1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành Động Hỏi Và Hành Động Trần Thuật Qua Lời Thoại Trong Tác Phẩm Của Nguyễn Nhật Ánh

114 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 707,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn đề tài “Hành động hỏi và hành động trần thuật qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh”, chúng tôi muốn tìm hiểu những điểm nổi bật trong cách xây dựng lời thoại nhân vật

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

 

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

và được phép công bố

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019

Học viên thực hiện

Hoàng Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên của luận văn, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS TS Dư Ngọc Ngân Cô đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi cũng xin cảm ơn quý thầy, cô trong tổ bộ môn Ngôn ngữ học, các thầy cô trong và ngoài Khoa Ngữ văn Trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, phòng Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

Tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô luôn được dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý

Xin trân trọng cảm ơn!

Tp HCM, ngày tháng năm 2019

Học viên

Hoàng Hồng Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN 10

1.1 Lý thuyết hội thoại 10

1.1.1 Khái niệm hội thoại 10

1.1.2 Quy tắc hội thoại 13

1.1.3 Những nhân tố chi phối hội thoại 16

1.2 Lý thuyết hành động ngôn từ 18

1.2.1 Khái niệm hành động ngôn từ 18

1.2.2 Các quy tắc sử dụng hành động ngôn từ 19

1.3.1 Khái niệm hành động hỏi 21

1.3.2 Khái niệm hành động trần thuật 22

1.4 Giới thiệu tác giả - tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh 24

1.4.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Nhật Ánh và quá trình sáng tác của ông 24

1.4.2 Vị trí của hai tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh trong văn nghiệp của Nguyễn Nhật Ánh 26

1.5 Thống kê định lượng và phân loại tổng quát các hành động ngôn từ qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 31

Tiểu kết chương 1 33

Trang 6

Chương 2 HÀNH ĐỘNG HỎI QUA LỜI THOẠI TRONG TÁC

PHẨM CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 34

2.1 Dấu hiệu nhận biết hành động hỏi qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 34

2.2 Điều kiện thực hiện hành động hỏi qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 35

2.3 Phân loại hành động hỏi qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 40

2.3.1 Phân loại hành động hỏi dựa vào từ ngữ cấu tạo 40

2.3.2 Phân loại hành động hỏi dựa vào nội dung và hiệu lực ở lời 46

Chương 3 HÀNH ĐỘNG TRẦN THUẬT QUA LỜI THOẠI TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 70

3.1 Dấu hiệu nhận biết hành động trần thuật qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 70

3.2 Điều kiện thực hiện hành động trần thuật qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 72

3.3 Phân loại hành động trần thuật qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 77

3.3.1 Phân loại hành động trần thuật dựa vào từ ngữ cấu tạo 77

3.3.2 Phân loại hành động trần thuật theo nội dung và hiệu lực ở lời 83

Tiểu kết chương 3 99

KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HĐ : Hành động HĐNT : Hành động ngôn từ HĐTT : Hành động trần thuật CTXMVĐTT : Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ TTHVTCX : Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh Nxb : Nhà xuất bản

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê định lượng và phân loại tổng quát của các HĐNT qua

lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 31

Bảng 2.1 Khái quát đặc điểm nhận diện hành động hỏi qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 35

Bảng 2.2 Bảng thống kê hành động hỏi dựa vào từ ngữ cấu tạo 40

Bảng 3.1 Khái quát đặc điểm nhận diện hành động trần thuật 71

Bảng 3.2 Bảng thống kê hành động trần thuật dựa vào từ ngữ cấu tạo 77

Bảng 3.3 Bảng thống kê số lượng và tỷ lệ giữa các tiểu nhóm hành động trần thuật qua lời thoại trong hai tác phẩm 84

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lý thuyết hành động ngôn từ là một mảng đề tài lớn được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới quan tâm, trong đó có cả Việt Nam Việc nghiên cứu hành động ngôn từ không chỉ dừng lại trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày mà hành động ngôn từ qua lời thoại trong các tác phẩm văn chương cũng là một hướng được các nhà ngôn ngữ học quan tâm đến Trong các tác phẩm văn chương, hệ thống lời thoại giúp nhà văn bộc lộ, thể hiện được chủ

đề, tư tưởng và chiều sâu tâm lý nhân vật Đặc biệt, việc nghiên cứu các dạng hành động ngôn từ trong lời thoại nhân vật đóng góp vai trò không nhỏ trong quá trình tìm hiểu thế giới nghệ thuật của nhà văn

Tác giả Nguyễn Nhật Ánh xuất hiện trên văn đàn như một hiện tượng văn học Ông được đánh giá là một cây bút tài năng Mỗi tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh ra đời đều mang tới một ấn tượng mới mẻ cho người đọc Với phong cách trẻ trung, hài hước cùng nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, bút pháp xây dựng lời thoại lôi cuốn, những trang văn của Nguyễn Nhật Ánh thực sự hấp dẫn các độc giả ở nhiều lứa tuổi

Bắt đầu sự nghiệp văn chương vào năm 1984 đến nay, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã sáng tác hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: truyện, truyện ngắn, truyện dài, thơ, tạp văn… Nhiều tác phẩm của ông đạt những giải thưởng lớn, một số tác phẩm được chuyển thể thành phim, dịch sang tiếng nước ngoài

và phổ nhạc… Hầu hết các tác phẩm của ông đều đón nhận được sự quan tâm chú ý của phần đông khán thính giả trong suốt khoảng thời gian dài

Chọn đề tài “Hành động hỏi và hành động trần thuật qua lời thoại

trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh”, chúng tôi muốn tìm hiểu những điểm

nổi bật trong cách xây dựng lời thoại nhân vật của nhà văn qua những hành động ngôn từ mà ông thể hiện Từ đó luận văn nhìn nhận rõ hơn đặc trưng ngôn từ được sử dụng trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh nói riêng cũng

Trang 10

như những đóng góp của ông trong mảng văn học thiếu nhi đương đại nói chung

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về ngữ dụng học và hành động ngôn từ

Việc nghiên cứu về ngữ dụng học và hành động ngôn từ (HĐNT) lâu nay

đã trở thành một lĩnh vực được nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới quan tâm Trong đó, các tác giả: J Austin, J Searle, G.Yule, T Thomas, H.P Grice… là những người đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đáng chú ý về ngữ dụng học nói chung và hành động ngôn từ nói riêng

J Austin (1962), tác giả cuốn: How to do thing words, đã nêu lên những

vấn đề Ngữ dụng học có tính chất định hướng hết sức cơ bản với các vấn đề: điều kiện không hợp lệ, tiêu chuẩn ngôn hành, ngôn hành tường minh và động

từ ngôn hành tường minh, các hành động tạo lời, hành động ở lời, hành động xuyên lời, sự phân biệt giữa hành động ở lời và xuyên lời, lực xuyên lời và lực tại lời

Tác giả J Searle (1969) lại quan tâm đặc biệt đến hành động ngôn trung

Còn G.Yule, trong cuốn Dụng học đã giới thiệu những tri thức nền hết sức cơ

bản cho người đọc về lí thuyết ba bình diện có quan hệ chặt chẽ với nhau (cú pháp, nghĩa học, dụng học) và các khái niệm nền tảng

Tác giả J Thomas với công trình Meaning in Interection: An introduction

to Pragmatics, đã có công hệ thống hoá cách phân loại các phát ngôn ngôn

hành Trong khi đó H.P.Grice đã nghiên cứu sâu vấn đề lí thuyết cộng tác hội thoại, tương tác hội thoại, lôgíc hội thoại…

Tại Việt Nam, những nghiên cứu về ngữ dụng học nói chung, hành động ngôn từ nói riêng được bắt đầu từ những 70, 80 của thế kỷ XX Nhìn chung những công trình nghiên cứu như các bài báo khoa học chuyên ngành, chuyên luận, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã đề cập đến mảng hành động ngôn từ dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:

Trang 11

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng

học - đã tiếp thu những quan điểm của các nhà dụng học lớn trên thế giới về

những vấn đề căn bản có tính dẫn luận của Ngữ dụng học như: chiếu vật và chỉ xuất; hành vi ngôn ngữ, lý thuyết lập luận; lý thuyết hội thoại; ý nghĩa hàm ẩn

và ý nghĩa tường minh Ông đã nghiên cứu, phân tích và đưa ra những kết luận phù hợp với thực tiễn ngôn ngữ ở Việt Nam

Tác giả Nguyễn Đức Dân với cuốn Ngữ dụng học, tập 1 - đã trình bày khá

chi tiết về các vấn đề lý luận chung của dụng học như: Hội thoại; Lý thuyết lập luận; Các vấn đề cơ bản về HĐNT như: các loại HĐNT, điều kiện sử dụng HĐNT, phân loại hành động ở lời, biểu thức ngữ vi, những dấu hiệu ngữ vi, HĐNT gián tiếp Những vấn đề này được ông giới thiệu khá công phu dưới góc nhìn logic - ngữ nghĩa trong ngôn ngữ, qua đó tác giả đưa ra những quan niệm của mình làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu về dụng học nói chung

và HĐNT nói riêng

Tác giả Cao Xuân Hạo trong cuốn Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức

năng đã giới thiệu cặn kẽ lý thuyết ba bình diện, trong đó bình diện dụng pháp

được ông vận dụng vào việc nghiên cứu tiếng Việt Cao Xuân Hạo đã phân tích khá kỹ lưỡng giá trị ngôn trung của câu hỏi Các giá trị ngôn trung của câu hỏi được ông đề cập đến như: câu hỏi chính danh, câu hỏi có giá trị cầu khiến, câu hỏi có giá trị khẳng định - phủ định, câu nghi vấn có giá trị phỏng đoán hay ngờ vực, ngần ngại, câu nghi vấn có giá trị cảm thán Quan niệm này là một cơ sở quan trọng cho chúng tôi khi tiến hành nhận diện các HĐNT theo hiệu lực ở lời của các hành động nói

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong Ngữ nghĩa lời hội thoại và Giáo trình Ngữ

dụng học cũng đã trình bày những vấn đề cơ bản về dụng học và HĐNT trên

cứ liệu tiếng Việt với các vấn đề cụ thể chi tiết Đặc biệt là các nhóm HĐNT qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn được đề cập đến như: hành động trần thuật, hành động ứng xử, hành động ý chí, hành động nói năng, hành động cầu

Trang 12

khiến, hành động phủ định - bác bỏ, từ chối và ngữ nghĩa do chúng biểu thị Tuy nhiên, do giới hạn của giáo trình nên tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở mức

độ giới thiệu khái quát mà chưa đi sâu vào miêu tả cụ thể chi tiết

Ngoài ra còn phải kể đến một số không ít luận án, luận văn, chuyên đề

đề cập đến những vấn đề liên quan đến lý thuyết hội thoại và lý thuyết hành

động ngôn từ như luận văn thạc sĩ Hành động bác bỏ trong tiếng Việt của Vũ Thị Kỳ Hương (2010), luận văn thạc sĩ Hành động cảm thán trong tiếng Việt của Phạm Thanh Vân (2010), luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ hội thoại của nhân

vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của tác giả Lê Thị Trang (2002), luận

án tiến sĩ Câu cầu khiến tiếng Việt của tác giả Chu Thị Thuỷ An (2002)… Các bài viết Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi của tác giả Lê Đông (1985) trên tạp chí Ngôn ngữ, số phụ, tr 12 – 27; Bài viết Hành động từ chối trong tiếng Việt

hiện đại của tác giả Nguyễn Thị Hai (2001) Ngôn ngữ, Số 1… Nhìn chung

những công trình nghiên cứu trên đã đi sâu nghiên cứu về các HĐNT được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày của người Việt cũng như trong tác phẩm văn chương Chính từ sự kế thừa những khái quát lịch sử của ngữ dụng học và hành động ngôn từ, cùng các công trình nghiên cứu trên đây, chúng tôi đã có

cơ sở để tổng hợp một số vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn Đây cũng là những gợi ý quý báu để chúng tôi thực hiện luận văn này

2.2 Lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh

Nguyễn Nhật Ánh từ lâu đã được độc giả nhắc đến với bao tình cảm yêu mến bởi ông là nhà văn của tuổi trẻ, đặc biệt là thiếu nhi Tên tuổi của Nguyễn Nhật Ánh và hàng loạt các tác phẩm của ông xuất hiện khá nhiều trên các báo, tạp chí như báo Thanh Niên, Tiền Phong, Tuổi trẻ; Phụ nữ, Mực Tím; tạp chí Nghiên cứu Văn học, Văn nghệ Quân đội…; trên các trang thông tin điện tử

như vietnamnet.vn, Sài Gòn Giải phóng Online, baomoi.com, eva.net… và đặc

biệt là trong các sách nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt Nam

Trang 13

Khi nhận xét về Nguyễn Nhật Ánh và các tác phẩm của ông, tác giả

Nguyễn Hoài Nguyên trên báo Tiền Phong đã có nhận xét: “Đọc tác phẩm

Nguyễn Nhật Ánh, dễ nhận thấy nhà văn sử dụng tiếng Việt tinh tế và trong sáng Ngôn từ trong tác phẩm của ông trong sáng như nó vốn có, như lời ăn tiếng nói hàng ngày, không lên gân, không màu mè son phấn, làm dáng phô trương… Sự tìm tòi, sáng tạo trong nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Nhật Ánh là thuộc lĩnh vực ngôn từ Hành văn, cách dùng từ của anh có một lối đi riêng, giản dị mà thâm trầm, hồn nhiên nhưng rất hóm hỉnh”

Tác giả Thái Phan Vàng Anh trong bài viết Nguyễn Nhật Ánh, người kể

chuyện của thiếu nhi đưa ra những lý giải cho sự thành công của Nguyễn Nhật

Ánh rằng: "Gia tăng lời thoại, giảm thiểu kể, tả, bình luận (hay lời thoại đã

bao hàm luôn chức năng kể, tả, bình luận) là một trong những điểm nổi bật ở nhiều tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh Ở nhiều truyện, đối thoại chiếm tỉ lệ lớn, lời người kể chuyện chỉ mang tính chất dẫn chuyện Nhân vật vừa kể chuyện vừa tham gia vào hội thoại… Phải chăng nhờ vậy mà truyện Nguyễn Nhật Ánh đã trở thành một hiện tượng văn học nói chung chứ không bị giới hạn bởi ranh giới văn học thiếu nhi (mà lằn ranh nhiều khi vẫn khó xác định rõ)?”

Trong bài viết “Tạp văn Nguyễn Nhật Ánh” (2012), nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương đã khẳng định: “Cái hấp dẫn, cái “duyên” của truyện

Nguyễn Nhật Ánh chủ yếu nhờ vào sự hồn nhiên, tươi tắn ở ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật…”

Một số luận văn thạc sĩ từ góc độ văn học đã đi sâu nghiên cứu về tác

phẩm của Nguyễn Nhật Ánh Luận văn“Thế giới trẻ em qua cái nhìn của

Nguyễn Nhật Ánh trong bộ truyện Kính Vạn Hoa” của tác giả Phạm Thị Bền

(2005), đã nghiên cứu khá chuyên sâu về cách tiếp cận thế giới trẻ thơ của tác

giả Nguyễn Nhật Ánh trong bộ truyện Kính Vạn Hoa Luận văn “Đặc điểm

truyện Nguyễn Nhật Ánh” của tác giả Bùi Thị Thủy (2009) đã trình bày một

Trang 14

cách hệ thống những đặc điểm về nội dung cũng như nghệ thuật viết truyện

của Nguyễn Nhật Ánh, được khảo sát trên bốn tác phẩm chính: Kính vạn hoa,

Chuyện xứ LangBiang, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Tôi là BêTô Ngoài ra

còn một số bài viết, công trình khác như :“Thế giới nghệ thuật truyện Nguyễn

Nhật Ánh” của tác giả Vũ Thị Hương; “Nhân vật trẻ em trong truyện Nguyễn Nhật Ánh” của Nguyễn Thị Đài Trang, bài viết“Nghệ thuật trần thuật trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ; Đồi mộng mơ và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh”… Như vậy, có thể thấy rằng Nguyễn Nhật Ánh là cây

bút đang được quan tâm và giành được nhiều tình cảm ưu ái của độc giả ở nhiều lứa tuổi

Tuy nhiên, cho đến nay, theo ghi nhận của chúng tôi, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh từ góc độ ngôn ngữ học nói chung và ngữ dụng học nói riêng Đây cũng là lý do

để tác giả luận văn chọn đối tượng hành động hỏi và hành động trần thuật qua

lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh làm đề tài nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là hành động hỏi và hành động trần thuật trong lời thoại được tác giả Nguyễn Nhật Ánh thể hiện trong hai tác

phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khi đi vào thực hiện đề tài “Hành động hỏi và hành động trần thuật qua

lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh”, chúng tôi tiếp cận hành động

ngôn từ được tác giả thể hiện qua lời thoại trong tác phẩm Ngữ liệu khảo sát được giới hạn trong phạm vi hai tác phẩm:

- Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Nhà xuất bản Trẻ năm 2016;

- Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Nhà xuất bản Trẻ năm 2017

Trang 15

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của chúng tôi khi thực hiện luận văn này là tìm hiểu, phân loại, phân tích, miêu tả các hành động hỏi và hành động trần thuật được nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thể hiện trong lời thoại của hai tác phẩm kể trên Từ đó luận văn đưa ra những nét nổi bật trong việc sử dụng chất liệu ngôn từ của Nguyễn Nhật Ánh cũng như những đóng góp về mặt ngôn ngữ của ông trong mảng văn học thiếu nhi Việt Nam đương đại

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra, luận văn xác định một số nhiệm vụ chính phải thực hiện sau đây:

- Tổng hợp, trình bày một số vấn đề về lý thuyết hội thoại, lý thuyết hành động ngôn từ làm cơ sở cho việc nghiên cứu luận văn

- Thu thập, khảo sát, phân loại ngữ liệu lời thoại được Nguyễn Nhật Ánh

sử dụng trong hai tác phẩm

- Vận dụng lý thuyết hành động ngôn từ vào tìm hiểu lời thoại nhân vật được nhà văn sử dụng trong các tác phẩm Qua khảo sát, chúng tôi thấy số lượng hành động ngôn từ được thể hiện khá nhiều, do đó luận văn tập trung chủ yếu vào hành động hỏi và hành động trần thuật Chúng tôi thống kê được đây là hai hành động ngôn từ có tần số xuất hiện nhiều nhất trong lời thoại nhân vật thuộc hai tác phẩm được khảo sát của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Trong đó hành động hỏi có 448/1106 hành động ngôn từ (chiếm 40,5%) và hành động trần thuật có 350/1106 hành động ngôn từ (chiếm 31,6%)

- Tổng kết các kết quả đã nghiên cứu và đưa ra kết luận

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

+ Phương pháp thống kê

Trang 16

Phương pháp này được sử dụng nhằm thống kê các hành động hỏi và hành động trần thuật qua lời thoại được thể hiện trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh Trên cơ sở đó luận văn chỉ ra những đặc điểm hành động ngôn từ cụ thể trong hai tác phẩm được khảo sát

6 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu đề tài “Hành động hỏi và hành động trần thuật qua lời thoại

trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh”, luận văn hy vọng có những đóng góp

sau:

+ Trình bày một cách tường minh, có hệ thống về lý thuyết hội thoại, lý thuyết hành động ngôn từ và ứng dụng những lý thuyết này vào việc nghiên cứu lời thoại trong tác phẩm văn học

+ Miêu tả, phân tích hành động hỏi và hành động trần thuật qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh

+ Kết quả của luận văn bước đầu có thể góp phần làm rõ những đặc điểm, phong cách ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

Trang 17

văn gồm ba chương chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và những vấn đề hữu quan

Trong chương này, luận văn tập trung trình bày những vấn đề lý thuyết

về hội thoại, lý thuyết hành động ngôn từ, cụ thể là khái niệm hội thoại, quy tắc hội thoại, những nhân tố chi phối hội thoại; khái niệm hành động ngôn từ

và các quy tắc sử dụng hành động ngôn từ Cùng với đó, luận văn cũng giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Nhật Ánh cùng hai tác phẩm được dùng làm ngữ liệu khảo sát trong luận văn Phần cuối của chương này, luận văn đưa ra bảng thống kê định lượng và phân loại tổng quát các hành động ngôn từ qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh

Chương 2: Hành động hỏi qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh

Trong chương hai, luận văn tiến hành thống kê, miêu tả những hành động hỏi qua lời thoại được tác giả Nguyễn Nhật Ánh sử dụng trong hai tác

phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh Dựa

trên những vấn đề lý thuyết chung về hành động hỏi, luận văn đi vào phân loại, phân tích hành động hỏi qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh

Chương 3: Hành động trần thuật qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh

Tương tự như kết cấu của chương hai, trong chương ba này, luận văn tiến hành thống kê, miêu tả những hành động trần thuật qua lời thoại được tác

giả Nguyễn Nhật Ánh sử dụng trong hai tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi

thơ và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh; sau đó, dựa trên những vấn đề lý thuyết

chung về hành động trần thuật, luận văn đi vào phân loại, phân tích hành động trần thuật qua lời thoại trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

HỮU QUAN

1.1 Lý thuyết hội thoại

1.1.1 Khái niệm hội thoại

Trong sự hành chức của ngôn ngữ, hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ Khi bàn về hội thoại, đã có nhiều ý kiến được đưa ra, tiêu biểu như:

Theo Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp

bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo mục đích đề ra” (Nguyễn Như Ý - Chủ biên -

2002)

Tác giả Đỗ Hữu Châu (1998) viết: “Hội thoại là hình thức giao tiếp

thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”

Tác giả Nguyễn Đức Dân (1998) trong cuốn Ngữ dụng học viết: “Trong

giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: Bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại”

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (2004) định nghĩa: “Hội thoại là hành động

giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người Đó là giao tiếp hai chiều,

có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời”

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên (1999) định nghĩa: “Hội thoại là một trong

những hành động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định”

Trang 19

Như vậy, nhìn chung các tác giả đã nêu lên được rằng hội thoại là hành động tiếp xúc giữa con người với con người trong xã hội thông qua một số phương tiện nhất định, nhằm một mục đích nào đó, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất Hoạt động này bao gồm các yếu tố: người nói (trao lời), người nghe (đáp lời) và sự tương tác

Trao lời là vận động của người nói, nói ra lượt lời của mình và hướng về phía người nghe, nhằm làm cho người nghe nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho mình Định hướng đối tượng giao tiếp là hoạt động đầu tiên trong vận động trao lời Trong một cuộc song thoại, vấn đề xác định đối tượng giao tiếp không đặt ra bởi vì chỉ có một người nói và một người nghe

Nhưng đối với những cuộc đa thoại thì vận động trao lời có khi hướng vào

toàn thể người nghe trong hội thoại, nhưng cũng có khi chỉ nhằm vào một (hoặc một số) người trong toàn bộ đương trường Trong trường hợp này, lượt lời của người nghe phải có những dấu hiệu báo cho những người nghe đương trường biết ai là người nghe đích thực của lượt lời đó (Đỗ Hữu Châu, 2001)

Như vậy, trong hội thoại, không phải người nói tự do muốn nói gì thì nói Sự trao lời của người nói phải phù hợp với người nghe và phải được người nghe chấp nhận, nếu không cuộc thoại khó tiếp diễn xa hơn Muốn cho cuộc thoại diễn ra bình thường, ở phía mình người nói - người trao lời phải chủ động đối với người nghe, phải dự kiến hình dung được tâm lý, tình cảm, sở thích, hiểu biết của người nghe

<1> a - Làm sao biết con ma có chui ra hay không hở chú? Mình đâu có

Trang 20

Đàn) và được chú Đàn chấp nhận Nhân vật Tôi nhắm vào sự hiểu biết của chú Đàn về nội dung câu chuyện chú đang kể, bằng hành động hỏi và hành động khẳng định nhân vật Tôi hướng nhân vật chú Đàn phải đáp lời sự thắc mắc của mình

Đáp lời là vận động của người nghe sau khi tiếp nhận lời trao của người nói Lời trao của người nói mặc dù được người nghe tiếp nhận nhưng không có một hình thức trao đáp nào thì đó chưa phải là hội thoại đích thực Một cuộc hội thoại chính thức hình thành khi người nghe đáp lại lượt lời của người nói Hay nói cách khác, với vận động trao đáp cuộc thoại chính thức được thành lập Vận động trao đáp khiến cho hội thoại diễn ra liên tục, vai nói, vai nghe thay đổi liên tục (tôi nói - anh nghe - anh nói - tôi nghe ) cho đến khi cuộc hội thoại kết thúc Sự hồi đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời, thường thì hai yếu tố này đồng hành với nhau

<2> a - Mày lại đánh nhau rồi phải không?

b - Con không đánh nhau Tụi bạn đánh con và con đánh lại

(CTXMVĐTT, 2017)

Ở <2> là một cặp hội thoại giữa hai nhân vật ba và con Tham thoại (b) là lời đáp cho hành động hỏi của nhân vật ba (a), tạo thành một cặp hội thoại Tương tác là hiện tượng các thoại nhân ảnh hưởng lẫn nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, văn hoá, giới tính tác động đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại Trong hội thoại, nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác Họ tác động lẫn nhau về mọi phương diện cộng giao với nhau Vừa

là cái chịu tác động vừa là phương tiện sử dụng, gây tác động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến tâm lý, sinh lý, vật lý của người nói và người nghe

Hội thoại tồn tại dưới hai dạng: (1) Lời ăn tiếng nói thể hiện trong sinh hoạt hằng ngày của con người; (2) Lời trao đáp của các nhân vật hội thoại đã được chủ thể nhà văn tái tạo, sáng tạo và thể hiện trong tác phẩm văn học Với

Trang 21

đề tài này, trong luận văn, chúng tôi đề cập tới lời thoại nhân vật trong tác phẩm văn học

1.1.2 Quy tắc hội thoại

Bản chất của hội thoại là sự tương tác giữa các lượt lời của cả người nói

và người nghe Nghiên cứu mối quan hệ này là cơ sở để giải quyết nhiều vấn

đề khác nhau trong quá trình hội thoại

Quy tắc hội thoại chính là những quy tắc tổ chức và liên kết hội thoại (quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời; quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại; quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại); những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ dụng đa dạng giữa các hành động ngôn từ trong giao tiếp

1.1.2.1 Quy tắc luân phiên lượt lời

Quy tắc này chỉ ra rằng, trong hội thoại, các tham thoại của người nói và người nghe phải tuân theo thứ tự lần lượt Nghĩa là vai nói và vai nghe trong một cuộc thoại thường xuyên thay đổi Mỗi một lượt lời chỉ có một người nói Lượt lời của các nhân vật hội thoại thường có sự thay đổi về số lượng hành vi Đối với những cuộc đa thoại thì trật tự (nói trước, nói sau) của các nhân vật hội thoại thường xuyên thay đổi, không nhất thiết phải cố định Cũng theo nguyên tắc này thì người nói không nên nói quá dài và nên kết thúc lượt lời của mình đúng lúc để nhường lời cho người khác

Dấu hiệu để nhận biết một lượt lời đã kết thúc bao gồm: trọn vẹn về nội dung; hoàn chỉnh về hình thức; có ngữ điệu kết thúc (ngữ điệu kết thúc bao gồm ngữ điệu câu phù hợp, các dấu hiệu hình thái đứng ở cuối câu báo hiệu

lượt lời kết thúc như: nghe, chăng, nhé, nhá, à, hả, hở )

<3>a - Con có mấy cái hoa tay hở chú?

Trang 22

Trọn vẹn về nội dung hành động hỏi, có dấu hiệu hình thái “hở chú” đứng ở cuối câu, có ngữ điệu kết thúc, có dấu chấm hỏi Sau đó là lượt lời của chú Đàn

1.1.2.2 Quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại

Trong hội thoại, có một nhân tố chi phối cấu trúc của hội thoại, đó là quyền được nói Quyền được nói chi phối hoạt động lời nói theo một hệ thống điều hành cục bộ giữa các thành viên trong một cộng đồng sử dụng ngôn ngữ

Hệ thống điều hành cục bộ thực chất là một bộ các quy ước về việc nắm giữ lượt lời, giữ chúng hay trao chúng cho người khác Mỗi lượt lời của người nói hay người nghe đều được xây dựng trên cơ sở những lượt lời trước đó, một hành động trao lời sẽ đòi hỏi một hành động đáp lời tương ứng với nó

Cấu trúc của hội thoại là rất đa dạng về kiểu loại với những đơn vị phân định không rõ ràng, nhưng giữa chúng vẫn có cái chung Nhờ cái chung này

mà người nói và người nghe hiểu để có thể luân phiên lượt lời và để cuộc thoại đạt được mục đích Cấu trúc hội thoại có hai tổ chức tổng quát: tổ chức cặp và

tổ chức được ưa thích Các tổ chức này được xây dựng từ các lượt lời Cho dù được cấu trúc theo kiểu nào thì hành động lời đáp phải đảm bảo liên kết đề tài, tương thích với hành động lời trao

Cấu trúc hội thoại phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chi phối như trình độ, thói quen, văn hóa, tập tục Việc lựa chọn hình thức ngôn ngữ để thể hiện một hành động giao tiếp trong hội thoại quyết định sự thành bại trong giao tiếp Trong thực tiễn hội thoại, mỗi nhân vật giao tiếp đều phải lựa chọn một hình thức giao tiếp nào đó dựa trên những thói quen, tập tục, văn hóa đã trở thành những quy ước xã hội mà ở đó các nhân vật giao tiếp phải tuân theo Những quy ước này quy định chặt chẽ một trình tự với những hành động ngôn từcụ thể mà nhân vật tham gia hội thoại bắt buộc phải tuân theo trong những tình huống cụ thể

Trang 23

1.1.2.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại

Đây là quy tắc xét trong mối tương quan xã hội, quan hệ giữa các cá nhân giao tiếp với nhau Nó được xét trên hai trục: trục tung và trục hoành Trục tung là trục vị thế xã hội hay còn gọi là trục quyền uy Trục hoành là trục quan

hệ khoảng cách hay còn gọi là trục thân cận

a Quan hệ vị thế: Đây là quan hệ tôn ti trong xã hội, tạo thành vị thế trên – dưới xếp thành tầng bậc trên trục tung, thể hiện cá nhân giao tiếp có vị thế khác nhau Đặc trưng của quan hệ này là tính quyền lực và tính tương đối Quan hệ vị thế một mặt phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: chức vụ (cao, thấp); tuổi tác (già, trẻ); giới tính (nam, nữ); học vấn (bằng cấp cao hơn, thấp hơn); kinh tế (giàu, nghèo); thể lực (khỏe hơn, yếu hơn) Những yếu tố khách quan này tạo ra những vị thế khác nhau chi phối quá trình giao tiếp tùy theo phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của từng cộng đồng sử dụng ngôn ngữ Mặt khác, quan hệ vị thế cũng khiến cho lời nói của các nhân vật mang dấu ấn cá nhân Dấu hiệu để thể hiện quan hệ vị thế có thể bằng lời hoặc phi lời Những dấu hiệu bằng lời gồm có hệ thống từ xưng hô, các danh từ thân tộc, đại từ, nghi thức lời nói, cách thức tổ chức hội thoại, các hành động ngôn

từ, phép lịch sự đều thể hiện quan hệ vị thế và những vị thế này đã được ngôn từ hóa thành từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ

b Quan hệ thân cận: Quan hệ này được thể hiện trên trục hoành chỉ rõ mối quan hệ thân cận gần gũi hay xa cách giữa các nhân vật tham gia giao tiếp Mối quan hệ này có thể thay đổi trong quá trình hội thoại Khoảng cách quan

hệ giữa hai nhân vật giao tiếp như ruột thịt, họ hàng, quen biết, không quen biết có ảnh hưởng đến việc lựa chọn hành động ngôn từ trong hội thoại Khoảng cách quan hệ giữa hai nhân vật càng nhỏ (mức độ thân cận lớn) thì ngôn từ của họ càng suồng sã, thân mật Ngược lại, khoảng cách quan hệ giữa các nhân vật càng lớn (mức độ thân cận thấp) thì ngôn từ của họ lại càng khách sáo Với cùng một đề tài giao tiếp, trong một khung cảnh nhưng với hai đối

Trang 24

tác giao tiếp khác nhau, người nói sẽ có sự lựa chọn hành động ngôn từ khác nhau để giao tiếp với từng đối tác Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ thân cận trong giao tiếp: dấu hiệu bằng lời; dấu hiệu phi lời; dấu hiệu kèm lời Người nói có thể tự do chọn lựa dấu hiệu thể hiện sao cho phù hợp với từng mối quan

hệ Những dấu hiệu bằng lời trong tiếng Việt thể hiện mối quan hệ thân cận rất

rõ ràng như: đại từ, từ xưng gọi, tình thái từ, lối nói trống Chẳng hạn khi người nói tự xưng là: mình, tôi, tớ, ông, đây hoặc gọi tên người đối thoại là: ông (bà), anh (chị), cậu, mày, ngài, thì sắc thái tình cảm, mối quan hệ thân -

sơ, trọng - khinh trong từng trường hợp rất rõ ràng

1.1.3 Những nhân tố chi phối hội thoại

1.1.3.1 Nhân vật

Nhân vật là những con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học

là yếu tố cơ bản nhất để bộc lộ tư tưởng chủ đề Nhân vật văn học là “một đơn

vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong cuộc sống” (Lê Bá Hán – Chủ biên, 1999) Mỗi một nhân vật có một vai

trò, ý nghĩa nhất định trong tác phẩm Và tất cả các nhân vật đều là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ Tuỳ vào loại nhân vật mà có thể xem xét khuynh hướng sáng tác quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn

Lời thoại trong tác phẩm văn chương là sản phẩm của cá nhân nhà văn thông qua nhân vật, nhân vật giao tiếp bằng ngôn ngữ để truyền đạt một vấn đề nào đó, dùng ngôn ngữ để tạo ra lời nói các diễn ngôn tác động lẫn nhau Như vậy, một cuộc thoại tạo nên bởi một số câu trao câu đáp của những nhân vật tham gia hội thoại bằng phương tiện ngôn ngữ Qua lời thoại tác giả tái hiện được hiện thực cuộc sống, với những đặc tính khách quan đa dạng vốn có của

nó theo ý đồ của mình và bày tỏ được quan điểm thái đối nhận thức đối với hiện thực mà mình đề cập tới, khai thác mạnh mẽ tâm trạng ý chí của nhân vật lôi cuốn người đọc vào câu chuyện

Trang 25

1.1.3.2 Ngữ cảnh giao tiếp

Các nhân vật, khi giao tiếp bao giờ cũng đặt trong ngữ cảnh nhất định, ngữ cảnh thường cho biết hành động nào được nói ra, mệnh đề nào được thể hiện và đích ngôn trung đang xét là gì?

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Ngữ cảnh là nhân tố có mặt trong một cuộc

giao tiếp nhưng năm ngoài diễn ngôn Ngữ cảnh là tổng thể hoà hợp gồm: Nhân vật giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp” (Đỗ Hữu Châu, 1996)

Ngữ cảnh gồm hai phạm vi: Ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp

Ngữ cảnh rộng (hay còn gọi là hoàn cảnh giao tiếp) bao gồm những hiểu biết về thế giới: vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử, các ngành khoa học, nghệ thuật ở thời điểm và ở không gian trong lúc diễn ra cuộc giao tiếp

Ngữ cảnh hẹp gồm toàn bộ không gian thời gian cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra

Ngữ cảnh chính là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ

và tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo lời nói Trong giao tiếp ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp luôn đi liền với nhau, ngữ cảnh hẹp như là những nhát cắt thời gian của cuộc sống hiện thực được kết nối với ngữ cảnh rộng

1.1.3.3 Nội dung giao tiếp

Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình giao tiếp thể hiện ở thông tin cần truyền đạt Thông tin cần phải được cấu trúc như thế nào để nó phản ánh được nội dung cần truyền đạt cũng như đến với người nghe với kết quả cao nhất Đối với chủ thể giao tiếp thông tin có thể biết hoặc chưa biết, muốn biết hoặc không muốn biết Nội dung thông tin có thể đem lại điều tốt hay xấu, hoặc đơn giản chỉ là một thông báo Tuy nhiên nội dung mệnh đề phải được thực hiện bởi một hành động ngôn từ

Trang 26

1.1.3.4 Đích giao tiếp

Đích giao tiếp là kết quả cuối cùng của cuộc giao tiếp Tuỳ vào hành động ngôn từ cũng như một số nhân tố quy định, sự hiểu biết của người nghe, văn hoá, xã hội, sự hiểu biết về quá khứ, tương lai mà đích giao tiếp khác nhau Đích phản ánh sự tình là hành động trần thuật Đích muốn thực hiện hành động nào đó là hành động cầu khiến Đích là muốn giải toả những dồn nén trí tuệ, tình cảm là hành động bày tỏ Có những hành động thực hiện đồng thời nhưng đích khác nhau, người nói có thể dùng dạng thức hành động ngôn từ này để bày tỏ hành động ngôn từ khác Nhờ đích mà người nghe vừa nhận được thông tin vừa có thể thay đổi trạng thái nhận thức Khi giao tiếp nếu đạt được đích mà người nói đặt ra thì hành vi đó đạt được đích giao tiếp

1.2 Lý thuyết hành động ngôn từ

1.2.1 Khái niệm hành động ngôn từ

“Hành động ngôn từ là hành động sử dụng ngôn ngữ nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp” (Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ

Theo J L Austin có 3 loại hành động ngôn từ

- Hành động tạo lời: Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các phương thức kết hợp từ thành câu để tạo thành những phát ngôn Nhờ có hành động tạo lời mà người tham gia giao tiếp mới tạo ra những biểu thức có nghĩa để trao đổi thông tin, tư tưởng với nhau

- Hành động mượn lời: Là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, hay nói cách khác là mượn các phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe, làm biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý, trong

Trang 27

hành động vật lý có thể quan sát được, hoặc gây ra một tác động nào đó đối với ngữ cảnh Hiệu quả của hành động mượn lời là không đồng nhất với những người khác nhau

- Hành động ở lời: Là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng

Nó là mục đích của hành động tạo lời, là chức năng của lời nói từ bình diện tác động; nói cách khác nó là thao tác tạo lực ngôn trung của phát ngôn Đặc trưng của hành động tại lời là vừa thể hiện ý định của lời nói vừa có tính quy ước Mỗi loại hành động ngôn từ có phương thức biểu đạt riêng và được gọi là phương thức biểu đạt lực ngôn trung Dựa vào đó các hành động ở lời chúng tôi chia thành ba loại: Hành động ở lời cơ bản, hành động ở lời tường minh, hành động ở lời gián tiếp

1.2.2 Các quy tắc sử dụng hành động ngôn từ

Khi thực hiện các hành động ngôn từ tức là tham gia vào một hình thức hành động có sự chi phối của những quy tắc Hiểu được ý nghĩa của một hành động ngôn từ chỉ đơn giản là nắm chắc những quy tắc sử dụng chúng Và J Searle đã khẳng định có hai quy tắc để hiểu ý nghĩa của các hành động ngôn từ

đó là: quy tắc thiết chế và quy tắc điều chỉnh

a Quy tắc điều chỉnh là điều khiển một hoạt động đã tồn tại từ trước, nhưng nó không phụ thuộc vào sự tồn tại của các quy tắc

b Quy tắc thiết chế tạo ra (và cũng có tác dụng điều chỉnh) một hoạt động

mà sự tồn tại của nó chính là do những quy tắc đó quy định

Ngữ nghĩa của một ngôn ngữ có thể được xem là một chuỗi những hệ thống các quy tắc thiết chế và những hành động ở lời là những hành động được thực hiện phù hợp với hệ những quy tắc thiết chế Có những quy tắc biểu thị nội dung mệnh đề, có những quy tắc biểu thị sở chỉ, có những quy tắc dành cho việc sử dụng một số loại phương tiện chỉ chức năng Nghiên cứu hành động ngôn từ có thể bàn đến chúng một cách độc lập Muốn phân biệt được người nói đang sử dụng hành động ở lời nào thì phải căn cứ vào phương tiện

Trang 28

chỉ chức năng và nắm được quy tắc sử dụng chúng Với quan điểm như vậy, J Searle đã dành nhiều trang viết cho việc trình bày quy tắc sử dụng một số loại

phương tiện chỉ chức năng Trên cơ sở phân tích hành động hứa, ông đã liệt kê

được những điều kiện sử dụng và đúc kết lại những quy tắc sử dụng các phương tiện chỉ chức năng Và hệ thống những quy tắc này có thể áp dụng cho việc nhận diện, phân tích các loại hành động khác J Searle đã đúc kết thành 4 quy tắc (điều kiện) sử dụng hành động ở lời như: quy tắc nội dung mệnh đề; quy tắc chuẩn bị; quy tắc chân thành; quy tắc căn bản Cụ thể như sau:

- Quy tắc nội dung mệnh đề: Quy tắc này chỉ ra nội dung của hành động ngôn từ, nó chính là bản chất ý nghĩa của phát ngôn, nó có thể là một mệnh đề đơn giản, hay là một hàm mệnh đề, có thể là hành động của người nói hay là hành động của người nghe

- Quy tắc chuẩn bị: Là quy tắc nhận thức, tri nhận nội dung mệnh đề được đưa ra, nó liên quan đến hiểu biết của người thực hiện hành động và tri thức nền của người tiếp nhận hành động về quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ, năng lực tinh thần vật chất đối với hành động ở lời được phát ngôn

- Quy tắc chân thành: Là sự chân thành trong ý nghĩ trạng thái tâm lý mà người nói thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình phát ngôn, chẳng hạn khi hỏi thì thực lòng muốn hỏi, khi yêu cầu, sai khiến thì phải thực lòng muốn yêu cầu sai khiến Người nói phải thực sự mong muốn cái đích cuối cùng trong hành động chính là nội dung ở lời được nêu ra

- Quy tắc căn bản: Quy tắc này là sự cam kết, là bổn phận, trách nhiệm ràng buộc người tạo lời cũng như người tiếp nhận lời vào hành động ở lời tạo ra Những quy tắc trên của J Searle là cơ sở để nhận diện hành động ngôn từ được thực hiện trong phát ngôn ở các lời thoại

Trang 29

1.3 Khái niệm hành động hỏi và khái niệm hành động trần thuật

1.3.1 Khái niệm hành động hỏi

Hành động hỏi là hành động sử dụng ngôn từ nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp, trong đó người nói mong muốn người nghe cung cấp thông tin hoặc giải đáp về một sự việc, một vấn đề nào đó mà người nói chưa hiểu hết hoặc đang còn nghi vấn

Câu chứa hành động hỏi thường được gọi là câu hỏi, câu nghi vấn Theo

tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980) “Câu hỏi là một thể câu thuộc phạm trù

phân chia câu theo thực tại hoá Nếu như câu kể thuộc phạm trù câu hiện thực, thì câu hỏi thuộc phạm trù câu khả năng Bởi lẽ các sự kiện làm biểu vật cho câu là khả năng hoặc phi hiện thực, cho dù ở dạng nào trong nội dung câu hỏi đều làm nổi rõ một “cái không rõ” mà câu hỏi cần hướng đến”

Tác giả Nguyễn Kim Thản (1964) cho rằng: “ Câu nghi vấn nhằm mục

đích nêu lên sự hoài nghi của người nói và nói chung đòi hỏi người nghe tường thuật về đối tượng hay đặc trưng của đối tượng”

Tác giả Đinh Trọng Lạc (1997) nhận định: “Câu nghi vấn là câu nêu điều

thắc mắc, hoài nghi cần phải giải đáp”

Còn theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên (1999), “Câu hỏi dùng để thể hiện sự

nghi vấn của người nói về một điều gì đó mà mong muốn người nghe đáp lời Cuối câu nghi vấn thường có dấu chấm hỏi (?)

Như vậy cho đến nay, định nghĩa về câu hỏi vẫn chưa toàn diện, còn tồn tại nhiều quan điểm, nhiều cách nhận diện, phân loại khác nhau Tuy nhiên, từ những định nghĩa trên đây, chúng tôi thấy hành động hỏi có sự giống nhau cơ bản như sau:

Thứ nhất, về nội dung của hành động hỏi, bao giờ hành động hỏi cũng biểu thị những điều nghi vấn, sự thắc mắc, hoài nghi để người nghe đáp lại, giải thích làm rõ những nghi vấn, thắc mắc, hoài nghi ấy

Thứ hai, về mặt hình thức, hành động hỏi có nhiều kiểu dạng khác nhau,

Trang 30

tùy thuộc vào hoàn cảnh, đối tượng, mục đích, văn hóa giao tiếp cụ thể mà hành động hỏi có những hình thức khác nhau Hành động hỏi có thể được biểu hiện dưới dạng một câu đầy đủ một kết cấu chủ vị, có thể là một câu hỏi tu từ (tức là hỏi chỉ để hỏi chứ không cần câu trả lời) hay có khi là một câu tỉnh lược

có hình thức một từ duy nhất: Ai? (Lúc này, nội dung câu hỏi phải xét trên hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp để nhận biết) Một hình thức đặc trưng dùng để nhận biết hành động hỏi đó là cuối câu hỏi thường có dấu chấm hỏi (?)

1.3.2 Khái niệm hành động trần thuật

Theo J Austin khi phân loại các hành động ngôn từ, căn cứ vào ý nghĩa khái quát của động từ ngữ vi, ông xếp hành động trần thuật thuộc phạm trù hành động trình bày Đó là những hành động mà người nói dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ ngữ như khẳng định, phủ định, trả lời, dẫn dắt ví dụ, chuyển dạng lời, báo cáo các ý kiến… Ông gọi những hành động trần thuật là những hành động khảo nghiệm (miêu

tả, tường thuật, kể), những hành động có thể được đánh giá theo tiêu chuẩn đúng - sai logic

Ở Việt Nam cho đến nay khái niệm hành động trần thuật vẫn chưa có sự thống nhất về cách gọi tên, khi đi vào giải quyết thực tiễn của tiếng Việt Sở dĩ như vậy là vì biểu thức ngữ vi của hành động trần thuật không có những phương tiện đặc trưng để chỉ ra hiệu lực ở lời, do đó tuỳ thuộc vào góc nhìn chú ý vào đặc trưng của kiểu hành động mà có các tên gọi khác nhau Nhấn mạnh vào lòng tin (sự xác tín) của người nói trước phân đoạn thực tại khách quan phản ánh vào lõi miêu tả, tác giả Đỗ Hữu Châu dùng khái niệm “trần thuyết” Nhấn mạnh vào diễn biến sự tình, Hồ Lê, Nguyễn Anh Quế, Hoàng Trọng Phiến gọi là hành động “kể”, nhưng phổ biến hơn cả vẫn là khái niệm trần thuật

Trang 31

Tuy nhiên cũng cần phân biệt giữa ngôn ngữ trần thuật và hành động trần thuật qua lời thoại nhân vật

Ngôn ngữ trần thuật qua lời thoại nhân vật là lời nói trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm, được biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông qua sự lựa chọn của các nhà văn, nhằm mục đích tái hiện một cách sinh động tính cách đặc điểm nhân vật Trong tác phẩm, nhà văn có thể cá thể hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh đặt câu, dùng từ hay cách phát âm đặc biệt của nhân vật, sử dụng yếu tố tình thái thể hiện sắc thái ngôn ngữ địa phương hay mang dấu ấn tầng lớp địa vị, nhóm người Dù bằng cách nào thì nó cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa tính cá thể và tính khái quát Nghĩa là một mặt mỗi nhân vật có ngôn ngữ mang đặc điểm riêng, mặt khác ngôn ngữ

ấy phản ánh được nghề nghiệp, tâm lí, giai cấp, trình độ văn hoá của một tầng lớp người nhất định

Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ gián tiếp kể lại diễn biến của câu chuyện Hình thức trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự để giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, giúp hình dung được nhân vật qua lời kể, biến cố, miêu tả lại diễn biến tâm

lí của nhân vật

Dựa vào những vấn đề trên khái niệm trần thuật được hiểu là: Phương

diện cơ bản của phương thức tự sự là việc giới thiệu, khái quát thuyết minh miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định (Cao Xuân Hạo, 2004)

Theo Đỗ Thị Kim Liên (2005): “Hành động trần thuật là hành động kể

lại, thuật lại một sự tồn tại của hiện thực khách quan (trong quá khứ, hiện tại) bằng tín hiệu ngôn ngữ.”

Trang 32

1.4 Giới thiệu tác giả - tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh

1.4.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Nhật Ánh và quá trình sáng tác của ông

Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn Ông sinh ngày 07/5/1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam

Thuở nhỏ ông theo học ở các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Châu Trinh Từ năm 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống ở Sài Gòn, theo học ngành sư phạm Ông đã từng đi thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Từ năm 1973 đến nay, ông là phóng viên của báo Sài Gòn Giải phóng,

lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục: tiểu phẩm, trang thiếu nhi và hiện nay

là bình luận viên thể thao báo Sài Gòn giải phóng với bút danh Chu Đình Ngạn Ngoài ra Nguyễn Nhật Ánh còn có các bút danh khác như: Anh Bồ câu,

Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông

Năm 13 tuổi ông đăng báo bài thơ đầu tiên Tác phẩm đầu tiên in thành

sách là một tập thơ: Thành phố tháng tư (Nxb Tác phẩm mới, 1984 - in chung với tác giả Lê Thị Kim) Truyện dài đầu tiên của ông là tác phẩm Trước vòng

chung kết (Nxb Măng Non, 1985) Hai mươi năm trở lại đây, ông tập trung viết

văn xuôi, chuyện sáng tác về đề tài thanh thiếu niên

Năm 1990, truyện dài Chú bé rắc rối được Trung ương Đoàn Thanh niên

Cộng sản Hồ Chí Minh trao giải thưởng Văn học trẻ hạng A năm 1995 Ông được bầu chọn là nhà văn yêu thích nhất trong 20 năm (1975-1995) qua cuộc

trưng cầu ý kiến bạn đọc Gương mặt trẻ tiêu biểu trên mọi lĩnh vực của Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ, đồng thời được Hội Nhà văn

thành phố Hồ Chí Minh chọn là một trong 20 nhà văn trẻ tiêu biểu trong 20 năm (1975-1995)

Năm 1998, ông được nhà xuất bản Kim Đồng trao giải cho nhà văn có sách bán chạy nhất năm 2003 Bộ truyện nhiều tập Kính Vạn Hoa được Trung

Trang 33

ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao huân chương Vì thế hệ trẻ

và được Hội nhà văn Việt Nam trao tặng thưởng Đến nay ông đã xuất bản hơn

100 tác phẩm và từ lâu đã trở thành nhà văn thân thiết của các bạn đọc nhỏ tuổi

ở Việt Nam

Năm 2004, Nguyễn Nhật Ánh ký hợp đồng với nhà xuất bản Kim Đồng

tiếp tục cho xuất bản bộ truyên dài gồm 28 tập mang tên Chuyện xứ Langbiang

nói về hai cậu bé lạc vào thế giới phù thủy Đây là lần đầu tiên ông viết bộ truyện hoàn toàn dựa trên trí tưởng tượng Vì vậy để chuẩn bị cho tác phẩm này ông phải mất sáu tháng nghiên cứu tài liệu và đọc sách liên quan như phù thủy và pháp sư, các huyền thoại phù thủy, ma thuật và thuật phù thủy

Sau Chuyện xứ Langbiang, tác phẩm tiếp theo của ông là bút kí của một chú cún có tên Tôi là Bêtô

Năm 2008, Nguyễn Nhật Ánh xuất bản truyện có tên Cho tôi xin một vé

đi tuổi thơ, tác phẩm này được báo Người Lao động bình chọn là tác phẩm hay

nhất năm 2008, đoạt giải thưởng văn học ASEAN năm 2010

Ngày 09/12/2010, Nguyễn Nhật Ánh xuất bản lần đầu tác phẩm Tôi thấy

hoa vàng trên cỏ xanh Đây là một trong những quyển sách Việt Nam bán chạy

nhất năm 2010 Tính đến tháng 10/2015, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh đã

trải qua 27 lần tái phát hành với tổng số bản in trên 129.000 bản

Tiếp theo các năm sau đó là sự lần lượt ra đời của các tác phẩm như:

Ngồi khóc trên cây (2013); Chúc một ngày tốt lành (2014); Bước nhảy tới mùa

hè (2015)

Như vậy, có thể thấy rằng hơn 40 năm cầm bút, Nguyễn Nhật Ánh có một kho tác phẩm dồi dào Dù viết ở đề tài nào đi nữa, những tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh vẫn có một sức hấp dẫn lạ lùng đối với bạn đọc bởi sự dí dỏm, sức tưởng tượng phong phú cũng như lượng tri thức dồi dào trong mỗi tác phẩm

Trang 34

1.4.2 Vị trí của hai tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Tôi thấy

hoa vàng trên cỏ xanh trong văn nghiệp của Nguyễn Nhật Ánh

1.4.2.1 Tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ

Nguyễn Nhật Ánh một người từng theo học ngành sư phạm, với Cho tôi

xin một vé đi tuổi thơ, hình như Nguyễn Nhật Ánh đã viết được một cuốn

"sách giáo khoa" cho môn học "Tâm lý học lứa tuổi" Chỉ khác là, những luận

đề, luận điểm của môn học ấy được trình bày bằng ngòi bút dí dỏm của nhà văn khiến bài học thấm thía hơn, dễ "vào" hơn bất kỳ một cuốn sách giáo khoa được soạn cẩn thận nào!

Cuốn sách mở đầu bằng một nhận xét về cuộc đời của nhân vật chính là Mùi, một chú bé mới tám tuổi: "Cuộc sống thật là buồn chán và tẻ nhạt" Với một loạt dẫn chứng hùng hồn, cậu cho rằng "cuộc sống thật là cũ kỹ" Mở đầu như thế, cuốn sách khiến độc giả giật mình, tự hỏi, tuổi thơ thời bây giờ phải chăng đã già đi mất rồi? Và cu Mùi chỉ "trẻ" lại khi cùng các bạn mình bắt đầu loay hoay tìm mọi cách thoát khỏi sự buồn chán, vô vị bằng "bảo bối" sẵn có của trẻ thơ - đó là trí tưởng tượng Với bảo bối ấy, các em chơi trò "vợ chồng,

bố mẹ, con cái" nhưng nội dung của xã hội bé bỏng đó lại không sao chép cuộc sống của người lớn, mà hoàn toàn lật ngược, đảo tung hết mọi trật tự quen thuộc

Với bảo bối ấy, cu Mùi đã "tập tành làm một nhà cách mạng tí hon", quyết không gọi "con gà là con gà, cuốn tập là cuốn tập, cây viết là cây viết" nữa Ngay đến cả bảng cửu chương, 2 nhân 4 cũng không muốn là 8, mà "phải

là cái gì cũng được, miễn là khác đi!" Thậm chí, cu Mùi còn cho rằng, cả chuyện trái đất ngày ngày quay quanh mặt trời cũng là một việc hết sức buồn

tẻ và nếu nó là trái đất, nó sẽ "tìm cách quay theo hướng khác"! Nó quan sát, phân tích cuộc sống chung quanh, đôi khi đưa ra những triết lý sắc bén về các quan hệ trong xã hội, về các khái niệm đối nghịch như con ngoan và con hư, sự đơn điệu và ổn định, sự êm đềm và vô vị, sự giống nhau và tính cá biệt, tri thức

Trang 35

và bằng cấp Nó thử định nghĩa cả tình yêu, rằng "yêu cũng như học bơi vậy, ai lười sẽ bị chìm"! Và cuối cùng, đứa trẻ còn phán xét cả những người lớn nữa! Phiên tòa "trẻ con xử người lớn" ban đầu, một cách thông thường, có thể tạo cho người đọc cảm giác hơi khó chịu, người lớn sẽ nhăn mặt vì sự thẳng thắn quá đáng của bọn trẻ Thế nhưng, phiên tòa ấy phản ánh rất thật, rất đúng một đòi hỏi chính đáng của tuổi thơ - đó là sự công bằng Ở các em, "đòi hỏi sự công bằng" không đồng nghĩa với "vô lễ" - hai khái niệm mà người lớn chúng

ta thường nhầm lẫn, cũng như, với các em, "tình thương" và "sự tôn trọng" mà cha mẹ dành cho con cái hoàn toàn không là một!

Cho dù cuốn sách có một nội dung khác thường như thế, Nguyễn Nhật Ánh vẫn cứ là Nguyễn Nhật Ánh khi ông luôn giữ nét đặc trưng trong văn phong của mình - chất hài hước nhẹ nhõm, đáng yêu - khiến khi đọc từ đầu tới cuối, nụ cười thú vị không rời trên môi Song, cũng lại khác với các tác phẩm trước, cuốn sách không dừng lại ở chương thứ 12 Nó có phần "vĩ thanh" vô hình với rất nhiều điều khiến độc giả - người lớn day dứt

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ thực sự là cuốn truyện hữu ích cho cả

người lớn và trẻ con Tác giả đã kéo các thế hệ lại gần nhau hơn Đọc nó, những người lớn vô tâm mải miết với cuộc sống cơm áo gạo tiền có thể sẽ dừng bước đôi chút mà ngoái về phía sau, nhớ lại thời thơ ấu, và cùng nhà văn gắng hiểu con em mình để rồi có một phương cách tiếp cận chúng từ một tư thế khác - tư thế của những người bạn - nhằm có thể xóa đi được "lằn ranh giữa trẻ con và người lớn" mà nhà văn cho là "khó ngang với xóa bỏ ranh giới giàu, nghèo trong xã hội" Không chỉ vậy, cuốn sách cũng cho độc giả - người lớn có cơ hội hiểu rõ mình hơn bằng cách "chịu đựng" sự phán xét xác đáng của trẻ thơ với một loạt những so sánh về "các trò chơi" của trẻ con và người lớn

Trong cuốn 105 cuốn sách được đọc nhiều nhất ở các nước trên thế giới

(Nxb Ten-Books - Nhật Bản, ấn hành tháng 12/2013), thì tác phẩm Cho tôi xin

Trang 36

một vé đi tuổi thơ và Kính Vạn Hoa là hai đầu sách của Việt Nam Cả hai đều

là những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Nhật Ánh Cho tôi xin một vé đi tuổi

thơ là tác phẩm đoạt giải thưởng Văn học Đông Nam Á (năm 2010), được dịch

ra nhiều thứ tiếng và xuất bản tại nhiều nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Mỹ…

1.4.2.2 Tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh là một trong các truyện dài của Nguyễn

Nhật Ánh viết cho lứa tuổi thanh thiếu niên, xuất bản lần đầu tại Việt Nam vào

ngày 9 tháng 12 năm 2010 bởi Nhà xuất bản Trẻ Tác phẩm ra đời sau Đảo

mộng mơ (2009) và trước Lá nằm trong lá (2011)

Câu chuyện là những trang nhật ký về cuộc sống thường ngày và tâm tư của cậu bé Thiều Thiều đang là học sinh lớp 7 sống ở một vùng quê nghèo, cùng với người em trai tên Tường Tường là một cậu bé dễ thương, hiền lành, bao dung, rất yêu mến anh trai và thích chơi đùa với nhiều loài động vật gồm

cả sâu bọ Cậu bé sống nội tâm, ham đọc sách và rất say mê những câu chuyện

cổ tích, đặc biệt là truyện Cóc tía, chính vì vậy mà cậu nuôi nấng một

con cóc dưới gầm giường và đặt tên cho nó là "Cu Cậu" Trong khi đó Thiều vốn là một người hướng ngoại, khá tinh quái, đã nhiều lần vô tình để em mình chịu tai bay vạ gió sau những trò nghịch phá do chính mình bày ra Thiều cũng rất nhiều lần tỏ ra hẹp hòi, nhưng trong thâm tâm cậu vẫn rất thương em mình

và là một người hào hiệp Hai anh em Thiều và Tường thả hồn vào những trò chơi cảm giác mạnh và nhiều kỷ niệm đáng nhớ thời thơ ấu của những đứa trẻ làng quê Truyện cũng mở rộng ra mối quan hệ giữa hai anh em và những người dân trong ngôi làng, gồm cả người thân của mình và những bạn học cùng lớp Ba của Thiều được miêu tả là một người nhanh nhẹn, hoạt bát và được dân làng yêu mến nhưng hay nổi nóng và thường xuyên đánh đòn hai anh

em vì nhiều lý do, trong khi mẹ cậu tỏ ra dịu dàng với các con hơn dù bà cũng không tránh khỏi việc trách mắng khi các con làm điều sai quấy

Trang 37

Chú Đàn là em trai của ba Thiều, bị mất một tay do tai nạn nhưng vẫn luôn yêu đời và thường kể chuyện ma cho hai anh em Thiều và Tường nghe Tuy bị cụt mất một tay nhưng chú Đàn lại chơi đàn “acmonica” rất hay Nỗi muộn phiền duy nhất của chú có lẽ nằm ở chuyện tình nhiều trắc trở do cánh tay cụt gây ra Chú Đàn yêu chị Vinh, một cô gái cùng xóm và là con của thầy Nhãn, thầy giáo chủ nhiệm lớp của Thiều, người thầy mà lúc nào cũng làm cho Thiều sợ chết khiếp Vào lúc mở đầu câu chuyện, Thiều cảm thấy thích một cô bạn cùng lớp ngồi kế bên cậu tên là Xin Xin hay bị Thiều trêu chọc và từng có lần vô tình làm cho Thiều bẽ mặt trước lớp Một bạn học khác của Thiều là Sơn, lớn hơn cậu ba tuổi nhưng học lực rất yếu và phải ở lại lớp liên tục 5 năm liền Sơn được miêu tả là một đứa đô con, suốt ngày phá làng phá xóm và có những cử chỉ và lời nói khiếm nhã, thô tục Về sau, Thiều nhận ra mình đã có tình cảm với Mận, là một cô bạn cùng lớp lớn hơn cậu một tuổi Mận xinh xắn

và ngây thơ nhưng học không được tốt do phải chăm sóc người cha mắc căn bệnh phong, đang bị mẹ cô bé giam trên gác nhà Bí mật này chỉ có Thiều và Tường biết, và hai anh em đã phải ẩu đả với Sơn chỉ để bảo vệ Mận trước những âm mưu đen tối

Biến cố xảy ra khi căn gác nhà Mận bốc cháy, khiến ông bị phỏng đoán

là đã chết cháy sau khi người ta phát hiện ra có xương lẫn trong đám tro Chịu liên tiếp nhiều cú sốc lớn, Mận suy sụp hoàn toàn Gia đình Thiều đã giúp đỡ Mận trong lúc khó khăn nhất và đưa cô bé về ở chung với mình Mận biết được

ba mình còn sống và mẹ sẽ được thả trong một ngày không xa Tuy nhiên, sự thân thiết giữa Tường và Mận lại khiến cho cơn ghen tức trong lòng Thiều tăng lên theo thời gian Cậu đã không can ngăn khi con cóc Tường nuôi bị bắt đi làm thịt, điều mà khiến Thiều ray rứt mãi bởi chứng kiến nỗi buồn đau của Tường dù cậu bé không hề biết là do anh mình tiếp tay Mùa lũ đến, cả làng Thiều chìm trong nước, khi nước rút đi và để lại nhiều hậu quả tiêu cực như đói kém, mất mùa, Thiều, Tường và Mận mới phát hiện ra chị Vinh và chú

Trang 38

Đàn đã lập ra kế hoạch cùng nhau bỏ trốn để thoát khỏi sự ngăn cấm của gia đình Cùng lúc đó, sự hẹp hòi và đố kỵ trong lòng Thiều đã nhiều đến mức trong một phút hiểu lầm cậu đã vô tình khiến em trai mình bị thương nặng, không thể ngồi dậy được Thiều càng ân hận hơn khi nghe chính miệng Tường

kể rằng người mà Mận thích chơi cùng chính là cậu

Mận được mẹ đón đi tìm cha, trong khi Thiều ở lại chìm trong nuối tiếc

và cắn rứt mà tận tình chăm sóc cho Tường Cả hai anh em đã giấu ba mẹ nguyên nhân thật sự gây ra cảnh ngộ rủi ro của Tường Một hôm Thiều mừng

rỡ khi thấy Tường đã ngồi dậy được và nghe em trai mình kể về một nàng công chúa không biết từ đâu đến đã trở thành nguồn động viên tinh thần để Tường hồi phục Quá hiếu kỳ, trong một lần tình cờ phát hiện ra công chúa và lén lút bám theo, Thiều vô cùng bất ngờ khi biết nàng công chúa ấy thực ra là Nhi, con một người mổ lợn trong làng Người làng lầm tưởng Nhi đã chết sau một vụ tai nạn ba năm trước, nhưng hóa ra cô bé vẫn sống nhưng có vấn đề về thần kinh, khiến cô tự xem mình là công chúa và cha mình là đức vua, người

mà cũng vì thương con nên đã giả vờ diễn trò cùng cô bé Thiều kể lại bí mật này với Tường lúc này đã đứng dậy được, bởi vì Tường và Nhi từng chơi rất thân với nhau Sự nôn nóng được gặp lại Nhi thôi thúc Tường ra sức tập đi lại Một ngày nọ hai anh em nhìn thấy Nhi đang bị đám trẻ con trong làng trêu chọc, Tường đã chạy hết sức bằng chính đôi chân mình đến bảo vệ Nhi, kỳ diệu thay nghĩa cử này khiến cô bé nhớ ra mọi chuyện và trở lại bình thường

Là một trong những quyển sách Việt Nam bán chạy nhất năm 2010, Tôi

thấy hoa vàng trên cỏ xanh đã được tái bản ngay trong ngày phát hành đầu

tiên, với tổng số bản in lên đến hơn 20.000 bản

Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh được chuyển thể thành một bộ phim điện

ảnh cùng tên bởi đạo diễn Victor Vũ, công chiếu vào tháng 10 năm 2015 với doanh thu phòng vé rất cao và gây được nhiều sự chú ý trong công chúng Như một ảnh hưởng từ sức ảnh hưởng tích cực của bộ phim, tác phẩm đã trở thành

Trang 39

quyển sách bán chạy nhất trong Hội sách Hà Nội năm 2015 Tính đến tháng 10

năm 2015, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh đã trải qua 27 lần tái phát hành với

đó có 04 tiêu chí cơ bản: tiêu chí đích; tiêu chí hướng khớp ghép; tiêu chí trạng thái tâm lí và tiêu chí nội dung mệnh đề) để phân loại 5 phạm trù hành động ở lời (Tái hiện; điều khiển; cam kết; biểu cảm và tuyên bố)

Trên cơ sở này chúng tôi phân loại hành động ở lời trong hai tác phẩm

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn

HĐ Cầu khiến

HĐ Bày

tỏ

HĐ Ứng

xử

HĐ Cam kết

HĐ Tuyên

bố

1 CTXMVĐTT 124 127 50 36 12 7 22

2 TTHVTCX 324 223 65 70 18 12 16 Tổng

1106

448 350 115 106 30 19 38

Tỉ lệ % 40,5 31,6 10,4 9,6 2,7 1,7 3,4

Trang 40

Nhận xét bảng 1.1

Xét về số lượng các hành động nói chung, tần số xuất hiện của các nhóm

hành động ngôn từ qua lời thoại nhân vật trong hai tác phẩm Cho tôi xin một vé

đi tuổi thơ và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh có tỉ lệ

không đồng nhất Nhóm xuất hiện với tỉ lệ cao nhất là nhóm hỏi với 40,5%, tiếp đó là nhóm trần thuật với 31,6%, thứ ba là nhóm cầu khiến với 10,4%, thứ

tư là nhóm bày tỏ với 9,6% Nhóm xuất hiện với tỉ lệ thấp là nhóm tuyên bố 3,4%, tiếp đến là nhóm ứng xử với 2,7%, cuối cùng là nhóm cam kết với 1,7%

Vì vậy đề tài chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu hai nhóm có tỉ lệ xuất hiện cao nhất đó là nhóm hành động hỏi và nhóm hành động trần thuật

Ngày đăng: 20/12/2020, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w