làm cho con người say mê hoạt động đem lại hiệu quả cao trong hoạt động của mình Hứng thú hình thành và phát triển dẫn đến nhu cầu trong lĩch vực đó phát triển dễ dàng hơn Nhu cầu và hứng thú
Trang 33có quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ sở của hứng thú, khi
có hứng thú với một cái gì thì cá nhân sẽ hoạt động tích cực chiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống lúc đó xuất hiện nhu cầu mới cao hơn
Công việc nào có hứng thú cao hơn người thực hiện nó một cách dễ dàng, có hiệu quả cao, tạo ra xúc cảm dương tính mạnh mẽ đối với người tiến hành hoạt động đó, và họ sẽ tìm thấy niềm vui trong công việc, công việc trở nên nhẹ nhàng, ít tốn công sức hơn, có sự tập trung cao Ngược lại người ta cảm thấy gượng ép, công việc trở nên nặng nhọc khó khăn làm cho người ta mệt mỏi, chất lượng hoạt động giảm rõ rệt
- Đối với hoạt động nhận thức:
Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động Hứng thú làm tích cực hóa các quá trình tâm lý (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng )
- Đối với năng lực:
Khi chúng ta được làm việc phù hợp với hứng thú, thì dù phải vượt qua khó khăn, người ta vẫn cảm thấy thoải mái làm cho năng lực trong lĩnh vực hoạt động ấy dễ dàng hình thành, phát triển Năng lực phụ thuộc vào sự luyện tập, nhưng chỉ có hứng thú mới cho phép người ta say sưa làm một việc gì đó tương đối lâu dài không mệt mỏi mà không sớm thỏa mãn mà thôi Hứng thú làm cho năng khiếu thêm sắc bén
Trong Giáo trình Tâm lý học đại cương của nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn, Lê Thị Hân, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy, hứng thú có những vai trò sau: (Huỳnh Văn Sơn et al.,2012)
‐ Hứng thú làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức Khi có hứng thú, con người tập trung trí tuệ và tình cảm của mình vào đối tượng khiến
sự nhận thức về đối tượng nhạy bén và sâu sắc
Trang 34‐ Hứng thú làm tăng sức lực làm việc, vì tính ý nghĩa và hấp dẫn của đối tượng lôi cuốn cá nhân làm việc say sưa, bền bỉ, ít mệt mỏi
‐ Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động sáng tạo Hứng thú cho cá nhân sự thoả mãn về tình cảm, kích thích nhu cầu hoạt động sáng tạo để khám phá, chinh phục đối tượng
‐ Hứng thú nâng cao bản ngã của cá nhân vì họ cảm nhận một cuộc sống có ý nghĩa và tươi sáng, hứng thú cho con người trải nghiệm các cảm xúc phấn khích và hăng hái Hứng thú kích thích và nâng đỡ tâm hồn con người vượt lên những khó khăn và tăng nghị lực sống cho họ
Trong Giáo trình Tâm lý học đại cương của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Thạc, Trần Quốc Thành, Hoàng Anh, Lê Thị Bừng, Vũ Kim Thanh, Nguyễn Kim Quý, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Đức Sơn, hứng thú có những vai trò sau: (Nguyễn Quang Uẩn, 2008)
‐ Hứng thú làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ
Khi có hứng thú với một đối tượng nào đó, cá nhân có sự tập trung cao độ của chú ý, tình cảm, hướng toàn bộ quá trình nhận thức vào đối tượng khiến quá trình này nhạy bén và sâu sắc
Khi hứng thú, chú ý không chủ định xuất hiện nhanh, chú ý có chủ định được duy trì dễ dàng
Trang 35Hứng thú không chỉ dừng ở sự thích thú vẻ bề ngoài, sự tò mò mang tính hiếu kì Hứng thú chân chính luôn thúc đẩy con người hành động, hành động sáng tạo để chiếm lĩnh đối tượng đó
* Biểu hiện của hứng thú
Tác giả Phạm Tất Dong cho rằng hứng thú biểu hiện ở các khía cạnh sau: (Nguyễn Kim Vui, 2011)
+ Khuynh hướng của con người đối với hoạt động có liên quan tới đối
+ Sự tập trung chú ý của con người vào đối tượng của hứng thú
+ Sự ghi nhớ nhanh và lâu những điều có quan hệ gần gũi với đối tượng này, trong hoạt động tưởng tượng phong phú, trong tư duy căng thẳng những vấn đề có liên quan đến đối tượng của hứng thú đó
Trong Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục của G.I.Sukina, Nguyễn Văn Diên dịch, hứng thú biểu hiện ở các khía cạnh sau: (G.I.Sukina, 1973)
+ Khuynh hướng lựa chọn các quá trình tâm lý con người nhắm vào đối tượng và hiện tượng của thế giới xung quanh
+ Nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân muốn tìm hiểu một lĩnh vực, hiện tượng cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thỏa mãn cho cá nhân + Nguồn kích thích mạnh mẽ, tính tích cực cho cá nhân, do ảnh hưởng của nguồn kích thích này, mà tất cả các quá trình diễn ra khẩn trương, còn hoạt động trở nên say mê và đem lại hiệu quả cao
Trang 36+ Thái độ đặc biệt (không thờ ơ, không bàng quan mà tràn đầy những ý định tích cực, một cảm xúc trong sáng, một ý trí tập trung đối với các đối tượng, hiện tượng, quá trình )
Trong đề tài này, chúng tôi dựa theo Giáo trình Tâm lý học đại cương của nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn, Lê Thị Hân, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy, hứng thú biểu hiện ở các khía cạnh sau: (Huỳnh Văn Sơn et al., 2012)
+ Khuynh hướng hoạt động của cá nhân với đối tượng
+ Sự tập trung chú ý và ghi nhớ cao
+ Tình cảm say mê với đối tượng lựa chọn
b Hứng thú sở hữu
Hứng thú sở hữu là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với việc chiếm hữu đối tượng có ý nghĩa trong cuộc sống cá nhân, khiến cá nhân thích thú, hăng say tích cực nhận thức việc sở hữu đối tượng và mang lại khoá cảm trong quá trình hoạt động
Hứng thú sở hữu là hứng thú vật chất Hứng thú sở hữu có mối quan
hệ chặt chẽ với cảm xúc của con người, nếu không có cảm xúc đặc biệt, thích thú với sản phẩm đang sở hữu thì sẽ không có hứng thú khi sở hữu
nó, và ngược lại, nếu người dùng sản phẩm không thích thú, không hứng thú khi nghĩ về nó, khi dùng nó thì hoàn toàn không có cảm xúc, thậm chí
sẽ không dùng sản phẩm đó
Hứng thú sở hữu là nền tảng, điều kiện, là động cơ quan trọng hàng đầu để người ta muốn sở hữu sản phẩm Trước tiên con người phải có xúc cảm mạnh về sản phẩm, sau đó họ sẽ mường tượng ra những niềm vui, hạnh phúc, sung sướng, được thỏa mãn niềm mong muốn về thẩm mỹ, về thười thượng, về gu cá nhân khi sở hữu được sản phẩm đó, sau đó người ta
Trang 37sẽ quyết tâm mua sản phẩm đó Khi đã sở hữu được sản phẩm rồi, họ muốn công khai và phô trường thị hiếu cá nhân của họ trước cộng đồng, họ muốn mọi người nhìn vào sản phẩm họ dùng thì biết được cá tính đặc biệt của cá nhân họ
Hững thú sở hữu phụ thuộc rất lớn vào khả năng tài chính của con người và độ mở rộng về kiến thức sản phẩm Nhưng trên thực tế, không phải những sản phẩm có giá trị cao thì mới đem lại sự hứng thú sở hữu cho người tiêu dùng, mà đôi khi chỉ một đặc điểm, một chi tiết rất hợp với sở thích của người mua sản phẩm, họ ưng ý và họ rất có hứng thú để sở hữu
nó, thậm chí biết là rất đắt, nhưng họ vẫn quyết tâm sở hữu bằng được Tuy nhiên, nếu quyết tâm sở hữu bằng được mà không trong khả năng chi trả, thì đôi khi sẽ dẫn đến quá đam mê, khát khao cháy bỏng, mất ăn mất ngủ vì chưa sở hữu được sản phẩm đó, có khi lại sinh ra tiêu cực, làm mọi cách để
sở hữu được sản phẩm Khi đó hứng thú sở hữu không còn là động lực, mà khi đó hứng thú sở hữu là tác nhân gây ra vi phạm các quy tắc xã hội: vì quá hứng thú, vì quá khát khao, đam mê, nên con người đôi khi làm liều để
sở hữu bằng được sản phẩm
1.2.5 Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá
a Khái niệm hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá
Hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với việc sở hữu sản phẩm cá nhân hoá có ý nghĩa trong cuộc sống
cá nhân, khiến cá nhân thích thú, hăng say tích cực nhận thức việc sở hữu sản phẩm cá nhân hoá và mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động
b Biểu hiện hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hoá
* Tâm lý rất thoải mái, phấn khởi và đôi chút tự hào khi khách hàng
sở hữu sản phẩm cá nhân hóa
Dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất đó là khách hàng sẽ cảm thấy rất sung sướng, vui vẻ, phấn khởi khi tìm mua được hoặc hoàn thành ý
Trang 38tưởng của riêng mình để chế tạo ra sản phẩm mình cần, và sở hữu nó Một một sản phẩm cá nhân hóa mà khách hàng tạo ra đánh dấu một ý tưởng sáng tạo trong lĩnh vực sản phẩm đó Tâm lý của khách hàng cảm thấy thoải mái, toại nguyện khi ý tưởng của mình được hiện thực hóa thành sản phẩm Tuy nhiên, có những người thì chỉ muốn sản phẩm cá nhân hóa đó của của riêng mình, chỉ bản thân mình mới có, không mong muốn hoàn toàn những người khác sở hữu sản phẩm tương tự Mặt khác, lại có khá nhiều khách hàng muốn rằng, sản phẩm cá nhân hóa của mình được xã hội hóa, họ muốn nhiều người như bạn bè, người thân trong gia đình, cơ quan
… dùng sản phẩm cá nhân hóa đó Khi đó, họ cảm thấy tự hào vì mình đã mang đến cho nhóm người một “gu thẩm mỹ” mới, mình chính là người đã nghĩ ra ý tưởng và tạo ra nó Do vậy, sự thích thú, vui vẻ, tự hào khi bản thân khách hàng sở hữu sản phẩm cá nhân hóa chính là thước đo của sự hài lòng về những sản phẩm do mình làm ra hoặc trên ý tưởng của mình để nhà sản xuất tạo ra sản phẩm
* Sự tập trung chú ý cao của khách hàng vào những sản phẩm cá nhân hóa trên thị trường hoặc tại nơi bán
Một trong những biểu hiện quan trọng của việc hứng thú sở hữu sản phẩm cá nhân hóa đó là sự tìm kiếm, và tập trung cao của khách hàng vào những sản phẩm có độ cá nhân hóa Trong xã hội, hoặc trong bất kỳ nơi bán sản phẩm náo trên thị trường, khách hàng luôn luôn có thói quen tìm những sản phẩm mà họ thích, tâm lý của họ sẽ cố tìm ra những chi tiết nhỏ,
họ sẽ chú ý và những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm mà họ thích để sở hữu nó Thậm chí, ở những nơi có rất nhiều sản phẩm với nhiều mẫu mã, kiểu dáng, khách hàng lại không tìm mua đc sản phẩm nào vì họ không tìm thấy cái mình thích Hoặc đôi khi, tại nơi bán sản phẩm, bày quá nhiều mẫu
mã, nhiều sản phẩm xếp xen vào nhau, làm cho khách hàng khó đưa ra quyết định lựa chọn, và khách hàng khó tập trung vào một sản phẩm nào,
Trang 39khách hàng bị rối, từ đó, sẽ rất khó quyết định chọn sản phẩm nào Hoặc đôi khi, khách hàng vẫn mua một sản phẩm những không ưng ý
Do vậy, việc nhận diện khách hàng hứng thú với sản phẩm cá nhân hóa có nhiều dấu hiệu, trong đó thái độ tập trung của họ chỉ ngắm vào những sản phẩm kiểu loại riêng biệt, họ luôn có xu hướng đi tìm cái mà họ ưng ý, nhà sản xuất sẽ nắm bắt điều đó để phác thảo cơ bản được nhu cầu của họ, để từ đó có những cách trưng bày, quảng cáo về sản phẩm cho phù hợp
* Khách hàng có thói quen lựa chọn những sản phẩm cá nhân hóa
hơn là những sản phẩm làm sẵn đại trà
Trên thị trường, hiện tại có vô số sản phẩm từ to đến nhỏ, từ đơn giản đến phức tạp, từ giá trị kinh tế thấp đến giá trị kinh tế cao, thậm chí là rất cao … đều được bán ra cho khách hàng theo xu thế đại trà Có nghĩa rằng, sản phẩm đó mang thương hiệu công chúng chứ không phải thương hiệu cá nhân Khi khách hàng lựa chọn mua sản phẩm, một trong những dấu hiệu nhận biết việc hứng thú với sản phẩm cá nhân hóa của khách hàng
là họ chỉ lưu ý xem và lựa chọn những sản phẩm không phải là đại trà, càng không phải là sản xuất hàng loạt sản phẩm giống nhau Ví dụ như váy áo của nữ, giầy, túi xách, mũ, xe máy, ô tô…
Khi họ đam mê sản phẩm về chất lượng, thương hiệu, độ quý giá của sản phẩm, nếu họ không ưng ý hoàn toàn về mức độ cá nhân hóa sản phẩm, nhưng họ vẫn cứ sở hữu, sau đó về họ liên hệ với nhà sản xuất thay đổi theo ý tưởng của họ Những sản phẩm này thường là xe máy, ô tô, nhà cửa,
… những thứ có thể thay đổi được về màu sắc, kiểu dáng, …
* Thái độ say mê của khách hàng với những sản phẩm cá nhân hóa
Thái độ say mê của khách hàng cũng là một dấu hiệu cơ bản để nhận biết sự hứng thú với sản phẩm cá nhân hóa Việc nhận biết dấu hiệu này là khá rõ nét thông qua việc khách hàng dành nhiều thời gian, độ kỹ lưỡng để
Trang 40lựa chọn sản phẩm hay thiết kế sản phẩm dựa trên ý tưởng của mình Khi khách hàng say mê và thực sự là người muốn sở hữu sản phẩm đó thì giá cả cũng chưa phải là vấn đề quan trọng Niềm say mê của khách hàng về thiết
kế, sản xuất và sở hữu sản phẩm cá nhân hóa là thước đo của trí tuệ về sản phẩm
1.2.6 Đặc điểm của sinh viên đại học
Sinh viên đại học là lứa tuổi đầu tuổi trưởng thành - đỉnh điểm của quá trình phát triển cơ thể và sức khỏe Đây cũng là thời gian đánh dấu đỉnh điểm của một số khả năng nhận thức, và sự tiếp tục phát triển của những khả năng khác Tuổi sinh viên là thời kì đầu người trưởng thành trẻ tuổi (18 đến 25 tuổi)
* Điều kiện sống, hoạt động và vai trò xã hội của sinh viên
Xét về các điều kiện sống và hoạt động của người trưởng thành trẻ tuổi cho thấy họ đang đứng trước những ngã rẽ của cuộc đời, người thì tiếp tục đi học, người thì bắt đầu lao động kiếm sống… Đa số họ đều thiết lập dần dần cuộc sống độc lập Trong gia đình, họ được xem như là một thành độngên chính thức, được đối xử một cách công bằng như những người lớn thực thụ Ngoài xã hội, họ trở thành những thành độngên chính thức của xã hội với đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ công dân trước pháp luật
Hoạt động chủ yếu ở giai đoạn lứa tuổi này là hoạt động nghề nghiệp Nếu chưa phải lao động kiếm sống thì sau khi tốt nghiệp phổ thông (trung học cơ sở hay trung học phổ thông) họ thường tiếp tục theo học tại các cơ sở đào tạo hệ Trung cấp, Cao đẳng, hoặc Đại học Đa số những thanh niên này chưa thể tự lập hoàn toàn Đây cũng là một hạn chế nhất định ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí của họ
Hoạt động chủ yếu của thanh niên sinh viên là hoạt động học tập chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai Thanh niên sinh viên là những người trưởng thành còn đang theo học ở các trường Đại học và Cao đẳng…, do