Vì những lý do trên, chúng tôi đã nghiên cứu “Đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các văn bản khoa học - qua các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học, ĐHQGHN” nhằm làm rõ hơn về lý thu
Trang 2N I, 2019
Trang 3LỜ M O N
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi ác số liệu, kết quả được trình bày trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận án
Người cam đoan
Trang 4
MỤC LỤC
D N MỤ Á Ữ V ẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU Ồ, SƠ Ồ 4
MỞ ẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Câu hỏi và Giả thuyết nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 óng góp của luận án 8
7 ấu trúc của luận án 8
ƯƠN 1 TỔN QU N TÌN ÌN N ÊN ỨU V Ơ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết và mạch lạc 9
1.1.2 Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới và Việt Nam 21
1.1.3 Những vấn đề còn bỏ ngỏ 25
1.2 Cơ sở lý luận 26
1.2.1 Liên kết và mạch lạc 26
1.2.2 Văn bản - văn bản khoa học và bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 31
ƯƠN 2 Ặ ỂM L ÊN ẾT TRON Á B BÁO O Ọ V N N V N 42
2.1 ác phép liên kết đặc thù trong các bài báo hoa học ã hội và Nhân văn 42
2.1.1 Phép liên kết từ vựng 43
2.1.2 Phép nối 51
2.1.3 Phép quy chiếu 66
2.1.4 Phép thế và phép tỉnh lược 73
2.2 Một số đặc trưng liên kết trong các bài báo hoa học ã hội và Nhân văn 75
2.2.1 Sự phối hợp hiệu quả của các phép liên kết trong các bài báo KHXH&NV 75
2.2.2 Phương tiện liên kết đặc trưng trong các bài báo KHXH&NV 76
Trang 52.2.3 Liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và liên kết trong các báo
Khoa học Nhân văn 82
2.2.4 Liên kết trong các bài báo khoa học và liên kết trong các văn bản thuộc phong cách chức năng khác 87
ƢƠN 3 Ặ ỂM M L TRON Á B BÁO O Ọ V N N V N 95
3.1 Mạch lạc trong quan hệ đề tài - chủ đề 95
3.2 Mạch lạc trong quan hệ lập luận 97
3.2.1 Cấu trúc lập luận trong phần Kết quả nghiên cứu và phần Kết luận của bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 98
3.2.2 Quan hệ lập luận trong phần Dẫn nhập, phần Kết luận của các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 106
3.3 Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và cấu trúc toàn văn bản 112
3.3.1 Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn 112
3.3.2 Mạch lạc trong cấu trúc văn bản 116
KẾT LUẬN 146
D N MỤ ÔN TRÌN O Ọ Ủ TÁ Ả L ÊN QU N ẾN LUẬN ÁN 151
T L ỆU T M ẢO 152
P Ụ LỤ 162
Trang 6DANH MỤC Á Ữ VIẾT TẮT
ại học
ại học Quốc gia Hà Nội
Khoa học Xã hội và Nhân văn
: LA : P : PLK : PCKH : VB
Trang 7
DANH MỤC BẢNG, BIỂU Ồ, SƠ Ồ
Bảng 1.1: ác phép liên kết theo quan niệm của Halliday 26
Sơ đồ 1.2: Những đặc trưng của văn bản 34
Bảng 2.1: Tần số các phép liên kết được sử dụng trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 43
Biểu đồ 2.2: ác loại liên kết từ vựng được sử dụng trong các bài báo KHXH&NV 44
Biểu đồ 2.3: ác kiểu quan hệ nghĩa của phép nối được sử dụng trong các bài báo KHXH&NV 52
Biểu đồ 2.4: ác kiểu loại phép quy chiếu được sử dụng trong các bài báo KHXH&NV 67
Bảng 2.5: Bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn theo các lĩnh vực 82
Biểu đồ 2.6: Tần số các phép liên kết được sử dụng trong 8 ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn 83
Biểu đồ 2.7: Tần số các loại liên kết từ vựng xuất hiện trong các bài báo thuộc tám ngành KHXH&NV 86
Bảng 3.1: Bảng các kiểu lập luận trong 240 bài báo thuộc tám ngành KHXH&NV 97
Sơ đồ 3.2: ấu trúc lập luận của bài báo 101
Sơ đồ 3.3: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r1) 102
Sơ đồ 3.4: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r3) 103
Sơ đồ 3.5: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r4) 104
Sơ đồ 3.6: Quan hệ lập luận trong phần kết luận R 105
Sơ đồ 3.7: ấu trúc của một bài báo KHXH&NV 117
Bảng 3.8: ác yếu tố thành phần trong hai giai đoạn của bài báo KHXH&NV 119
Sơ đồ 3.9: ác yếu tố thành phần của bài báo KHXH&NV 121
Bảng 3.10: ác yếu tố thành phần trong các bài báo thuộc 8 ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn 122
Bảng 3.11: ấu tạo ngữ pháp tiêu đề các bài báo KHXH&NV 123
Bảng 3.12: Vai trò của tiêu đề các bài báo KHXH&NV 124
Bảng 3.13: Mối quan hệ giữa Tóm tắt và Nội dung bài báo 128
Bảng 3.14: ấu trúc nghĩa phần thảo luận của bài báo “Vấn đề lương tâm trong kịch Sêkhôp” 138
Trang 8MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thuật ngữ “văn bản” ngay từ khi mới xuất hiện đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhiều công trình đã nghiên cứu về liên kết hoặc mạch lạc trong các văn bản (VB) nghệ thuật, VB báo chí, VB hành chính tiếng Việt iều này cho thấy giá trị cần thiết của hai yếu tố liên kết và mạch lạc trong việc kết nối các đơn vị ngôn ngữ để tạo nên tính hoàn chỉnh cho VB Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu kỹ về VB khoa học, cũng như làm rõ vai trò quan trọng của liên kết bên cạnh phương diện mạch lạc khi tạo lập và tiếp nhận các
VB khoa học tiếng Việt
1.2 Khoa học và công nghệ hiện nay đang phát triển nhanh chóng và đạt rất nhiều thành tựu to lớn, vì thế đòi hỏi VB khoa học cần thiết phải là phương tiện hữu ích để phổ biến thông tin Theo nhận định của Unesco, hoạt động nghiên cứu khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) đang càng ngày càng có giá trị, có tính chất liên ngành, đóng góp hữu ích trong việc hoạch định các chính sách, giải quyết các vấn đề xã hội và nâng cao phúc lợi của nhân dân [97] Vì thế, nên có những nghiên cứu chi tiết về loại VB này để đưa ra những đề xuất (về việc cần đảm bảo tính liên kết, mạch lạc, sự hoàn chỉnh của cấu trúc hình thức và nội dung) nhằm góp phần nâng cao chất lượng các bài báo KHXH&NV, hướng tới đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia
và quốc tế, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay
1.3 VB khoa học sử dụng nhiều thuật ngữ mang tính chuyên ngành cao, thường khó khăn hơn đối với người tiếp nhận và tạo lập [114, tr.26] Tuy có ý kiến quan niệm, VB khoa học có tính chính xác và logic nên đòi hỏi sự xuất hiện nhiều các phép liên kết (phương thức liên kết), nhưng chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu cụ thể đặc điểm của liên kết và mạch lạc xuất hiện trong loại VB này Mặt khác, trong quá trình tiếp xúc với các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - ại học Quốc gia Hà Nội ( HQGHN), chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số trường hợp chưa đáp ứng đúng yêu cầu của văn phong và cấu trúc bài báo khoa học Và việc đưa ra
Trang 9những yêu cầu mang tính bắt buộc đối với các sản phẩm khoa học là nhiệm vụ của các nhà ngôn ngữ cũng như những người làm công việc biên tập
Vì những lý do trên, chúng tôi đã nghiên cứu “Đặc điểm liên kết và mạch lạc
trong các văn bản khoa học - qua các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học, ĐHQGHN” nhằm làm rõ hơn về lý thuyết VB và những yêu cầu thực tiễn trong việc
sử dụng các phép liên kết (PLK), phương tiện liên kết, quan hệ đề tài – chủ đề, quan
hệ lập luận, cấu trúc hình thức của các bài báo khoa học tạo giá trị mạch lạc cho loại
VB này
2 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
ối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm liên kết và mạch lạc trong 586 bài báo KHXH&NV đăng trên Tạp chí Khoa học - HQGHN từ năm 1985 đến năm
2013 (thuộc các lĩnh vực: Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học, Lịch sử, Ngôn ngữ, Triết học, Văn học v.v.)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ thời gian và dung lượng luận án, nên chúng tôi chỉ xem xét sự xuất hiện của các PLK trong các bài báo KHXH&NV, sự mạch lạc trong quan hệ nội chiếu bên trong VB (gồm mã tín hiệu ngôn ngữ, cấu trúc lập luận, kết cấu thể loại VB) ác yếu tố khác liên quan đến mạch lạc bên ngoài VB (bao gồm: ngữ cảnh, kiến thức nền, người viết/ người đọc) hy vọng sẽ được đề cập chi tiết hơn trong những
nghiên cứu tiếp theo
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của luận án là tìm hiểu và chỉ ra các đặc điểm liên kết và mạch lạc xuất hiện phổ biến trong các bài báo KHXH&NV Qua đó, khẳng định vai trò quan trọng của liên kết và mạch lạc trong thể loại VB này Từ kết quả nghiên cứu này, L hy vọng có thể đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất lượng các bài báo khoa học hướng tới đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của bài báo chuẩn quốc gia và quốc tế
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Một là, tìm hiểu và khái quát những vấn đề lý thuyết về VB, liên kết và mạch lạc trong VB, cấu trúc của một bài báo khoa học
- Hai là, khảo sát, thống kê, phân loại và xác định những PLK cơ bản được
sử dụng để tạo tính logic trong các bài báo KHXH&NV
- Ba là, khảo sát, thống kê và xác định những biểu hiện đặc trưng thể hiện sự mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV
4 Câu hỏi và iả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Những PLK nào được dùng phổ biến trong các bài báo KHXH&NV? Việc
sử dụng các phương tiện liên kết trong VB khoa học có những đặc thù gì?
- ặc trưng mạch lạc trong các văn bản KHXHNV là gì?
- Những đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB khoa học được xuất hiện độc lập hay có sự ảnh hưởng với nhau?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Liên kết và mạch lạc là hai đặc điểm bắt buộc trong VB khoa học nhằm thể hiện các suy luận của tư duy logic, đó không chỉ thể hiện là liên kết hình thức
mà còn góp phần quan trọng đem lại sự tường minh ngữ nghĩa nội dung cho VB khoa học
- ác bài báo KHXH&NV có cấu trúc riêng và cách thức tổ chức thể hiện
sự kết nối chặt chẽ, mạch lạc và thống nhất cao giữa các phần trong bài báo (tiêu
đề, tóm tắt, đặt vấn đề, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, thảo luận, kết luận)
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài cách tiếp cận định tính và định lượng với các thủ pháp được sử dụng
là miêu tả, quy nạp, thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp, so sánh - cải biến, luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản là:
- Phương pháp phân tích VB: Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu, miêu tả, phân tích giá trị ngữ nghĩa của các PLK, những biểu hiện mạch lạc xuất
Trang 11hiện đặc trưng và đặc điểm cấu tạo cùng nội dung ngữ nghĩa của các yếu tố thành phần trong các bài báo KHXH&NV
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Dựa trên lý thuyết ngữ vực (register) của
M .K Halliday về trường (field), thức (mode) và không khí (tenor) để tìm hiểu và giải thích đề tài - chủ đề, phương thức diễn ngôn (viết), chức năng các bài báo khoa học, mục đích giao tiếp đã chi phối ra sao tới cách lựa chọn các PLK và cách tạo sự mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV ồng thời, xem xét phân tích cấu trúc diễn ngôn (các đơn vị ngôn ngữ tạo nên bài báo KHXH&NV và các qui luật chi phối tới việc tổ chức những đơn vị ngôn ngữ đó)
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy các đặc điểm liên kết (các phép liên kết, các phương tiện liên kết đặc thù) và đặc điểm mạch lạc nổi bật (trong quan hệ đề tài – chủ đề; quan hệ lập luận; quan hệ giữa các câu, đoạn, cấu trúc toàn VB) trong các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - HQGHN Trong quá trình tạo lập và phân tích các bài báo KHXH&NV cần lưu ý đến cấu trúc hình thức, tính hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện liên kết để tạo giá trị mạch lạc cho VB Ngoài ra, kết quả của luận án cùng những đề xuất có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và giảng dạy ngôn ngữ trong nhà trường
7 ấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:
hương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
hương 2: ặc điểm liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn hương 3: ặc điểm mạch lạc trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 12ƯƠN 1 TỔN QU N TÌN ÌN N ÊN ỨU
V Ơ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết và mạch lạc
1.1.1.1 Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong văn bản trên thế giới
(i) Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc
Các công trình nghiên cứu về VB ngay từ giai đoạn đầu tiên (những năm
1950 của thế kỷ XX) đã có sự xuất hiện của thuật ngữ liên kết (các phương tiện liên kết hình thức) Và theo Moskalskaja, tính liên kết trong VB được thể hiện dưới
dạng tính hoàn chỉnh về cấu trúc, nghĩa và giao tiếp do đó“những yếu tố này tương
ứng với nhau như hình thức, nội dung và chức năng” [66, tr.27]
Hai tác giả Halliday và Hasan trong công trình “Liên kết trong tiếng Anh”
(1976) [112] đã xây dựng hệ thống các PLK trong tiếng Anh, đồng thời khẳng định
ý nghĩa của các mệnh đề, các phát ngôn, đoạn văn sẽ trở nên rõ ràng hơn nhờ việc
sử dụng các phương tiện liên kết Bên cạnh đó, hai tác giả đã quan niệm “một văn
bản là một đoạn ngôn ngữ có mạch lạc ở hai mặt: nó mạch lạc đối với ngữ cảnh và
vì vậy mà nó nhất quán trong trường ngữ vực (register) và nó mạch lạc với bản thân nó, vì thế mà nó có tính liên kết” [112, tr.23]
Năm 1977, tác giả Van Dijk đã đề cập đến liên kết, mạch lạc ngữ nghĩa và lưu ý, sự liên kết về hình thức không đủ để tạo ra sự mạch lạc cho VB, phải dựa trên
cả mặt ngữ nghĩa, sự liên kết chủ đề trong cả đoạn văn, VB cụ thể [130, tr.93]
De Beaugrande và Dressler (1981) đã quan niệm, liên kết và mạch lạc là hai đặc điểm của VB cùng với năm đặc điểm khác là: tính chủ đích, chấp nhận, thông tin, ngữ cảnh và tương tác [104, tr.3] Ngoài ra, vai trò của liên kết cũng được tác
giả I.Galperin nhấn mạnh là “một phạm trù không thể tách rời của văn bản, chính
sự liên kết làm cho thông tin nội dung sự việc được lý giải nhất quán” [31, tr.249]
Và theo tác giả, các phương tiện thể hiện mạch lạc trong VB, ngoài những phương tiện ngữ pháp truyền thống (liên kết giữa các câu) còn gồm các phương tiện logic,
Trang 13liên tưởng (thời gian, không gian, nhân – quả), hình tượng, bố cục – kết cấu, tu từ
và tiết tấu – cấu tạo [31, tr.157]
Năm 1983, Brown và Yule trong tác phẩm “Phân tích diễn ngôn” cũng đã
khẳng định, liên kết và mạch lạc đóng vai trò quan trọng trong các văn bản/ diễn ngôn [8] ồng thời, hai tác giả đồng ý với quan điểm của Halliday và Hasan về các PLK và đồng ý với quan điểm của De Beaugrande và Dressler về sự mạch lạc khi cho rằng, yếu tố mạch lạc phụ thuộc vào khả năng của người nghe/ người đọc để giải thích ý định của người nói/ người viết trong việc hiểu nội dung thông tin của
VB [8, tr.348] Tiếp theo, David Nunan (1993) cũng nhất trí với các PLK do Halliday và Hasan đề xuất và quan niệm, mạch lạc là việc người đọc/người nghe sử dụng kiến thức ngôn ngữ của họ để hiểu VB và liên hệ với thế giới bên ngoài [71]
Cụ thể hơn, Martin (2001) đã khẳng định, liên kết là một thuộc tính góp phần vào việc tổ chức cấu trúc của diễn ngôn [118]
Nhìn chung, có thể thấy liên kết và mạch lạc đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thống nhất rằng, liên kết là việc sử dụng các phương tiện liên kết hình thức, mạch lạc là sự nối kết về mặt ngữ nghĩa giữa các câu, các thành phần trong
VB và phù hợp với tình huống ngoài VB
Quan điểm về liên kết của Halliday và Hasan đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ ứng dụng trong các công trình của họ Vì thế, liên kết và mạch lạc đã được đề cập đến trong nhiều ngôn ngữ khác nhau [131], trong các nghiên cứu về ngôn ngữ học máy tính, ngôn ngữ học khối liệu của các VB khoa học kỹ thuật [125] Bên cạnh đó, tầm quan trọng của liên kết, mạch lạc đã được khẳng định và được nhiều tác giả đề cập trong các loại VB khác nhau [118, 127, 138] Nhiều công trình khác đã phân tích các ngữ liệu và chỉ ra, sự liên kết thay đổi theo phương thức diễn ngôn (nói hay viết) [110, 129] và theo thể loại [128] Ngoài ra, nghiên cứu về liên kết và mạch lạc là cần thiết để cung cấp những thông tin hữu ích cho ngôn ngữ học ứng dụng, nghiên cứu dịch thuật [119] ặc biệt là, trong giảng dạy ngôn ngữ [138, tr.16], trong các tài liệu hướng dẫn người học cách sử dụng và tạo lập một VB hoàn chỉnh, thống nhất, đảm bảo tính liên kết và mạch lạc [108, 111, 122]
Trang 14(ii) Mối quan hệ của liên kết và mạch lạc
ác nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều đồng ý có sự xuất hiện của yếu tố liên kết
và mạch lạc trong VB, tuy nhiên quan điểm về mối quan hệ của hai thuật ngữ này
có sự khác nhau
Quan điểm thứ nhất cho rằng, liên kết và mạch lạc là hai hiện tượng riêng biệt Một VB có thể có mạch lạc mà không cần sự xuất hiện của các PLK Liên kết không liên quan đến mạch lạc (hai khái niệm này độc lập) Mạch lạc quyết định một chuỗi câu là VB và không cần sử dụng các PLK ó là quan điểm của các tác giả: Enkvist (1978), Widdowson (1978), Ellis (1992), Hellman (1995), Sanford & Moxey (1995) (theo Tanskanen [129, tr.16]) hi tiết hơn, theo ý kiến của hai tác giả De Beaugrande và Dressler, liên kết và mạch lạc đại diện cho bảy tiêu chuẩn của tính VB (textuality) ồng thời, đó là hai hiện tượng riêng biệt rõ ràng, không ảnh hưởng đến nhau [104, tr.3] Tác giả Roger T Bell (1991) cũng quan niệm, liên kết và mạch lạc là hai thuộc tính không thể thiếu của VB nhưng chúng có sự phân biệt nhau [105, tr.163] Tác giả I.Galperin cũng phân biệt mạch lạc và liên kết, nhưng cho rằng chúng qui định lẫn nhau [31, tr.250] John Lyons đã nhấn mạnh hơn, tính liên kết phân biệt với tính mạch lạc, là sự phân biệt giữa hình thức và nội dung [63, tr.274]
Quan điểm thứ hai đề cao vai trò của liên kết và liên kết góp phần tạo ra sự mạch lạc trong các VB ó là quan niệm của các tác giả: Hoey (1991), Parsons (1991), Hoover (1997), Martin (1992), Thompson (1994), Dahl năm 2000 (theo Tanskanen [129, tr.20]) Tác giả Péter B Furkó (2013) cũng cho rằng, dù liên kết chỉ đóng vai trò là yếu tố nhỏ trong diễn ngôn/ văn bản, nhưng nghiên cứu về chúng
có tầm quan trọng lớn nhất, bởi chúng đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra các
mối quan hệ mạch lạc và ý nghĩa VB [134, tr.103]
Quan điểm thứ ba cho rằng, liên kết và mạch lạc có sự hòa quyện vào nhau
ó là ý kiến của hai tác giả Halliday và Hasan, liên kết có nghĩa là sự mạch lạc trong một VB, trong khi mạch lạc là sự mạch lạc của VB với ngữ cảnh tình huống bên ngoài VB [112, tr.23] Họ khẳng định “texture” (được hiểu là tính kết cấu, chất
Trang 15VB hay mạng mạch) chính là thuộc tính để một chuỗi câu được gọi là VB [112,
tr.2] ồng ý với quan niệm này, Wales đã cho rằng: “mạch lạc là liên kết ngữ
nghĩa (semantic cohesion) còn liên kết là mạch lạc văn bản (textual coherence)”
[102, tr.603-604] Tác giả Tanskanen (2006) đã khẳng định, có sự hiện diện của các
PLK trong một VB mạch lạc, do đó chúng độc lập và phụ thuộc vào nhau [129, tr.21] ồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh, giao tiếp thành công phụ thuộc vào cả sự liên kết và mạch lạc của VB
Tóm lại, tuy có những ý kiến khác nhau về mối quan hệ của hai yếu tố này khi nghiên cứu VB nhưng các nhà ngôn ngữ học bên cạnh việc chú trọng hình thức đã quan tâm nhiều hơn tới quá trình sử dụng ngôn ngữ Do đó, liên kết và mạch lạc trong VB được tìm hiểu (bao gồm cả ngữ nghĩa học, ngữ dụng học) gắn với chức năng giao tiếp Và trong những công trình nghiên cứu gần đây đã có sự chú trọng hơn tới các hoạt động xã hội của ngôn ngữ (VB được khảo sát trong các hoạt động cụ thể, ứng dụng trong đời sống và có tính liên ngành với các ngành khoa học khác)
Nhìn chung, các nghiên cứu về liên kết, mạch lạc đã xuất hiện trong cả phân tích diễn ngôn lẫn ngôn ngữ học VB nhiều thập kỷ qua ồng thời, hai đặc điểm này được tìm hiểu cả trên bình diện lý thuyết và ứng dụng trong các thể loại VB cụ thể thuộc nhiều phong cách (nghệ thuật, hành chính, chính luận) Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất trong việc phân biệt hay không phân biệt đặc điểm liên kết, đặc điểm mạch lạc trong VB và chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu các đặc điểm này trong bài báo khoa học
1.1.1.2 Nghiên cứu liên kết và mạch lạc trong văn bản ở Việt Nam
Liên kết và mạch lạc là hai thuộc tính cơ bản của VB và xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong
VB tiếng Việt cả về lý thuyết và ứng dụng được đề cập nhiều, chúng tôi tạm chia ra
4 hướng nghiên cứu chính là: Lý thuyết về liên kết, mạch lạc và hệ thống các phép liên kết; Nghiên cứu liên kết và mạch lạc ứng dụng trong giảng dạy; Nghiên cứu các
Trang 16phép liên kết hoặc đặc điểm mạch lạc trong một số VB tiếng Việt; Nghiên cứu so
sánh liên kết và mạch lạc trong VB tiếng Việt với các VB thuộc ngôn ngữ khác
(i) Lý thuyết về liên kết, mạch lạc và hệ thống các phép liên kết
Hiện nay, tại Việt Nam cùng xem xét sự liên kết trong VB tiếng Việt dựa trên yếu tố nghĩa, đang tồn tại hai quan điểm về liên kết và do đó có hai hệ thống các PLK Quan điểm thứ nhất, coi liên kết VB thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ và một chuỗi câu là một VB phải có đầy đủ liên kết hình thức và liên kết nội dung [80] Theo quan điểm này, trong VB tiếng Việt có 12 PLK hình thức (trong đó phép lặp gồm ba kiểu: lặp ngữ âm, cú pháp và từ vựng) [81, tr.25] Quan điểm thứ hai, tách liên kết ngữ nghĩa khỏi liên kết hình thức (liên kết ngữ nghĩa thuộc về khái niệm mạch lạc) Và liên kết không thuộc cấu trúc, điều làm cho chuỗi câu trở thành
VB, là yếu tố mạch lạc Theo quan điểm thứ hai này, hệ thống liên kết trong VB tiếng Việt gồm bốn PLK là: phép quy chiếu, phép nối, phép thế và phép tỉnh lược, phép liên kết từ vựng [5, tr.351]
Quan điểm thứ nhất về liên kết đã được tác giả Trần Ngọc Thêm đề cập
trong công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” (1985) và mạch lạc được tác
giả quan niệm là sự liên kết nội dung trong VB [81] ây là đóng góp rất lớn của tác giả cho lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp VB tiếng Việt Quan điểm này cũng nhận
được sự nhất trí của nhiều nhà nghiên cứu Tác giả ỗ Hữu hâu đã cho rằng “liên
kết nội dung trong văn bản còn gọi là mạch lạc” và ông đã đề cập đến tính mạch lạc
của VB trong nhiều công trình nghiên cứu [12, 13] Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) đã nghiên cứu về đặc điểm liên kết của lời nói tiếng Việt, đồng thời dựa trên phương diện ngữ kết, ngữ nghĩa học và ngữ dụng - ngữ nghĩa học để phân chia các phương thức, phương tiện được sử dụng Và tác giả cho rằng, ngoài việc sử dụng 12 PLK giống như liên kết VB, liên kết lời nói còn có thêm 4 phép đặc thù (tiền giả định, hàm ý, cử chỉ và tình huống) thành 16 PLK [76, tr.125]
Quan điểm thứ hai về liên kết được tác giả Diệp Quang Ban đề cập đến trong
công trình “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” (1998) và theo ông, mạch lạc trong
VB gồm 3 đặc điểm là: triển khai mệnh đề, chức năng, theo nguyên tắc cộng tác [3]
Trang 17Trong công trình nghiên cứu năm 2009, tác giả đã bổ sung thêm, mạch lạc gồm 7 đặc điểm (mạch lạc thông qua quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, quan hệ đề tài
- chủ đề, cấu trúc tin trong VB, trật tự hợp lý giữa các câu, quan hệ thích hợp giữa các hành động ngôn ngữ, từ ngữ trong VB với tình huống ngoài VB, quan hệ lập luận) [5, tr.293] Và ông khẳng định rằng, các quan hệ kết nối giữa các câu sử dụng phương tiện liên kết gọi là liên kết, những mối quan hệ được kết nối do ngữ nghĩa giữa các câu gọi là mạch lạc ác PLK như vậy, được sử dụng để hiển ngôn hóa mạch lạc
ồng thời, mạch lạc trong VB đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Tác giả Nguyễn Thị Thìn quan niệm, mạch lạc là logic của sự trình bày, kết quả chiến lược giao tiếp của người tạo lập VB, lựa chọn thể loại và áp dụng các qui tắc giao tiếp, đặc điểm phong cách, để sắp xếp và trình bày nội dung
VB [83, tr.46] Tuy quan niệm này chưa bao quát hết các dấu hiệu của mạch lạc như tác giả Diệp Quang Ban đã đề cập, nhưng kết quả nghiên cứu về đặc điểm mạch lạc trong VB viết là những gợi ý quý báu để tìm hiểu về đặc điểm liên kết và mạch lạc
trong một thể loại VB nhất định Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã phát biểu “một
diễn ngôn hoặc một văn bản gồm các câu có quan hệ nghĩa với nhau, cùng hướng vào một chủ đề nhất định là một diễn ngôn hoặc một văn bản có mạch lạc” [36,
tr.253] Ngoài ra, vai trò quan trọng của mạch lạc khi tạo lập VB (chú ý đến những căn cứ ngoài ngôn ngữ như: ngữ cảnh, người nghe, người viết, ngữ dụng, cấu trúc thông tin, diễn ngôn) đã được ông tiếp tục đề cập đến trong nhiều công trình nghiên
cứu khác [33, 34, 35] Theo ý kiến của tác giả Nguyễn Hòa (2003) “mạch lạc được
tạo ra bởi không chỉ trên căn cứ ngôn ngữ mà còn trên cả những căn cứ ngoài ngôn ngữ” [51, tr.51] Những yếu tố ngoài ngôn ngữ gồm: người viết, người đọc, ngữ
cảnh, tính quan yếu, thông tin nền ây cũng là những phát hiện hữu ích của tác giả
về mạch lạc trong diễn ngôn (một quá trình giao tiếp tương tác và có ngoại diên rộng hơn VB)
Cụ thể hơn, vai trò của đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB được tác giả inh Văn ức nhấn mạnh, cùng với liên kết, mạch lạc là tất yếu cho mọi diễn ngôn
Trang 18[29, tr.501] Và đó là hai phương thức lớn cùng nhau tạo ra VB là liên kết hình thức (cohesion) và liên kết mạch lạc (coherence) [30, tr.488] ồng thời, dù phân tích diễn ngôn liên quan đến sản phẩm của ngôn ngữ nói hay viết thì chúng đều có liên kết nhất định, mạch lạc nhất định [30, tr.489]
Ngoài ra, còn nhiều sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu đã đề cập đến
hệ thống liên kết trong VB tiếng Việt [1, 7, 9, 11]
Như vậy, việc nghiên cứu về liên kết, mạch lạc và hệ thống các PLK trong tiếng Việt được rất nhiều người quan tâm và chú ý iều đó, chứng tỏ tầm quan trọng của vấn đề này và cần được tiếp tục khảo sát kỹ lưỡng trong giai đoạn tới
(ii) Nghiên cứu liên kết và mạch lạc ứng dụng trong giảng dạy
Bắt đầu từ những năm 1980 của thế kỷ XX cho tới nay, liên kết và mạch lạc
đã nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả như: ỗ Hữu hâu, Hoàng Phê, Nguyễn ức Dân, Lê ông, ao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Hòa cùng nhiều nhà nghiên cứu khác
Vấn đề cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên cách tạo lập VB đảm bảo tính liên kết chặt chẽ cũng được đề cập trong hầu hết các sách giáo khoa, giáo trình về Ngữ pháp tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành của nhiều tác giả [1, 7, 54, 89, 92]
Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng, liên kết là điều kiện để chuỗi câu trở thành VB [64, tr.162] ặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh, trong một VB có thể thiếu một trong hai phương diện của liên kết nội dung, nhưng chắc chắn không thể thiếu liên kết hình thức Vì mọi sự liên kết nội dung đều phải thông qua liên kết hình thức, nên nếu không có phương tiện liên kết thể hiện thì mọi giá trị nội dung sẽ không được hiện thực hóa Tuy chưa đề cập đến những trường hợp không xuất hiện liên kết hình thức (trong hội thoại, trong VB nghệ thuật) và có mạch lạc, nhưng nhận định này của tác giả sẽ phù hợp với những VB đòi hỏi tính chính xác cao như
VB hành chính, VB khoa học
Theo tác giả Nguyễn hí Hòa, các câu trong VB được liên kết với nhau để phát triển ngữ nghĩa, ngữ pháp và quan hệ giữa các câu (thể thống nhất trên câu) chủ yếu được thể hiện bằng quan hệ cấu trúc của các câu, gồm một số quan hệ là:
Trang 19cấu trúc chủ đề, cấu trúc tình huống, cấu trúc hỏi đáp và hai quan hệ cơ bản là móc xích và song hành [48]
Trong cuốn “Rèn luyện kỹ năng đọc và soạn thảo văn bản” (2010), tác giả Nguyễn hí Hòa đã nhấn mạnh: “Các câu được liên kết với nhau trong khổ văn
xuôi nhờ quan hệ móc xích, song song hoặc bằng sự kết hợp của hai loại quan hệ này Các phương tiện phản ánh những quan hệ này không chỉ là quan hệ một chiều
mà đồng thời theo nhiều chiều Các quan hệ này bổ sung cho nhau tạo thành mạng quan hệ dày đặc, đan cài vào nhau” [49] ác quan hệ này không đơn giản để tạo
sự liên kết giữa các câu mà còn tạo ra sự gắn kết về ngữ nghĩa trong VB Và các câu, các đoạn trong một VB có mối quan hệ về mặt ngữ nghĩa với nhau để phản ánh
sự chuyển động, sự phát triển của chủ đề
ông trình “Nhập môn ngôn ngữ học” của các tác giả Mai Ngọc Chừ,
Nguyễn Thị Ngân Hoa, ỗ Việt Hùng và Bùi Minh Toán không chỉ rõ các PLK trong VB, nhưng nội dung trong cuốn sách đề cập đến các phương tiện và biện pháp
tu từ VB [16] ó là việc có thể sắp xếp các đoạn theo những quan hệ nhất định, lặp lại các phần trong VB để tạo các vị trí mạnh hoặc sử dụng tựa đề, chú thích để củng
cố quan hệ liên VB ây cũng là những gợi ý quí báu của các tác giả về một giá trị khác trong việc sử dụng các phương tiện liên kết, nhằm đem lại tính hiệu quả, tính thông báo tốt nhất cho VB
Tác giả Nguyễn Văn Hiệp với tác phẩm “Cú pháp tiếng Việt” (2009) đã lưu
ý, việc tìm hiểu câu phải gắn với ngữ cảnh giao tiếp, để xem xét cấu trúc, ngữ nghĩa
và chức năng của câu Bởi vì, câu luôn luôn tồn tại trong mạng lưới quan hệ với các câu khác và tương thích với ngữ cảnh, nên trong câu xuất hiện một số yếu tố được tác giả gọi là chỉ tố liên kết VB Khác với quan niệm của Halliday, khi phân loại các PLK văn bản đều dựa trên cơ sở phần đề của câu (đề VB, đề liên nhân và đề kinh nghiệm), tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng, yếu tố tham gia tạo liên kết cho VB bao gồm tất cả các thành phần trong câu và đặc biệt tinh tế ở những vị từ tình thái tính, tiểu từ tình thái cuối câu, những phó từ chỉ thời, thể [47, tr.382] ây là một phát hiện mới và lý thú của tác giả Tuy nhiên, vì chú trọng phần nghiên cứu cú
Trang 20pháp chứ không phải phân tích VB nên tác giả chỉ dừng lại ở việc khảo sát trong các
VB nghệ thuật và chưa tìm hiểu trong các VB khác như hành chính, khoa học Dù sao, đây cũng là những gợi ý bổ ích cho nghiên cứu về chỉ tố liên kết trong các loại
VB khác ở giai đoạn tới, để làm rõ hơn về chức năng và ngữ nghĩa của các loại VB tiếng Việt
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu của các tác giả Phan Thị i, Diệp Quang Ban, ỗ Hữu hâu, Hữu ạt và nhiều tác giả khác nghiên cứu về vấn đề liên kết, mạch lạc trong giảng dạy và tổ chức VB [2, 4, 20, 26, 45]
Tóm lại, để tạo nên tính hoàn chỉnh cho VB cần có sự liên kết chặt chẽ và có
sự mạch lạc của các đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn, như câu với câu trong đoạn văn và đoạn văn với đoạn văn trong VB (phát ngôn với phát ngôn hay giữa các hành vi lời nói, các hiệu lực ở lời trong hội thoại) Nghiên cứu tìm hiểu cách thức liên kết, các mối quan hệ và phương tiện liên kết giữa chúng cũng là đề tài nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ khảo sát ngữ liệu là VB nghệ thuật, báo chí, hành chính, chính luận, việc tìm hiểu đặc điểm liên kết
và mạch lạc trong các VB khoa học vẫn chưa được công trình nào đề cập đến
Nhìn chung, liên kết và mạch lạc trong VB tiếng Việt đã nhận được sự chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ học nên được nghiên cứu trên nhiều góc độ (kết học, nghĩa học
và dụng học) ồng thời, các nghiên cứu đã chú trọng hướng tới miêu tả, phân tích giá trị của các PLK và yêu cầu đảm bảo tính mạch lạc, để rèn luyện kỹ năng soạn thảo và phân tích VB cho học sinh, sinh viên Việt Nam và sinh viên nước ngoài
(iii) Nghiên cứu các phép liên kết hoặc đặc điểm mạch lạc trong một số văn bản tiếng Việt
ể đảm bảo tính liên kết, tính mạch lạc cho VB cần thiết phải sử dụng các phương tiện liên kết, vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu khảo sát về tần số, giá trị nội dung sử dụng của một PLK cụ thể (phép tỉnh lược, phép qui chiếu, phép nối, phép lặp, phép liên kết từ vựng) trong các VB thuộc phong cách nghệ thuật, báo chí và chính luận
Trang 21Phép liên kết tỉnh lược được tác giả Phạm Văn Tình đề cập trong công trình
“Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản liên kết tiếng Việt” [91]
Kết quả nghiên cứu công phu, tỉ mỉ và có giá trị cao khi chỉ ra sự có mặt của PLK này trong hầu hết các phạm vi giao tiếp và đã góp phần làm tăng tính liên kết cho các phát ngôn, đồng thời làm rõ nghĩa hơn cho các phát ngôn đó theo mục đích thông báo của người tạo lập Tuy nhiên, chưa có ngữ liệu khảo sát các VB khoa học trong công trình nghiên cứu này
ặc điểm của phép nối và quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn trong VB nghệ thuật và chính luận được Lương ình Khánh (2006) tìm hiểu [65] Phép tỉnh lược được Hồ Mỹ Huyền (2007) nghiên cứu dựa trên ngữ liệu là VB khẩu ngữ và đã chỉ
ra hiệu quả liên kết chịu sự ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa, xã hội tác động tới các tình huống sử dụng của PLK này [56] Phép qui chiếu và phép lặp từ vựng được
tác giả Nguyễn Thị Hà (2010) xem xét trong VB hành chính qua nghiên cứu “Khảo
sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn” [38]
Và đặc điểm liên kết, biểu hiện của mạch lạc đã được tác giả Nguyễn Thị
Hường nghiên cứu gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ trong công trình “Biểu hiện của
mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ trình thuộc văn bản hành chính - công vụ”
[57] Nhiều luận án đã xem xét đặc điểm liên kết của các đơn vị ngôn ngữ trong quá trình sử dụng, ví dụ xem xét đặc điểm liên kết của cặp thoại trong hội thoại, trong
lập luận Phạm Văn Thấu (2000) với “Cấu trúc liên kết của cặp thoại, trên ngữ liệu
tiếng Việt” đã cho rằng, liên kết hội thoại là sự liên kết của các hành vi (sự liên kết
của các hiệu lực ở lời) gồm liên kết hướng nội và liên kết hướng ngoại [79] Mai
Xuân Huy (2005) trong công trình “Ngôn ngữ quảng cáo dưới ánh sáng của lý
thuyết giao tiếp” đã kết luận, sự xuất hiện của hội thoại quảng cáo gồm một cuộc
hội thoại hồi chỉ và đa phần là một số cặp thoại liên kết với nhau [55] Nguyễn Thị
Hồng Ngân (2012) cùng “Cặp thoại trong hội thoại dạy học” đã chỉ ra 8 mô hình
liên kết của tổ chức bước thoại trong hội thoại dạy học trong liên kết hướng nội Liên kết hướng ngoại là liên kết của các cặp thoại, bằng các mối quan hệ là: liên kết
Trang 22đối xứng, liên kết lồng và liên kết phẳng [69] Tuy nhiên, chưa có ngữ liệu khảo sát
là VB khoa học trong các công trình nghiên cứu này
Bên cạnh đó, đề tài về liên kết, mạch lạc trong VB còn nhận được sự quan tâm của hơn 60 đề tài luận văn cao học và hơn 50 bài báo của nhiều tác giả từ năm
1985 đến nay, đã khảo sát nghiên cứu về hiệu quả của việc sử dụng PLK trong các
VB tiếng Việt (chiếm 90% là trong các VB nghệ thuật) [18, 21, 23, 41, 44, 46, 58,
61, 62] iều này đã cho thấy sức hấp dẫn của vấn đề liên kết, mạch lạc trong VB
Ngoài ra, không chỉ bốn PLK của Halliday được tìm hiểu trong các VB tiếng Việt (chủ yếu là trong VB nghệ thuật và báo chí), một số phương tiện liên kết khác cũng được quan tâm xem xét gồm: thay đổi trật tự các vế trong câu ghép để tạo giá trị thông báo và liên kết cho VB [40]; phương thức biểu thị quan hệ nghĩa giữa các câu [77]; liên kết và liên kết phi hình thức trong VB [88]
Như vậy, song song với nghiên cứu về liên kết là nghiên cứu sự mạch lạc trong VB Liên kết là phương tiện để góp phần tạo nên sự mạch lạc cho VB ác thể loại VB thuộc phong cách nghệ thuật, hành chính và báo chí được nghiên cứu tìm hiểu, nhưng ngữ liệu là các VB khoa học, cụ thể là bài báo khoa học thì chưa có công trình nào đề cập đến
(iv) Nghiên cứu so sánh liên kết và mạch lạc trong văn bản tiếng Việt với các văn bản thuộc ngôn ngữ khác
Việc nghiên cứu so sánh, đối chiếu tình hình sử dụng các PLK trong VB tiếng Việt với các ngôn ngữ khác đã góp phần làm sáng rõ những điểm tương đồng
và khác biệt của hai ngôn ngữ, để sử dụng và tạo lập các loại VB đạt hiệu quả hơn
ó nhiều công trình đề cập đến lĩnh vực này là: “Phép thế trong tiếng Anh (trong sự
liên hệ với tiếng Việt) của Hồ Ngọc Trung [93]; “Phương tiện liên kết phát ngôn đối chiếu Ngữ liệu Anh - Việt” của Phan Văn Hòa [53]; “Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt (có so sánh đối chiếu với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch Anh
- Việt)” của Lê Hùng Tiến [90]; “Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị xã hội (trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Hòa [50]; “So sánh phương thức nối trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh” của Bùi Văn Năm [67];
Trang 23“Mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng
Việt” của Nguyễn Hương Giang [32]
Tác giả Nguyễn Phú Thọ đã so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng các biện pháp liên kết từ vựng trong VB tiếng nh và tiếng Việt Kết quả cho thấy, cả hai ngôn ngữ đều sử dụng các PLK từ vựng như tác giả Halliday đã liệt kê nhưng do khác nhau về đặc điểm loại hình ngôn ngữ nên có
sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và mức độ cũng như hiệu quả của việc sử dụng các PLK từ vựng [84]
Tác giả Lê Tấn Thi đã nghiên cứu về “Ngữ trực thuộc nối trong văn bản
tiếng Việt và tiếng Anh” và chỉ ra, cấu trúc ngữ trực thuộc nối trong tiếng nh và
tiếng Việt giống nhau Bởi vì, trên bình diện ngữ pháp VB nói chung, liên kết VB nói riêng, tất cả các PLK áp dụng cho ngữ trực thuộc nối trong tiếng Việt đều có thể tìm thấy trong tiếng nh và ngược lại Nhưng do sự khác nhau về đặc điểm loại hình ngôn ngữ nên có sự khác nhau về cấu trúc sử dụng của ngữ trực thuộc nối trong VB [82]
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu và so sánh về việc sử dụng các PLK trong
VB tiếng Việt với tiếng Anh (hoặc các ngôn ngữ khác) đã nêu ra được những nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ iều này rất hữu ích trong việc học tiếng Anh, giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và dịch thuật các loại VB Tuy nhiên, chưa có công trình nào khảo sát và so sánh việc sử dụng của các PLK trong một loại VB cụ thể của cả hai ngôn ngữ Do đó, điều này cần được tiếp tục thực hiện nghiên cứu trong giai đoạn tới
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong các VB cụ thể
đã đem lại nhiều giá trị về lý thuyết cho ngữ pháp tiếng Việt và có tính ứng dụng cao Quan niệm về liên kết của Halliday được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm và ứng dụng trong việc phân tích các VB nghệ thuật, báo chí, chính luận nhưng vẫn chưa bao quát hết các loại VB ác nghiên cứu chủ yếu xem xét sự liên kết giữa câu với câu, còn thiếu sự tìm hiểu về liên kết giữa đoạn văn với đoạn văn hay giữa các phần (đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết thúc vấn đề) trong VB Bên
Trang 24cạnh đó, mới chỉ một PLK được khảo sát và đối chiếu giữa ngôn ngữ tiếng Anh (hay ngôn ngữ khác) với tiếng Việt mà chưa có nghiên cứu nào đề cập đến tất cả các đặc điểm liên kết và mạch lạc trong một thể loại VB cụ thể của phong cách khoa học (PCKH)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới
Ngay từ những năm 1960 - 1970, khi nghiên cứu về các đối tượng lớn hơn câu được gọi là “thể thống nhất trên câu”, “đoạn văn”, “văn bản” và bàn luận về phương hướng giao tiếp của VB, đã xuất hiện sự ra đời của bộ môn “phong cách học văn bản” [28, tr.82] Vai trò quan trọng của VB khoa học đã được nhiều tác giả
đề cập đến nhưng bên cạnh đó là những khó khăn trong quá trình tạo lập và tiếp nhận các VB khoa học Halliday và Martin (1993) cùng nhiều tác giả khác như Peacock (1995), Rosenthal (1996), O`Toole (1997) đã đề cập đến vai trò quan trọng của ngôn ngữ khoa học và những khó khăn trong quá trình tiếp cận đối với người sử dụng tiếng nh là tiếng mẹ đẻ và với người học ngoại ngữ tiếng Anh trong cả 4 cấp độ: từ, câu, đoạn văn và toàn bộ VB khoa học (theo Monipha Gardner [120, tr.14])
Tác giả L Pumpyanski cũng từng khẳng định tầm quan trọng của VB khoa học khi cho rằng phạm vi sử dụng của ngôn ngữ khoa học và phong cách chức năng của nó được mở rộng tỉ lệ với nhịp độ tăng trưởng của tiến bộ khoa học - kĩ thuật
Và “việc mô tả các hệ thống ngôn ngữ hiện đại không còn có ý nghĩa nếu không
tính đến ngôn ngữ khoa học và vai trò của nó trong cuộc sống xã hội hiện đại” do
vậy, cần quan tâm xem xét đến những chỉ báo ngôn ngữ đặc trưng nhất của thời đại phát triển loài người hiện nay, đó chính là ngôn ngữ khoa học và phong cách chức năng trong VB khoa học (theo ào Hồng Thu [85, tr.12])
Cụ thể hơn, đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm liên kết của thể loại bài báo khoa học đã được một số tác giả tìm hiểu: Bhatia (1993) [106], Ashby (2005) [101], Shahrokhi (2013) [124] Cấu trúc bài báo khoa học được xem xét theo cấu trúc IMRD hay IMRaD (giới thiệu, phương pháp, kết quả và thảo luận), trong các
Trang 25nghiên cứu của Robert Day (1998) [109], Murray (2005) [121] Tác giả Chris Mack
trong bài báo “350 years of Scientific Journals” (2015) đã cho rằng, kể từ khi Tạp
chí khoa học đầu tiên xuất hiện năm 1665 đến nay đã có khoảng 30.000 tạp chí chuyên ngành và xuất bản hơn 2 triệu bài báo mỗi năm ác bài báo của giai đoạn đầu thường có cấu trúc đơn giản và chưa có tiêu đề, tới nửa sau của thế kỷ 20, cấu trúc IMRaD đã phổ biến hơn [135]
Tiếp theo, từng yếu tố trong một bài báo khoa học cũng được quan tâm, tìm hiểu [108, 136] Ví dụ, phần giới thiệu trong một bài báo khoa học, theo ý kiến của Swales (1990), có cấu trúc thường gồm ba phân đoạn là: thiết lập một lãnh thổ (Establishing a territory), tạo một khoảng trống (Establishing a niche) và lấp khoảng trống đó (Occupying the niche) [126]
Mohsen Shahrokhi và một số tác giả khác (2013) đã so sánh cách sử dụng PLK từ vựng trong các bài báo khoa học tự nhiên và khoa học xã hội [124] Kết quả nghiên cứu trong công trình này góp phần khẳng định rõ hơn nhận định của Hoey (1991) về việc liên kết từ vựng được sử dụng phổ biến trong tất cả các thể loại VB Tuy nhiên, kết quả phát hiện này cần được tiếp tục khảo sát chi tiết hơn
về giá trị của PLK từ vựng trong việc tạo sự thống nhất và hoàn chỉnh cho VB
Năm 2002, các tác giả Alan Gross, Joseph Harmon và Michael Reidy đã xuất
bản cuốn sách mang tên "Communicating Science: the Scientific Article from the
17th Century to the Present" Kết quả của công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ sự
thay đổi, phát triển của các bài báo khoa học bằng tiếng nh, ức và Pháp qua các đặc điểm về phong cách học, cách lập luận và cách thức trình bày VB ồng thời,
xu hướng phát triển cho thấy, cuối thế kỷ 20 các bài báo khoa học đã ổn định về hình thức trình bày và giúp cho độc giả có thể tìm kiếm nhanh chóng, hiệu quả những thông tin cần thiết ác tác giả đã đề cập đến hai hình thức của một bài báo khoa học hiện đại, hình thức thứ nhất là: Thử nghiệm, phương pháp hoặc quan sát (gồm các yếu tố: tóm tắt, giới thiệu, phương pháp, kết quả, thảo luận, kết luận, lời cảm ơn và tài liệu tham khảo) và hình thức thứ hai là: Lý thuyết (gồm các yếu tố: tóm tắt, giới thiệu, định lý, chứng minh định lý, kết luận, lời cảm ơn và tài liệu tham khảo) [100]
Trang 26Liên quan đến phương pháp nghiên cứu trong VB khoa học, tác giả Adrian Holliday (2007) đã nhận xét, phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về khoa học xã hội tuy nhiên trong các nghiên cứu định tính sẽ luôn luôn có yếu tố định lượng và ngược lại trong các nghiên cứu định lượng cũng có yếu tố của định tính [115, tr.12] Bên cạnh đó, nhiều tài liệu hữu ích về nghiên cứu khoa học và cách tạo lập các bài báo khoa học đã được xuất bản [107, 108, 111, 137] Nhiều tác giả khác đã khảo sát các bài viết của sinh viên và đề xuất cần chú ý tới yếu tố liên kết, mạch lạc để nâng cao chất lượng các bài viết cho sinh viên [122, 123, 138]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của ngôn ngữ khoa học trong trường học nói riêng và trong cuộc sống xã hội nói chung ồng thời, nhiều tác giả đã tìm hiểu sự phát triển của cấu trúc bài báo khoa học, khảo sát chất lượng các bài viết của người học và sự xuất hiện của một PLK trong bài báo Tuy nhiên, nghiên cứu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các bài báo khoa học trên một tạp chí hoặc một ngành cụ thể thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu các văn bản khoa học và bài báo khoa học tại Việt Nam
Vai trò của ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ khoa học nói riêng và việc cần giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt từng được chủ tịch Hồ hí Minh rất quan tâm Cố Thủ tướng Phạm Văn ồng cũng rất lưu tâm tới việc này [42], khi ông
cho rằng “một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi mà càng ngày nó càng
mở rộng và phân biệt các phong cách ngôn ngữ khác nhau (như phong cách khoa
học, phong cách chính luận, phong cách hành chính sự vụ, phong cách nghệ thuật)” [68, tr.1132] Nhiều tác giả khác cũng khẳng định tầm quan trọng của
tiếng Việt trên các bình diện khác nhau, từ văn học - nghệ thuật, văn hóa - xã hội đến khoa học kĩ thuật như: Ngụy Như Kon Tum, Lê Khả Kế, Phạm ồng iện (theo ào Hồng Thu [85, tr.12])
Tiếp theo, từ ý kiến của tác giả M N Kozưna về việc “phong cách ngôn ngữ
được tạo thành bởi chính hệ thống các phương tiện liên kết” được sử dụng trong
VB, tác giả ào Hồng Thu đã nghiên cứu và phát hiện, so với các phong cách ngôn
Trang 27ngữ khác, tính hệ thống được thể hiện rõ nét và nghiêm ngặt nhất trong phong cách
ngôn ngữ khoa học [86, tr.20] ồng thời, tác giả cũng nhận xét rằng: “một văn bản
khoa học bất kỳ đều có thể hàm chứa các yếu tố mang tính hội thoại công khai và tiềm ẩn” và qua khảo sát đã phát hiện trong VB khoa học có hiện tượng“số lượng các phương tiện liên kết cú pháp tăng một cách đáng kể” [87, tr.66] Tuy kết quả
nghiên cứu mới chỉ khảo sát tình hình sử dụng của sinh viên với các quy tắc hoạt động của ngôn ngữ khoa học công nghệ tiếng Việt mà chưa đề cập đến tình hình sử dụng thuật ngữ KHXH&NV nhưng phát hiện của tác giả rất hữu ích cho những nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về loại VB này ồng thời, đó là những gợi ý của tác giả
về việc cần có những giải pháp để phát triển giáo dục ngôn ngữ khoa học và tiếng Việt khoa học trong trường phổ thông, trường đại học
Bên cạnh đó, nhiều tài liệu khác đã đề cập đến phương pháp nghiên cứu khoa học [6, 94] Tác giả Vũ ao àm lưu ý, việc soạn thảo một bài báo khoa học (hoặc báo cáo khoa học) cần đầy đủ các môđun (các yếu tố thành phần trong một bài báo) [24, 25] ây là những tài liệu hữu ích đối với những người làm nghiên cứu khoa học nói chung và sinh viên trong trường đại học nói riêng
Vai trò quan trọng của VB khoa học tiếp tục được tác giả Võ Lý Hòa (2004)
đề cập đến khi lưu ý việc cần biên soạn ra các tài liệu khoa học thứ cấp có giá trị và
dễ sử dụng đối với người đọc Tác giả đã tìm hiểu các VB tóm tắt và phương pháp tóm tắt trên cơ sở dữ liệu là các VB khoa học tiếng Việt [52] ông trình này đã có
ý nghĩa nhất định trong ứng dụng tóm tắt, tổng thuật các VB khoa học Tuy nhiên, ngữ liệu là các bài báo khoa học chưa được tác giả đề cập đến
Ngoài ra, dựa trên kết quả nghiên cứu của Swales (1990), Weissberg và Buker (1990) tác giả Nguyễn Phước Vĩnh ố đã có nhiều bài viết trên trang website
cá nhân về những gợi ý để viết bài báo nghiên cứu khoa học bằng tiếng Anh ây là những gợi ý hữu ích cho những người quan tâm tới việc tạo lập các bài báo khoa học bằng tiếng nh trong quá trình nghiên cứu khoa học, tuy nhiên cần so sánh các bài báo khoa học trên tạp chí trong nước và nước ngoài để có thể đưa ra những khuyến nghị cụ thể và chi tiết hơn [98]
Trang 28Vấn đề nghiên cứu khoa học cũng được tác giả Nguyễn Văn Tuấn đề cập
trong các sách “Đi vào nghiên cứu khoa học” (2011) [94] và “Từ nghiên cứu đến
công bố, kỹ năng mềm cho nhà khoa học” (2013) [95] Tuy ngữ liệu được tác giả
đưa ra thuộc lĩnh vực y khoa và sinh học, nhưng kết quả nghiên cứu đó rất có giá trị cho việc soạn thảo các bài báo khoa học để đạt tiêu chuẩn quốc tế thuộc nhiều ngành khác nhau và cần được phổ biến rộng rãi hơn
Hơn nữa, nhiều công trình đã nghiên cứu về VB khoa học [19, 20] cách viết một bài báo khoa học [6] tìm hiểu về phép liên kết nối và quy chiếu trong VB khoa học [60], khảo sát các biểu thức cố định như một loại phương tiện liên kết trong VB khoa học tiếng nh và so sánh với tiếng Việt [74]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về VB khoa học nói chung và các bài báo khoa học nói riêng đã nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của ngôn ngữ khoa học
và việc cần sử dụng đúng văn phong của loại hình VB này ó là những kết quả nghiên cứu có giá trị và cần được phổ biến rộng rãi Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát các bài báo khoa học trên một tạp chí cụ thể để tìm hiểu và chỉ ra vai trò quan trọng của tính liên kết và mạch lạc cùng những lưu ý trong quá trình tiếp nhận, tạo lập các VB khoa học nói chung và bài báo khoa học nói riêng
1.1.3 Những vấn đề còn bỏ ngỏ
ác công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và tại Việt Nam đã đề cập đến PLK, tính mạch lạc, VB khoa học và vai trò quan trọng của ngôn ngữ khoa học Tuy nhiên, nghiên cứu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các bài báo khoa học trên một tạp chí hoặc một ngành cụ thể thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Những vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ là:
Thứ nhất, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu nhưng chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu trong quan niệm về các PLK
Thứ hai, chưa có sự thống nhất trong việc phân biệt hay không phân biệt khái niệm liên kết và mạch lạc
Thứ ba, các bài báo KHXH&NV không phải là một công trình khoa học và
có cấu trúc sắp xếp tùy thuộc từng tác giả, mà đây là một loại VB có những quy định chặt chẽ và khoa học
Trang 29Những vấn đề trên cần được tìm hiểu để có sự thống nhất khi nghiên cứu ngôn ngữ Và để giải đáp những vấn đề trên, chúng tôi đã dựa trên những cơ sở lý luận sau để tìm hiểu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB khoa học, qua các bài
báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - HQGHN
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Liên kết và mạch lạc
1.2.1.1 Liên kết
Theo tác giả Diệp Quang Ban, “liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố
ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được với nhau” [5, tr.347]
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ xem xét đặc điểm liên kết trong VB, tìm hiểu đặc điểm liên kết giữa câu với câu, giữa các đoạn văn, giữa các thành phần trong
VB và không đề cập đến hiện tượng liên kết giữa các yếu tố trong một câu Do đó, liên kết trong VB là sự gắn kết và thể hiện các mối quan hệ nghĩa giữa các câu, các đoạn văn, các yếu tố thành phần để góp phần tạo nên sự hoàn chỉnh cho VB đó
Theo quan niệm của Halliday và Hasan, liên kết câu với câu trong VB được thể hiện bằng bốn PLK (phương thức liên kết) là: phép nối, phép quy chiếu, phép tỉnh lược và phép thế, phép liên kết từ vựng [112]
Bảng 1.1: ác phép liên kết theo quan niệm của Halliday
và phép Thế
Trang 30ác tác giả Halliday và Hasan [112, tr.41], Nunan [71, tr.39] đều cho rằng,
có hai cách quy chiếu thể hiện sự liên kết trong VB là quy chiếu hồi chiếu và khứ chiếu Hồi chiếu là việc từ câu này hướng người đọc tới những gì được đề cập trong câu trước đó Khứ chiếu hướng người đọc tới phần tiếp theo của VB và kéo người đọc “đi sâu hơn vào văn bản” để nhận dạng các phần tử mà quy chiếu hướng đến
Phép quy chiếu dựa trên các phương tiện ngôn ngữ được dùng ở vị trí yếu tố
có nghĩa chưa cụ thể được chia thành ba trường hợp: quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếu chỉ định, quy chiếu so sánh
+ Phép tỉnh lược và phép thế
Phép tỉnh lược được tác giả Halliday quan niệm “là một sự thay thế bằng
zero” [113, tr.142] Phép liên kết tỉnh lược góp phần vào việc cấu trúc nghĩa của
diễn ngôn bằng những quan hệ từ vựng - ngữ pháp “vì nó vừa liên quan đến yếu tố
từ vựng được lược bỏ vừa được phát hiện do vị trí bỏ trống trong cấu trúc cú pháp của câu” [5, tr.105]
Phép thế là cách “sử dụng ở câu này các đại từ thay thế như đó, đây, kia v.v thế cho danh từ (cụm danh từ), vậy, thế, đó v.v thế cho động từ (cụm động từ), tính
từ (cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ - vị, hay cú) tương ứng có mặt trong câu khác, trên cơ sở đó hai câu đang xét liên kết được với nhau Tất nhiên, các đại từ thay thế là những từ có nghĩa không cụ thể và nghĩa cụ thể của chúng có thể tìm được ở những từ, tổ hợp từ mà chúng thay thế” [5, tr.378]
Trang 31+ Phép liên kết từ vựng
Theo Halliday và Hasan, PLK từ vựng là sự liên kết được thiết lập thông qua việc sử dụng và lựa chọn những từ ngữ (có tính chất thực từ) có quan hệ với những từ ngữ trong câu đứng trước nó để tạo sự liên kết giữa hai câu [112, tr.274] Trong công trình nghiên cứu của Halliday và Hasan (1991), liên kết từ vựng gồm hai loại: lặp lại (lặp hoàn toàn, đồng nghĩa - gần nghĩa, lặp bao hàm, lặp từ khái quát) và phối hợp từ
vựng [112, tr.288], nhưng trong nghiên cứu về “Ngữ pháp chức năng” (2004),
Halliday chia liên kết từ vựng thành ba loại: lặp - đồng nghĩa, bộ phận chỉnh thể, phối hợp từ vựng [113, tr.570] Tác giả Diệp Quang Ban đã chia PLK từ vựng cho phù hợp với đặc điểm của tiếng Việt thành ba loại nhỏ là: lặp từ ngữ; dùng từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa; phối hợp từ ngữ [5, tr.381]
Tóm lại, quan niệm về bốn PLK trên đã được chúng tôi lựa chọn tìm hiểu trong các bài báo KHXH&NV Bởi vì, cách phân loại các PLK phi cấu trúc này sẽ tránh được một số trường hợp nhầm lẫn cho người sử dụng so với cách phân loại PLK theo cấu trúc (gồm liên kết hình thức và liên kết nội dung) và điều này sẽ được chúng tôi phân tích cụ thể trong chương 2 của luận án (LA)
1.2.1.2 Mạch lạc
Khái niệm mạch lạc xuất hiện muộn hơn khái niệm liên kết và được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ngoài và trong nước đề cập đến với nhiều cách hiểu khác nhau
Halliday và Hassan (1976) cho rằng: “Mạch lạc được coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh của tình huống (context of situation) với những dấu nghĩa tiềm ẩn (registers) Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiết cho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản” (dẫn theo Diệp Quang Ban [3, tr.82])
Theo tác giả I.Galperin: “Mạch lạc - đó là những hình thức liên kết riêng
biệt, đảm bảo thể liên tục, nghĩa là sự liên tục logic (về thời gian hoặc không gian),
sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ thể” [31,
tr.148] Mạch lạc theo quan niệm của tác giả G.Brown và G.Yule phụ thuộc vào ba
Trang 32bình diện gồm: giải thuật chức năng giao tiếp (tiếp nhận thông điệp như thế nào), sử dụng kiến thức văn hóa xã hội (sự kiện về thế giới) và xác định luận suy cần thực hiện [8, tr.349]
David Nunan cho rằng, mạch lạc là “tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp
nhận như là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu và phát ngôn không có liên quan với nhau” [71, tr.116]
Trong sách “Từ điển Tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê, mạch lạc là danh từ chỉ “sự tiếp nối theo trật tự hợp lý giữa các ý, các phần trong nội dung diễn đạt” và
là tính từ chỉ sự mạch lạc của sự việc, hiện tượng [72, tr.606]
Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng “mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lý
về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết…), nhằm tạo
ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu” [5, tr.297] Bởi vì,
đặc điểm liên kết về mặt hình thức là đặc điểm dễ nhận ra trong một VB, nhưng
mạch lạc là một khái niệm còn tương đối mơ hồ, nên tác giả đã lưu ý “mạch lạc là
sợi dây nối các quan hệ nghĩa trong văn bản, trong đó có những quan hệ được diễn đạt bằng phương tiện từ ngữ thuộc về liên kết” [5, tr.348] Ngoài ra, ông quan niệm,
mạch lạc giúp tạo nên mạng lưới các mối quan hệ nghĩa, quan hệ logic, quan hệ chức năng, trên cơ sở đó tạo nên tính thống nhất về đề tài - chủ đề cho VB Như thế, yếu tố mạch lạc là yếu tố quyết định việc hình thành một VB, không phải là yếu tố liên kết [5, tr.276]
Như vậy, có thể hiểu, mạch lạc là sự thống nhất nội dung nghĩa bên trong VB
và phù hợp với những yếu tố ngoài VB Nhưng hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ về các dấu hiệu mạch lạc này Bởi vì, mạch lạc không dễ dàng nhận ra trong VB một cách tường minh như liên kết nên các nhà nghiên cứu đã đề cập đến với nhiều quan niệm và những dấu hiệu khác nhau
Tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban để tìm hiểu đặc điểm mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV Theo tác giả, biểu hiện của mạch lạc trong VB gồm:
Trang 33- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở câu có quan hệ nghĩa với nhau
- Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lý giữa các câu hay các mệnh đề
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa từ ngữ trong VB với tình huống bên ngoài VB
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận [5, tr.298]
1.2.1.3 Quan điểm của luận án về liên kết và mạch lạc
Theo tác giả inh Văn ức, cùng với liên kết, mạch lạc là tất yếu cho mọi diễn ngôn Mạch lạc đóng vai trò tổ chức ngầm ẩn các sự thể rồi cùng với PLK để
tạo lập diễn ngôn [29, tr.501] Và chúng tôi cho rằng, liên kết trong VB là việc sử
dụng các phương tiện liên kết về mặt hình thức để chỉ ra các kiểu quan hệ giữa các câu, các đoạn, các thành phần trong VB (liên kết theo nghĩa đen) ó là
những dấu hiệu hình thức được thể hiện bằng từ, ngữ, câu và được gọi là các PLK
ây chính là những dấu hiệu quan trọng để hiện thực hóa mạch lạc trong VB, góp phần làm cho VB trở nên tường minh, chính xác hóa các quan hệ nghĩa (nội dung)
Mạch lạc trong VB là sự liên kết ngầm ẩn (liên kết theo nghĩa bóng) Đó là sự
thống nhất nội dung nghĩa bên trong VB (sự kết nối hợp lý về mặt nghĩa và chức năng của những sự kiện, những yếu tố quan yếu trong quá trình triển khai một VB) và có sự kết hợp logic với những yếu tố ngoài VB
Vì thế, liên kết và mạch lạc là những bình diện khác nhau, những đặc tính khác nhau của VB Trong khi tính mạch lạc trong một VB là yếu tố quan trọng nhất, xuất hiện trong tất cả các VB thì tính liên kết có thể không xuất hiện trong tất cả các loại VB Một số diễn ngôn thuộc phong cách khẩu ngữ tự nhiên được thực hiện bằng phương thức nói hay một số loại VB nghệ thuật (thơ, kịch), có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện dấu hiệu liên kết hình thức, nhưng liên kết xuất hiện trong tất cả các
VB (phương thức viết) Ngoài ra, trong mỗi loại VB thuộc phong cách chức năng
Trang 34khác nhau, tần số sử dụng các PLK khác nhau, nhưng không thể bỏ qua vai trò quan trọng của đặc tính này trong những VB đòi hỏi tính chính xác và chặt chẽ cao Bởi vì, nếu không có các dấu hiệu liên kết hình thức, việc nhận ra mạch lạc trong VB sẽ trở nên khó khăn hơn Và có thể nhận thấy, những nghiên cứu về ngôn ngữ học VB đã trải qua hai giai đoạn [5, tr.146-158] Do đó, chúng tôi cho rằng, khái niệm liên kết (liên kết hình thức và liên kết nội dung) đã xuất hiện từ giai đoạn nghiên cứu VB theo đường hướng của Ngữ pháp VB – những năm 1970 (chú trọng yếu tố hình thức, coi liên kết thuộc mặt cấu trúc của ngôn ngữ) òn khái niệm mạch lạc (bao gồm liên kết nội dung và có nghĩa rộng hơn so với khái niệm liên kết nội dung) được sử dụng nhiều ở giai đoạn nghiên cứu VB theo đường hướng của Phân tích diễn ngôn – những năm 1980 đến nay (gồm cả liên kết, mạch lạc và các nội dung chức năng, ngữ cảnh, ngữ vực)
Mặc dù hiện nay, có quan điểm phân biệt liên kết VB (text cohesion) và mạch lạc diễn ngôn (discourse coherence) nhưng chúng tôi cho rằng, đặc tính liên kết và mạch lạc là tất yếu trong mọi VB, là hai tiêu chí rõ ràng để đánh giá chất lượng các VB viết Hoặc có thể gọi đó là liên kết hình thức (cohesion) và liên kết mạch lạc (coherence) Mặt liên kết hình thức là những dấu hiệu thuộc về lĩnh vực vật chất và mặt liên kết mạch lạc là những biểu hiện thuộc về lĩnh vực tinh thần của
VB [45, tr.39] Hai hiện tượng này tuy có ảnh hưởng lẫn nhau nhưng độc lập và là những hiện tượng khác nhau trong nghiên cứu
1.2.2 Văn bản - văn bản khoa học và bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.2.2.1 Văn bản
(i) Các quan niệm về văn bản và diễn ngôn
Hiện nay, đang có ba quan niệm khác nhau (phân biệt hay không phân biệt) thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn” Thứ nhất, coi “văn bản” và “diễn ngôn” là sản phẩm ngôn ngữ (cả nói và viết) có mạch lạc và liên kết Thứ hai, dùng thuật ngữ
“diễn ngôn” để chỉ ngôn ngữ nói, “văn bản” để chỉ ngôn ngữ viết Thứ ba, quan niệm coi “diễn ngôn” và “văn bản” là hai thuật ngữ tương đương [5, tr.212]
Trang 35Quan niệm thứ ba đang được nhiều nhà nghiên cứu VB sử dụng, tức là thuật ngữ diễn ngôn để chỉ một sản phẩm ngôn ngữ (nói hoặc viết), dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn bao hàm VB [34, tr.169]
(ii) Quan niệm của luận án về thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn”
Trong nhiều công trình nghiên cứu hiện nay, hai thuật ngữ “văn bản”, “diễn ngôn” được sử dụng song song và có sự tương đồng cơ bản, nhưng trong một số trường hợp nhất định, ngoại diên của thuật ngữ “diễn ngôn” có thể rộng hơn so với thuật ngữ “văn bản” Do đó, chúng tôi lựa chọn cách sử dụng thuật ngữ “ngôn bản” cho các sản phẩm giao tiếp (sự kiện giao tiếp) bằng ngôn ngữ nói và sử dụng thuật ngữ “văn bản” cho các sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết [30, tr.490]
Như vậy, cả hai thuật ngữ này đều nằm chung trong một khái niệm rộng là diễn ngôn, nên không thể phân tích VB (chỉ chú ý tới mặt hình thức) hay phân tích ngôn bản mà không quan tâm tới phân tích diễn ngôn (chú ý cả mặt hình thức và nội
dung chức năng), vì các sản phẩm ngôn ngữ này có chịu ảnh hưởng bởi các “hoàn
cảnh giao tiếp xã hội” [51, tr.34] Và đúng như nhận định của tác giả inh Văn ức
“các nhà văn bản học thường nhắc đến hai phương thức lớn cùng nhau tạo ra văn
bản đó là liên kết hình thức (cohesion) và liên kết mạch lạc (coherence)”, dù phân
tích diễn ngôn liên quan đến sản phẩm là ngôn ngữ nói hay viết thì chúng đều phải
có liên kết nhất định và mạch lạc nhất định [30, tr.488-489]
(iii) Đặc trưng của văn bản
Văn bản đã được nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của họ Theo quan niệm của tác giả Halliday và Hasan, VB là một đơn
vị ngôn ngữ khi sử dụng và là một đơn vị ngữ nghĩa, thuộc về ngữ nghĩa [112,
tr.1-2] Nhà nghiên cứu nữ Loseva (Liên Xô cũ) đã cho rằng: “Văn bản là một hợp
thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện
từ vựng - ngữ pháp” (theo Diệp Quang Ban [5, tr.197]) Năm 1983, G.Brown và
G.Yule cũng phát biểu “chúng ta sẽ sử dụng từ văn bản như một thuật ngữ khoa
học, để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” [8, tr.22] Nhưng theo tác
giả I.Galperin, “văn bản - đó là tác phẩm của quá trình sáng tạo lời, mang tính
Trang 36chất hoàn chỉnh, ( ) hợp nhất lại bằng những những loại hình liên kết khác nhau
về từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng nhất định và một mục tiêu thực dụng” [31, tr.38] Như thế, I.Galperin đã đề cao đến tính liên kết và tính hoàn
chỉnh của VB
Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Tài ẩn và Nona Stankevich (1973) cũng đề xuất không nên coi câu là đơn vị ngữ pháp cao nhất [10, tr.11] Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng, VB là chỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức
[80] Theo ý kiến của tác giả Hữu ạt, VB là “một tập hợp các câu (hay các phát
ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác” [27, tr.189]
húng tôi cho rằng, văn bản là các sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết,
có sự hoàn chỉnh cả cấu trúc hình thức và nội dung (cấu trúc nghĩa), có đề tài- chủ đề, liên kết - mạch lạc và thuộc một phong cách ngôn ngữ nhất định để đảm bảo mục đích giao tiếp Trong khi đó, diễn ngôn là quá trình giao tiếp, bao hàm VB
(sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết) và ngôn bản (sự kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nói), đồng thời hướng tới các mục tiêu xã hội là chủ yếu
Về quan niệm đặc trưng của VB, theo tác giả De Beaugrande (1980) [103, tr.17], De Beaugrande và Dressler (1981)[104, tr.3], VB gồm 7 đặc trưng là: tính liên kết (cohesion), tính mạch lạc (coherence), tính chủ đích (intentionality), tính khả nhận (acceptability), tính thông tin (informativity), tính ngữ cảnh (contextuallity), tính liên VB (intertextuallity)
Tác giả Diệp Quang Ban (1998) cho rằng, VB có 5 đặc trưng là: có yếu
tố nội dung (có đề tài và chủ đề nhất định - tức là cả đề tài (cái được nói đến)
lẫn chủ đề (vấn đề chủ yếu) [5, tr 300]); có yếu tố chức năng (chức năng giao
tiếp); có cấu trúc - hình thức (tính thống nhất của đề tài - chủ đề, tạo thành sự mạch lạc cho VB); có yếu tố chỉ lượng (gồm một số câu, đoạn văn) và có yếu
tố định biên (tính trọn vẹn) [3, tr.22] Sau đó, ông đã bổ sung thêm một đặc trưng của VB là mục đích sử dụng (phong cách chức năng) trong công trình nghiên cứu năm 2009 [5, tr.219]
Trang 37Theo chúng tôi, VB gồm 6 đặc trưng sau: tồn tại ở dạng viết; có thể dài
hay ngắn; có một đề tài - chủ đề nhất định; phải thuộc một phong cách (một
kiểu loại) nhất định (thực hiện chức năng ngôn ngữ) và phù hợp với mục đích sử
dụng VB; có cấu trúc hình thức và cấu trúc nghĩa (trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức), phù hợp với phong cách chức năng của nó; phải
đảm bảo yếu tố liên kết và mạch lạc
Sáu đặc trưng của văn bản được diễn tả bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Những đặc trưng của văn bản
(iv) Lập luận trong văn bản
Lập luận trong VB là “đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến
một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới”
[14, tr.155] Hay nói theo cách khác, là việc sử dụng lý lẽ để thuyết phục người đọc tin vào một hệ thống xác tín nào đó, rồi rút ra một hay một số kết luận [21], [22, tr.165]
Cụ thể hơn, theo ý kiến của tác giả Nguyễn ức Dân, lập luận là việc một hoạt động, một thao tác ngôn ngữ, qua đó người tạo VB đưa ra một số luận cứ, tạo thành một cấu trúc ngôn ngữ và là một chuỗi liên kết để dẫn tới một kết luận [20, tr.34]
Nhà nghiên cứu ỗ Hữu hâu cho rằng, lập luận xuất hiện trong tất cả các
VB [12, tr.80] và tác giả Bùi Minh Toán đã nhấn mạnh, đặc trưng cơ bản này xuất
hiện trong các VB khoa học “nó thuyết phục người đọc bằng những lập luận,
Văn bản
Dạng tồn tại
(viết)
ó một phong cách nhất định
ó đề tài
và chủ đề nhất định
Cấu trúc hình thức và cấu trúc nghĩa
ó liên kết
và mạch lạc
Dài hoặc ngắn
Trang 38những luận điểm, luận cứ vững chắc, chính xác, có mạch lạc với những khái niệm xác định” [92, tr.29]
1.2.2.2 Văn bản khoa học
Văn bản khoa học là loại VB sử dụng các phương tiện của ngôn ngữ gọt giũa, ngôn ngữ văn hóa để giao tiếp và truyền tải kiến thức khoa học và được thể hiện trong các loại bài báo, bài nghiên cứu, báo cáo thực tập, khóa luận, luận văn, sách giáo khoa, sách tham khảo v.v
(i) Đặc trưng của văn bản khoa học
ề cập đến chức năng cơ bản của các VB khoa học, tác giả inh Trọng Lạc
đã phát biểu “chức năng cơ bản của phong cách khoa học là chức năng giao tiếp lý
trí Song ở đây giao tiếp lí trí không chỉ cần thông báo mà còn cần chứng minh tính
chân thực của thông báo‟‟ [59, tr.82]
Theo quan điểm này của tác giả inh Trọng Lạc, trong các VB khoa học, chức năng thông báo bằng chứng minh là chức năng quan trọng, các tri thức mới, có giá trị được cung cấp cho người đọc bằng những lập luận, những phán đoán logic để chứng minh tính qui luật của những cái mới có giá trị đó Tác giả Hữu ạt đã bổ sung thêm chức năng diễn giải, tác động cho loại VB này, đồng thời ông cho rằng VB khoa học
gồm các đặc điểm: bình đẳng, phi hình tượng, khái quát trừu tượng, logic khoa học
và chính xác khách quan [28, tr.157]
Tóm lại, một VB khoa học có năm đặc trưng cơ bản là: chính xác, khách
quan, bình đẳng, trừu tượng - khái quát, lý trí - logic khoa học
(ii) Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản khoa học
Giao tiếp là một hoạt động diễn ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội
ó nhiều lĩnh vực giao tiếp như: quản lý hành chính, văn hóa nghệ thuật, báo chí - chính luận, sinh hoạt thường ngày, lĩnh vực khoa học Mỗi lĩnh vực hoạt động lại có những yêu cầu về mục đích, nội dung, chức năng và đặc điểm ngôn ngữ khác nhau,
vì thế cần hiểu rõ những yêu cầu, đặc điểm riêng trong từng lĩnh vực để tạo lập và hiểu rõ VB đang sử dụng [96]
Trang 39Về từ ngữ, các VB khoa học sử dụng nhiều các từ đơn nghĩa, chính xác, các thuật ngữ khoa học và các từ ngữ trừu tượng, khách quan, trung hòa về sắc thái biểu cảm
Về câu, các VB khoa học sử dụng kiểu câu đầy đủ các thành phần để giải thích, chứng minh, bên cạnh đó là việc dùng nhiều câu phức, câu ghép (trường
cú) và các liên từ để chỉ quan hệ logic (nhân quả, điều kiện, kết quả, nhượng bộ, tăng tiến…) như: vì… nên, nếu… thì, càng….càng, không những… mà còn ác
cặp liên từ hô ứng, từ ngữ biểu thị các phương diện của sự nhận thức được sử
dụng nhiều và đóng vai trò quan trọng: tóm lại, nói chung, mặt khác, nói riêng,
như vậy [28, tr.163]
ó là cách để thể hiện các hình thức phán đoán và suy luận trong VB và chất lượng logic của các VB khoa học tùy thuộc phần lớn vào việc sử dụng hợp lý các từ ngữ này
(iii) Các thể loại của văn bản khoa học
ác VB khoa học chuyên sâu gồm: chuyên luận, luận văn, luận án, các công
trình khoa học (đề tài, dự án) v.v Những VB này hướng đến độc giả là các nhà
nghiên cứu chuyên ngành, nên bên cạnh những đặc điểm của văn phong khoa học còn yêu cầu cao về tính chính xác của thông tin, sự logic trong lập luận và những lý
lẽ dẫn chứng để kiến giải thông tin khoa học
ác VB khoa học giáo khoa gồm: sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng, sách
tham khảo v.v Những VB này hướng đến đối tượng độc giả là người học ở các cấp
học nên ngoài đáp ứng đúng chuẩn mực của văn phong khoa học còn yêu cầu cần trình bày đảm bảo tính sư phạm, các nội dung thông tin từ dễ đến khó, từ thấp đến cao và tính định lượng kiến thức cụ thể trong từng bài, từng chương
ác VB phổ cập khoa học gồm: bài báo khoa học, bài phê bình, điểm sách,
sách phổ biến khoa học v.v Những VB này bên cạnh việc yêu cầu đáp ứng đúng đặc
điểm của văn phong khoa học còn cần trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu và thuyết phục để nhằm phổ biến kiến thức khoa học đến đông đảo người đọc [92, tr.28]
Trang 401.2.2.3 Bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn
(i) Bài báo khoa học
Tác giả Robert Day (1998) đã cho rằng, bài báo khoa học là một báo cáo, một công trình khoa học có nội dung là những kết quả nghiên cứu mới [109, tr.8] ồng thời, bài báo khoa học đó phải được công bố trên một tập san khoa học, đã trải qua cơ chế bình duyệt và thẩm định [100, tr.13]
(ii) Bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thuật ngữ “khoa học” được định nghĩa trong sách “Từ điển tiếng Việt” là:
(1) Hệ thống các tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những qui luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực (2) Ngành của hệ thống tri thức nói trên
Khoa học tự nhiên là khoa học nghiên cứu các qui luật của thế giới vật chất như toán học, vật lý, hóa học, sinh học Khoa học Xã hội Nhân văn là khoa học nghiên cứu về con người, những cách xử sự, hoạt động cá nhân và tập thể như văn học, sử học, tâm lý học, đạo đức học [72, tr.503]
Như vậy, các bài báo KHXH&NV là các bài báo nghiên cứu về con người,
xã hội thuộc các lĩnh vực chuyên ngành của văn học, lịch sử, triết học, tâm lý, luật học, giáo dục học, ngôn ngữ học, triết học và một số chuyên ngành khác ồng thời, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng, các bài báo KHXH&NV thường sử dụng phương pháp định tính để nghiên cứu về con người và xã hội [99]
Tác giả Hữu ạt quan niệm, các bài báo khoa học tự nhiên (thiên về thí nghiệm, phát minh) được coi là một công trình khoa học, còn các bài báo KHXH&NV (thiên về các nghiên cứu hẹp, thường chỉ sử dụng một đến hai phương pháp nghiên cứu), không được coi là một công trình khoa học [28, tr.170] ây chính là lưu ý của tác giả về việc cần nâng cao hơn chất lượng các bài báo KHXH&NV trong bối cảnh toàn cầu hóa (hội nhập quốc tế) hiện nay Và chúng tôi cho rằng, các bài báo KHXH&NV đã được kiểm duyệt và công bố trên tạp chí là công trình khoa học, vì giá trị của các kết quả nghiên cứu KHXH&NV đã và đang được khẳng định Những tri thức, kết quả nghiên cứu đó góp phần quan trọng nâng