Luận văn Biểu tượng như một phương thức phản ánh của văn xuôi đương đại qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái 2009 tác giả Trần Thị Hoài Phương khẳng định:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Hồ Thị Ngọc Tài
BIỂU TƯỢNG TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TỪ 1986 ĐẾN 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Hồ Thị Ngọc Tài
BIỂU TƯỢNG TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TỪ 1986 ĐẾN 2010
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS BÙI THANH TRUYỀN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Mọi số liệu, nội dung trình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố ở bất
cứ công trình nào
Học viên
Hồ Thị Ngọc Tài
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời tri ân chân thành, sâu sắc đến PGS TS Bùi Thanh Truyền, người Thầy đã truyền cảm hứng, niềm đam mê nghiên cứu khoa học cho học viên; người Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy khóa 26 chuyên ngành Văn học Việt Nam cùng các cán bộ Phòng Sau Đại học, Thư viện Tổng hợp TP.HCM tạo mọi điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy Cô Trường THPT Trịnh Hoài Đức (tỉnh Bình Dương), gia đình và bạn bè đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt khóa học
Tp Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2017
Học viên
Hồ Thị Ngọc Tài
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 BIỂU TƯỢNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, GIẢI MÃ BIỂU TƯỢNG TRONG VĂN HỌC 9
1.1 Khái lược về biểu tượng 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Mối quan hệ giữa biểu tượng và hình tượng trong tác phẩm văn học 14
1.2 Quá trình tạo sinh biểu tượng trong tác phẩm văn học 17
1.2.1 Văn hóa – nguồn gốc nảy sinh biểu tượng 18
1.2.2 Ngôn ngữ – chất liệu tạo nên biểu tượng 21
1.2.3 Sự sáng tạo của tác giả làm nên tính nghệ thuật của biểu tượng 23
1.3 Con đường giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học 26
1.3.1 Vận dụng lý thuyết văn hóa học 27
1.3.2 Vận dụng lý thuyết kí hiệu học 30
1.3.3 Vận dụng lý thuyết phê bình huyền thoại 33
Tiểu kết 36
Chương 2 NHỮNG BIỂU TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TỪ 1986 – 2010 38
2.1 Bước ngoặt của văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh sau 1986 nhìn từ góc độ sáng tạo biểu tượng 38
2.1.1 Cơ sở chuyển biến của văn xuôi Việt Nam viết về đề tài chiến tranh sau 1986 38
2.1.2 Tạo sinh biểu tượng – nỗ lực hiện đại hóa của văn xuôi đương đại về đề tài chiến tranh 43
Trang 62.2 Hệ thống biểu tượng chủ đạo của văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh
sau 1986 47
2.2.1 Lửa và các biến thể của lửa với hiện thực chiến tranh tàn khốc 48
2.2.2 Nước và các biến thể của nước với thân phận con người sau chiến tranh 57
2.2.3 Giấc mơ với những chấn thương tâm lí của con người do chiến tranh gây ra 66
2.2.4 Các biểu tượng khác 76
2.3 Sự phái sinh biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh sau 1986 81
2.3.1 Hiện tượng phái sinh và phái sinh biểu tượng 81
2.3.2 Các dạng thức phái sinh biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh sau 1986 82
Tiểu kết 85
Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH 86
3.1 Xây dựng biểu tượng qua ngôn ngữ nghệ thuật 86
3.1.1 Ngôn ngữ hàm súc, đa nghĩa 86
3.1.2 Ngôn ngữ đa giọng điệu 90
3.2 Xây dựng biểu tượng qua kết cấu nghệ thuật 94
3.2.1 Kết cấu phân mảnh 95
3.2.2 Kết cấu tâm lý 100
3.3 Xây dựng biểu tượng qua bút pháp nghệ thuật 103
3.3.1 Bút pháp huyền thoại hóa 103
3.3.2 Bút pháp tượng trưng 109
Tiểu kết 114
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chiến tranh đã kết thúc, nhưng những thanh âm của cuộc kháng chiến lịch sử ấy vẫn còn vang đọng mãi trong đời sống xã hội Việt Nam nói chung và đời sống văn học, đặc biệt là thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết nói riêng Cùng viết về một cuộc chiến tranh nhưng ở những giai đoạn khác nhau các nhà văn lại có những cách nhìn nhận, đánh giá không giống nhau về sự kiện lịch sử ấy Trước năm 1975, tràn ngập trên các trang văn là giọng điệu hào hùng, ngợi ca Sau năm 1975, với một độ lùi nhất định của lịch sử, cùng với những đổi mới trong tư tưởng hệ, chiến tranh đã được nhìn nhận lại một cách chân xác, khách quan hơn
Viết về “chiến tranh sau chiến tranh”, truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã đạt được nhiều thành tựu Các nhà văn mặc áo lính và cả những cây bút trẻ đi sâu vào khai thác số phận con người cá nhân, đối thoại lại những chân giá trị của văn học giai đoạn trước Trong một thời gian ngắn nhưng số lượng tác phẩm tăng lên đáng
kể, nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết có giá trị nghệ thuật, đạt được nhiều giải thưởng cao quý Hội Nhà văn Việt Nam đã trao giải thưởng cho nhiều tác phẩm có giá trị Chẳng
hạn như, năm 1986, tiểu thuyết Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh) đạt loại A, truyện ngắn Gió từ miền cát (Xuân Thiều) đạt loại B; năm 1987, tiểu thuyết Thời xa vắng (Lê Lựu) đạt loại A; năm 1990 có những tác phẩm đạt giải như tiểu thuyết Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Ông cố vấn (Hữu Mai) và truyện ngắn Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu); năm 1991 giải thưởng thuộc về hai tiểu thuyết Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)… Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học,
nhiều công trình đã chỉ ra những khuynh hướng đổi mới về nội dung, nghệ thuật của văn học sau 1975, tìm ra những hướng tiếp cận mới về đề tài chiến tranh so với văn học trước 1975 Một số tác giả còn tập trung đi vào tìm hiểu cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết viết về chiến tranh, cuộc sống của người lính trở về từ chiến trường…
Đề tài chiến tranh trong văn xuôi sau 1975 được tiếp cận, nghiên cứu từ nhiều góc độ, trong đó chúng tôi đặc biệt chú ý đến hệ thống biểu tượng nghệ thuật Văn học
là loại hình nghệ thuật ngôn từ, chính tính hàm súc, đa nghĩa của ngôn từ đã mang đến
Trang 8cho tác phẩm nhiều sức gợi Giá trị nội dung, thẩm mỹ, thông điệp của tác phẩm được dồn nén trong biểu tượng nghệ thuật Giải mã được các tầng nghĩa của biểu tượng chúng ta sẽ khám phá được giá trị của tác phẩm Trên cơ sở đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam viết về đề tài chiến tranh từ 1986 đến 2010, với mong muốn sẽ đóng góp một phần nhỏ trong việc khám phá những nét đổi mới về nội dung, nghệ thuật của văn học viết về “chiến tranh sau chiến tranh”
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Biểu tượng trong văn xuôi Việt
Nam về đề tài chiến tranh từ 1986 đến 2010
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh từ 1986 đến 2010
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam viết về đề tài chiến
tranh từ sau năm 1975 Trước hết có thể kể đến là sách, giáo trình Công trình Văn học
Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (2006) do Nguyễn Văn
Long – Lã Nhâm Thìn chủ biên và công trình Văn xuôi Việt Nam sau 1975 (2012) của
Nguyễn Thị Bình đã mang đến một cái nhìn khách quan, toàn diện về sự vận động của văn học dân tộc sau chiến tranh “Văn xuôi chuyển từ tính thống nhất một khuynh hướng cảm hứng sang tính nhiều khuynh hướng, từ chịu ảnh hưởng của các quy luật thời chiến sang chịu tác động của các quy luật thời bình, nhất là quy luật của kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa” [7, tr.7] Các tác giả cũng đã chỉ ra đặc điểm và quy luật vận động của tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Đặc biệt hai công trình nói trên đã chỉ ra thành tựu nổi bật của truyện ngắn và tiểu thuyết sau 1975 là sự đổi mới trong quan niệm về con người, các tác phẩm xoáy sâu vào thân phận cá nhân
Tiểu thuyết, truyện ngắn sau 1975 cũng đã trở thành một đề tài được nghiên
cứu nhiều trong những luận văn, luận án Luận văn Đề tài chiến tranh chống Mỹ trong
truyện ngắn Bảo Ninh (2006) của Lưu Thị Thanh Trà đã tìm hiểu đề tài chiến tranh
chống Mỹ trong truyện ngắn của Bảo Ninh trong sự so sánh với tiểu thuyết Thân phận
tình yêu Tác giả khẳng định rằng truyện ngắn viết về chiến tranh của Bảo Ninh đã có
sự đổi mới về hiện thực được phản ảnh và chân dung người lính so với văn học giai đoạn trước [116]
Trang 9Năm 2008, Trần Thị Mai Nhân với luận án Những đổi mới trong tiểu thuyết
Việt Nam từ 1986 – 2000 [72] đã chỉ rõ sự mở rộng biên độ của tiểu thuyết Việt Nam
từ quan niệm về một hiện thực đa chiều đến khả năng chiếm lĩnh những vùng hiện thực mới; từ quan niệm về con người “phi sử thi hóa” đến việc đa dạng các kiểu hình nhân vật tiểu thuyết Bên cạnh đó, tác giả luận án còn phát hiện những cách tân về nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 – 2000 Đó là sự đổi mới về nghệ thuật xây dựng nhân vật, thời gian, kết cấu và sự xuất hiện của yếu tố huyền thoại Luận án cung cấp một cái nhìn khái quát về diện mạo tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
Năm 2012, trong luận án Tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học sau 1975–
những khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật, Nguyễn Thị Thanh đã giải quyết hai
câu hỏi: Có thể viết về chiến tranh như thế nào? Và có thể viết tiểu thuyết như thế nào? Tác giả luận án kết luận: “Tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 không đơn giản, thống nhất như trước 1975 mà phát triển đa dạng, phong phú và phân lập thành ba khuynh hướng chính: khuynh hướng khám phá người anh hùng lưỡng diện, khuynh hướng thể hiện con người bị chấn thương và những số phận bi kịch, khuynh hướng thể hiện con người đời thường và những vấn đề thế sự” [91,tr.184] Ngoài ra Nguyễn Thị Thanh còn khẳng định những đóng góp mới của tiểu thuyết sau 1975 trên phương diện nghệ thuật Đó là yếu tố tưởng tượng, hư cấu trên nền sự kiện lịch sử, xuất hiện dấu ấn hậu
hiện đại và văn học được xem như một trò chơi nghệ thuật Có thể khẳng định, luận án
đã cung cấp một hệ thống kiến thức về khuynh hướng và đổi mới nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975
Trong công trình Đề tài chiến tranh trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập
(2013) [107], Lê Thị Hoài Thương đã tập trung nghiên cứu những góc khuất của chiến tranh được thể hiện trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập như sự khốc liệt của cuộc chiến qua góc nhìn hồi ức, vết thương chiến tranh qua số phận con người…
Trong luận văn Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam dưới góc nhìn tự sự học
(qua Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thời xa vắng của Lê Lựu) (2013) [126], Nguyễn Thị Vui đã làm rõ sự đổi mới về nghệ thuật tự sự
trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 so với giai đoạn trước đó
Trang 10Mới đây Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Thảo về đề tài Truyện ngắn
Việt Nam sau năm 1975 viết về chiến tranh (2016) [95], đã được công bố Trong sự so
sánh với truyện ngắn nói chung, với tiểu thuyết về chiến tranh và đối chiếu với truyện ngắn viết về chiến tranh giai đoạn trước 1975, tác giả đã chỉ ra sự thay đổi về tư duy nghệ thuật của truyện ngắn viết về chiến tranh giai đoạn sau 1975 như hướng tiếp cận mới về hiện thực chiến tranh, loại hình nhân vật; sự nới rộng đường biên hiện thực chiến tranh… Bên cạnh những đổi mới về nội dung, tác giả cũng chỉ ra sự cách tân về nghệ thuật, tiêu biểu là việc sử dụng bút pháp kì ảo để khám phá thế giới tâm linh, vô thức của con người Đây là một luận án tiếp nối những giá trị của các công trình đi trước và góp một tiếng nói quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học hậu chiến
Luận án Hiện thực chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua ba tác
phẩm tiêu biểu Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) (2016) của Nguyễn Anh Vũ, thể hiện một cái
nhìn khái quát, toàn diện về từng bước đi của tiểu thuyết từ sau 1975 Với ba tác phẩm tiêu biểu đại diện cho những dấu mốc quan trọng của giai đoạn đổi mới, tác giả đã làm
rõ sự thay đổi từng bước về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết chiến tranh sau
1975 Đó có thể xem là quy luật vận động sự đổi thay, phát triển tất yếu của văn học [125]
Ngoài ra, nghiên cứu về đề tài chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
còn có rất nhiều bài báo, chuyên đề trên các tạp chí chuyên ngành như: Văn học Việt
Nam về chiến tranh – hai giai đoạn của sự phát triển (Đinh Xuân Dũng) [18]; Viết về chiến tranh vấn đề và hiện tượng (Tôn Phương Lan) [60]; Những nỗ lực cách tân của văn xuôi Việt Nam đương đại (Mai Hương) [51]… Điểm gặp gỡ của các công trình
nghiên cứu là sự khẳng định về những đổi mới có giá trị của văn xuôi (tiểu thuyết, truyện ngắn) viết về chiến tranh từ sau 1975 trên phương diện nội dung, nghệ thuật
2.2 Tình hình nghiên cứu biểu tƣợng trong văn học Việt Nam
Tìm hiểu giá trị tác phẩm văn học qua hệ thống biểu tượng nghệ thuật là một hướng nghiên cứu không mới Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu biểu tượng trong ca dao, thơ, văn xuôi Tuy nhiên, để sát với đề tài
Trang 11Biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh từ 1986 đến 2010, chúng tôi
đã đi vào tìm hiểu những công trình nghiên cứu biểu tượng nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn sau 1975
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Toàn trong Biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết
Việt Nam đương đại đã nhấn mạnh: “Những biểu tượng nghệ thuật tham gia vào kết
cấu hình tượng nói riêng, kết cấu tác phẩm nói chung có tính chất phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Những biểu tượng nghệ thuật này tạo nên một cấp độ hiện thực mới– hiện thực siêu thực Đó là hiện thực dị thường không nhằm mục đích để người đọc tin mà kích thích sự nghi ngờ và ngẫm nghĩ Cũng có thể xem đây như một trong những hệ quả của quan niệm về tính “trò chơi” của văn chương hiện đại” [114, tr.107] Việc giải mã biểu tượng trong văn học chính là hành trình khám phá hiện thực cuộc sống
Một số biểu tượng mang tâm thức Mẫu trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh (Hoàng Thị Huế) đã tiếp cận tác phẩm theo hướng nghiên cứu biểu
tượng Theo tác giả, “tác phẩm là mảnh đất màu mỡ cho sự tham dự, song chiếu của huyền thoại– lịch sử và sự nảy mầm các biểu tượng mang tâm thức Mẫu nương mình trong vô thức người nghệ sĩ” [48] Chính biểu tượng là một mã giúp người khám phá các lớp nghĩa của tác phẩm
Biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (2009), Lê Thị Hồng
Hạnh đã đi sâu tìm hiểu và giải mã biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiếp và đưa ra nhiều kiến giải thú vị [36]
Luận văn Biểu tượng như một phương thức phản ánh của văn xuôi đương đại
(qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái (2009) tác
giả Trần Thị Hoài Phương khẳng định: “Khi khảo sát, phân tích các phương thức xây dựng biểu tượng mà Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương và Hồ Anh Thái sử dụng cùng những nguyên tắc tự sự, các quan niệm nghệ thuật ẩn sâu phía sau và chi phối các kỹ thuật đó, chúng tôi nhận thấy hầu hết các phương thức xây dựng biểu tượng đều là những cách tân nghệ thuật có giá trị văn xuôi đương đại, là kết quả của sự vận động nội tại của văn học nhằm tìm kiếm những ngôn từ nghệ thuật mới phù hợp với sự biến chuyển từ quan niệm về đời sống, con người cho đến quan niệm về văn
Trang 12học nghệ thuật Việc xây dựng biểu tượng nghệ thuật có căn nguyên từ sự vận động bên trong của văn học Đây là cơ sở để khẳng định sử dụng biểu tượng như một phương thức phản ánh là một xu hướng nổi trội, tất yếu và có triển vọng trong văn xuôi đương đại” [79, tr.143]
Năm 2013, công trình Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư của
Nguyễn Thị Ngọc Lan đã giải mã mạch ngầm văn hóa Nam Bộ qua hệ thống biểu tượng [59]
Điểm thống nhất của những công trình nghiên cứu trên chính là các tác giả khẳng định nghiên cứu tác phẩm văn học thông qua biểu tượng nghệ thuật là việc làm
có ý nghĩa Việc giải mã các biểu tượng nghệ thuật sẽ giúp chúng ta khám phá các vỉa tầng ý nghĩa của tác phẩm
Qua khảo sát và xử lý tài liệu, chúng tôi nhận thấy rằng đề tài về chiến tranh trong văn xuôi đương đại Việt Nam và biểu tượng nghệ thuật trong các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết rất được quan tâm nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh từ 1986 – 2010 Kế thừa những giá trị của các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi mong muốn sẽ nghiên cứu biểu tượng nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam
về đề tài chiến tranh từ 1986 – 2010 một cách hệ thống
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Để làm rõ đề tài Biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh từ
1986 – 2010, chúng tôi tập trung làm rõ quá trình hình thành và giải mã biểu tượng
trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Đó được xem như là cơ sở lý luận của các bước nghiên cứu tiếp theo Chúng tôi giải mã những biểu tượng trong những tác phẩm văn xuôi tiêu biểu viết về chiến tranh, qua đó có cái nhìn rõ nét về sự đổi mới trong nội dung phản ánh hiện thực Luận văn còn tập trung tìm hiểu nghệ thuật xây dựng biểu tượng nghệ thuật trong văn xuôi như bút pháp huyền thoại, ngôn từ, cốt truyện…
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn cho phép của đề tài, chúng tôi đi vào giải mã ý nghĩa biểu trưng của các biểu tượng tiêu biểu: Lửa, Nước, Giấc mơ, Rừng núi, Máu và các biến thể của
Trang 13chúng để có một cái nhìn khái quát, toàn diện về những đổi mới trên phương diện nội dung, nghệ thuật của văn xuôi Việt Nam viết về “chiến tranh sau chiến tranh”
Các tác phẩm luận văn chọn nghiên cứu là truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam viết
về chiến tranh trong giai đoạn từ 1986 đến 2010 có tính biểu tượng Ngoài ra nhằm phục vụ cho mục đích so sánh, đối chiếu với văn học giai đoạn trước để thấy được sự đổi mới nên đề tài còn sử dụng một số tác phẩm viết về chiến tranh trong giai đoạn trước 1975
Có rất nhiều tác phẩm văn xuôi viết về chiến tranh sau 1975, chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu dựa trên những tiêu chí sau:
Thứ 1: Những tác phẩm văn xuôi Việt Nam (truyện ngắn, tiểu thuyết) về đề tài chiến tranh trong khoảng thời gian từ 1986 đến 2010
Thứ 2: Những tác phẩm có xuất hiện biểu tượng lửa, nước, giấc mơ
Thứ 3: Những tác phẩm xuôi hậu chiến có giá trị nghệ thuật cao (đạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Văn nghệ Quân đội hoặc được công chúng đón nhận)
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc
Phương pháp này giúp chúng tôi có một cái nhìn toàn diện về các biểu tượng nghệ thuật trong văn xuôi viết về chiến tranh sau 1986, đồng thời giúp luận văn thêm chặt chẽ, logic
4.2 Phương pháp loại hình
Đây là phương pháp giúp khám phá giá trị của biểu tượng nghệ thuật dựa vào đặc trưng thể loại
4.3 Phương pháp so sánh
So sánh với quan niệm phản ánh hiện thực trước 1975, chúng tôi mong muốn làm
rõ sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật của văn xuôi viết về đề tài chiến tranh từ sau
1986 so với giai đoạn trước thông qua hệ thống biểu tượng
4.4 Phương pháp liên ngành
Để giải mã các tầng nghĩa của hệ thống biểu tượng, việc đặt tác phẩm trong mối quan hệ với văn hóa– lịch sử là một điều cần thiết
Trang 145 Đóng góp của đề tài
Với đề tài Biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh từ 1986 đến
2010, chúng tôi mong muốn tìm ra những đổi mới về nội dung, nghệ thuật của văn
xuôi viết về đề tài chiến tranh từ 1986-2010 thông qua các biểu tượng nghệ thuật có trong tác phẩm
Với giới hạn cho phép, luận văn không có tham vọng giải quyết triệt để mọi vấn
đề mà mong muốn đóng góp một tiếng nói để hiểu rõ hơn về hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh từ sau 1986
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục và, Nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Biểu tượng và quá trình hình thành, giải mã biểu tượng trong văn học
Trong chương này chúng tôi đi vào làm rõ những vấn đề lý thuyết về biểu tượng: khái niệm, mối quan hệ giữa biểu tượng và hình tượng, quá trình hình thành biểu tượng, con đường giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học Đây là cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam
về đề tài chiến tranh từ 1986 – 2010
Chương 2: Những biểu tượng tiêu biểu trong văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh từ 1986 đến 2010
Chương 2 làm rõ sự đổi mới của văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh từ góc
độ biểu tượng Nỗ lực hiện đại hóa văn xuôi đương đại về đề tài chiến tranh đã được thể hiện qua hệ thống biểu tượng chủ đạo (Lửa, Nước, Giấc mơ, Rừng núi và các biến thể của chúng)
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến tranh từ 1986 đến 2010
Nội dung chương 3 làm rõ những phương diện nghệ thuật được áp dụng để tạo nên tính biểu tượng trong văn xuôi Việt Nam đương đại về đề tài chiến tranh: ngôn từ, kết cấu, bút phá
Trang 15Chương 1 BIỂU TƯỢNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,
GIẢI MÃ BIỂU TƯỢNG TRONG VĂN HỌC
Tiếp cận tác phẩm qua biểu tượng là phương thức đọc văn bản theo chiều sâu; qua đó chúng ta sẽ khám phá được những lớp nghĩa biểu trưng được cất sâu bên trong lớp vỏ ngôn từ Bởi vì, biểu tượng có đặc trưng đa nghĩa, sống động, khó nắm bắt nên con đường giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học đòi hỏi người đọc phải được trang bị những kiến thức chung về đối tượng Trong chương 1, chúng tôi sẽ giới thiệu
sơ lược những vấn đề lý thuyết về biểu tượng: khái niệm, con đường tạo sinh biểu tượng, con đường giải mã biểu tượng để làm nền cho quá trình “đọc” biểu tượng ở những chương sau
1.1 Khái lược về biểu tượng
1.1.1 Khái niệm
Biểu tượng (tiếng Pháp: representation, symbole; tiếng Anh: symbol) là một
thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học tự nhiên và xã hội Đó là những kí hiệu đại diện cho một ý nghĩa nhiều hơn chính nó
Biểu tượng trong khoa học tự nhiên có ý nghĩa chuẩn xác và thống nhất, được
sử dụng theo một số nghĩa nhất định Chẳng hạn biểu tượng ∩ trong toán học có nghĩa
là giao giữa 2 tập hợp, A ∩ B được hiểu là có một điểm giao giữa A và B, phần tử vừa thuộc A vừa thuộc B Biểu tượng ∞ được đọc là vô cực (không xác định, không giới hạn) Những biểu tượng ấy được sử dụng rộng rãi trên thế giới, được mọi người ngầm hiểu và chỉ có một cách hiểu duy nhất Nguyễn Thị Bích Hà đã gọi đấy là những biểu tượng chết [33] Đây không thuộc đối tượng nghiên cứu của chúng tôi
Trong khoa học xã hội, biểu tượng có tính đa nghĩa, trừu tượng Đó không đơn thuần là những kí hiệu bằng hình ảnh mang tính thuật ngữ, khái niệm, đơn nghĩa mà là một kí hiệu hàm nghĩa có khả năng gợi mở tư duy cảm nhận của con người, mang đến những âm vang rung động trong tâm hồn Ví dụ đường hầm “là biểu tượng của mọi cuộc vượt qua bóng tối, lo âu, đau khổ để có thể đến được với một cuộc đời khác, còn
Trang 16bao hàm cả nét nghĩa tượng trưng cho tử cung và âm đạo của người mẹ, là con đường thụ pháp của đứa trẻ sơ sinh” [55, tr.325] Theo như quan điểm của Nguyễn Thị Bích
Hà trong Mã và mã văn hóa có thể xem đây là những biểu tượng sống – đối tượng
nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này
Là một thuật ngữ phức tạp, khó đưa ra một định nghĩa thống nhất các công trình
nghiên cứu đã cố gắng cung cấp rất nhiều cách hiểu về khái niệm này Từ điển tiếng
Việt (2006) giải thích nghĩa của từ biểu tượng trước hết là hình ảnh tượng trưng; là
hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại
trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt [77, tr.83] Từ
điển thuật ngữ văn học đã đưa ra các định nghĩa sau Theo nghĩa rộng, biểu tượng là
đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa
về con người và cuộc đời
Công trình nghiên cứu được xem là cơ sở vững chắc nhất về biểu tượng Từ điển
biểu tượng văn hóa thế giới đã cố gắng làm rõ mối quan hệ giữa biểu tượng và những
ý nghĩa biểu trưng của chúng Tuy nhiên những lớp nghĩa ẩn ngữ của biểu tượng không bao giờ là cùng kiệt Jean Chevalier và Alain Gheerbrant chỉ trao chiếc chìa khóa còn việc mở cánh cửa khu vườn huyền bí của biểu tượng là quyền năng của độc giả
Trên thực tế có nhiều thuật ngữ mới nghe có vẻ như giống biểu tượng, chẳng hạn: tín hiệu, dấu hiệu, phúng dụ… Tuy nhiên, những thuật ngữ này không phải là một, giữa chúng chỉ có một điểm chung là “chúng cần đến sự hiện diện của quan hệ giữa hai thành phần: cái được biểu đạt và cái được biểu đạt” [24, tr.318] Lằn ranh giữa biểu tượng và những hình ảnh tưởng chừng như biểu tượng rất mỏng, dễ nhầm lẫn nếu chúng ta không được trang bị kĩ về lý thuyết Vì vậy ngay trong phần mở đầu, hai tác giả đã chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa biểu tượng và dấu hiệu “ Dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái được biểu đạt và cái được biểu đạt vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt
Trang 17theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [55, tr XIX] Như vậy chính mối quan hệ chặt chẽ giữa hai mặt cái biểu đạt – cái được biểu đạt là điểm để phân biệt giữa kí hiệu với dấu hiệu Theo cách giải thích này có thể hiểu nghĩa của dấu hiệu mang tính võ đoán còn những lớp nghĩa của biểu tượng là một cấu trúc động với mối quan hệ khá bền chặt giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Hình ảnh quả táo bị khuyết là dấu hiệu của hãng điện thoại Apple mặc dù tự bản thân hình ảnh ấy không có ý nghĩa nào liên quan đến chiếc điện thoại Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy ngoài tính võ đoán thì giữa dấu hiệu và biểu tượng còn có một điểm khác nhau nữa đó chính là dấu hiệu đơn nghĩa và mang tính thông tin, thông báo Còn biểu tượng có tính đa nghĩa, mang nhiều giá trị thẩm mỹ, thông điệp nghệ thuật Chẳng hạn lửa xuất hiện trên biển báo (cái biểu đạt) chỉ nhằm mục đích thông báo cháy (cái được biểu đạt), khi ấy lửa là một dấu hiệu Trường hợp lửa xuất hiện lặp đi lặp lại trong một tác phẩm văn học như một nhân vật (cái biểu đạt) nhằm gợi ra một giá trị nghệ thuật về sự tẩy uế, soi sáng, khi ấy lửa đã trở thành biểu tượng nghệ thuật Chẳng hạn biểu tượng lửa trong sử thi Ramayana là biểu tượng của sự tẩy uế, thanh lọc
Khi nghiên cứu biểu tượng chúng ta còn gặp phải một khó khăn khác trong
nhận dạng đối tượng Từ điển tiếng Việt từng định nghĩa, biểu tượng là hình ảnh của sự
vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt Như vậy, những hình ảnh không thể tri nhận bằng giác quan có được gọi là biểu tượng? Để giải quyết thắc mắc này, Jean Chevalier – Alain Gheerbrant đã mượn phát biểu của Pierre Emmanuel “Vật không chỉ là một sinh thể hay một sự vật thực, mà cả một khuynh hướng, một hình ảnh ám ảnh, một giấc mơ, một hệ thống định đề được ưu tiên, một hệ thuật ngữ được quen dùng…” [55, tr.XXIV] Với phát biểu của Pierre Emmanuel, khái niệm biểu tượng đã được nới rộng, bao hàm những vật cụ thể có thể tri giác và cả những vật không thể nắm bắt bằng các giác quan Đây sẽ là cơ sở vững chắc cho việc lý giải biểu tượng giấc mơ (bất tri giác) trong chương sau
Sẽ là chưa đầy đủ nếu không nói đến tính phổ biến của biểu tượng Cái biểu đạt hay sự hàm nghĩa của biểu tượng được một nhóm người chấp thuận và sử dụng Nhà nghiên cứu Liungman đã khẳng định điều này trong công trình nghiên cứu của mình
“Dictionary of Symbols”: “những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm
Trang 18người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý ngĩa là đại diện cho chính bản thân nó” [34, tr.12]
Định nghĩa về biểu tượng của Đinh Hồng Hải: “Có thể coi biểu tượng là những hình ảnh tượng trưng do con người tạo ra, tồn tại trong đời sống của con người và có tác động đến đời sống văn hóa của con người” [34, tr.12] Nhà biểu tượng học của Việt Nam này quan tâm nhiều hơn về yếu tố văn hóa ẩn chứa trong những biểu tượng Tác giả còn khẳng định nghiên cứu biểu tượng tức là đi giải mã các thành tố văn hóa được sản sinh trong đời sống con người
Biểu tượng cũng là một đối tượng được các nhà tâm lý, phân tâm học quan tâm
nghiên cứu Trong Thăm dò tiềm thức, C.Jung đã đưa ra một cách hiểu về thuật ngữ
biểu tượng: “Chúng ta gọi là biểu tượng, một danh từ, một tên gọi hay một hình ảnh tuy đã quen thuộc với ta hằng ngày, nhưng còn gợi lên những ý nghĩa khác thêm vào ý nghĩa ước định hiển nhiên của nó Biểu tượng gợi lên cái gì mờ mịt, xa lạ hay tàng ẩn đối với ta” [9, tr.17] Ví dụ, nước là một hình ảnh gần gũi với con người trong đời sống, nó mang một ý nghĩa thực là chất lỏng trong suốt dùng trong sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên, nước còn được xem là một biểu tượng khi nó còn mang đến những lớp nghĩa phái sinh, một số nơi nước được xem là một lễ phẩm thiêng liêng gắn liền với thần linh, tôn giáo Chính khả năng gọi tên được những cái mơ hồ, khó định nghĩa bằng tri thức khoa học, biểu tượng trở thành một loại ngôn ngữ dùng để đọc tiềm thức của con người (những hình ảnh tượng trưng xuất hiện trong giấc mơ), là cầu nối giữa ý thức với cõi vô thức
C.Jung và Freud đều quan tâm đến hoạt động của vô thức bằng con đường đọc thông điệp của những giấc mơ thông qua biểu tượng Tuy nhiên giữa hai nhà tâm lý học này có sự khác biệt trong việc hiểu và sử dụng thuật ngữ biểu tượng (symbol) Ngay từ đầu C.Jung đã thể hiện rõ quan điểm của mình, biểu tượng gắn liền với tính
đa nghĩa, mờ mịt, xa lạ, “một hình thức của một thực tế hầu như không biết, một thực
tế tuy vậy được thừa nhận hoặc được giả định là tồn tại” [26, tr 43] Có sự mâu thuẫn không khi khái niệm về biểu tượng được C.Jung định nghĩa là hình ảnh quen thuộc nhưng lại xa lạ? Phát biểu ấy có thể được hiểu, biểu tượng là hình ảnh, vật quen thuộc trong cuộc sống nhưng lại biểu thị cho một điều gì đó mơ hồ, khó nắm bắt trong tâm
Trang 19thức Chẳng hạn cây mận (vật quen thuộc) là biểu tượng cho sự thuần khiết (cái biểu thị mơ hồ)
Ngược lại với C.Jung, Freud cho rằng biểu tượng mang tính kí hiệu, nó là một dấu hiệu của một cái gì đó được biết khá rõ mặc dù không được nhận biết một cách có
ý thức Như vậy quan điểm của ông có thể được hiểu là biểu tượng là một vật thay thế cho một vật thực Và với nhà phân tâm học này, biểu tượng còn là tiếng nói của những
ẩn ức, ham muốn bị dồn nén “một con dao, một cái gậy… có thể biểu tượng cho dương vật” [26, tr.45]
Điểm qua một số công trình trên, chúng tôi nhận thấy rất khó để có một khái niệm thống nhất về thuật ngữ biểu tượng (symbol) Đây cũng là một điều dễ hiểu vì một trong những bản chất nổi bật của biểu tượng chính là tính khó xác định và sống động Một cách hiểu duy nhất chỉ làm biểu tượng bị chết cứng trong lớp vỏ ngôn từ Mỗi nhà nghiên cứu có một hướng quan tâm khác nhau nên những cách hiểu về thuật ngữ này vừa có sự gặp gỡ vừa có sự khác biệt Điểm gặp nhau của các khái niệm trên chính là biểu tượng là một đối tượng đại diện cho một đối tượng lớn hơn chính nó Sự khác biệt, chưa đồng nhất ấy sẽ là thuận lợi khi biểu tượng vẫn không là mảnh đất chết, vẫn chứa đựng nhiều điều huyền bí thu hút nhu cầu khám phá của mọi người Đồng thời điều đấy cũng sẽ gây ra nhiều khó khăn cho người nghiên cứu khi không tìm ra một cách hiểu chung làm cơ sở để tiếp cận biểu tượng Từ đó, tiếp thu những khái niệm khác nhau của các nhà khoa học nêu trên, chúng tôi rút ra một cách hiểu về thuật ngữ này để làm cơ sở cho việc tiếp cận, tìm hiểu biểu tượng trong các tác phẩm
văn xuôi viết về đề tài chiến tranh từ 1986 đến nay Biểu tượng là một kí hiệu ngôn
ngữ bao hàm cái biểu đạt (A) và cái được biểu đạt (B) Trong đó A là những hình ảnh, vật có thể tri giác hoặc bất tri giác; B chứa đựng, gợi mở nhiều tầng nghĩa có giá trị nghệ thuật hơn A Khái niệm công trình nghiên cứu sử dụng có cội nguồn từ kí hiệu
học và văn hóa học Chúng tôi cho rằng đó sẽ là nền tảng vững chắc để đọc và giải mã biểu tượng trong văn học Với cách hiểu này, ở chương sau, chúng tôi sẽ đi vào giải
mã những hình ảnh: lửa, nước, giấc mơ, rừng, máu… và các biển thể của nó trong hệ thống các tác phẩm văn xuôi viết về chiến tranh sau 1986 như những biểu tượng
Trang 201.1.2 Mối quan hệ giữa biểu tượng và hình tượng trong tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù Đối tượng của văn học chính là hiện thực đời sống Tuy nhiên cùng một đối tượng nhưng văn học lại có cách nhìn riêng, chiếm lĩnh riêng không giống các hình thái ý thức xã hội khác Chẳng hạn, nhà văn viết về rừng nhưng không giống như những nhà môi trường, xem xét đối tượng là một loại địa hình của tự nhiên, chiếm bao nhiêu diện tích che phủ mà thấy rừng là một ngôi nhà lớn che chở cho nhân loại hay đó là biểu hiện mạnh mẽ của sự sống Như vậy điều mà tác phẩm văn học quan tâm không phải là “các quan hệ qua lại của thế giới hiện thực mà trước hết là các quan hệ của xã hội con người” [67, tr.125]
Có nghĩa là đối tượng mà văn học quan tâm, phản ánh chính là một quan hệ người kết tinh trong sự vật [67, tr.125] Như vậy, hiện thực trong tác phẩm không phải là một hiện thực nguyên mẫu như nó vốn là mà trở thành một đối tượng được khoác lên mình những thị hiếu văn chương, lý tưởng, khát vọng.Và để nhào nặn, xử lý hiện thực nguyên mẫu thành hiện thực văn học có giá trị thẩm mỹ, các tác giả đã sử dụng tư duy hình tượng – cảm tính kết hợp với các phương thức phản ánh nghệ thuật bằng hình tượng, biểu tượng Khi ấy, khách thể thẩm mỹ được tách khỏi hiện thực khách quan và được chuyển thành một hiện thực của ý thức qua lăng kính sáng tạo của chủ thể thẩm
mỹ (sự sáng tạo phải nằm trong ngưỡng cho phép của thiết chế xã hội) Có thể khẳng định thế giới hiện thực thông qua phương thức phản ánh bằng hình tượng, biểu tượng
đã tạo nên một thế giới nghệ thuật tượng trưng, gợi lên những miền cảm xúc, kích thích tư duy tiếp nhận của độc giả
Biểu tượng và hình tượng đều là những kí hiệu Đó đều là sự truyền đạt ý nghĩa bằng hình thức kí hiệu, “tức là cái vật chất có thể cảm biết được mà người phát sử dụng để kích thích đối phương tiếp nhận nhằm truyền đạt một cách có quy ước về một vật hoặc tình huống vắng mặt hoặc chưa xuất hiện”, “sự truyền đạt này được tiến hành thông qua một kênh nhất định” và “kí hiệu đó đã được mã hóa theo cái mã mà người tiếp nhận cũng nắm được” [35, tr.164-165] Như vậy cả hình tượng, biểu tượng đều là những kí hiệu gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt
Trang 21Sơ đồ ký hiệu học của Hjelmslev [73, tr.76]
Vì có điểm giống nhau nên hai thuật ngữ, hai phương thức phản ánh hiện thực này thường bị sử dụng nhầm lẫn Tuy nhiên, đây là hai phạm trù nghệ thuật riêng biệt,
có điểm thuộc nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất Sự phân biệt giữa biểu tượng
và hình tượng không phải là không gây ra những khó khăn nhất định bởi vì lằn ranh giữa hai phạm trù này có những đoạn gặp nhau và cũng không hoàn toàn tách biệt Có khi một kí hiệu, hình ảnh nào đó có thể trở thành hình tượng trong tác phẩm này nhưng
ở tác phẩm khác, theo một góc độ khác lại trở thành biểu tượng Vì vậy, làm rõ mối quan hệ giữa hai phạm trù này cũng là một bước quan trọng trong hành trình giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học
Hình tượng là phương thức kiến tạo lại hiện thực đời sống thông qua hình ảnh (image), một sự tái hiện có chọn lọc và sáng tạo Vì vậy, thế giới hình tượng trong tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân, phong cách sáng tác của tác giả “Cấu trúc của hình tượng bao giờ cũng là sự thống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan và khách quan, lí trí và tình cảm, cá biệt và khái quát, hiện thực và lý tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình” [35, tr.148] Là một thế giới hiện thực được lọc qua lăng kính thẩm mỹ cùng các thủ pháp nghệ thuật như tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật nên hình tượng bước vào tác phẩm với một diện mạo khác, “là một hiện tượng đầy tính ước lệ” [35, tr.24] Từ đó, hình tượng vừa thấp thoáng bóng dáng của hiện thực nhưng đồng thời lại gợi ra một lớp ý nghĩa, vượt ra ngoài hiện thực Trong khi đó, biểu tượng cũng là một loại kí hiệu mà cái biểu đạt đã là một sự hàm nghĩa, vượt ra khỏi chính bản thân sự vật; cái được biểu đạt với chiều sâu vô tận, mở ra nhiều tầng bậc ý nghĩa
Trang 22Như vậy có thể kết luận hình tượng chính là cơ sở để hình thành biểu tượng hay trong biểu tượng bao hàm cả hình ảnh hình tượng Vì vậy mà nội hàm của biểu tượng rộng hơn hình tượng “Biểu tượng là một sự khái quát đầy năng động, cho ta chiếm lĩnh thực tại trong chiều sâu bản chất của nó mà không làm mất đi sự thụ cảm sống động, tinh tế cũng như ấn tượng tươi mới về hiện thực Biểu tượng phải đạt tới một trình độ cao trong khái quát hiện thực, chạm đến những miền mơ hồ sâu xa trong tâm thức nhà văn và gợi nó ra dưới một hình thức cảm tính; nó có khả năng gợi thức, lây lan tạo sự cộng hưởng mạnh mẽ trong lòng người đọc” [79, tr.30] Nguyễn Văn Hậu cũng từng khẳng định: “Phạm trù biểu tượng nhằm chỉ cái phần mà hình tượng vượt khỏi chính bản thân nó và luôn hàm chứa những ý nghĩa mang giá trị trừu tượng” [38] Kết luận này càng trở nên vững chắc với sơ đồ siêu kí hiệu của Barthes
I CBĐ: Sự biểu thị CĐBĐ: Sự biểu thị
Từ sơ đồ trên, Nguyễn Văn Hậu đã chuyển đổi thành một dạng sơ đổ giải thích
và chúng tôi cũng sử dụng nó để làm cơ sở cho việc làm rõ mối quan hệ giữa hình tượng, biểu tượng cũng như quá trình nghiên cứu, giải mã biểu tượng
Trang 23Sơ đồ giải thích hệ thống siêu ký hiệu – biểu tượng của Nguyễn Văn Hậu [38]
Từ những lý giải trên chúng ta có thể khẳng định rằng, biểu tượng được tạo nên
từ hình tượng, nó bao trùm hình tượng và rộng hơn hình tượng Tuy nhiên, không phải mọi hình tượng đều có thể trở thành biểu tượng Để hình tượng trở thành biểu tượng nghệ thuật, bản thân hình ảnh đó phải có nghĩa hàm sâu rộng để khơi dậy, làm rung động những mỹ cảm nơi người tiếp nhận Xây dựng một hình tượng thành một biểu tượng nghệ thuật, người nghệ sĩ đã vận dụng kết hợp các thủ pháp nghệ thuật như: lặp, huyền thoại hóa… Chẳng hạn, khói lửa vốn là một hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên khi đi vào các tác phẩm văn xuôi Việt Nam đương đại viết
về chiến tranh sau chiến tranh với một mức độ dày đặc, trong màn sương huyền ảo nó không còn là một hiện thực đơn thuần mà đã trở một nhân vật đầy sức ám gợi, một biểu tượng với sự giãn nở đến vô cùng
1.2 Quá trình tạo sinh biểu tƣợng trong tác phẩm văn học
Biểu tượng có mặt ngay cả khi con người chúng ta chưa có ý niệm về sự tồn tại
ấy Nó hiện diện khắp mọi ngóc ngách, lĩnh vực trong đời sống xã hội Hầu hết các ngành khoa học đặc biệt là khoa học về con người, nghệ thuật đều có sự góp mặt của
biểu tượng Các soạn giả của công trình Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đã khẳng
định: “Nói là chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong ta” [55, tr.XIV]
Ngay từ đầu biểu tượng vốn là sản phẩm của vô thức “Loại thứ nhất thoát thai
từ nội dung phi ý thức của cái psyche (nguyên tố tâm thần) ” [9, tr.133] Loại thứ nhất
mà C.Jung ám chỉ chính là biểu tượng tự nhiên – những biểu tượng sơ khai, chưa có sự nhào nặn, điều khiển của ý thức Để chứng minh cho khẳng định trên, nhà tâm lý học người Thụy Sĩ này đã phân tích, làm rõ những hình ảnh tượng trưng xuất hiện trong tiềm thức, giấc mơ “Những sự kiện mà ta ý thức được còn có những khía cạnh mà ta không ý thức được, ngoài ra còn phải nói đến những sự kiện mà trí óc ta không ghi nhận một cách có ý thức, nhưng tiềm thức ta đã ghi nhận, và như thế chúng ở dưới làn mức ý thức Chúng ta đã ghi nhận, nhưng ghi nhận một cách vô tâm” [9, tr.20] Mặc
dù tồn tại một cách vô thức (không được kiểm soát bởi ý thức) tuy nhiên trong một vài hoàn cảnh thích hợp chúng sẽ hiện diện như một ý tưởng phụ thuộc “Ý tưởng ấy có
Trang 24thể xuất lộ dưới hình thức một giấc mơ Đó là trường hợp thường xảy ra: giấc mơ sẽ tố cáo những cảm giác mà ta ghi nhận một cách vô tâm, chúng không xuất lộ dưới hình thức hữu ý, mà dưới hình thức hình ảnh tượng trưng” [9, tr.21] Như vậy, C.Jung đã xem giấc mơ như một cầu nối của miền vô thức và quá trình giao tiếp ấy được đọc bằng ngôn ngữ biểu tượng Cần phải nói thêm rằng, có một thực tế là thi thoảng những hình ảnh trong giấc mơ hoàn toàn xa lạ với chính cá nhân đó, tự bản thân họ không thể
lý giải, cắt nghĩa nghĩa được Khi đó, C.Jung gọi hiện tượng ấy là vô thức tập thể, Jung đưa ra một giả thuyết rằng: “có một sự phân chia tổng quát vô thức thành vô thức cá nhân (personal unconscious) và vô thức tập thể (phi cá nhân) (collective unconscious)” [26, tr.72]
Khởi thủy là sản phẩm của vô thức tập thể, tuy nhiên khi bước vào thế giới văn học biểu tượng trở thành một phương thức phản ánh nghệ thuật có ý thức Bởi vì như
đã nói trên, tác phẩm văn học là một hình thái ý thức xã hội, là kết quả lao động của tác giả Vì vậy, việc lựa chọn, thay đổi, xây dựng biểu tượng nhằm làm tăng hiệu quả diễn đạt, chuyển tải thông điệp, nâng cao giá trị thẩm mỹ là công việc phức tạp của trí
óc Từ giai đoạn hoài thai đến khi biểu tượng được xuất hiện trong tác phẩm như một ý
đồ, một nhân vật, một phương thức nghệ thuật có chủ ý là cả một quá trình
1.2.1 Văn hóa – nguồn gốc nảy sinh biểu tượng
Theo Từ điển tiếng Việt: “văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát)” [77, tr.1396] Bàn về khái niệm này, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải
là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [127, tr.22]
Trang 25Từ những nguồn tài liệu trên, chúng ta có thể hiểu văn hóa bao gồm cả vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra và chính văn hóa phản ánh cuộc sống của con người, là những giá trị làm nên đặc trưng của vùng
Đối tượng tìm hiểu của chúng tôi trong phần này không phải những đặc trưng, con đường hoạt động của hình thái ý thức xã hội nói trên mà chỉ tập trung quan tâm đến các yếu tố văn hóa được thể hiện hay diễn đạt trong biểu tượng
Trong Biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Nguyễn
Đức Toàn đã đưa ra một nhận định: “Trong văn học, biểu tượng được xem là một sáng tạo nghệ thuật Đó là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, là khả năng cắt nghĩa đời sống từ cái nhìn văn hóa” [114, tr.104] Cùng quan điểm này, nhà nhân học Đinh Hồng Hải cũng khẳng định: “Việc tìm hiểu ngôn ngữ biểu tượng cũng chính là tìm hiểu đời sống văn hóa xã hội loài người thông qua các biểu tượng văn hóa do họ tạo ra.”; “nghiên cứu biểu tượng là khoa học có chức năng sử dụng ngôn ngữ biểu tượng
để giải mã các thành tố văn hóa được sản sinh trong đời sống của con người” [34, tr.27] Nguyễn Thị Thanh Xuân cũng đồng tình với quan điểm trên “Biểu tượng (symbol) cũng là hình tượng, nhưng là hình tượng có khả năng biểu đạt một ý nghĩa có tính bền vững và phổ quát Những ý nghĩa ấy bắt nguồn từ văn hóa, tôn giáo, lịch sử các cộng đồng” [128] Dẫn ra một số kết luận quan trọng của các nhà nghiên cứu để thấy rõ mối quan hệ giữa biểu tượng với văn hóa Văn hóa là mảnh đất giàu phù sa để cây biểu tượng nảy mầm và sum suê tỏa bóng trong khu vườn văn học Và cũng có thể nói biểu tượng lại chính là ngôn ngữ biểu đạt của văn hóa
Quan hệ giữa văn hóa với biểu tượng là một mối quan hệ biện chứng, hai chiều với sự tương tác qua lại Trong phần này, chúng tôi tập trung là rõ chiều thứ nhất để thấy được văn hóa chính là nguồn gốc nảy sinh biểu tượng, là nền tảng đầu tiên để tạo sinh biểu tượng trong tác phẩm văn học
Trong những công trình nghiên cứu của mình, C.Jung thống nhất một ý kiến rằng từ trong vô thức tập thể đã hình thành nên những mẫu gốc hay mọi biểu tượng
đều xuất phát từ mẫu gốc Khái niệm về mẫu gốc đã được Từ điển thuật ngữ văn học
giải thích rất tường minh “Những mẫu gốc này là những mô típ và liên kết mô típ có đặc tính bản chất phổ quát, là những sơ đồ tâm lý bền vững, được tái hiện lại một cách
Trang 26vô thức và tìm thấy nội dung trong các nghi lễ, thần thoại tượng trưng, tín ngưỡng cổ xưa…” [35, tr.192] “Sự hình thành cổ mẫu thường bắt nguồn từ những kinh nghiệm lặp đi lặp lại của nhân loại, có tính chất mơ hồ, là một kết tinh quan trọng của ký ức con người về cội nguồn văn hóa – lịch sử” [48] Như vậy có thể hiểu cổ mẫu mang trong mình những nét nghĩa thuộc về nghi lễ, tôn giáo, văn hóa… và những tầng ý nghĩa đó đã chuyển hóa thành các lớp nghĩa biểu trưng của biểu tượng trong tác phẩm văn học Qua đó, những biểu tượng sẽ phản ánh đặc trưng văn hóa của dân tộc, vùng miền Khi sáng tác, cổ mẫu trong tầng sâu vô thức được sống dậy, hiện hữu và chi phối quá trình sáng tạo biểu tượng của nhà văn Lúc này, nhà văn – chủ thể sáng tạo sẽ
có nhiệm vụ điều chỉnh, biến đổi cấu trúc tương đối ổn định trong đời sống văn hóa, làm cho những ý nghĩa của biểu tượng trong văn hóa trở thành một phương thức nghệ thuật trong tác phẩm theo ý đồ và mục đích sáng tác Đây được xem là quá trình biến đổi ý nghĩa của biểu tượng văn hóa thành biểu tượng nghệ thuật Theo Nguyễn Thị Ngân Hoa, “biểu tượng nghệ thuật là các biến thể loại hình của biểu tượng văn hóa trong những ngành nghệ thuật khác nhau (hội họa, âm nhạc, văn học,…)” [43, tr.35]
Có thể lấy biểu tượng nước trong văn học Việt là một ví dụ Nó vừa mang dấu
ấn văn hóa nhân loại, văn hóa vùng; vừa chứa đựng những ý nghĩa của tôn giáo, phong tục Theo tư duy con người thuở ban sơ thì vạn vật được hình thành sau trận đại hồng thủy Những câu chuyện về nạn lụt lớn của nhân loại có mặt trong nhiều thần thoại, tôn giáo của các dân tộc trên thế giới Cơn lũ kinh hoàng cuốn trôi tất cả nhưng cũng
đã mang đến những mầm sống mới, vạn vật được khởi sinh Từ đó, biểu tượng nước đi vào tác phẩm văn học với ý nghĩa “là cái khởi đầu của mọi cái khởi đầu” Là một đất nước thuần nông nghiệp, nước hiện tồn trong cuộc sống hàng ngày, gắn liền với bao công việc đồng áng Với nét văn hóa đó, nước là biểu tượng của tính nữ, nước là nguồn sống Nước còn xuất hiện trong nghi lễ tắm Phật vào ngày lễ Phật Đản và phong tục tắm nước lá thơm trong ngày cuối năm của dân tộc Việt Với niềm tin nước
có thể gột rửa những bụi bặm, muộn phiền, trong một số tác phẩm, nó là biểu tượng của sự thanh tẩy, thanh lọc tâm hồn
Ngoài ra còn có những biểu tượng khác được sinh ra từ văn hóa dân gian như phong tục ăn trầu Trầu cau là những vật phẩm xuất hiện trong nghi lễ trang trọng cũng
Trang 27như giao tiếp ngày thường của người Việt nói riêng và của dân tộc vùng Nam Á nói chung Từ tính chất đặc trưng của phong tục này, trầu cau đã trở thành biểu tượng của tình yêu keo sơn, thủy chung
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?
Trầu vàng nhá lẫn cau xanh Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời
(Ca dao) Với những ví dụ trên, chúng ta nhận thấy biểu tượng được thoát thai từ thần thoại, phong tục, tín ngưỡng,… và được nuôi dưỡng trong dung môi văn hóa Có thể nói, nếu tách rời biểu tượng ra khỏi môi trường văn hóa, biểu tượng sẽ chết và nếu bỏ qua văn hóa chúng ta sẽ khó có thể thấu hiểu, lý giải biểu tượng Mỗi một biểu tượng được bắt nguồn từ mẫu gốc đều chứa đựng một chiều sâu về tâm lý, văn hóa của cả cộng đồng Những kiến thức của C.Jung về thuật ngữ cổ mẫu và vô thức tập thể là một
đóng góp quan trọng để những người đi sau tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi: Biểu
tượng được khởi sinh từ đâu?
1.2.2 Ngôn ngữ – chất liệu tạo nên biểu tượng
Trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Sausure đã đưa ra một cách hiểu về
khái niệm ngôn ngữ, đó là một hệ thống ký hiệu đặc biệt đã được xã hội chấp nhận gồm hai mặt thống nhất: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Ngôn ngữ ra đời đánh dấu
sự tiến bộ của tư duy loài người Và bản thân nó là một công cụ giao tiếp hữu hiệu, bởi
vì nếu không có ngôn ngữ chúng ta không thể nào diễn đạt được điều mình muốn nói
Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp hàng ngày mà trở thành chất liệu trong sáng tác văn học, tác phẩm văn học cũng có thể xem là một hình thức giao tiếp đặc biệt: giao tiếp bằng nghệ thuật ngôn từ Khi sáng tác một tác phẩm văn học với tư duy phản ánh nghệ thuật bằng biểu tượng, bước đầu dấu ấn văn hóa của nhân loại được cất giấu trong những cổ mẫu xuất hiện trong tâm thức nhà văn (có thể vô thức hoặc được
ý thức) Và để những ý niệm mang tâm thức biểu tượng ấy được hiện hữu trong những tác phẩm thì cần phải có ngôn từ để chuyển tải Khi ấy, ngôn ngữ được sử dụng để mã hóa các biểu tượng nghệ thuật Vì thế, K.Mark từng khẳng định: “Ngôn ngữ là cái vỏ
Trang 28vật chất của tư duy” Ở đây có thể xem quá trình tạo sinh biểu tượng của nhà văn trong tác phẩm văn học là hoạt động của tư duy, trí tuệ Nếu không có lớp vỏ của ngôn từ thì biểu tượng trong tác phẩm không có cách nào tiếp xúc với người đọc, khơi dậy những
mĩ cảm nơi người đọc Khi đó, những biểu tượng nghệ thuật đã hoàn thành chức năng giao tiếp của mình với người tiếp nhận: gợi cảm xúc, trao thông điệp
Đến đây chúng ta gặp phải một thắc mắc: Tác phẩm văn học mượn ngôn ngữ làm chất liệu vậy có phải ngôn ngữ tự nhiên ngoài đời thường và ngôn ngữ trong tác
phẩm văn học là một và hoàn toàn trùng khớp? Trong Khái niệm ngôn ngữ của nghệ
thuật ngôn từ, nhà ký hiệu học Lotman đã có lời giải đáp cho câu hỏi này Theo ông,
“văn học nghệ thuật nói bằng một ngôn ngữ đặc biệt, loại ngôn ngữ được kiến tạo chồng lên bên trên ngôn ngữ tự nhiên như một hệ thống thứ sinh… Nói văn học có ngôn ngữ riêng, không trùng với ngôn ngữ tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ
ấy, tức là nói văn học có một hệ thống kí hiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc
tổ chức các ký hiệu ấy để chuyển tải những thông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng các phương tiện khác” [54] Sự khác biệt, không trùng khít giữa ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật được Lotman chỉ rõ trong bài nghiên cứu
Ở đây chúng tôi trích lược hai điểm khác biệt quan trọng:
1/ Ký hiệu trong ngôn ngữ đời thường mang tính ước lệ Còn ký hiệu trong tác phẩm văn học nghệ thuật có đặc tính hình tượng, tạo hình
2/ Ký hiệu trong ngôn ngữ tự nhiên có mối quan hệ tự do, các phương diện nội dung và biểu hiện được chia tách rõ ràng Trong văn học, các ký hiệu tạo hình được kiến tạo theo nguyên tắc ràng buộc, bện kết phức tạp giữa hai phương diện nội dung và biểu hiện Đó còn là sự đan kết chặt chẽ giữa các thành tố trong đơn vị ngữ pháp, “yếu
tố ngữ đoạn ở cấp độ này trong trình tự thứ bậc của văn bản hóa ra lại là yếu tố ngữ nghĩa ở cấp độ khác” [54] Nhà ký hiệu học này đã lấy một ví dụ rất cụ thể về những con búp bê Matryoshka (con này lồng trong con kia) để dẫn chứng về kết cấu tổ chức thứ bậc của các đơn vị ngôn ngữ trong tác phẩm văn học
Qua những phân tích của Lotman, ta thấy rõ ràng ngôn từ trong tác phẩm văn học đã có một sự chuyển hóa từ các ký hiệu ngôn ngữ chung thành các yếu tố của một
ký hiệu nghệ thuật Nhờ có sự chuyển hóa ấy mà những tác phẩm văn học vừa mang
Trang 29tính phổ quát, là ngôn ngữ chung cho cả cộng đồng nhưng đồng thời mang tính nghệ thuật cao Với những cấu trúc phức tạp vừa nén chặt vừa gợi mở, nó mang đến cho độc giả một thế giới mới mẻ và luôn biến hóa Chính vì thế mà cùng một tác phẩm nhưng với những đối tượng độc giả khác nhau sẽ có những cách đọc khác nhau
Biểu tượng là một phương thức tư duy nghệ thuật của nhà văn, vì vậy quá trình tạo sinh biểu tượng trong tác phẩm văn học cũng là quá trình chuyển hóa ngôn từ Là một phương thức phản ánh nghệ thuật bằng hình ảnh biểu trưng, vì vậy lớp ngôn ngữ biểu hiện của chúng được gia tăng về tính hàm nghĩa Việc lựa chọn, biến đổi các yếu
tố trong cấu trúc hệ thống ngôn ngữ cũng có thể làm gia tăng tầng nghĩa hàm ẩn và nảy sinh những nét nghĩa mới của biểu tượng
Như đã nói ở trên, đặc trưng nổi trội nhất của biểu tượng chính là sự mở rộng đến vô cùng về nghĩa, đó là mối quan hệ luôn giãn nở giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Và sức mạnh gợi mở ấy phụ thuộc vào cái biểu đạt, trong đó ngôn từ chiếm một vị trí khá quan trọng bên cạnh văn hóa Ngôn ngữ biểu tượng càng giàu sức gợi, các tầng nghĩa của biểu tượng càng phong phú Dựa vào một số nguồn tài liệu, trong
công trình Nghiên cứu biểu tượng – một số hướng tiếp cận lý thuyết, Đinh Hồng Hải
đã rút ra định nghĩa về thuật ngữ ngôn ngữ biểu tượng: “Ngôn ngữ biểu tượng là loại ngôn ngữ mang tính tượng trưng được chuyên môn hóa ở mức độ cao” [34, tr.26] Như vậy, từ cái kho từ vựng chung của nhân loại, nhà văn đã “may” thành “bộ trang phục” khoác lên mình những kí ức văn hóa nguyên thủy của nhân loại để tạo ra một hình hài hoàn chỉnh: biểu tượng
1.2.3 Sự sáng tạo của tác giả làm nên tính nghệ thuật của biểu tượng
Ở trên chúng tôi bàn về vai trò của các yếu tố văn hóa, ngôn từ trong quá trình hình thành biểu tượng Công trình nghiên cứu cũng đã khẳng định, biểu tượng văn học được sinh ra từ người mẹ văn hóa với những miền vô thức của cổ mẫu, và biểu tượng
sẽ không thể hiện hữu nếu thiếu ngôn từ Kho tàng văn hóa, tín ngưỡng đồ sộ của nhân loại cộng với vốn từ phong phú của dân tộc chính là cái gốc, tạo ra một cấu trúc ổn định, cố kết trong xây dựng biểu tượng Tuy nhiên đó không đơn thuần là sự “chụp ảnh” cái vô thức mà còn là quá trình sáng tạo có sự tham gia của ý thức Cá tính sáng tạo, dấu ấn riêng của tác giả sẽ mang lại cho biểu tượng tính nghệ thuật, mở rộng chu
Trang 30vi của vòng tròn ngữ nghĩa Nếu thiếu chất men ấy, biểu tượng sẽ hoàn toàn giống nhau như một công thức qua các tác phẩm và như vậy nó sẽ đánh mất bản chất của chính mình, trở thành một phương thức nghệ thuật khô cứng chỉ có một cách hiểu duy nhất Nguyễn Thị Ngân Hoa gọi đây là sự biến đổi nghĩa ở cấp độ thứ nhất của biểu tượng, “là kết quả của sự tương tác giữa thế giới của đời sống tâm lí cá nhân và đời sống tinh thần của cộng đồng xã hội” [43, tr.36]
Trong bước chuyển mình từ bình diện văn hóa sang văn học, vai trò của chủ thể (tác giả) xuất hiện như một năng lực chủ động, chủ động trong việc lựa chọn biểu tượng trên cơ sở những mẫu số chung sẵn có trong môi trường văn hóa, chủ động trong việc sáng tạo ngôn từ, tạo ra một ngữ cảnh mới theo ý đồ sáng tác Khi đó, biểu tượng sẽ phái sinh những tầng nghĩa mới, chuyển tải thông điệp thẩm mỹ, ý đồ của tác phẩm
Sự chủ động, sáng tạo của chủ thể trong tạo sinh biểu tượng được thể hiện trong tác phẩm văn học bằng nhiều phương diện Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi xin đi vào làm rõ hai phương thức và lấy đó làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của biểu tượng ở các chương sau
Thứ nhất, đặt biểu tượng trong mối quan hệ tương tác với ngữ cảnh để tạo ra những biến thể từ biểu tượng gốc
Ngữ cảnh có một vai trò quan trọng trong việc giải nghĩa của một từ, một câu
và giải mã lớp nghĩa hàm ẩn trong cái biểu đạt của biểu tượng Nghĩa biểu trưng sẽ thay đổi khi đặt biểu tượng trong những ngữ cảnh khác nhau Chẳng hạn, biểu tượng lửa xuất hiện trong cuộc hành quân ban đêm của quân dân ta:
“Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
(Việt Bắc, Tố Hữu)
Trang 31Trong hoàn cảnh trên, lửa mang ý nghĩa của sự soi sáng, dẫn lối Kết hợp với hình ảnh “bước chân nát đá”, lửa trong “tàn lửa bay” còn thể hiện cho ý chí, tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ Thế nhưng, đặt lửa trong một ngữ cảnh khác, nó là biểu tượng của sự hủy diệt: “Cùng một lúc, 45 trái 40, 72 trái tạc đạn US, 540 viên AK có đầu đạn phá… giội lửa xuống, đốt cháy, xuyên thấu, xé nát những thân thể trần truồng căng rướn, quấn chặt” [138, tr.150] Hai ví dụ trên đã minh chứng cho sự tác động ngữ cảnh đến các lớp nghĩa của biểu tượng Từ đó có thể suy ngược lại, khi tạo sinh biểu tượng, nhà văn sẽ sáng tạo ra những ngữ cảnh phù hợp để tạo ra các tầng nghĩa biểu trưng của biểu tượng Đặt biểu tượng trong đúng môi trường, các lớp nghĩa của chúng
sẽ được chuyển tải một cách hiệu quả nhất với ý đồ nghệ thuật của tác phẩm
Trong một vài trường hợp, chính hoàn cảnh sẽ giúp biểu tượng văn học phái sinh những nét nghĩa mới không có trong mẫu gốc, giúp nới rộng phạm vi biểu hiện của cái được biểu đạt trong siêu ký hiệu Trăng từng xuất hiện trong văn học như một biểu tượng mang vẻ đẹp của tính nữ “Qua huyền thoại, folklore, truyện kể dân gian và thơ ca, biểu tượng ấy nói về thiên chức của người phụ nữ và sức mạnh dồi dào của sự sống, hiện thân trong những vị thần của khả năng sinh sản thực vật và động vật…”
[55, tr.939] Thế nhưng với biên độ sáng tạo không giới hạn, trong Thoạt kỳ thủy,
Nguyễn Bình Phương mang đặt trăng ở một vùng đất khác đó là giấc mơ của Tính, tiềm thức của Tính Khi ấy trăng không còn mang vẻ đẹp sáng trong, nữ tính nữa mà
nó xuất hiện lặp đi lặp lại như một biểu tượng của “một cõi nhân sinh nhàu nát”
Sự tương tác của biểu tượng và ngữ cảnh còn giúp tạo ra những biến thể Có thể hiểu, đây là dạng thức đẻ nhánh của biểu tượng gốc Mỗi biến thể mới được nảy sinh từ quan hệ kế cận, tương đồng về nghĩa và tên gọi với biểu tượng chính Từ một biểu tượng gốc có thể được phân mảnh thành một hệ thống các biến thể thuộc cấp độ nhỏ hơn, có mối liên hệ về nghĩa Ý nghĩa của các biến thể vừa có điểm tương đồng, vừa có điểm khác biệt và ở một tầng bậc thấp hơn biểu tượng gốc Ví dụ, biểu tượng nước đi vào từng tác phẩm, với sự sáng tạo riêng của nhà văn có thể sinh ra một hệ thống các biến thể như: sông, bến, biển, sương, nước mắt… Cấp độ nghĩa tùy theo sự tương tác của biến thể với ngữ cảnh mà có nội hàm rộng, hẹp khác nhau Điều này sẽ được khai thác kĩ hơn ở chương 2
Trang 32Thứ hai, nhà văn sử dụng các thủ pháp nghệ thuật để gia tăng tính nghệ thuật, hàm nghĩa của biểu tượng
Là một loại kí hiệu đặc biệt – siêu kí hiệu, các lớp nghĩa hàm ẩn của biểu tượng không chỉ được sinh ra từ mối quan hệ tương tác với ngữ cảnh mà còn được tạo nên từ những thủ pháp nghệ thuật Đó là lối sử dụng ngôn từ độc đáo, ngôn từ vừa dẫn dắt người đọc đến gần hơn với lớp nghĩa hàm ẩn của biểu tượng nhưng đồng thời với tính đa nghĩa, ngôn từ tạo được màn sương mơ hồ bao quanh biểu tượng Vì vậy, khi sáng tác, nhà văn dụng công trong việc chọn lọc, sáng tạo từ ngữ để biểu tượng trong tác phẩm dù bước ra từ đời sống cộng đồng nhưng vẫn mang những sắc màu riêng không nhầm lẫn Khi khắc họa trăng như một biểu tượng của “một cõi nhân sinh nhàu nát”, Nguyễn Bình Phương gắn trăng với tính từ “đen”: “trăng đen” tạo ra một sự lạ hóa Ngoài ra còn kết hợp trăng với những từ láy như “u u”, “miên man”, “rên riết”… những từ láy tượng thanh gây vang động tâm hồn người đọc về một hình ảnh dị dạng, điên loạn Chính ngôn từ đã mang đến cho trăng những trường nghĩa mới và đưa người đọc đến với một khoảng không gian đậm chất liêu trai Ngoài nghệ thuật ngôn từ, chủ thể sáng tạo còn đặc biệt chú ý đến kết cấu cốt truyện, không – thời gian, bút pháp… vừa để tạo sinh ra một biểu tượng có giá trị nghệ thuật vừa làm nên phong cách riêng của nhà văn
Như vậy từ những mã có sẵn (gốc văn hóa, ngôn ngữ), nhà văn tạo ra những lực tương hỗ mới giữa các biểu tượng để tạo nên những biến thể mới giàu giá trị nghệ thuật Chính điều này đã tạo ra sức sống cho các biểu tượng, giới hạn về tầng ý nghĩa của biểu tượng được mở ra đến vô cùng, cuốn hút người đọc Việc tìm ra những yếu tố tham gia vào quá trình tạo sinh biểu tượng trong tác phẩm văn học là cơ sở quan trọng
để độc giả đi vào giải mã những lớp nghĩa của chính nó
1.3 Con đường giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học
Khước từ lối diễn đạt bằng những hình ảnh quá rõ ràng, khi viết về đề tài chiến tranh sau chiến tranh, các cây bút văn xuôi đương đại đã thổi luồng gió mới cho nền văn học dân tộc bằng sự thay đổi cách viết: sử dụng biểu tượng như một phương thức phản ánh nghệ thuật Một hệ thống biểu tượng sống động chứa đựng cả một thế giới
Trang 33tàng ẩn bên trong các tác phẩm Vì vậy, để có thể hiểu hết được những giá trị thẩm mỹ, thông điệp bên trong thế giới ấy, chúng ta cần phải giải mã biểu tượng
Khái niệm mã (code) được hiểu là yếu tố xác lập mối quan hệ giữa thông tin và
kí hiệu, giữa thông điệp và ý nghĩa thông điệp Từ đó có thể định nghĩa, mã biểu tượng
là nguyên tắc xác lập mối quan hệ giữa thông tin và hình ảnh biểu tượng Nắm được
mã biểu tượng rất quan trọng vì nhờ nó mà người đọc mới có thể hiểu được thông điệp, ý nghĩa được ẩn giấu bên trong biểu tượng
Là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, biểu tượng chịu sự chi phối của mã ký hiệu; được thoát thai từ văn hóa nên biểu tượng cũng chịu ảnh hưởng của mã văn hóa Như đã làm rõ ở phần con đường tạo sinh biểu tượng, ta thấy tác giả đã sử dụng các loại mã đó để tạo nên biểu tượng trong tác phẩm văn học và như vậy người tiếp nhận cũng phải dựa vào mã đó để tìm hiểu, khám phá các tầng nghĩa Thực chất giải mã biểu tượng chính là việc khám phá, thấu hiểu các lớp ý nghĩa của nó trong tác phẩm văn học
Ngay từ phần đầu đi tìm hiểu khái niệm của biểu tượng, chúng ta đã nhìn thấy
sự quẫy đạp, mở rộng đường biên về nội hàm của thuật ngữ này, “mọi biểu tượng đều
chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ” [55, tr.XXIII] Cộng với tính chất trừu tượng, luôn phái
sinh về nghĩa nên việc giải mã biểu tượng sẽ không phải là một công việc đơn giản Với đặc trưng sống động ấy nên khi tiếp cận và giải mã biểu tượng cần có sự vận dụng kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác như ký hiệu học, văn hóa học,…
1.3.1 Vận dụng lý thuyết văn hóa học
Trong thời đại ngày nay, với sự du nhập của các lý thuyết mới từ phương Tây như: lý thuyết trò chơi, lý thuyết phê bình nữ quyền, phê bình sinh thái… thì việc sử dụng kiến thức văn hóa trong nghiên cứu văn học không còn là một phương pháp mới Thậm chí nó còn được xem là một phương pháp xưa cũ, “cũ như trái đất” (mượn lời
Đỗ Lai Thúy) Dù vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận đóng góp to lớn của hướng tiếp cận này trong nghiên cứu tác phẩm văn học Văn hóa là “một hệ thống bao gồm những yếu tố như ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn…, trong đó có văn học” [109] Mà đã nằm trong một hệ thống thì chắc chắn văn học sẽ chịu sự quy định, tác động của đời sống văn
Trang 34hóa Từ đó có thể kết luận việc sử dụng văn hóa trong nghiên cứu tác phẩm tức là đi tìm những ảnh hưởng của văn hóa đến văn học Phương pháp này sẽ giúp chúng ta lí giải và nắm bắt được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời nắm được mạch vận động của văn học “Nguyên tắc của phương pháp này là đi tìm ảnh hưởng của không chỉ văn hóa đương thời đối với văn học, mà còn truy nguyên đến cả các truyền thống văn hóa xa xưa của cộng đồng” [14, tr.235] Để vững chắc hơn cho việc khẳng định sự cần thiết của phương pháp văn hóa học trong nghiên cứu văn học, Nguyễn Văn Dân đã trích dẫn ý kiến của Bakhtin: “Trước hết khoa nghiên cứu văn học cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh [kontekst] nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại” [14, tr.233-234]
Nhiều công trình ứng dụng lý thuyết văn hóa học vào nghiên cứu văn học và đã
đạt được nhiều thành công, có thể kể đến như Văn học trung đại Việt Nam dưới góc
nhìn văn hóa (2013) của Trần Nho Thìn; Đỗ Lai Thúy với Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực (1999) ; hay luận văn Bản sắc dân tộc miền núi trong Truyện Tây Bắc và Miền Tây của Tô Hoài (1996) của Nguyễn Phú Bình… Với phương pháp phê bình
này, chúng ta có thể đi theo dòng chảy của văn hóa để thẩm thấu nguồn mạch ngầm lan tỏa trong những trang văn
Từ cơ sở lý luận đó, chúng tôi nhận thấy phương pháp văn hóa học là một công
cụ cần thiết trong quá trình tiếp cận và giải mã biểu tượng bởi văn hóa chính là cái nôi tạo sinh và dung dưỡng biểu tượng (Điều này đã được chúng tôi phân tích làm rõ ở phần trước)
Vậy cụ thể phương pháp văn hóa học được vận dụng như thế nào để có thể đọc
mã của biểu tượng? Trong Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hóa, Đỗ Lai Thúy đã chỉ
ra hai lối ứng dụng lý thuyết văn hóa trong nghiên cứu văn học
Thứ nhất, “lấy một yếu tố nào đó của văn hóa như Nho giáo, Phật giáo, tín
ngưỡng phồn thực để lý giải văn học” [109] Đó là cách tiếp cận của Nhà nho tài tử
và văn học Việt Nam (Trần Ngọc Vương); Hồ Xuân Hương và hoài niệm phồn thực
(Đỗ Lai Thúy)…
Trang 35Thứ hai, “lấy những hoàn cảnh văn hóa xã hội, hoặc văn hóa lịch sử nào đó như
một ngọn nguồn của sáng tạo văn học, hay một khung nghiên cứu” [109] Đây là
hướng tiếp cận của các công trình nghiên cứu sử dụng đặc trưng văn hóa vùng để tìm
hiểu tác phẩm văn học Chẳng hạn như Hà Nội trong tùy bút của Băng Sơn (Vũ Quang Bình), Đất và người xứ Huế trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Nguyễn Thu Hà),
Văn hóa Nam Bộ qua cái nhìn của Sơn Nam (Võ Văn Thành)…
Chọn hướng ứng dụng nào đều tùy thuộc vào những đặc điểm, tính chất riêng của đối tượng Khi tiến hành khảo sát, tìm hiểu các tác phẩm văn xuôi Việt Nam đương đại viết về chiến tranh, chúng tôi nhận thấy có một thế giới biểu tượng phong phú, sống động đang tồn tại Nhiều biểu tượng được nảy sinh từ văn hóa tôn giáo, văn hóa dân gian, phong tục, tín ngưỡng; lại có những biểu tượng được hình thành do đặc trưng riêng của từng vùng văn hóa Vì vậy, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi
cố gắng phối hợp đồng thời hai hướng tiếp cận trên để có thể giải mã các tầng nghĩa trong hệ biểu tượng một cách hiệu quả nhất
Hệ biểu tượng chính mà chúng tôi tập trung nghiên cứu trong công trình này là: lửa, nước, giấc mơ, ngoài ra còn có một số biểu tượng khác như rừng, máu… Trên cơ
sở được trang bị lý thuyết về lý luận phương pháp, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp này theo các hướng sau: sử dụng các yếu tố của phong tục tập quán; tôn giáo (đạo Phật); thuyết âm dương, ngũ hành; văn hóa tín ngưỡng dân gian; văn hóa nông nghiệp lúa nước để đọc mã biểu tượng lửa, nước, giấc mơ, rừng, máu, nước mắt…
Tuy nhiên, cần lưu ý một điều rằng ở đây chúng tôi đang dùng văn hóa như một công cụ, phương tiện để giải mã biểu tượng chứ không phải đi nhặt tìm những mảng khối văn hóa trong tác phẩm văn học qua biểu tượng Đây là hai hướng tiếp cận có điểm gặp gỡ nhưng về bản chất hoàn toàn khác nhau
Đặt biểu tượng trong môi trường văn hóa là điều cần thiết Chúng ta sẽ hiểu sâu hơn một đối tượng khi đặt nó vào môi trường sống Và với điểm ưu trội đó, chúng tôi
hi vọng có thể thông qua văn hóa để khám phá những ý nghĩa, thông điệp được các nhà văn đương đại gửi gắm trong tác phẩm Tuy nhiên, chất liệu tạo sinh biểu tượng không chỉ có duy nhất văn hóa, vì vậy không được tuyệt đối hóa bất kì một phương
Trang 36pháp nào mà cần có sự phối hợp, vận dụng nhiều phương pháp để có cái nhìn toàn diện
1.3.2 Vận dụng lý thuyết kí hiệu học
Ở phần trước, khi bàn về quá trình hình thành biểu tượng, chúng ta đã khẳng định biểu tượng là một loại “siêu ký hiệu” và được tạo hình bởi chất liệu ngôn ngữ Nếu không có ngôn ngữ, biểu tượng không được hiện hữu mà chỉ là những ý niệm tồn tại trong tâm trí con người Biểu tượng được xây dựng trên cơ sở ký hiệu học ngôn ngữ, vì vậy đặc điểm, hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ sẽ chi phối đến nghĩa của biểu tượng văn học Điều đó có thể kết luận: để giải mã được ý nghĩa của biểu tượng, chúng
ta cần xuất phát từ chất liệu ngôn ngữ Vì vậy, kiến thức về ký hiệu học là một cơ sở quan trọng cần sử dụng trong quá trình giải mã biểu tượng “Nếu người ta đưa ra một
từ ngữ “ký hiệu” có nghĩa chung là biểu tượng (ở trường hợp này biểu tượng trở thành một loại ký hiệu đặc biệt), ta có thể nói rằng nghiên cứu biểu tượng lệ thuộc vào lý thuyết phổ quát của các ký hiệu, hay ký hiệu học” [34, tr.35]
Dựa vào các tài liệu chuyên ngành của nhà nghiên cứu Lã Nguyên, Mai Thị Hồng Tuyết đã tổng hợp những cách hiểu về thuật ngữ ký hiệu học Theo công trình
nghiên cứu Văn học dưới góc nhìn ký hiệu học, hiện nay có ba cách định nghĩa khác
nhau về thuật ngữ ký hiệu học
1/ Định nghĩa dựa vào đối tượng: “Ký hiệu học là khoa học về các ký hiệu và/ hoặc về các hệ thống ký hiệu” [122]
2/ Định nghĩa dựa vào phương pháp: “Ký hiệu học là khoa học đem các phương pháp ngôn ngữ học áp dụng vào những đối tượng khác, không phải là ngôn ngữ tự nhiên” [122]
3/ Định nghĩa của Iu M Lotman: “Ký hiệu học là khoa học về các hệ thống giao tiếp và các ký hiệu được sử dụng trong quá trình thông tin” [122]
Dựa vào những cách định nghĩa trên của các nhà nghiên cứu, chúng tôi hiểu rằng ký hiệu học là khoa học nghiên cứu bám sát vào ngôn từ nghệ thuật Và đây cũng
là hướng tiếp cận, giải mã biểu tượng từ góc nhìn ký hiệu học mà chúng tôi vận dụng trong công trình này
Trang 37Trong quá trình hình thành và phát triển của ngành ký hiệu học, nhiều mô hình nghiên cứu về cấu trúc của ký hiệu đã ra đời Có thể kể đến như mô hình của Ferdinand de Saussure cùng với bộ nhị phân ngôn ngữ / lời nói; mô hình cấu trúc tam
vị của Peirce; mô hình ký hiệu học biểu thị của Louis Hjelmslev và mô hình cấu trúc siêu ký hiệu của R.Barthes Đó là quá trình về sự kế thừa, mở rộng và phát triển của nghiên cứu ký hiệu học Những mô hình nghiên cứu cấu trúc, cơ chế hoạt động của hệ thống ký hiệu ấy đã được ứng dụng trong nghiên cứu, giải mã biểu tượng – một loại
“siêu ký hiệu”
Trong số đó, chúng tôi đặc biệt chú ý đến mô hình cấu trúc tam vị của Charles Sander Pierce Nếu Saussure chỉ xét về tính hai mặt của kí hiệu: cái biểu đạt và cái được biểu đạt thì Pierce đề xuất thêm một yếu tố thứ ba: interpretant (diễn giải/ sự hiểu) Dựa vào công trình “Biểu tượng từ ký hiệu học đến tu từ học tiểu thuyết”, chúng
ta có thể hình dung mô hình cấu trúc tam vị của Peirce như sau:
sign
Interpretant object
“Trong ba yếu tố này, nếu như kí hiệu (sign) như là cái biểu đạt (signifier); đối
tượng (object) là suy nghĩ tốt nhất về bất cứ cái gì được biểu đạt, là cái mà từ được viết
hoặc nói ra gắn liền vào nó, thì diễn giải (interpretant) trở thành một phần quan trọng
trong mô hình kí hiệu học của Peirce” [58] Theo quan điểm của Peirce, ta có thể thấy các yếu trong cấu trúc ký hiệu không được xác lập theo mối quan hệ một chiều (cái biểu đạt sẽ quy định nghĩa của cái được biểu đạt) mà đó là một quá trình tương tác, chi phối lẫn nhau Và trong quá trình đó, yếu tố interpretant (diễn giải / sự hiểu) đóng vai trò khá quan trọng Đó là sự diễn giải, cắt nghĩa được diễn ra trong nhận thức của người tiếp nhận kí hiệu Từ đó, ý nghĩa được tạo ra từ sự diễn giải thứ nhất này sẽ tiếp tục tạo ra một kí hiệu khác để bắt đầu cho chuỗi diễn nghĩa tiếp theo Đây là một bước
Trang 38phát triển quan trọng, kí hiệu học là một quá trình trong đó có sự tương tác của người
sử dụng kí hiệu Vận dụng mô hình này trong giải mã biểu tượng, nghĩa của biểu tượng vừa được quy định bởi cái biểu đạt, đồng thời nó còn chịu sự chi phối bởi cách cắt nghĩa nơi người đọc Và quá trình giải mã nghĩa của biểu tượng được diễn ra liên tục, sự hiểu này sẽ là tiền đề cho sự diễn giải tiếp theo, vì vậy các lớp nghĩa của biểu tượng không bao giờ là cùng kiệt và không thể nào có một sự giải mã cuối cùng
Mô hình cấu trúc tam vị của Peirce đề cập đến tính sản sinh ký hiệu theo một logic, ký hiệu này được diễn giải sẽ tạo tiền đề tạo sinh ký hiệu tiếp theo Bắt nguồn từ quan điểm này, Louis Hjelmslev phát triển xa hơn với sự đề xuất mô hình phân tầng
ký hiệu, “một kí hiệu có bốn tầng bậc: nội dung – hình thức (content – form), biểu hiện – hình thức (expression), nội dung – nghĩa (content – substance), và biểu hiện – nghĩa (expression)” [58] Từ sự phân bậc này, Hjelmslev tiến đến sự phân biệt ký hiệu học biểu thị và ký hiệu học hàm nghĩa Ký hiệu học biểu thị là một hệ thống ký hiệu thông thường, trong đó cái biểu đạt là một hình ảnh, một sự vật đơn thuần; cái được biểu đạt chính là khái niệm hay cách hiểu đơn nhất về sự vật đó Ví dụ lửa là một phản ứng cháy, sinh ra nhiệt, ánh sáng Nếu gọi ký hiệu học biểu thị là hệ thống bậc một thì ký hiệu học hàm nghĩa là hệ thống ký hiệu bậc hai Trong đó, cái biểu đạt cũng là một ký hiệu (ký hiệu học biểu thị), nó không còn là một hình ảnh đơn thuần trong tự nhiên mà
đã là hình thức của sự hàm nghĩa (sản phẩm của sự hiểu, nhận thức) Khi đó cái được biểu đạt mang ý nghĩa tượng trưng, hàm ẩn Đến đây cái được biểu đạt của ký hiệu học hàm nghĩa của lửa là sự hủy diệt, tái sinh Và ký hiệu học hàm nghĩa này được R Barthes tiếp thu và gọi đấy là siêu ký hiệu hay biểu tượng
Từ mô hình đó, ta hiểu rằng giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học là một quá trình đi tìm cái được biểu đạt của ký hiệu học hàm nghĩa Và cơ sở của quá trình giải mã ấy là hệ thống ký hiệu bậc một: ký hiệu học biểu thị
Ứng dụng những mô hình ký hiệu học trên sẽ giúp việc giải mã biểu tượng sẽ
có sức thuyết phục cao vì nó không phải là sự suy luận tùy tiện, võ đoán mà dựa vào
cơ sở cấu trúc của ký hiệu “ Phương pháp tiếp cận rõ ràng, khúc chiết của ký hiệu giúp các nhà khoa học có thể tránh được những đặc tính khó lường của biểu tượng –
đó là tính trừu tượng, đa nghĩa” [34, tr.35] Tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần dựa vào cấu
Trang 39trúc ngôn ngữ thì biểu tượng sẽ bị chết cứng, chính sự góp mặt của yếu tố interpretant (diễn giải/ sự hiểu) làm cho biểu tượng luôn được làm mới, tái sinh trong chính nó
1.3.3 Vận dụng lý thuyết phê bình huyền thoại
Huyền thoại là những câu chuyện, những sự kiện đã xảy ra “trong thời kỳ đầu tiên, thời kỳ hoang đường nguyên thủy” [13, tr 33] Huyền thoại thuộc về quá khứ, mà quá khứ là những điều đã diễn ra và đã hoàn tất nên huyền thoại có tính hoàn kết, ổn định Tuy nhiên, khi bước vào tác phẩm văn học, huyền thoại được tái sinh, mang những diện mạo mới “Cuộc tái sinh của huyền thoại trong văn học là một cuộc chết đi sống lại, cuộc lột xác nhiều đau đớn nhưng đầy thú vị và hiện thành một thân xác khác, mới mẻ Nó như thể cuộc tái sinh theo kiểu đồng cốt, mượn hình mượn dáng; còn cái phần hồn vẫn nguyên là yếu tố cổ sơ của thể loại huyền thoại” [11, tr.22] Nhờ
có những cuộc tái sinh như vậy, huyền thoại mới giữ vững được sức sống theo thời gian
Vậy huyền thoại tái sinh, lột xác trong các tác phẩm văn học bằng những
phương thức nào? Trong công trình Tìm hiểu phương thức huyền thoại hóa trong một
số tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, Trần Thị Mai Nhân đã chỉ ra những thủ pháp
huyền thoại hóa trong tác phẩm văn học như: sử dụng các motif truyền thuyết và huyền thoại cổ, sử dụng biểu tượng, xây dựng những kiểu nhân vật lạ thường Để sát với mục đích của công trình nghiên cứu: sử dụng thi pháp huyền thoại để giải mã biểu tượng chúng tôi chỉ tập trung vào thủ pháp sử dụng biểu tượng như một phương thức huyền thoại hóa
Công trình nghiên cứu khá dày dặn về huyền thoại – Thi pháp của huyền thoại
của E.M.Melentinsky đã dành ra một phần để chỉ ra mối quan hệ của huyền thoại và biểu tượng Trong đó, ông dẫn lại ý kiến của Cassirer về huyền thoại và biểu tượng
“Huyền thoại được thể hiện như một hệ thống biểu tượng biệt lập, được thống nhất bởi tính chất hoạt động và khả năng mô hình hóa thế giới xung quanh” [25, tr.48] Và Melentinsky cũng khẳng định: “Xin nhấn mạnh một lần nữa rằng hoàn toàn có thể có
sự huyền thoại hóa bằng biểu tượng (thay cho trào phúng) do trình độ xã hội lệ thuộc vào cách giải thích một cách siêu hình và phi lý cả hai bình diện này” [25, tr.482]
Trang 40Dựa vào ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy biểu tượng và huyền thoại có mối liên hệ đặc biệt Huyền thoại đi vào tác phẩm bằng biểu tượng, như vậy biểu tượng trong tác phẩm văn học ít nhiều mang bóng dáng của huyền thoại Từ
cơ sở này, chúng ta có thể ứng dụng thi pháp huyền thoại để tham gia giải mã biểu tượng
Huyền thoại mang trong mình bản chất của tập thể, cộng đồng như vậy mỗi dân tộc sẽ có một hệ huyền thoại riêng được thể hiện trong thần thoại, truyền thuyết, văn hóa dân gian… Một điều đáng lưu ý là có những huyền thoại của các dân tộc cách xa nhau về không – thời gian nhưng chúng ta vẫn tìm thấy những mô típ, chủ đề gần gũi nhau Lý giải điều này, C.Jung đã sử dụng thuật ngữ cổ mẫu (những kinh nghiệm từ trong vô thức, mang tính phổ quát) Theo C.Jung, “chính cổ mẫu đã nối huyền thoại với văn học thông qua vô thức tập thể” [11, tr.95] Và như đã chứng minh ở con đường tạo sinh biểu tượng, cổ mẫu vào vô thức tập thể là những bào thai để biểu tượng chào đời Vì vậy, việc sử dụng những hiểu biết về huyền thoại trong giải mã biểu tượng là một điều rất cần thiết Chẳng hạn, nếu chúng ta không có tri thức huyền thoại về vị thần truyền lửa cho nhân loại Promete trong Thần thoại Hi Lạp hay câu chuyện Thần Lửa trong Thần thoại Việt Nam thì chúng ta chỉ một mực khẳng định rằng biểu tượng lửa chỉ có duy nhất một lớp nghĩa là: thiêu cháy, hủy diệt Thần thoại Hi Lạp có câu chuyện về vị thần Promete đến cỗ xe của Thần Mặt Trời lấy lửa, châm vào đuốc và đem xuống cho nhân loại Từ đó con người trong nhân gian thoát khỏi tăm tối, giá lạnh, đói khát Hay Thần thoại Việt Nam có câu chuyện về Thần Lửa Với một hòn than đỏ còn sót lại từ đống lửa của bà Hỏa (vị thần giữ lửa), gia đình ông lão có một cuộc sống sung túc, cơm thịt đuề huề Lúc bấy giờ, chúng ta khám phá được thêm một tầng nghĩa nữa của biểu tượng lửa: lửa là nguồn sống Không chỉ có lửa mà biết bao biểu tượng khác trong tác phẩm văn học cần chúng ta vận dụng thi pháp huyền thoại
để giải mã Hướng tiếp cận này, giúp làm sống dậy những vết tích của văn hóa dân tộc, nhân loại đang náu mình trong biểu tượng và quan trọng hơn hết là những vết tích huyền thoại ấy sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về biểu tượng
Một lần nữa có thể khẳng định khi biểu tượng soi mình trên dòng sông huyền thoại, sẽ không chỉ thấy riêng biệt một mình biểu tượng đó mà cả một chiều sâu văn