1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành Vi Bắt Nạt Tại Nơi Làm Thêm Của Sinh Viên Một Số Trường Đại Học Trên Địa Bàn Thành Phố

105 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thái độ của sinh viên Bảng 2.19 - Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm đến Bảng 2.20 - Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm đến Bảng 2.21 - Ảnh hưởng của hành vi bắt

Trang 1

KHOA TÂM LÝ HỌC

NGUYỄN THỊ NGỌC THƯ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

HÀNH VI BẮT NẠT TẠI NƠI LÀM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 2

KHOA TÂM LÝ HỌC

HÀNH VI BẮT NẠT TẠI NƠI LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI

HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn: Th.S Đào Thị Duy Duyên

Thành phố Hồ Chí Minh, 2019

Trang 3

Th.S Đào Thị Duy Duyên Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

TpHCM, ngày 25 tháng 04 năm 2019

Nguyễn Thị Ngọc Thư

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI BẮT NẠT TẠI NƠI LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm 6

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước về hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm 6

1.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam về hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm 8

1.2 Một số vấn đề lý luận liên quan đến hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên 12

1.2.1 Lý luận về hành vi 12

1.2.2 Lý luận về hành vi bắt nạt 15

1.2.3 Lý luận về hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên 22

CHƯƠNG 2 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HÀNH VI BẮT NẠT TẠI NƠI LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32

2.1 Tổ chức nghiên cứu 32

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 32

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 32

2.1.3 Quá trình nghiên cứu 34

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên một số trường đại học trên địa bàn TPHCM 40

2.2.1.Phần dành cho sinh viên bị bắt nạt tại nơi làm thêm……… 40

2.2.2 Phần dành cho sinh viên chứng kiến vụ bắt nạt tại nơi làm thêm 63

2.2.3 So sánh về mức độ ảnh hưởng của hành vi bắt nạt đến sinh viên, đến công việc làm thêm của sinh viên theo giới tính, theo kinh nghiệm làm thêm và theo trường học 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG ĐỀ TÀI 78

PHỤ LỤC 1 - BIỂU ĐỒ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 82

Trang 6

VI BẮT NẠT TẠI NƠI LÀM THÊM 94

Trang 7

TÊN BẢNG SỐ

TRANG

Bảng 2.1 - Đặc điểm của khách thể nghiên cứu 32

Bảng 2.4 - Sinh viên tự đánh giá chung về trải nghiệm bị bắt nạt tại

Bảng 2.5 - Tần số, tỉ lệ % mức độ bị bắt nạt tại nơi làm thêm của

SV toàn mẫu dựa trên thang đo biểu hiện hình thức bắt nạt tại nơi

làm thêm

42

Bảng 2.6 - Xếp loại các nhóm hình thức bắt nạt 43 Bảng 2.7 - Nhóm hình thức bắt nạt bằng công việc 43 Bảng 2.8 - Nhóm hình thức bắt nạt bằng cách tẩy chay 46 Bảng 2.9 - Nhóm hình thức bắt nạt bằng cách tấn công cá nhân

Bảng 2.10 - Nhóm hình thức bắt nạt bằng cách đe dọa bằng lời nói 48 Bảng 2.11 - Nhóm hình thức bắt nạt bằng cách lan truyền tin đồn 49 Bảng 2.12 - Nhóm hình thức bắt nạt bằng bắt nạt thể chất 50 Bảng 2.13 - Đối tượng thực hiện hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi

Bảng 2.14 - Nhận thức của sinh viên về đặc điểm của đối tượng dễ

Bảng 2.15 - Cách phản ứng của sinh viên với tình trạng bị bắt nạt

Bảng 2.16 - Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt đến tâm lý của sinh

Bảng 2.17 - Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm đến 57

Trang 8

thái độ của sinh viên

Bảng 2.19 - Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm đến

Bảng 2.20 - Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm đến

Bảng 2.21 - Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm đến

Bảng 2.22 - Thống kê về số sinh viên đã từng chứng kiến vụ bắt

Bảng 2.23 - Các trường hợp sinh viên từng chứng kiến vụ bắt nạt

Bảng 2.24 - Đối tượng bắt nạt sinh viên qua chứng kiến của sinh

Bảng 2.25 - Cách phản ứng của sinh viên khi chứng kiến vụ bắt

Bảng 2.26 - Khác biệt về ảnh hưởng của hành vi bắt nạt đến sinh

viên, công việc của sinh viên theo giới tính 70 Bảng 2.27 - Khác biệt về ảnh hưởng của hành vi bắt nạt đến sinh

viên, công việc của sinh viên theo kinh nghiệm làm thêm 70 Bảng 2.28 - Khác biệt về ảnh hưởng của hành vi bắt nạt đến sinh

viên, công việc của sinh viên theo trường học 71

Trang 9

TÊN BIỂU ĐỒ SỐ TRANG

1 Tần số và tỉ lệ % SVBBN khi đi làm thêm 83

2 Ảnh hưởng của bắt nạt đến tâm lý của sinh viên 83

3 Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt đến sinh viên 84

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tại Việt Nam, hành vi bắt nạt đang dành sự quan tâm lớn từ các nhà giáo dục, nhà nghiên cứu lẫn sự quan tâm của bậc phụ huynh và báo chí Vì hiện nay tại Việt Nam, nhắc đến bạo lực, đa số nghĩ ngay đến bắt nạt học đường với nhiều hành vi bắt nạt từ thể chất (đánh nhau) đến bắt nạt bằng lời nói, thái độ để đàn áp tâm lý đối phương Trong thời gian gần đây, bắt nạt học đường xuất hiện hình thức bắt nạt mới

là bắt nạt qua mạng, qua truyền thông

Trước tình hình đó có nhiều cuộc nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nước xem xét, khảo sát tình trạng bắt nạt học đường Và bằng chứng là có nhiều kết quả nghiên cứu được công bố, nhiều luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về tình trạng này Có thể kể đến như công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Duyên, “Học sinh bắt nạt học sinh: Thực trạng và giải pháp” (2016) được tiến hành trên 303 em học sinh từ lớp 6 đến lớp 112 của tỉnh Bắc Ninh Các báo chí hay các tin tức thời sự trực tiếp đều

ưu tiên cho các vụ việc về bắt nạt học đường và tác hai của nó

Như vậy, tại Việt Nam, nhắc đến bắt nạt, người ta bị “đóng khung” suy nghĩ vào tình trạng bắt nạt tại môi trường học đường thay cho các môi trường khác

Tuy nhiên, trong thực tế, bắt nạt có thể diễn ra tại bất kỳ môi trường nào, trong

đó, có cả môi trường làm việc

Tại các nước châu Âu và châu Mỹ, tình trạng bắt nạt tại nơi làm việc đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu và tìm hướng giải quyết tình trạng của nhiều nhà nghiên cứu về tâm lý học, về nhân sự Kể từ năm 1990, khái niệm “bắt nạt công sở” được nhắc đến đầu tiên bởi bác sĩ người Thụy Điển Heinz Leymann, nó đã trở thành đề tài nghiên cứu của những năm 1990 (dẫn theo tác giả Nguyễn Ngọc Anh, 2016) Thế nhưng, các nghiên cứu trong nước chưa có nhiều những nghiên cứu theo hướng nghiên cứu về hành vi bắt nạt tại nơi làm việc Về báo chí, có rất nhiều những bài báo viết về lý do bị bắt nạt tại công sở, về những dấu hiệu của kẻ bắt nạt công sở hay dấu

Trang 11

hiệu bản thân đã bị bắt nạt, có những bài báo sẽ tập trung viết về các giải pháp phòng chống lại tình trạng bị bắt nạt tại công sở Nhưng, đến nay, vẫn chưa có nhiều những công trình nghiên cứu về hiện tượng bắt nạt tại nơi làm việc và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người lao động trong môi trường có bắt nạt

Một nghiên cứu về mức độ chấp nhận bắt nạt tại nơi làm việc trên qui mô cả 6 châu lục được thực hiện năm 2013 của tác giả David Holman và cộng sự đã chỉ ra, Việt Nam là một trong quốc gia chấp nhận hành vi bắt nạt tại nơi làm việc như một hành vi thông thường Điều này đã phần nào lý giải vì sao, đến thời điểm hiện tại, có rất ít các nghiên cứu hay bài báo tại Việt Nam tập trung khảo sát, tìm hiểu về hành vi bắt nạt trong môi trường làm việc

Sinh viên trong thời đại hiện nay không chỉ dành thời gian cho việc học trên trường, mà đa số sinh viên dành thời gian để đi làm thêm và dần sống tự lập hơn Môi trường làm thêm của sinh viên vẫn là một dạng môi trường làm việc đúng nghĩa Do

đó, có thể có tình trạng bắt nạt diễn ra trong môi trường làm thêm của sinh viên

Đã có nhiều những luận văn tốt nghiệp, những thống kê do sinh viên thực hiện

về đề tài sinh viên với việc làm thêm Tuy nhiên, các nghiên cứu hay thống kê này chỉ tập trung vào lợi ích - tác hại của việc làm thêm đối với hiệu quả học tập của sinh viên Có rất nhiều những bài báo viết về đề tài sinh viên và việc làm thêm, nhưng nội dung chính vẫn xoay quanh những lợi ích - tác hại có thể có của việc đi làm đối với việc học của sinh viên Như vậy, tình trạng bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên đang thiếu hụt về mảng nghiên cứu, thống kê

Có ý kiến cho rằng: đi làm thêm của sinh viên là việc làm không chính thức, nếu sinh viên bị bắt nạt và không thể tiếp tục, có thể xin nghỉ tại nơi đó, không nhất thiết phải cần nghiên cứu về vấn đề này Thế nhưng, người nghiên cứu nhận ra rằng, việc sinh viên nghỉ làm tại nơi có hành vi bắt nạt đối với mình chỉ là giải pháp tạm thời,

vì tùy theo tính cách và mức độ của hành vi bắt nạt, mà hậu quả sẽ khác nhau Sẽ có những sinh viên dễ dàng vượt qua tác động của hành vi bắt nạt, nhưng ngược lại, có sinh viên sẽ bị tác động mạnh mẽ từ hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm và có sự thay

Trang 12

đổi sau khi bị bắt nạt (có nhiều nghiên cứu ngoài nước đã cho thấy hành vi bắt nạt tại nơi làm việc có tác động tiêu cực đến sức khỏe tinh thần của nạn nhân bị bắt nạt) Nhận thấy được một tình trạng đang diễn ra trong giới sinh viên và thiếu hụt các nghiên cứu khoa học về tình trạng này, xuất phát từ sự quan tâm của bản thân người

nghiên cứu, nên đề tài “Hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên một số

trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” được chọn thực hiện

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng sinh viên của một số trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bị bắt nạt tại nơi làm thêm Trên cơ sở đó một số kiến nghị nhằm hỗ trợ sinh viên hạn chế tình trạng bị bắt nạt tại nơi làm thêm

3 Đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm

3.2 Khách thể nghiên cứu:

Sinh viên có đi làm thêm hiện đang học tại 2 trường đại học: Khoa học Tự nhiên TpHCM và Đại học Sư phạm TpHCM

4 Giả thuyết nghiên cứu

thoảng bị bắt nạt tại nơi làm thêm

diện bắt nạt tâm lý của sinh viên

bị bắt nạt và công việc của sinh viên đó

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

5.2 Khảo sát thực trạng sinh viên của 2 trường Đại học Khoa học Tự nhiên

và Đại học Sư phạm TpHCM bị bắt nạt khi đi làm thêm Và đề xuất một số kiến nghị

hỗ trợ sinh viên hạn chế tình trạng bị bắt nạt khi đi làm thêm

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2018 đến đầu tháng 04/2019

Nghiên cứu khảo sát trên 247 sinh viên các năm 1, năm 2, năm 3 và năm 4 có đi làm thêm thuộc 2 trường trên địa bàn TPHCM là: Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Sư phạm

7 Phương pháp nghiên cứu

Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận có liên quan để xây dựng khung lý thuyết cho đề tài như: bắt nạt, các biểu hiện của bắt nạt, bị bắt nạt, người chứng kiến Bắt nạt tại nơi làm thêm, biểu hiện bắt nạt tại nơi làm thêm…

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Mục tiêu phương pháp: Đây là phương pháp chính của đề tài nhằm mục đích

khảo sát thực trạng bị bắt nạt khi đi làm thêm của sinh viên thuộc 2 trường đại học trên địa bàn thành phố

Trang 14

Đối tượng khảo sát: Sinh viên năm 1, 2, 3 và năm 4 thuộc 2 trường đại học Khoa

học Tự nhiên TpHCM và đại học Sư phạm TpHCM và có đi làm thêm

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn:

Mục tiêu phương pháp: Tìm hiểu cụ thể hơn về thực trạng bắt nạt sinh viên tại

nơi làm thêm và nguyên nhân dẫn đến cách phản ứng của nhóm sinh viên chứng kiến

vụ băt nạt

Đối tượng được phỏng vấn: Sinh viên tham gia khảo sát và có câu trả lời là chứng

kiến vụ bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm

7.2.3 Phương pháp thống kê toán học:

Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý thống kê như: tần số, tỉ lệ phần trăm, trung bình, phương sai, kiểm định T-test, kiểm định ANOVA,…làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI BẮT NẠT TẠI NƠI LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN

nó đã được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng châu Âu (Einarsen, 2011)

Hướng nghiên cứu đo lường vấn đề bắt nạt tại nơi làm việc:

Công trình nghiên cứu mang tên “Measuring workplace bullying” (Tạm dịch:

Đo lường về bắt nạt tại nơi làm việc) của tác giả Helen Cowie và cộng sự tiến hành

năm 2002 đã chỉ ra thực tế rằng, khó khăn trong nghiên cứu về bắt nạt trong các tổ chức là thiếu kỹ thuật đo lường thích hợp Nhóm tác giả đã xem xét các phương pháp nghiên cứu hiện tại đang được sử dụng để nghiên cứu về hành vi bắt nạt trong các tổ chức Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả chỉ ra rằng, phương pháp tiếp cận đa phương pháp (bao gồm cả nghiên cứu trường hợp) có thể là phương pháp nghiên cứu hữu ích cho các nhà nghiên cứu về tình trạng bắt nạt

Nghiên cứu “Workplace bullying: measurements and metrics to use in the

NHS” (Tạm dịch: Bắt nạt tại nơi làm việc: Các phép đo lường và số liệu để sử dụng

trong NHS) của nhóm tác giả Prof Jan Illing, Mr Neill Thompson, Dr Paul Crampton,

Mrs Charlotte Rothwell, Ms Amelia Kehoe, Dr Madeline Carter tiến hành vào vào

Trang 16

năm 2015 - 2016 đã cố gắng xác định hành vi bắt nạt tại nơi làm việc làm thế nào có thể tồn tại theo thời gian, từ đó chỉ ra các biện pháp để thay đổi thực trạng bắt nạt tại nơi làm việc và cung cấp số liệu có thể phục vụ cho các ngành khác tại Anh và quốc

tế

Hướng nghiên cứu về bản chất của bắt nạt và các yếu tố liên quan đến bắt nạt tại nơi làm việc

Trong một bài báo khoa học có tên “Automatic sources of aggression” (Tạm

dịch: Nguồn gốc tự động hóa của sự gây hấn) năm 2002 của tác giả Alexander

Todorov và cộng sự, đã nghiên cứu mối liên hệ đặc biệt giữa tính tự động trong vô thức được kích hoạt bởi các yếu tố môi trường và tính gây hấn ở con người

Một nghiên cứu khác của tác giả Jane Goodman và cộng sự vào năm 2007 có tên gọi “Defining workplace bullying behaviour professional lay definitions of

workplace bullying” (Tạm dịch: Xác định hành vi bắt nạt công sở chuyên nghiệp đặt

trong việc định nghĩa về hành vi bắt nạt công sở) Đây là cuộc nghiên cứu với mục

đích xác định một định nghĩa mới cho thuật ngữ bắt nạt tại nơi làm việc, các biểu hiện của chúng tại môi trường làm việc chuyên nghiệp và tác động tiêu cực của hành vi này đến nhân viên

Nghiên cứu “Workplace bullying and its relation with work characteristics,

personality, and post-traumatic stress symptoms: an integrated model” (Tạm dịch:

Bắt nạt tại nơi làm việc và mối quan hệ của nó với tính chất công việc, cá tính và triệu chứng cẳng thẳng sau chấn thương: một mô hình tích hợp) của nhóm tác giả

Cristian Balducci, Franco Fraccaroli và Wilmar B Schaufeli được tiến hành vào khoảng năm 2009 - 2010, đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt tại nơi làm việc với tính chất công việc, cá tính và các triệu chứng căng thẳng sau chấn thương Nghiên cứu này còn đưa ra một mô hình thử nghiệm tích hợp, trong đó, yếu

tố về môi trường và cá tính được xem là tiền đề của hành vi bắt nạt và triệu chứng stress sau chấn thương

Trang 17

Nhóm tác giả D.Zapf, Hole, Einarsen, Cooper đã cho xuất bản tập sách

“Bullying and Harassment in the Workplace” (Tạm dịch: Bắt nạt và Quấy rối tại nơi

làm việc) vào năm 2011 Đây là tập sách tập hợp các nghiên cứu của chính nhóm tác

giả về hành vi bắt nặt tại nơi làm việc tại các môi trường làm việc ở châu Âu và Bắc

Mỹ, các nghiên cứu về hành vi quấy rối tại nơi làm việc, các lý giải nguyên nhân của hành vi bắt nạt tại nơi làm việc, các bằng chứng thực nghiệm về hiện tượng bắt nạt tại nơi làm việc

Cuộc nghiên cứu “Acceptability of workplace bullying: A comparative study

on six continents” (Tạm dịch: Việc chấp nhận bắt nạt tại nơi làm việc: Một so sánh

trên sáu châu lục) được tiến hành bởi David Holman và 21 cộng sự khác năm 2013

Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi 6 châu lục để khám phá lần đầu tiên mối liên

hệ giữa yếu tố văn hóa và khả năng chấp nhận bắt nạt tại nơi làm việc Cuộc nghiên cứu cho thấy rằng nền văn hóa châu Á dễ chấp nhận hành vi bắt nạt liên quan đến công việc hơn là cụm quốc gia châu Phi, Mỹ Latinh và các quốc gia châu Phi thuộc vùng cận Sahara

Như vậy, các nghiên cứu về tình trạng bắt nạt tại nơi làm việc luôn thu hút sự quan tâm của số đông những nhà nghiên cứu Các nghiên cứu về bắt nạt không chỉ quan tâm tìm hiểu về tình trạng bắt nạt đang diễn ra trong các tổ chức làm việc, mà còn quan tâm đến tác động của nó đến đời sống tinh thần của nhân viên, mối quan hệ của nó với môi trường của tổ chức Một số nghiên cứu cố gắng tìm kiếm một phương pháp thích hợp để đo lường về hiện tượng này

Các nghiên cứu đã góp phần giúp người nghiên cứu có cái nhìn trọn vẹn hơn về hiện tượng bắt nạt tại nơi làm việc Trong đó, có một vài nghiên cứu đã giúp người nghiên cứu thêm ý tưởng cho đề tài này, chẳng hạn, việc hình thành định nghĩa mới trong đề tài, nhìn nhận các ảnh hưởng của bắt nạt đến phương diện tâm lý của nạn nhân

1.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam về hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm

Trang 18

Hiện nay, các nhà nghiên cứu trong nước đang đang dành nhiều sự quan tâm về bắt nạt, nhưng chủ yếu là hướng nghiên cứu hiện tượng bắt nạt diễn ra trong môi trường học đường

Hướng nghiên cứu bắt nạt xảy ra trong học đường

Nguyễn Thị Nga ( 2011) với luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu hiện tượng bị bắt nạt

ở học sinh phổ thông”, được tiến hành trên học sinh cả 3 cấp học từ tiểu học đến trung học phổ thông Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh trung học phổ thông bị bắt nạt chiếm tỉ lệ khá lớn, và hình thức biểu hiện lẫn mức độ của hiện tượng bị bắt nạt thay đổi theo từng độ tuổi, cấp học

Nguyễn Thị Duyên với đề tài “Học sinh bắt nạt học sinh: Thực trạng và giải pháp” được tiến hành trong vòng 1.5 năm trên học sinh cấp 2 Kết quả nghiên cứu tìm hiểu mức độ và hình thức của hành vi bắt nạt học sinh; địa điểm các em bị bắt nạt

và cảm xúc - thái độ - phản ứng của các em khi đối diện với hành vi bắt nạt Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Duyên “Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt ở học sinh phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, được tiến hành trong vòng 6 tháng (từ 09/2011 đến 02/2012) trên khách thể nghiên cứu là

303 học sinh từ lớp 6 đến lớp 12 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Nghiên cứu cho thấy hiện tượng bắt nạt bao gồm cả bắt nạt và bị bắt nạt có tương quan với nhân cách học sinh, có sự khác nhau giữa nhân cách thủ phạm và nhân cách học sinh Nghiên cứu này không dừng lại ở mức độ mô tả thực trạng mà bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về bắt nạt thông qua tìm hiểu mối liên hệ giữ bắt nạt với đặc điểm nhân cách

Trần Văn Công và cộng sự (2015) tìm hiểu mối quan hệ giữa bắt nạt trực tuyến

và cách ứng phó của học sinh trung học khi các em bị bắt nạt trực tuyến được trình bày trong bài báo khoa học “Chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực tuyến” Nghiên cứu được thực hiện trên 736 học sinh của 8 trường THCS và THPT ở Hà Nội,

Hà Nam và Hải Dương Kết quả cho thấy 183 học sinh (chiếm 24% tổng số khách thể nghiên cứu) là nạn nhân của ít nhất một hình thức bắt nạt trực tuyến Mức độ và hình thức bị bắt nạt ở nạn nhân có sự khác biệt xét về mặt giới tính, khu vực sống, độ

Trang 19

tuổi và cấp học Nạn nhân thường ít chia sẻ việc mình bị bắt nạt, và lảng tránh vấn đề này, tuy vậy các em nhận thức được sự nghiêm trọng của bắt nạt trực tuyến, coi đó không phải chuyện bình thường chỉ xảy ra trên mạng.

Lê Thị Hải Hà và cộng sự ( 2016) với nghiên cứu “Giá trị và độ tin cậy của thang đo bị bắt nạt học đường và qua mạng: Kết quả nghiên cứu với học sinh đô thị

Hà Nội và Hải Dương” Nghiên cứu khảo sát bằng bảng hỏi tự điền với 1.424 học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học ở Hà Nội và Hải Dương năm 2014, bảng hỏi được tham khảo từ bộ câu hỏi của Olweus và Ybarra Kết quả khẳng định bảng hỏi đảm bảo chất lượng

Trần Văn Công (2017) thực hiện nghiên cứu “Thực trạng bắt nạt học sinh ở Việt Nam” trên 955 học sinh của 7 trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn nội và ngoại thành Hà Nội, độ tuổi trung bình là 11,3 Kết quả cho thấy 344 học sinh (chiếm 36% tổng số khách thể nghiên cứu) thường xuyên bị bắt nạt bởi ít nhất một loại hình Trong đó, có 122 em (chiếm 12,8% tổng số khách thể nghiên cứu) bị bắt nạt bởi 2 đến 5 hình thức Đề tài cũng nêu ra một số yếu tố có ý nghĩa dự đoán mức

độ học sinh khi bị bắt nạt ở từng loại hình khác nhau

Tóm lại, hướng nghiên cứu về bắt nạt học đường tập trung nghiên cứu về mức

độ bị bắt nạt, hình thức biểu hiện của bắt nạt, phản ứng với hành vi bắt nạt, mối liên

hệ giữa hành vi bắt nạt với nhân cách học sinh, đã cung cấp một số hiểu biết về bắt nạt học đường về lý luận và thực trạng bắt nạt học đường hiện nay Những nghiên cứu này cũng giúp người nghiên cứu tham khảo về cơ sở lý luận và một số biểu hiện của bắt nạt để xây dựng cơ sở lý luận về bắt nạt nói chung cho đề tài, đồng thời giúp tham khảo ý tưởng để soạn thang đo về bắt nạt tại nơi làm thêm

Hướng nghiên cứu về bắt nạt công sở, nơi làm việc, làm thêm

Khi tìm hiểu hướng nghiên cứu về bắt nạt tại nơi làm việc hoặc nơi làm thêm, trong giới hạn tìm hiểu, người nghiên cứu chưa thấy nhiều nghiên cứu một cách bài bản về vấn đề này trong nước Mà chỉ tìm thấy một số kết quả là những bài viết liên quan đến bắt nạt công sở Điển hình như: Nguyễn Thị Ngọc Anh (2016) “Workplace

Trang 20

Bullying (Bắt nạt công sở ) - Liệu bạn có đủ can đảm để làm điều đúng?” Trong bài viết này, tác giả trình bày những lĩnh vực nghề nghiệp hay xảy ra bắt nạt, khái niệm bắt nạt công sở, các hình thức của bắt nạt công sở, đặc điểm của bắt nạt cộng sở, đặc điểm của nạn nhân bị bắt nạt công sở, định nghĩa chủ thể bắt nạt, nguyên nhân gây bắt nạt công sở, ảnh hưởng của bắt nạt công sở và đối phó với bắt nạt công sở

Ngoài ra, khi tìm kiếm trên google với từ khóa “ bắt nạt nơi làm việc ” người nghiên cứu tìm được 1.020 kết quả bài viết về vấn đề này Các bài viết dưới cung cấp nhiều thông tin, hiểu biết liên quan đến bắt nạt tại nơi làm việc, công sở Điển hình như:

Bài viết “Những dấu hiệu bắt nạt nơi công sở” trên trang NCBlog – NanaPet Community Blog (2015) đã nêu khái niệm bắt nạt nơi công sở, nêu 20 dấu hiệu chung cho biết bắt nạt đang diễn ra tại nơi làm việc, 11 dấu hiệu công khai cho thấy bắt nạt đang diễn ra rõ ràng hơn

Báo Dân trí có bài đăng ngày 12/04/2008 với tựa đề “Bạn đang bị bắt nạt nơi công sở?” đã chỉ ra tác hại của việc bị bắt nạt nơi công sở và 10 dấu hiệu chứng tỏ một các nhân bị bắt nạt tại nơi làm việc của họ

Bài đăng của báo Thanh niên ngày 2/12/2018 có tựa đề “Nạn nhân của baọ lực, lạm dụng dễ bị đau tim, đột quỵ” đã đề cập đến kết quả của một cuộc nghiên cứu đăng trên chuyên san European Heart Journal Theo đó, bài báo viết rằng “nếu loại

bỏ được tình trạng bị bắt nạt tại nơi làm việc có thể giúp chúng ta tránh được 5% nguy

cơ mắc bệnh tim”

Lê Thương (2008) trong bài viết tiêu đề “ Kiệt sức nghề nghiệp” đã chỉ ra mối liên hệ giữa tình trạng căng thẳng nghề nghiệp với bắt nạt công sở “bạn đang bị bắt nạt công sở, bạn cảm thấy bị tổn thương bởi các cộng sự hoặc sếp quản lý quá khắt khe Điều này có thể góp phần vào căng thẳng nghề nghiệp”

Như vậy, có thể thấy bắt nạt tại nơi làm việc là một lĩnh vực được đề cập đến nhiều dưới dạng những thông tin phổ thông, nhưng chưa phổ biến các nghiên cứu bài

Trang 21

bản khoa học về vấn đề này ở nước ta, nó cần phải được quan tâm hơn để bổ sung những kết quả nghiên cứu mang tính khoa học về vấn đề này ở nước ta

Hướng nghiên cứu về bắt nạt trên khách thể là sinh viên

Nguyễn Thị Hường ( 2014) với luận văn “ Tìm hiểu thực trạng sinh viên nữ bị bạo hành” tìm hiểu trên 250 sinh viên nữ ở hai trường cao đẳng, đại học đã cho kết quả: tỷ lệ sinh viên bị bạo hành tương đối cao Sinh viên bị bạo hành nhiều nhất là bạo hành về tinh thần, sau đó là bạo hành về thể chất Bạo hành về tình dục và bạo hành về kinh tế có tỷ lệ thấp hơn Sinh viên có nguy cơ bị bạo hành thể chất, tinh thần, tình dục là nhóm sinh viên sống cùng người yêu/ chồng, sống ở kí túc xá hoặc nhà trọ, kết hôn, có người yêu hơn nhóm sinh viên sống cùng cha mẹ, chị em ruột, bạn bè, sống trong nhà của cha mẹ

Bài viết của tác giả Âu Việt (2018) “Sinh viên đi làm thêm: Lương đã thấp rồi

còn dễ bị bắt nạt vì thiếu kinh nghiệm sống” đăng trên trang docbao.vn, đã đề cập đến

những tình huống mà sinh viên đi làm thêm bị o ép, bắt nạt về lương bổng, về cách ứng xử với đồng nghiệp, vấn đề thiếu kinh nghiệm dẫn đến bị bắt nạt Những bài viết này là nguồn tư liệu để giúp người nghiên cứu có những ý tưởng nghiên cứu cụ thể

về những vấn đề liên quan đến việc sinh viên bị bắt nạt tại nơi làm thêm cho đề tài này

Tóm lại, trong giới hạn tìm hiểu của người nghiên cứu chưa thấy có nhiều nghiên cứu về bắt nạt ở sinh viên, đặc biệt là bắt nạt tại nơi làm thêm Do đó, đề tài nghiên cứu tập trung vào vấn đề là một hướng nghiên cứu mới và cần thiết ở nước ta để khái quát cơ sở lý luận và cung cấp kêt quả thực trạng bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên để làm phong phú thêm kết quả nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này

thêm của sinh viên

1.2.1 Lý luận về hành vi

1.2.1.1 Khái niệm về hành vi

Trang 22

Hiện nay, thuật ngữ hành vi chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và dứt khoát Tùy vào từng trường hợp sử dụng mà thuật ngữ hành vi, hoạt động, cách ứng xử, cách phản ứng được dùng thay thế nhau

Theo tác giả Hoàng Phê (2000) thì hành vi được định nghĩa là: “là toàn bộ nói chung những phản ứng hay cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài, có thể quan sát được của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” Như vậy, tác giả Hoàng Phê nhìn nhận hành vi là cách ứng xử được thể hiện ra bên ngoài, diễn ra trong một hoàn cảnh cụ thể và người khác có thể quan sát được hành vi đó

Theo tác giả Vũ Dũng (2000) thì hành vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống

và môi trường xung quanh, do tính tích cực bên ngoài (kích thích) và bên trong (nhu cầu) thúc đẩy

Trong cách nhìn nhận của trường phái Tâm lý học hành vi do nhà tâm lý học người Mỹ J.B.Watson khởi xướng, thì hành vi được xem là tổng số các phản ứng (Response) của cơ thể đáp lại các kích thích (Stimulus) từ môi trường bên ngoài Trường phái tâm lý học hành vi còn nổi tiếng với công thức về mối quan hệ tương ứng giữa hành vi và môi trường sống : S → R Về sau, nhà tâm lý học Skinner đã bổ sung thêm vào công thức trên một yếu tố C (Consequence), là kết quả của hành vi được thực hiện Lúc này công thức được phát triển thành: S → R → C Như vậy, tâm

lý học hành vi đã máy móc hóa hành vi của con người, xem nó đơn thuần là cách phản ứng của con người trước các tác nhân của môi trường, mà không xem xét đến các yếu tố bên trong của tâm lý người

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn (2014), khi phân tích sơ đồ cấu trúc hoạt động của A.N.Leontiev, đã chỉ ra hoạt động cụ thể được hợp thành bởi nhiều hành động Nói cách khác, một hoạt động được thực hiện bởi một chuỗi các hành động Mỗi phương tiện sẽ qui định cách thức hành động khác nhau ứng với những thao tác cụ thể khác nhau Có hai dạng phương tiện chính ứng với thao tác của con người là vật chật và ngôn từ Vì vậy, hành động được cấu tạo từ hai dạng chính là hoạt động với vật chất

và hoạt động với ngôn từ

Trang 23

Theo tác giả Nguyễn Thị Diễm My (2014) thì hành vi đươc định nghĩa “là mặt bên ngoài của hoạt động, bao gồm một chuỗi các hành động được biểu hiện ra bên ngoài nhưng lại thống nhất với cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách, là sự thống nhất giữa hình thức bên ngoài và nội dung tâm lý bên trong Các hành động cấu thành nên hành vi tồn tại dưới hai hình thức là hành động vật chất và hành động ngôn từ Hành vi là biểu hiện của một đời sống tâm lý bên trong và được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách” Như vậy, tác giả Nguyễn Thị Diễm My nhìn nhận hành vi là mặt bên ngoài của hoạt động, có thể quan sát được và có sự thống nhất với nội dung tâm lý bên trong của con người

Sau khi tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau về hành vi, trong phạm vi đề tài này, người nghiên cứu đồng ý với cách định nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Diễm

My về hành vi và chọn cách định nghĩa này cho định nghĩa về hành vi được sử dụng trong đề tài này

Như vậy, định nghĩa hành vi trong phạm vi đề tài này như sau: “Hành vi là mặt

bên ngoài của hoạt động, bao gồm một chuỗi các hành động được biểu hiện ra bên ngoài nhưng lại thống nhất với cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách, là

sự thống nhất giữa hình thức bên ngoài và nội dung tâm lý bên trong Các hành động cấu thành nên hành vi tồn tại dưới hai hình thức là hành động vật chất và hành động ngôn từ Hành vi là biểu hiện của một đời sống tâm lý bên trong và được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách”

1.2.1.2 Phân loại hành vi:

Theo tác giả Nguyễn Thị Diễm My (2014), có nhiều cách phân loại hành vi

Phân loai theo khía cạnh giá trị thì hành vi được chia thành hai loại sau:

- Hành vi tiêu cực: Theo tác giả Nguyễn Thị Diễm My, hành vi tiêu cực xuất hiện trong các hành động đối lập với những nhu cầu của cá nhân hoặc các nhóm xã hội,

do sự chối bỏ hoặc chống lại các quan hệ vốn đã hình thành trong tập thể

Trang 24

- Hành vi tích cực: Là hành vi chủ thể có thể làm được và mong muốn làm điều

đó Hành vi tích cực được thực hiện cũng phải đáp ứng sự mong đợi của người khác

Phân loại hành vi theo tiêu tính chất của hành vi:

- Hành vi công khai: Là hành vi được chủ thể tiến hành trong một môi trường cụ thể, trước sự chứng kiến của người khác

- Hành vi che giấu: Là hành vi được chủ thể thực hiện mà không để người khác chứng kiến

Phân loại hành vi theo phạm vi tác động của hành vi:

- Hành vi hướng vào chính mình: Là những hành vi ảnh hưởng trực tiếp lên chính chủ thể

- Hành vi hướng đến người khác: Là những hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến những mối quan hệ xung quanh, thông qua đó tác động trở lại chính chủ thể

Phân loại hành vi theo chuẩn mực hành vi:

- Hành vi hợp chuẩn: là hành vi phù hợp với chuẩn mực của một nhóm, một cộng đồng xã hội; cũng có thể hành vi hợp chuẩn là hành vi mà mọi người mong đợi từ một cá nhân nào đó

- Hành vi lệch chuẩn: Là những hành vi không đáp ứng được sự mong đợi của một nhóm người nào đó và bị lệch so với chuẩn mực của một nhóm, một cộng đồng

Theo tác giả Nguyễn Thị Duyên (2016) thì: “Bắt nạt là hành vi hay lời nói nào

đó lặp đi lại một cách cố tình gây tổn thương về cơ thể hoặc tâm lý của người khác”

Trang 25

Theo tác giả Milton (1989): “Bắt nạt là một hành động lặp đi lặp lại một cách hiếu chiến để cố ý làm tổn thương về tinh thần hoặc thể xác cho người khác Bắt nạt

là đặc trưng của một cá nhân hành xử theo một cách nào đó để đặt quyền lực trên người khác”

Trong tiếng Anh, bắt nạt được có từ mang nghĩa tương đương là “bullying” Theo trang web dictionary.cambrigde.org, khái niệm “bullying” được định nghĩa là

“Ai đó làm đau (về thể lý) hoặc gây tổn thương (về tinh thần) cho người khác, thường diễn ra trong 1 khoảng thời gian và thường bắt ép người khác làm việc gì đó mà người

đó không muốn làm)”

Trong cuốn “BullingCompendium - a”, thì “Bắt nạt là hành vi gây tổn thương một cách cố ý Nó có thể là về thể chất hoặc tâm lý Nó thường được lặp đi lặp lại và được đặc trưng bởi một sự bất bình đẳng về quyền lực, vì vậy nó gây ra khó khăn đối với các nạn nhân trong việc tự bảo vệ mình”

Theo tổ chức Act to Change “Bullying (bắt nạt) là sự gây hấn hay hành vi làm hại nhằm vào một người với mục đích tạo ra cảm giác bị cô lập Việc bắt nạt có thể xảy ra dưới nhiều hình thức và với các loại hành vi phổ biến”

Như vậy, khi đề cập đến khái niệm bắt nạt, các định nghĩa trên thường nhắc đến các yếu tố sau:

Thứ nhất, để thực hiện hành vi bắt nạt, thì quyền lực đã bị lạm dụng bởi cá nhân

nào đó

Thứ hai, mục đích của hành vi bắt nạt là gây tổn thương về mặt tâm lý hay làm

đau về thể lý của đối tượng mà chủ thể thực hiện hành vi bắt nạt hướng đến

Thứ ba, tần suất diễn ra hành vi bắt nạt là lặp đi lặp lại và kéo dài trong một

khoảng thời gian nhất định

Từ sự phân tích các định nghĩa khác nhau về bắt nạt, kết hợp với định nghĩa về

hành vi nói chung, trong phạm vi đề tài này, người nghiên cứu đưa ra định nghĩa về

Trang 26

bắt nạt như sau: Bắt nạt là hành vi xuất phát từ động cơ nhất định, thể hiện ra

bên ngoài bằng hành động vật chất hay hành động ngôn từ, nhằm gây tổn thương tâm lý và thể lý của người khác, được đặc trưng bởi sự mất cân bằng quyền lực, vì vậy nó gây khó khăn cho người khác trong việc tự bảo vệ mình

Liên quan đến khái niệm hành vi bắt nạt, cần làm rõ các khái niệm như chủ thể bắt nạt, người bị bắt nạt và người chứng kiến bắt nạt

b Chủ thể thực hiện hành vi bắt nạt:

Theo định nghĩa về hành vi bắt nạt ở mục trên, khái niệm chủ thể thực hiện hành

vi bắt nạt được hiểu là một cá nhân hoặc nhóm người lạm dụng quyền lực với một

động cơ nhất định, để thực hiện hành động vật chất hay hành động ngôn từ nhằm tổn thương người khác, gây khó khăn cho người khác trong việc tự bảo

vệ mình

c Người bị bắt nạt:

Khái niệm người bị bắt nạt:

Khái niệm người bị bắt nạt, trong đề tài này, được hiểu là người gặp khó khăn

trong việc tự bảo vệ mình trước hành động vật chất hay hành động ngôn từ của người bắt nạt, dẫn đến bị tổn thương về tâm lý hay thể lý

Đặc điểm của người bị bắt nạt:

Theo tác giả Nguyễn Thị Nga (2010), thì bị bắt nạt có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về giới: Tác giả chỉ ra rằng có sự khác biệt về giới trong hiện tượng bị

bắt nạt Nữ giới thường bị bắt nạt ẩn nhiều nam giới Trong khi đó, nam giới bị bắt nạt về thể chất nhiều hơn nữ

Thứ hai, về độ tuổi: Tác giả cho thấy rằng tỷ lệ trẻ em bị bắt nạt giảm đi theo độ

tuổi Trẻ càng lớn càng ít bị bắt nạt Học sinh bị bắt nạt trong quá trình đi học bởi các học sinh học lớp lớn hơn

Trang 27

Thứ ba, về gia đình: Nhiều nghiên cứu chỉ ra những trẻ bị bắt nạt thường có cha

mẹ mang phong cách giáo dục độc đoán Những trẻ gái có xu hướng giao tiếp ít với các thành viên khác trong gia đình thường bị bắt nạt nhiều hơn là đi bắt nạt Ngoài

ra, gia đình của trẻ bị bắt nạt thường có rắc rối trong cấu trúc gia đình

Người nghiên cứu đồng ý với góc nhìn nhận về đặc điểm bị bắt nạt của tác giả Nguyễn Thị Nga, tuy nhiên, để phù hợp hơn với nội dung nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu đặc biệt chú ý đến đặc điểm thứ nhất, về giới Không chỉ trong môi trường học đường, ngay cả môi trường làm việc, nữ giới thường bị bắt nạt về lời nói trực tiếp

và bắt nạt qua mạng nhiều hơn nam giới

Ngoài ra, theo tổ chức Act to Change có một số đặc điểm khiến một người có nguy cơ trở thành nạn nhân của bắt nạt:

+ Có khác biệt so với bạn bè đồng trang lứa về vẻ bề ngoài, tôn giáo và văn hóa, người mới gia nhập nhóm, tập thể, không có khả năng kinh tế…

+ Có thể trạng yếu hay không thể tự bảo vệ được bản thân

+ Bị trầm cảm, lo âu, hay có ý thức tự tôn về bản thân thấp

+ Ít được quan tâm hơn những người khác và có ít bạn bè

+ Không hòa nhập tốt với những người khác, bị coi là dễ khiến người khác bực bội hay nổi cáu, hay gây hấn với người khác để được chú ý

d Người chứng kiến hành vi bắt nạt

Khái niệm người chứng kiến hành vi bắt nạt

Trong tiếng Anh, người chứng kiến vụ bắt nạt có từ tương đương là “bystander

in bullying”

Theo từ điển dictionary.cambridge.org, thì bystander được hiểu là: Một người đứng gần và xem điều gì đó diễn ra nhưng không tham gia vào đó

Trang 28

Như vậy, sau khi tham khảo định nghĩa trên về người chứng kiến vụ bắt nạt,

trong đề tài này, khái niệm người chứng kiến vụ bắt nạt có thể được hiểu là: Người

quan sát vụ bắt nạt và không tham gia vào cuộc bắt nạt

Người chứng kiến hành vi bắt nạt được người nghiên cứu xem như “phe thứ ba” trong cuộc bắt nạt giữa người bắt nạt và người bị bắt nạt Người chứng kiến có thể biết đến cuộc bắt nạt thông qua các trường hợp sau:

Một là, người chứng kiến gián tiếp nghe người khác kể lại vụ bắt nạt Trong trường hợp này, họ chỉ nắm về thông tin của vụ bắt nạt và thông tin này có thể bị nhiễu, do họ chỉ được nghe kể lại

Hai là, người chứng kiến có mặt ngay lúc vụ bắt nạt diễn ra, nghĩa là họ thấy diễn biến của vụ bắt nạt, nhưng nguyên nhân hay các chi tiết liên quan có thể họ không biết

Ba là, người chứng kiến trực tiếp biết đến các chi tiết liên quan đến vụ bắt nạt

và có mặt lúc vụ bắt nạt diễn ra

Vai trò của người chứng kiến bắt nạt

Theo tài liệu của tổ chức Act to change thì khi thấy ai đó đang bị bắt nạt thì người chứng kiến cần giúp đỡ họ với những việc làm cụ thể như sau:

+ Làm bạn với người đó: như nói chuyện, tỏ ra thân thiện và ủng hộ người bị bắt nạt, cho họ biết rằng bạn biết mức độ nghiêm trọng của vấn đề và bạn có mặt tại đây để sẵn sàng giúp họ, hỏi về nhu cầu giúp đỡ của họ

+ Giúp họ lánh đi: trong trường hợp việc can thiệp là an toàn, bạn hãy giúp người

bị bắt nạt lánh khỏi tình huống này bằng cách đánh lạc hướng hay cho họ lý

do để rời khỏi hiện trường

+ Không làm khán giả xem bắt nạt: Có tiếng nói hoặc hành vi cho kẻ bắt nạt biết rằng những gì người đó đang làm không phải trò đùa và không chấp nhận được, ngăn chặn hành vi bắt nạt chứ không cổ vũ, ủng hộ bắt nạt bằng cách có thể rời đi hay lờ hành động đó đi và vì thế kẻ bắt nạt sẽ không có khán giả

Trang 29

+ Hãy làm gương tốt: Giúp chống lại nạn bắt nạt bằng cách tham gia vào các hoạt động và dự án chống việc bắt nạt

+ Kể với những người đáng tin tưởng: Báo cáo việc bắt nạt cho những người đáng tin cậy và có khả năng hỗ trợ giải quyết vấn đề

Thứ hai, về giới tính: bắt nạt xuất hiện ở cả nam lẫn nữ Tuy nhiên, nữ giới thường chịu hành vi bắt nạt về lời nói, trong khi nam giới thường chịu các hành vi bắt nạt về thể chất hơn

Thứ ba, về yếu tố hành vi: Những đứa trẻ đi bắt nạt người khác thường có xu hướng quấy rối và sử dụng các kiểu bạo lực khác nhau để dành lấy vị thế xã hội so với bạn bè cùng trang lứa Bên cạnh đó, những đứa trẻ đi bắt nạt thường có xu hướng chỉ huy nhiều hơn bạn bề cùng trang lứa và có cảm giác tự mãn hơn nhiều

Thứ tư, về yếu tố gia đình: Những đứa trẻ đi bắt nạt người khác thường đến từ các gia đình thiếu sự có mặt của người bố và ít có sự quan tâm chăm sóc về mặt tâm

lý từ gia đình mình

Mặc dù, những đặc điểm bắt nạt này được khái quát trên khách thể là học sinh Nhưng trong phạm vi đề tài nghiên cứu về hành vi bắt nạt diễn ra trên đối tượng là sinh viên, thì các kiến thức trên về đặc điểm của hành vi bắt nạt cũng có thể được tham khảo phần nào

Để phù hợp hơn với nội dung nghiên cứu của đề tài này, người nghiên cứu xin được chọn lọc các đặc điểm của hành vi bắt nạt để phù hợp hơn với đề tài nghiên cứu trên khách thể nghiên cứu là sinh viên đi làm thêm

Trang 30

Thứ nhất, về giới tính Người nghiên cứu đồng ý rằng bắt nạt có thể diễn ra ở cả nam lẫn nữ Tuy nhiên, hình thức bắt nạt diễn ra ở hai giới này có thể khác nhau Nữ giới có thể gặp phải các hình thức bắt nạt qua lời nói, qua truyền thông nhiều hơn nam giới Và nam giới có thể gặp nhiều hơn các kiểu bắt nạt về thể chất như đánh đấm, các tác động mạnh dẫn đến sự tổn thương về cơ thể nhiều hơn nữ

Thứ hai, về hành vi Người nghiên cứu đồng ý với tác giả Nguyễn Thị Nga rằng, người đi bắt nạt người khác thường có xu hướng chỉ huy nhiều hơn so với người khác,

và họ thường sử dụng hành vi quấy rối nào đó để dành lấy địa vị xã hội cao hơn người khác trong môi trường mà họ sinh sống hay làm việc Đây là đặc điểm điển hình dựa trên khái niệm của bắt nạt đó là sự mất cân bằng về quyền lực

Các đặc điểm liên quan đến độ tuổi và gia đình, người nghiên cứu không đề cập đến trong đề tài này vì chưa phải là mục tiêu tìm hiểu trong nghiên cứu này Tuy nhiên, người nghiên cứu cùng quan điểm rằng: Yếu tố gia đình cũng có tác động lớn đến xu hướng hành vi đi bắt nạt kẻ khác

1.2.2.3 Hình thức của hành vi bắt nạt

Bắt nạt diễn ra với rất nhiều hình thức khác nhau Nhưng các kiểu hình thức bắt nạt thường gặp như:

Bắt nạt bên ngoài: Đây là kiểu bắt nạt công khai, thể hiện ra bên ngoài, thường

là các kiểu tác động đến thể chất của người bị bắt nạt Bao gồm các hành động đánh đấm, ngoéo tay chân, cố ý làm đau người khác, cố ý làm người khác vấp ngã,…

Bắt nạt ẩn: Đây là kiểu bắt nạt tinh vi, không dễ gì để người bên ngoài có thể

quan sát và nhận biết, trừ người bắt nạt và người bị bắt nạt Bắt nạt ẩn bao gồm các kiểu bắt nạt dùng lời nói trực tiếp như trêu chọc, xúc phạm, bình phẩm, tạo tin đồn, thậm chí là hăm dọa người bị bắt nạt; hoặc người bắt nạt dùng mạng xã hội như facebook để trêu chọc, xúc phạm, mỉa mai người khác (Dẫn theo Time for Tolerance, 2008)

Trang 31

Theo cách phân loại các hình thức bắt nạt theo nguồn tài liệu của tổ chức Act to Change thì có các hình thức bắt nạt như:

+ Bắt nạt bằng lời nói là việc nói hay viết những điều độc địa Những việc này bao

gồm: Trêu chọc, chửi bới, hay chế nhạo; Bình luận về tình dục không thích hợp; Ðe dọa gây hại

+ Bắt nạt về mặt xã hội là làm tổn hại đến danh dự hay các mối quan hệ của ai đó

Những việc này bao gồm: Chủ ý gạt một người ra ngoài; Bảo người khác không chơi với một người nào đó; Truyền tin đồn về một người nào đó; Chủ ý làm một người nào đó phải xấu hổ trước đám đông

+ Bắt nạt bằng vũ lực là gây đau đớn lên cơ thể một người hay giật đồ của người đó

Bao gồm: Ðấm, đá hay cấu véo; Nhổ nước bọt; Ngáng chân cho ngã hay xô đẩy; Lấy hay làm hỏng đồ của người khác

+ Cyberbullying (bắt nạt trực tuyến trên mạng) là việc bắt nạt được thực hiện trực

tuyến thông qua các phương tiện truyền thông xã hội, tin nhắn, trò chuyện, và các trang web Những việc này bao gồm: Các tin nhắn hay email không mong muốn hay

có nội dung độc địa; Những lời đồn gửi qua email hay đăng trên các trang mạng xã hội; Đăng các hình ảnh, video, trang web phản cảm, hay các trang hồ sơ giả Cyberbullying (bắt nạt trực tuyến) rất khác biệt vì các tin nhắn và hình ảnh có thể được đăng nặc danh và được phát tán rất nhanh chóng đến một số lượng lớn người xem

1.2.3 Lý luận về hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên

1.2.3.1 Khái niệm hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên

a Khái niệm về hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên

Bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm được người nghiên cứu nhìn nhận như bắt nạt tại nơi làm việc (từ tiếng Anh có nghĩa tương đương là “workplace bullying”)

Hiện nay, có khá nhiều cách hiểu khác nhau về bắt nạt công sở

Trang 32

Tổ chức ACAS (2014) nhìn nhận bắt nạt tại nơi làm việc như là: Hành vi tấn công, đe dọa, xúc phạm hoặc lạm dụng quyền lực thông qua các phương tiện nhằm làm suy yếu, làm nhục, chê bai hoặc gây thương tích cho người nhận lấy những hành

vi ấy

The Workplace Bullying Institute định nghĩa bắt nạt (bullying) như sau: “Những

hành động tiêu cực, ảnh hưởng đến sức khỏe và lặp đi lặp lại đối với một hay nhiều người (nạn nhân) bởi một hay nhiều người khác dưới nhiều hình thức khác nhau: lạm dụng lời nói, hành động mang tính xúc phạm như đe dọa, chế giễu, áp đảo hoặc xem vào công việc, bỏ việc, những hành động này ngăn chặn người khác hoàn thành công

việc của mình” (Dẫn theo NCBlog – NanaPet Community Blog)

Theo nhóm tác gỉa Einarsen, Hoel, Zapf and Cooper (2003) trong nghiên cứu

“Bullying and Emotional in the workplace”, thì bắt nạt tại nơi làm việc là quấy rối, xúc phạm hoặc loại trừ xã hội hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến công việc của nạn nhân

bị bắt nạt Để áp dụng bắt nạt cho một hoạt động, tương tác hoặc quy trình cụ thể, hành vi bắt nạt phải xảy ra liên tục và thường xuyên (ví dụ: hàng tuần) và trong khoảng thời gian (ví dụ: khoảng sáu tháng) Bắt nạt là một quá trình leo thang và kết quả khiến người bị đối diện với hành vi bắt nạt kết thúc ở vị trí thấp kém hơn và trở thành mục tiêu của các hành vi xã hội tiêu cực có hệ thống Xung đột và bắt nạt khác nhau ở điểm: xung đột xảy ra là một sự kiên biệt lập, khi cả hai bên xảy ra xung đột đều có sức mạnh hay quyền lực ngang nhau

Như vậy, sau khi tham khảo các định nghĩa về bắt nạt công sở hay bắt nạt tại nơi làm việc, có thể thấy, bắt nạt tại nơi làm việc có các đặc điểm của bắt nạt thông thường, bao gồm tính chủ đích được thực hiện bởi cá nhân hay nhóm người đã lạm dụng quyền lực để đàn áp hay gây tổn thương ở người khác và tần suất lặp lại là thường xuyên, kéo dài Nhưng bắt nạt tại nơi làm việc diễn ra trong một môi trường

cụ thể hơn, đó là môi trường làm việc

Trong đề tài này, hành vi bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm được hiểu như sau:

Bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm là hành vi xuất phát từ động cơ nhất định, thể

Trang 33

hiện ra bên ngoài bằng hành động vật chất hay hành động ngôn từ trong môi trường làm thêm, nhằm gây tổn thương tâm lý và thể lý của sinh viên, được đặc trưng bởi sự mất cân bằng quyền lực, vì vậy nó gây khó khăn cho sinh viên trong việc tự bảo vệ mình và gây ảnh hưởng đến công việc của sinh viên đó

b Chủ thể bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên

Theo định nghĩa về hành vi bắt nạt ở mục trên, khái niệm chủ thể thực hiện hành

vi bắt nạt được hiểu là một cá nhân hoặc nhóm người lạm dụng quyền lực tại môi

trường làm thêm với một động cơ nhất định, để thực hiện hành động vật chất hay hành động ngôn từ nhằm tổn thương sinh viên, gây khó khăn cho sinh viên trong việc tự bảo vệ mình

c Sinh viên bị bắt nạt tại nơi làm thêm

Khái niệm sinh viên bị bắt nạt tại nơi làm thêm

Trong phạm vi đề tài này, dựa trên phần lý luận về người bị bắt nạt, sinh viên bị

bắt nạt tại nơi làm thêm được hiểu là “sinh viên gặp khó khăn trong việc tự bảo vệ

mình tại nơi làm thêm trước những hành động hay lời nói được thực hiện một cách dai dẳng, dẫn đến sinh viên bị tổn thương về tâm lý hay thể lý”

Đặc điểm của sinh viên bị bắt nạt tại nơi làm thêm

Kế thừa phần nội dung trong phần “Đặc điểm của người bị bắt nạt”, trong phần này, người nghiên cứu xin đưa ra một số các đặc điểm của sinh viên dễ bị bắt nạt khi

đi làm thêm sau khi có sự tham khảo các tài liệu có liên quan đến bắt nạt, kết hợp với quan sát cá nhân của người nghiên cứu:

Thứ nhất, đặc điểm liên quan về giới: Sinh viên là nữ giới khi đi làm thêm dễ

trở thành đối tượng bị bắt nạt bằng lời nói, chịu tác động tiêu cực của lời nói gây hấn hay nhận xét mỉa mai của người khác tại nơi làm thêm Sinh viên thuộc giới thứ 3 khi

đi làm thêm dễ trở thành đối tượng bị công kích, trêu chọc nhiều hơn do khác biệt về giới

Trang 34

Thứ hai, đặc điểm liên quan đến tính cách: Sinh viên có tính cách nhút nhát, quá

hiền lành tại nơi làm thêm hoặc có tính cách trầm, ít nói cũng dễ trở thành mục tiêu cho những săm soi và bàn tán, trêu chọc từ người khác khi đi làm thêm

Thứ ba, đặc điểm liên quan đến ngoại hình: Những sinh viên có ngoại hình quá

khác biệt so với đồng nghiệp hay quản lý tại chỗ làm (quá đẹp hay quá xấu) cũng dễ trở thành đối tượng bị bắt nạt

Cuối cùng, thường thấy nhất tại các nơi làm việc, là hiện tượng “ma cũ bắt nạt

ma mới”: Khi sinh viên là nhân viên mới vào làm, thường sinh viên dễ bị những nhân

viên cũ hay quản lý tại nơi làm bắt nạt

Ảnh hưởng của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm đến sinh viên

Theo tác giả Jane Goodman (2007), bắt nạt tại nơi làm việc có tác hại tiêu cực đến phương diện thể chất và tâm lý của cá nhân bị bắt nạt Họ có thể bị căng thẳng,

lo lắng cho công việc, hay gặp căng thẳng trong cuộc sống, mất tự tin, sợ hãi, giảm

sự hài lòng trong công việc và sự gắn bó với tổ chức Tác giả cũng trình bày một số nghiên cứu khác về ảnh hưởng của bắt nạt, trong đó, có nghiên cứu đã chỉ ra, hành vi bắt nạt có thể làm thay đổi cuộc sống của cá nhân bị bắt nạt theo hướng tiêu cực hơn,

cụ thể, một cá nhân bị bắt nạn có thể gặp các triệu chứng hồi hộp, hung hăng, mất ngủ, lãnh đạm (Bjorkqvist et al, 1994)

Theo nghiên cứu của tác giả Einarsen (1994), những ảnh hưởng của bắt nạt đã được nhắc đến trên khía cạnh tâm lý của nhân viên bị mất việc và cả những nhân chứng cho cuộc bắt nạt đó Cụ thể, với nhân viên trải qua cuộc bắt nạt, họ có sức khỏe mạnh về tâm lý thấp, mức độ hài lòng với công việc giảm, trải nghiệm nhiều triệu chứng liên quan đến stress như mất ngủ, thiếu tập trung, kiệt sức Với các nhân chứng của cuộc bắt nạt công sở, mức độ hài lòng với công việc của họ cũng giảm sút; khi chứng kiến vụ bắt nạt, họ cũng trải nghiệm sự bất lực thực sự trong việc không giúp

đỡ được nạn nhân cuộc bắt nạt Ngoài ra, công trình nghiên cứu của tác giả Einarsen

và Mikelsen (2003) cho thấy rằng, nếu các vụ bắt nạt công sở diễn ra trong thời gian dài, nhiều khả năng các nhân chứng cũng tham gia vào bắt nạn lại nạn nhân

Trang 35

Như vậy, các tài liệu mà người nghiên cứu tham khảo đều khái quát các ảnh hưởng của hành vi bắt nạt lên người bị bắt nạt trên hai phương diện chính: ảnh hưởng đến cá nhân bị bắt nạt và ảnh hưởng đến công việc của họ Trong phạm vi đề tài này, người nghiên cứu sẽ khảo sát về mức độ ảnh hưởng của hành vi bắt nạt đến sinh viên trên hai khía cạnh:

là:

⮚ Ảnh hưởng về mặt tâm lý của sinh viên (cảm xúc - thái độ - hành vi)

⮚ Ảnh hưởng đến thể chất của sinh viên

hứng thú làm việc, mức độ gắn bó của sinh viên với nơi làm thêm, mối quan hệ của sinh viên với đồng nghiệp, quyền lợi mà sinh viên được hưởng tại nơi làm,

sự công nhận những đóng góp và thực lực của sinh viên thể hiện trong công việc làm thêm

d Sinh viên chứng kiến hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm

Khái niệm sinh viên chứng kiến hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm

Trong phạm vi đề tài này,căn cứ vào phần lý luận chung về người chứng kiến bắt nạt (bystander in bullying) sinh viên chứng kiến vụ bắt nạt tại nơi làm thêm được

hiểu là “sinh viên quan sát vụ bắt nạt diễn ra tại nơi làm thêm và không tham

gia vào cuộc bắt nạt”

Tương tự như trường hợp của người chứng kiến hành vi bắt nạt, sinh viên chứng kiến hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm có thể biết đến vụ bắt nạt thông qua các trường hợp sau:

● Nghe người khác kể lại vụ bắt nạt

● Có mặt lúc vụ bắt nạt diễn ra

Trang 36

● Trực tiếp biết đến các chi tiết có liên quan đến vụ bắt nạt và có mặt lúc vụ bắt nạt diễn ra

Vai trò của sinh viên chứng kiến hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm

Tương tự như vai trò của một người chứng kiến hành vi bắt nạt, sinh viên chứng kiến hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm có thể:

+ Làm bạn với sinh viên bị bắt nạt: trò chuyện thân tình với người bị bắt nạt, cho

SV đó biết rằng bạn biết mức độ nghiêm trọng của vấn đề và bạn có mặt tại đây để sẵn sàng giúp SV ấy, hỏi về nhu cầu giúp đỡ của SV

+ Giúp SV lánh đi: trong trường hợp việc can thiệp là an toàn, bạn hãy giúp SV

bị bắt nạt lánh khỏi tình huống này bằng cách đánh lạc hướng hay cho SV lý

do để rời khỏi hiện trường

+ Không làm khán giả xem bắt nạt: Có tiếng nói hoặc hành vi cho kẻ bắt nạt biết rằng những gì người đó đang làm không phải trò đùa và không chấp nhận được, ngăn chặn hành vi bắt nạt chứ không cổ vũ, ủng hộ bắt nạt bằng cách có thể rời đi hay lờ hành động đó đi và vì thế kẻ bắt nạt sẽ không có khán giả + Hãy làm gương tốt: Giúp chống lại nạn bắt nạt bằng cách tham gia vào các hoạt động và dự án chống việc bắt nạt

+ Kể với những người đáng tin tưởng: Báo cáo việc bắt nạt cho những người đáng tin cậy và có khả năng hỗ trợ giải quyết vấn đề

1.2.3.2 Hình thức của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên

Theo NCBlog – NanaPet Community Blog (2015), đã chỉ ra 11 dấu hiệu của bắt

nạt nơi công sở như: Gây hấn (Mắng mỏ, thể hiện sự giận dữ hoặc bạo lực trong hành động hay lời nói) Tấn công (Tấn công qua giao tiếp bằng những lời báng bổ, sỉ nhục, hoặc quấy rối, tạo tin đồn) Đe dọa (Đe dọa trừng phạt nhân viên một cách vô căn cứ, lạm dụng hình phạt, nội quy, hay thể xác, tâm lý, tình cảm nhân viên) Xâm phạm

(Xáo trộn đồ đạc của người khác, xen vào công việc của người khác một cách không

cần thiết hoặc làm phiền họ) Ép buộc (Ép buộc người khác phải nói hoặc làm điều

họ không muốn) Trừng phạt (Trừng phạt không đáng với luật lệ thép, vũ lực thụ

Trang 37

động hoặc cô lập) Hạ nhục (hạ thấp ý kiến, ý tưởng, công việc hoặc hoàn cảnh riêng

tư của người khác với hành động thô lỗ) Gây lúng túng (hạ thấp, chế giễu người khác trước tập thể, làm họ xấu hổ) Trả thù (Có hành động thù hằn; trả đũa nhân viên khi

có lỗi xảy ra) Vận động tẩy chay (Kêu gọi ngấm ngầm hoặc công khai một chiến dịch để đẩy ai đó ra khỏi tổ chức) Ngăn trở sự phát triển (Cản trở sự tiến bộ và trưởng

thành hoặc thăng tiến của nhân viên một cách không công bằng)

Theo một nghiên cứu của tác giả Zapf (Mobbing in Organisationen, 1999) về hành vi bắt nạt công sở, các hình thức chủ yếu của bắt nạt công sở được phân loại theo các nhóm lớn sau ( Dẫn theo Nguyễn Ngọc Anh, 2016) :

- Bắt nạt bằng công việc (Work-Related Bullying): bao gồm việc thay đổi công việc của nhân viên bị bắt nạt theo chiều hướng tiêu cực (như giao những công việc vô nghĩa hoặc dưới khả năng) hoặc theo hướng khiến họ không thể thực hiện được

- Tẩy chay (Social Isolation): không giao tiếp với nhân viên bị bắt nạt hoặc loại bỏ

họ khỏi các sự kiện xã hội

- Tấn công cá nhân hoặc cuộc sống cá nhân của họ (Personal Attacks & Private Life Attacks): bằng cách đem những nhân viên bị bắt nạt ra làm trò cười hoặc chỉ trích các vấn đề cá nhân của họ

- Đe dọa bằng lời nói (Verbal Threats): chỉ trích, la mắng hoặc làm nhục những nhân viên bị bắt nạt khi có nhiều người khác

- Lan truyền tin đồn (Spreading Rumours), nghĩa là tạo ra những thông tin sai lệch, không đúng sự thật về con người, cuộc sống riêng của nhân viên bị bắt nạt

Ngoài ra, bạo lực thể chất và de dọa bạo lực thể chất, tấn công vào niềm tin tôn giáo, chính trị của nhân viên tại nơi làm việc cũng có thể được xem là một hình thức bắt nạt Tuy nhiên theo nghiên cứu của Einarsen và cộng sự, thì các hình thức bắt nạt diễn ra theo kiểu này ít xảy ra hơn, chủ yếu bắt nạt trên phương diện tâm lý được sử dụng nhiều hơn (Einarsen, 2003)

Trang 38

Như vậy, dựa theo nghiên cứu của nhóm tác giả D.Zapft và Einarsen về bắt nạt tại nơi làm việc, các hình thức bắt nạt có thể được chia thành 6 nhóm hình thức, bao gồm 5 hình thức được liệt kê ở trên và 1 hình thức bắt nạt về thể chất và đe dọa thể chất

Theo tác giả Jane Goodman (2007) các hình thức của hành vi bắt nạt tại nơi làm việc bao gồm: hành vi bắt nạt bằng lời nói và hành vi bắt nạt không lời (sử dụng hành động) Trong đó, tác giả chỉ ra rằng, nhân viên bị bắt nạt thường phải chịu đựng các hành vi bắt nạt bằng lời nói một cách tinh vi, ít bị phát hiện với tần suất thường xuyên hơn là các hành vi bắt nạt bằng hành động Trong bài báo khoa học của mình, tác giả

đã kể ra các biểu hiện của hành vi bắt nạt bằng lời nói như: gây hấn, khiêu khích bằng lời nói, bình phẩm hay nói xấu sau lưng nhân viên bị bắt nạt Với các hành vi bắt nạt bằng hành động, nhân viên bị bắt nạt thường chịu đựng những kiểu tấn công như bị ném vật phẩm vào người, đe dọa về thể chất của họ

Sau khi tham khảo các hình thức bắt nạt có thể xảy ra tại nơi làm việc trong các công trình nghiên cứu và bài báo khoa học, người nghiên cứu xin được chọn cách phân loại các hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của tác giả D.Zapft và cộng sự làm các hình thức của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên

Theo đó, các hình thức bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm bao gồm:

- Bắt nạt bằng công việc (Work-Related Bullying): bao gồm việc thay đổi

công việc của sinh viên bị bắt nạt theo chiều hướng tiêu cực Các biểu hiện cụ thể như: Không hợp tác với sinh viên trong quá trình làm thêm, đùn đẩy công việc khó khăn cho sinh viên làm, lợi dụng chức vụ để bắt buộc sinh viên làm những công việc riêng bên ngoài

- Tẩy chay (Social Isolation): không giao tiếp với sinh viên bị bắt nạt hoặc

loại bỏ sinh viên khỏi các sự kiện xã hội Cụ thể các biểu hiện như: Người khác coi thường và phớt lờ những đóng góp của sinh viên vào công việc

Trang 39

- Tấn công cá nhân hoặc cuộc sống cá nhân của họ (Personal Attacks &

Private Life Attacks): bằng cách đem những sinh viên bị bắt nạt ra làm trò cười hoặc chỉ trích các vấn đề cá nhân của sinh viên Biểu hiện có thể như: Bình phẩm sau lưng sinh viên về những đóng góp của nhân viên cho công việc, sử dụng mạng xã hội để

“nói xéo” sinh viên đó, gửi tin nhắn đe dọa sinh viên

- Đe dọa bằng lời nói (Verbal Threats): chỉ trích, la mắng hoặc làm nhục

những sinh viên bị bắt nạt khi có nhiều người khác Các biểu hiện có thể kể đến như:

Vu oan để hạ uy tín của sinh viên tại nơi làm thêm, chê cười/ chế nhạo sinh viên đó

- Lan truyền tin đồn (Spreading Rumours), nghĩa là tạo ra những thông tin

sai lệch, không đúng sự thật về con người, cuộc sống riêng của sinh viên bị bắt nạt

- Bắt nạt về thể chất hoặc đe dọa tấn công thể chất của sinh viên Các biểu

hiện cụ thể như: ngán đường sinh viên, cố ý làm sinh viên ngã/ bị đau

Như vậy, liên quan đến hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm ở sinh viên có các thành phần như chủ thể của hành vi bắt nạt, sinh bị bắt nạt, sinh viên chứng kiến bắt nạt Nhưng trong giới hạn nghiên cứu của một khóa luận, người nghiên cứu chưa thể tiếp cận để xác định và nghiên cứu về hành vi bắt nạt của chính chủ thể bắt nạt mà chỉ có thể nghiên cứu về hành vi bắt nạt với những biểu hiện của hành vi này theo sự nhìn nhận, đánh giá của sinh viên bị bắt nạt và sinh viên chứng kiến Do đó, thực chất

đề tài nghiên cứu về thực trạng bị bắt nạt tại nơi làm thêm của sinh viên, qua đó phản

ánh về hành vi bắt nạt đã biểu hiện như thế nào tại nơi làm thêm

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, người nghiên cứu đã trình bày những nội dung chính sau:

● Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước và tại Việt Nam về tình trạng bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm

Trang 40

● Nêu những vấn đề lý luận cơ bản về hiện tượng bắt nạt nói chung và hiện tượng bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm nói riêng Trong phần lý luận này, có những nội dung trọng tâm của đề tài như sau:

Thứ nhất, khái niệm công cụ được sử dụng cho đề tài này: hành vi bắt nạt sinh

viên tại nơi làm thêm, sinh viên bị bắt nạt tại nơi làm thêm, sinh viên làm chứng vụ bắt nạt tại nơi làm thêm

Thứ hai, các hình thức bắt nạt sinh viên tại nơi làm thêm Gồm 6 nhóm hình

thức: bắt nạt bằng công việc, tẩy chay, tấn công cá nhân/ cuộc sống cá nhân của sinh viên, đe dọa bằng lời nói, lan truyền tin đồn và bắt nạt về thể chất - đe dọa bằng thể chất

Thứ ba, ảnh hưởng của hành vi bắt nạt tại nơi làm thêm đến sinh viên Mức độ

ảnh hưởng được xem xét trên các khía cạnh như: ảnh hưởng đến tâm lý và thể lý của sinh viên, ảnh hưởng đến công việc làm thêm của sinh viên

Ngày đăng: 20/12/2020, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w