1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện Pháp Phát Triển Khả Năng Sáng Tạo Cho Trẻ Mẫu Giáo 5 - 6 Tuổi Trong Hoạt Động Vẽ Theo Ý Thích

144 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 4,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích .... Khách thể nghiên cứu Quá trình phát triển khả nă

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Kim Thoa

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG

SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO Ý THÍCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Kim Thoa

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG

SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO Ý THÍCH

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ THỊ MINH HÀ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm TP.HCM đặc biệt là những thầy cô khoa Giáo dục mầm non và những thầy cô đã tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Tôi cũng xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Lê Thị Minh

Hà, người Cô kính mến đã hết lòng quan tâm, hỗ trợ, hướng dẫn nghiên cứu và động viên để tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Quý Thầy Cô Phòng Sau đại học đã hỗ trợ và tạo điều kiện để tôi có thể tham gia học tập và thực hiện luận văn

Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên trường Mầm non Sen Hồng, Mầm non Hoa Dừa, Mầm non Rạng Đông, Mầm non Trúc Giang, Mầm non Hướng Dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong công tác nghiên cứu

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình, quý đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, khích lệ và chia sẻ kiến thức trong suốt quá trình nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn

đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Thoa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO Ý THÍCH 5

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.2 Lý luận về sáng tạo và phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo

5 - 6 tuổi 10

1.2.1 Sáng tạo 10

1.2.2 Khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ 14

1.3 Lý luận hoạt động vẽ theo ý thích 21

1.3.1 Khái niệm hoạt động vẽ theo ý thích 21

1.3.2 Đặc điểm hoạt động vẽ theo ý thích của trẻ mẫu giáo 22

1.3.3 Một số tiêu chí đánh giá khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5-6 tuổi trong tranh vẽ theo ý thích 29

1.4 Biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích 32

1.4.1 Khái niệm biện pháp và biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo trong hoạt động vẽ theo ý thích 32

1.4.2 Biện pháp tổ chức hoạt động vẽ theo ý thích cho trẻ mẫu giáo

5 – 6 tuổi 33

Tiểu kết chương 1 36

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG

SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRONG

HOẠT ĐỘNG VẼ THEO Ý THÍCH 37

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 37

2.1.1 Mục đích 37

2.1.2 Đối tượng 37

2.1.3 Nội dung 38

2.1.4 Phương pháp 38

2.1.5 Thời gian: Tháng 2 – 3/2018 39

2.2 Phân tích kết quả điều tra bằng phiếu 39

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích 39

2.2.2 Thực trạng tổ chức hoạt động vẽ theo ý thích nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 50

2.2.3 Thực trạng biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong tranh vẽ theo ý thích 52

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3 ĐỀ XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO Ý THÍCH 59

3.1 Một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích 59

3.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 59

3.1.2 Nguyên tắc vận dụng các biện pháp 59

3.1.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trong HĐVTYT 60

3.2 Thử nghiệm một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích 66

3.2.1 Khái quát về tổ chức thử nghiệm 66

3.2.2 Kết quả nghiên cứu thử nghiệm 75

Tiểu kết chương 3 98

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Nhận thức của GV về phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo

5 - 6 tuổi trong HĐVTYT 39

Bảng 2.2 Nhận thức của GV về biểu hiện sáng tạo trong tranh vẽ của trẻ 40

Bảng 2.3 Tần suất tổ chức HĐVTYT 40

Bảng 2.4 Giáo viên đánh giá mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong HĐVTYT 41

Bảng 2.5 Giáo viên đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố trong quá trình tổ chức HĐVTYT 43

Bảng 2.6 Giáo viên sử dụng biện pháp phát triển khả năng sáng tạo trong HĐVTYT 44

Bảng 2.7 Nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong HĐVTYT 47

Bảng 2.8 Giáo viên kiến nghị nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong HĐVTYT 49

Bảng 2.9 Kết quả mức độ sáng tạo tranh vẽ của trẻ ở các trường mầm non 53

Bảng 3.1 Khả năng sáng tạo qua tranh vẽ “Vẽ quà tặng Ba Mẹ” 75

Bảng 3.2 Kết quả khả năng sáng tạo qua tranh Vẽ tự do (Chủ điểm: Thực vật) 77

Bảng 3.3 Kết quả khả năng sáng tạo qua tranh Vẽ tự do (Chủ điểm: Phương tiện giao thông) 82

Bảng 3.4 Kết quả khả năng sáng tạo qua tranh Vẽ tự do (Chủ điểm: Động vật) 87

Bảng 3.5 Kết quả khả năng sáng tạo qua tranh “Vẽ theo truyện bé yêu thích” 92

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Điểm trung bình các tiêu chí nhóm ĐC và TN trước TN 76 Biểu đồ 3.2 Điểm trung bình các tiêu chí nhóm ĐC và TN trong tranh Vẽ tự

do (Chủ điểm: Thực vật) 81 Biểu đồ 3.3 Điểm trung bình các tiêu chí nhóm ĐC và TN trong tranh Vẽ tự

do (Chủ điểm: Phương tiện giao thông) 87 Biểu đồ 3.4 Điểm trung bình các tiêu chí nhóm ĐC và TN trong tranh Vẽ tự

do (Chủ điểm: Động vật) 91 Biểu đồ 3.5 Điểm trung bình các tiêu chí nhóm ĐC và TN trong tranh “Vẽ

theo truyện mà bé thích” 96

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng cho các bậc học tiếp theo và còn là thời kỳ vàng để phát triển nhân cách cho trẻ Sự hình thành và phát triển các đặc điểm tâm lý nói chung và khả năng sáng tạo nói riêng ở lứa tuổi mẫu giáo là cơ sở, nền móng cho sự phát triển tâm lý cũng như khả năng sáng tạo sau này của trẻ Hoạt động tạo hình là nhu cầu không thể thiếu, được xem là hoạt động thú vị với mọi trẻ và cũng là một trong những nội dung giáo dục giúp cho trẻ phát triển thẩm mĩ và hoàn thiện nhân cách

Các nghiên cứu về vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển nhận thức của trẻ cho thấy hoạt động tạo hình tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ em

Hoạt động tạo hình bao gồm nhiều hoạt động: vẽ, nặn, thủ công và lắp ghép xây dựng Trong đó, hoạt động vẽ mang tính tạo hình đặc trưng, xuất hiện sớm nhất

Có thể nói, vẽ chính là một trò chơi, thú tiêu khiển của trẻ thơ Đặc biệt là trẻ thích tự mình làm ra sản phẩm, mặc dù sản phẩm của trẻ còn rất đơn sơ nhưng nó chứa đựng tính hồn nhiên của trẻ, làm trẻ thích thú ngắm nhìn, khác nào một họa sĩ vừa hoàn thành một tuyệt tác Trẻ lứa tuổi mầm non, đặc biệt trẻ 5 – 6 tuổi rất thích vẽ, trẻ vẽ say mê, vẽ không biết mệt Trong hoạt động vẽ, nhất là vẽ theo ý thích (VTYT), trẻ dùng ngôn từ là những nét vẽ, màu sắc, biểu tượng để nói lên xúc cảm của mình về thế giới xung quanh theo cách sáng tạo riêng của trẻ Quá trình sáng tạo này không phải ngẫu nhiên tập trung vào môn vẽ mà chính hoạt động vẽ có thể biểu thị dễ dàng hơn hết những điều tràn ngập trong tâm hồn trẻ Với trẻ, vẽ theo ý thích đã đánh thức trí tưởng tượng để từ đó trí tưởng tượng trở thành nhiên liệu thắp sáng năng lực sáng tạo đang tiểm ẩn trong con người trẻ Những suy nghĩ, ước mơ thầm kín, ngộ nghĩnh của trẻ được bộ lộ qua bức tranh vẽ với những đường nét và màu sắc hấp dẫn, phong phú Từ tranh vẽ của trẻ ta có thể hiểu trẻ và có hướng giáo dục phù hợp, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo của trẻ

Tuy nhiên, qua khảo sát các trường mầm non trong Thành phố Bến Tre hiện nay, việc tổ chức hoạt động vẽ nói chung và hoạt động vẽ theo ý thích (HĐVTYT)

Trang 11

của trẻ nói riêng chưa thực sự kích thích được khả năng sáng tạo của trẻ Việc giáo viên hoàn toàn chỉ đạo trẻ như: áp đặt sẵn các hoạt động vẽ trên bàn, dạy trẻ cách sử dụng và sau đó đứng cạnh bàn theo dõi để đảm bảo trẻ làm theo chỉ dẫn của giáo viên đã khiến HĐVTYT trở nên ít sáng tạo Bên cạnh đó, hoạt động này tổ chức với nội dung chưa phong phú, chất lượng các giờ học vẽ theo ý thích chưa cao, bởi các giờ học vẽ mang tính khuôn mẫu, thiếu đi sự mềm mại Hay khi đưa ra nhiều nguyên vật liệu mở về hoạt động vẽ vào lớp học giúp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ nhưng trẻ chưa được tự do thoải mái sử dụng theo ý thích của mình, chưa được tự do thỏa sức sáng tạo Vì thế, trẻ thực hiện quá trình tạo hình một cách thụ động thiếu nguồn cảm hứng Tình trạng này sẽ làm cản trở sự phát triển nhận thức thẩm mỹ và làm mai một khả năng sáng tạo của trẻ

Xuất phát từ tình hình thực tế đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài "Biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích"

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ trong hoạt động này

3 Giới hạn đề tài

3.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

- Biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

- Khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

3.2 Giới hạn về mẫu nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng biện pháp giáo viên sử dụng nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

- Khảo sát thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích ở 5 trường mầm non tại Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Thử nghiệm sư phạm được tổ chức tại 2 lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở Trường Mầm non Rạng Đông, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Trang 12

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong

hoạt động vẽ theo ý thích

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu đề xuất được một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo

5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích thì sẽ giúp trẻ phát triển khả năng sáng tạo

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài bao gồm: sáng tạo, khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi và khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích; hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi và hoạt động vẽ qua thể loại vẽ theo ý thích của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi; biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

- Thực trạng biện pháp giáo viên sử dụng nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích và thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng và phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu nhằm xác lập cơ sở lý luận về biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo

ý thích

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 13

Sử dụng phiếu điều tra bằng bảng hỏi 50 giáo viên dạy lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi của 5 trường mầm non trên địa bàn Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre Cụ thể:

- Tìm hiểu các biện pháp giáo viên sử dụng nhằm phát triển khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vẽ theo ý thích

- Tìm hiểu thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

7.2.3 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động vẽ theo ý thích

Nghiên cứu tranh vẽ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích

để đánh giá khả năng sáng tạo ở trẻ

7.3 Phương pháp toán thống kê

Phương pháp thống kê toán học (phần mềm SPSS) được sử dụng để thu thập,

xử lý, phân tích số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu

8 Những đóng góp mới của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn và biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý ở một số trường mầm non

trên địa bàn Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Đề xuất một số biện pháp nhằm hỗ trợ giáo viên phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý ở một số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI

TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO Ý THÍCH

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu về sáng tạo

Khi nói đến sáng tạo người ta thường đề cập đến những thiên tài trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật như: Leonarda Vinci, Albert Einstein, Tonxtoi … những danh nhân này sáng tạo ra những vấn đề khoa học lớn, những tác phẩm vĩ đại Các nhà khoa học trước đây khi nghiên cứu vấn đề sáng tạo tập trung mô tả, giải thích sơ bộ dựa trên

cơ sở các hồi ký, tiểu sử, các tác phẩm văn học mang tính tự thuật của các doanh nhân nhưng chưa đi sâu vào bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo

Giữa thế kỷ XIX, với những nghiên cứu đầu tiên và có ý nghĩa lớn về sáng tạo, các nhà xã hội học đã khẳng định rằng, bản chất của tính tích cực sáng tạo là hoạt động tưởng tượng, nhờ hoạt động tưởng tượng mà kích thích khả năng sáng tạo Quan điểm này gần với quan điểm của các nhà tâm lý học ngày nay

Sang thế kỷ XX đây là thời điểm có tính chất bước ngoặt trong lịch sử phát triển nhân loại, cùng với sự phát triển vượt bậc trong các lĩnh vực khoa học, nhiều ngành khoa học ra đời, nhiều thành tựu khoa học được công bố và lĩnh vực sáng tạo cũng bắt đầu được quan tâm nghiên cứu như là một hiện tượng phổ biến trong xã hội Như một tất yếu, quốc gia nào có nền khoa học kỹ thuật phát triển cao thì càng tập trung nghiên cứu nhiều lĩnh vực sáng tạo

Khi nói đến lĩnh vực sáng tạo thì phải kể đến các nghiên cứu của nước Mỹ - một ra và bồi dưỡng những nhân cách sáng tạo là vấn đề có ý nghĩa quốc gia, bởi vì

“hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không chỉ đến sự tiến bộ khoa học, mà còn đến toàn bộ xã hội nói chung, và dân tộc nào biết nhận ra được những nhân cách sáng tạo một cách tốt nhất, biết phát triển họ và biết tạo ra một cách tốt nhất cho họ những điều kiện thuận lợi nhất, thì dân tộc đó sẽ có những ưu thế lớn lao” (Trần Trọng Thủy, 2000)

Trang 15

Vào đầu năm 1920 công trình nghiên cứu về sáng tạo của Lewis Terman trên những học sinh giỏi có chỉ số IQ từ 140 trở lên đã được các nhà khoa học đánh giá cao Sau đó, ông còn nghiên cứu tiếp tục nhiều công trình khác cũng về lĩnh vực sáng tạo, rút ra nhiều kết luận về các vấn đề chung của sáng tạo như: môi trường sáng tạo, sản phẩm sáng tạo, vấn đề nhân cách sáng tạo

Và quyển sách đầu tiên về vấn đề sáng tạo xuất hiện vào năm 1943 ở Mỹ của tác giả A.Osborn Ông đã cho ra đời 4 quyển sách về lĩnh vực này và được tái bản nhiều lần Theo kinh nghiệm từ bản thân, ông nhận thấy rằng sự thành công của ông trong lĩnh vực kinh doanh là nhờ vào sự phát minh ra phương pháp “Tập kích não” – phương pháp này dựa trên cơ sở của hoạt động sáng tạo

Tuy nhiên, vấn đề sáng tạo chỉ được nghiên cứu một cách có hệ thống khi J.P.Guilford, nhà tâm lý học Mỹ Trong bài phát biểu tại buổi lể nhận chức Chủ tịch hội tâm lý học Mỹ, đã nhấn mạnh đến ý nghĩa của hoạt động sáng tạo và đồng thời khuyến khích cổ vũ các nhà tâm lý học tham gia nghiên cứu vấn đề này Từ đó vấn

đề sáng tạo được đầu tư và cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể

Nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian này đã được xuất bản nội dung đề cập đến những vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo, các thuộc tính của nhân cách sáng tạo, bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo, các giai đoạn của quá trình sáng tạo … Ngoài ra còn có nhiều tác giả khác ở Mỹ cũng nghiên cứu về vấn đề sáng tạo như: Barron, Blom, Helmoholtz, Wallass …

Vượt ra khỏi nước Mỹ, các nhà khoa học Liên Xô (cũ) cũng có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo, đóng góp cho xã hội, nổi bật như: V.N.Puskin, P.A.Rudich, L.X.Vygotski … Họ cũng đã tổ chức hội nghị, hội thảo về sáng tạo vào những năm

1960 – 1980 tại Matxcova, Praha, Budapest …

Từ những năm 60 – 70 của thập kỷ XX trở đi, không chỉ ở Mỹ, Liên xô mà cả ở Tây Âu, đặc biệt là Đức, do nhận ra ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật, cũng như ý nghĩa phát triển cá nhân của sáng tạo mà vấn đề tính sáng tạo dưới góc nhìn mới của tâm lý học, giáo dục học và xã hội học đã được quan tâm nghiên cứu

Trang 16

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu về hoạt động vẽ của trẻ em

Việc nghiên cứu về hoạt động tạo hình của trẻ em mà đặc biệt là hoạt động vẽ

có lịch sử khá phức tạp Lúc đầu, sự lý giải về bản chất của hoạt động này mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa Sau đó các cách giải thích đều mang ảnh hưởng của các

trường phái Tâm lý học như: “Tâm lý học Ưu sinh”, “Tâm lý học cấu trúc”, “Tâm lý học duy vật biện chứng” với câu hỏi được các nhà tâm lý học giải đáp là “Trẻ em vẽ gì?” (Lê Thanh Thủy, 1998)

Các nhà Tâm lý học theo trường phái Ưu sinh đã xem xét bản chất của hoạt động vẽ của trẻ từ góc độ sinh học Đại diện nổi tiếng của trường phái này là

G.Kerschensteiner khi trả lời câu hỏi “Trẻ vẽ gì” đã khẳng định rằng “Trẻ vẽ những

gì nó biết” Một đại diện khác là V.Stern lại chỉ rõ hơn “Trẻ vẽ những gì nó nghĩ, nó biết chứ không phải là cái nó nhìn thấy” Sự phát triển hoạt động tạo hình theo quan

điểm này chính là những tiềm năng mang tính bẩm sinh mà đứa trẻ có được từ khi sinh ra (Lê Thanh Thủy, 1998)

Các nhà Tâm lý học cấu trúc cũng nghiên cứu hoạt động vẽ của trẻ em và cho

rằng “Trẻ em vẽ những gì chúng nhìn thấy” Điều này cho thấy Tâm lý học cấu trúc

đã khẳng định vai trò quan trọng của tri giác thị giác và kinh nghiệm trong quá trình trẻ vẽ Tuy nhiên, theo trường phái này “nhìn” và nhìn nhiều thì chưa đủ, cần phải biết nhìn: “nhìn” trong hoạt động tạo hình là khả năng quan sát có phân tích, tổng hợp và nhận biết cấu trúc của đối tượng quan sát như một tổng thể trọn vẹn Quan điểm này là một đóng góp rất lớn cho công tác giáo dục nghệ thuật Họ khẳng định vai trò của tri giác trọn vẹn trong việc hình thành các tác phẩm nghệ thuật Hạn chế của họ là quá thiên về “quy luật bừng sáng” và đánh giá quá cao về nó nhằm giải thích các hiện tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ như là kết quả của sự “lóe lên” của

“cấu trúc sinh học” mang tính tiền định nên đánh giá thấp vai trò của ý thức trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật (Lê Thanh Thủy, 1998)

Tranh vẽ của trẻ là sự quan tâm đặc biệt của các nhà Phân tâm học khi lý giải

về bản chất của tranh vẽ, họ khẳng định “Đứa trẻ vẽ những gì chúng cảm thấy” Cái

“Cảm thấy” ở đây chính là các năng lượng sinh học bản năng Với quan điểm này,

các nhà phân tâm học đã sinh vật hóa tâm lý con người, làm cho con người mất đi

Trang 17

tính chủ thể, tính tích cực hoạt động và sự sáng tạo trong hoạt động vẽ (Lê Thanh Thủy, 1998)

Nhìn chung, khi xem xét các quan điểm của những trường phái Tâm lý học trên có thể nhận thấy chỉ mới dừng lại ở sự phát triển tự phát của trẻ trong hoạt động tạo hình mà không thừa nhận rằng hoạt động tạo hình của trẻ là kết quả hoạt động tích cực của chủ thể trên cơ sở lĩnh hội và vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn

Từ những năm 40 - 50 của thế kỷ XX, dưới ánh sáng của các công trình nghiên cứu của nhà Tâm lý học Xô viết lỗi lạc L.X.Vưgotski thì sự nhìn nhận về sự phát triển hoạt động tạo hình nói chung và sự sáng tạo nói riêng ở trẻ đã có sự thay đổi Khi tìm hiểu xem “trẻ em vẽ gì” các nhà tâm lý học duy vật biện chứng đã nhận thấy tranh vẽ của trẻ em thể hiện các kinh nghiệm sau:

- Trước hết và nhiều nhất là các kinh nghiệm tri giác bằng thị giác về sự vật, hiện tượng, sự kiện trong thế giới xung quanh

- Tiếp đó là các kinh nghiệm về sự vật xung quanh mà trẻ có được khi tiếp xúc, tiếp nhận bằng các cơ quan cảm giác khác như xúc giác, cảm giác vận động, thính giác, thị giác, khứu giác

- Các khuôn mẫu đồ họa mang tính sơ đồ mà trẻ tiếp thu được từ người lớn trong quá trình giao tiếp

Sự thể hiện những kinh nghiệm trên có liên quan rất chặt chẽ với các đặc điểm đặc trưng của khả năng tri giác, tư duy, tưởng tượng, xúc cảm, tình cảm và thái độ rất riêng của từng đứa trẻ đối với thế giới xung quanh (Hồ hoàng Yến, 2011)

Tóm lại, các nhà Tâm lý học duy vật biện chứng đã khẳng định rằng, hoạt động tạo hình của trẻ em nói chung và hoạt động vẽ nói riêng là một hoạt động có nguồn gốc xã hội, mang bản chất xã hội rõ rệt

1.1.2 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nhiều hoạt động thể hiện sự chăm lo, bồi dưỡng, khuyến khích khả năng sáng tạo được tổ chức hàng năm như: Hội thi sáng chế kỹ thuật, tổ chức hỗ trợ sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Trung

Trang 18

tâm sáng chế khoa học kỹ thuật thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều hội thi tài năng được tổ chức trong các trường học

Đến năm 1990, Viện Khoa học giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan khoa học đầu tiên ở Việt Nam tiến hành nghiên cứu về “khả năng sáng tạo” của học sinh Các công trình này nghiên cứu bản chất, cấu trúc tâm lý của sự sáng tạo, phương pháp chẩn đoán, đánh giá khả năng sáng tạo của người Việt Nam

Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động sáng tạo cũng như đề xuất các biện pháp nhằm phát triển khả năng sáng tạo của trẻ như:

Lê Thanh Thủy nghiên cứu “Ảnh hưởng của tri giác tới tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ 5 – 6 tuổi”

Phạm Thu Hương nghiên cứu “Tiềm năng sáng tạo và biểu hiện của nó trong vận động theo nhạc của trẻ Mẫu giáo 5 – 6 tuổi”

Lại Thị Kim Cúc nghiên cứu “Một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động ca hát ở trường mầm non”

Luận văn Thạc sĩ của Ngô Thị Tuyết Mai nghiên cứu “Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch”

Nguyễn Thị Ngọc Nuôi nghiên cứu “Một số biện pháp phát triển khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động kể chuyện”

Phạm Thị Nguyên Chi nghiên cứu “Biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại góc tạo hình”

Nguyễn Thị Huệ nghiên cứu “Một số biện pháp tổ chức hoạt động tạo hình nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi”

Nguyễn Huỳnh Ngọc Thủy nghiên cứu “Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ”

Những nghiên cứu trên đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản của sáng tạo như: khái niệm, bản chất, đặc điểm của sáng tạo, vai trò của sáng tạo đối với sự phát triển của trẻ trong các hoạt động khác nhau Và đưa ra một số biện pháp để phát huy tính sáng tạo của trẻ trong các hoạt động này

Trang 19

Việc phát triển khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo

hình nói chung và phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt

động vẽ theo ý thích nói riêng là vấn đề hết sức cần thiết và mang ý nghĩa thực tiễn

cao Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu biện pháp phát triển khả năng sáng tạo

trong hoạt động vẽ chỉ nghiên cứu hoạt động vẽ theo mẫu, hoạt động vẽ theo đề tài,

rất ít công trình nghiên cứu về hoạt động VTYT Chúng tôi nhận thấy biện pháp phát

triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo ý thích là

rất cần thiết Vì vậy, chúng tôi hi vọng đề tài của mình sẽ góp phần phát triển khả

năng sáng tạo ở trẻ

1.2 Lý luận về sáng tạo và phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo

5 - 6 tuổi

1.2.1 Sáng tạo

1.2.1.1 Khái niệm chung về sáng tạo

Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về sáng tạo:

Theo S.Freud “Sáng tạo cũng giống như giấc mơ hiện hành, là sự tiếp tục và sự

thay thế trò chơi trẻ con cũ” (Vụ Giáo dục mầm non, 2005)

Cùng với quan điểm của S.Freud cho rằng sáng tạo như một trò chơi, Thiessy

Gaudin, tác giả cuốn: “Chuyện kể về thế kỷ 21”, đã viết rằng: “Trò chơi là sự thăm

dò những cái có thể và một sự học tập Ai không chơi thì người đó thu hẹp trường tri

giác và sáng tạo của họ” (Đức Uy, 1998)

Đối với L.X.Vygotsky hoạt động sáng tạo được coi là hoạt động cao nhất của

con người Theo ông “Bộ não không những là một cơ quan giữ lại và tái hiện kinh

nghiệm cũ của chúng ta, nó còn là cơ quan phối hợp, chỉnh lý một cách sáng tạo và

xây dựng nên những tình thế mới và hành vi mới bằng những yếu tố của kinh nghiệm

cũ đó” Hoạt động sáng tạo được ông nhìn nhận như sau: “Sự sáng tạo thật ra không

chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng

tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi

nữa so với những sáng tạo của các thiên tài…” (Nguyễn Thị Ngọc Kim, 2005)

Theo Chu Quang Tiềm, đại học Bắc Kinh, trong cuốn sách “Tâm lý học văn

nghệ”đã định nghĩa sáng tạo là: “Căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tài liệu

Trang 20

rồi cắt xén gạt bỏ chọn lọc tổng hợp thành một hình tượng mới” (Nguyễn Thị Ngọc

Kim, 2005)

Theo từ điển triết học của NXB Tiến bộ Matxcơva: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học, kỹ thuật, văn học nghệ thuật…” Có thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần (Nguyễn Thị Ngọc Kim, 2005)

Từ điển Tiếng Việt của tác giả Như Ý: “Sáng tạo là tìm thấy và làm nên cái mới” (Nguyễn Như Ý,1999)

Khi đề cập đến quá trình sáng tạo, Nguyễn Đức Uy cho rằng “Đó là sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân một đằng và những tư liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh của đời người ấy, đằng khác” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2002)

Nguyễn Huy Tú định nghĩa:“Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình, và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra” (Chu Quang Tiềm, 1999)

Đối với trẻ em, tính sáng tạo là năng lực diễn tả của bản thân theo cách của riêng mình Tiềm năng sáng tạo của trẻ em mầm non bao gồm cả trẻ khuyết tật được thể hiện trong tất cả hoạt động của trẻ nhưng đặc biệt nổi trội là ở 4 hoạt động chính: âm nhạc, tạo hình, ngôn ngữ và chơi tưởng tượng (Nguyễn Xuân Khoa, 2003)

Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về sáng tạo nhưng có điểm chung là sáng tạo là một quá trình tạo ra hay hướng đến cái mới Trên

cơ sở phân tích một số quan niệm trên về sáng tạo của các nhà nghiên cứu, theo

chúng tôi sáng tạo có thể hiểu là: quá trình con người vận dụng những kinh nghiệm của bản thân, độc lập đưa ra những ý tưởng mới lạ hoặc cải tạo và biến đổi những sản phẩm có sẵn để tạo ra những sản phẩm mới nhằm phục vụ cho lợi ích chính đáng của bản thân và xã hội

Trang 21

1.2.1.2 Đặc điểm của sáng tạo

Đặc điểm của sáng tạo được bộc lộ ở 3 thuộc tính cơ bản đó là: tính mới mẻ, tính độc lập và tính hiện thực (Nguyễn Huy Tú, 1998)

Thứ nhất, tính sáng tạo bộc lộ ở tính mới mẻ trong sản phẩm của tư duy hay

hành động, tính mới mẻ này có thể là đối với cá nhân hoặc đối với xã hội Khi đề cập đến sự sáng tạo của người trưởng thành, của nhà khoa học, nhà phát minh sáng chế, sáng tác… là nói đến tính mới mẻ trên bình diện xã hội

Ở lứa tuổi học sinh, trong quá trình sáng tạo, cái mới được phát hiện không nhất thiết phải có ý nghĩa toàn xã hội mà chỉ là đối với bản thân mình Tuy nhiên, bản thân quá trình sáng tạo đó có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với xã hội Tâm lý học đã xác định được tính tương tự giữa quá trình sáng tạo của học sinh và quá trình sáng tạo của các nhà khoa học, sáng chế sáng tác Sự khác nhau ở đây chỉ là vấn đề cần giải quyết ở trình độ tự lập trong diễn tiến các giai đoạn của quá trình sáng tạo Còn cơ chế dẫn đến cái mới về nguyên tắc không có sự khác biệt nào giữa sáng tạo của học sinh và người lớn

Thứ hai, tính sáng tạo thể hiện ở tính độc lập trong tư duy và hành động Tư

duy độc lập làm tiền đề để nảy sinh những ý tưởng mới, giải pháp và phương pháp mới Ở cả trẻ em và người lớn muốn phát triển tính độc lập tư duy, cần đặt cho họ trước những vấn đề buộc họ đi đến đích bằng con đường giải quyết vấn đề đó Khi đi vào giải quyết vấn đề, nếu chúng ta thử nghiệm độc lập để tìm ra giải pháp và càng khác lạ với thông thường thì càng được đánh giá là có tính sáng tạo

Người sáng tạo có khuynh hướng tránh lặp lại cách giải quyết cũ, họ hoài nghi, muốn từ bỏ cái truyển thống, có khi từ bỏ cả mục đích truyền thống Họ thường đưa ra các ý tưởng mới, cách thực hiện mới để thực hiện ý tưởng độc đáo, mới lạ của mình

Thứ ba là tính hiện thực, nó được thể hiện trong giá trị sản phẩm mới Quá

trình sáng tạo ra sản phẩm mới luôn có mối liên quan đến hiện thực Sáng tạo không phải là sự đoạn tuyệt của hiện thực mà là sự phản ánh hiện thực tối đa nhưng trong tình huống mới, chất lượng mới và mục đích mới

Người ta thường quan niệm rằng: sáng tạo bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu của hiện thực khách quan nhằm vươn tới việc tạo ra cái mới, độc đáo, tốt hơn, có lợi

Trang 22

hơn cho sự phát triển của xã hội Điều này có vẻ trái ngược khi người ta nghiên cứu các sản phẩm sáng tạo của trẻ: không độc đáo hơn, không đẹp hơn, không có lợi hơn cho xã hội nhưng ở đây chúng ta đã tập cho trẻ học cách sáng tạo, để thể hiện nhu cầu

tự nhiên, vốn có của trẻ không bị phụ thuộc vào một công thức, một giải pháp, một đường mòn có sẵn Chúng ta giúp trẻ trở thành người sáng tạo Như vậy, việc giúp cho trẻ trở thành người sáng tạo là việc có ý nghĩa xã hội to lớn mà ngay chính đứa trẻ cũng chưa ý thức được, mà trẻ chỉ thấy sự thoải mái được thực hiện những điều chúng tưởng tượng ra

Tóm lại, xét trên bình diện toàn xã hội thì hoạt động chơi và học tập là hoạt động tái tạo, nhưng trên bình diện cá nhân thì hoạt động chơi và học tập là hoạt động sáng tạo, sáng tạo cho bản thân mình Vì vậy được gọi là sáng tạo đặc biệt Do đó, chúng ta phải động viên, chỉ dẫn và khuyến khích trẻ để trẻ tiếp tục sáng tạo và đó là điều kiện rất tốt cho sự sáng tạo thực sự sau này của trẻ

1.2.1.3 Các cấp độ của sáng tạo

Theo nhà tâm lý học người Mỹ C.W Taylor sáng tạo có thể phân ra 5 cấp độ khác nhau như sau:

Cấp độ 1: Sáng tạo biểu hiện là dạng cơ bản nhất của sáng tạo, không đòi hỏi

tính độc đáo hay kỹ năng quan trọng nào Đặc trưng của cấp độ sáng tạo này là tính bộc phát “hứng khởi” và sự tự do khoáng đạt

Cấp độ 2: Sáng tạo chế tạo là bậc cao hơn sáng tạo biểu hiện Nó đòi hỏi kỹ

năng nhất định (xử lý thông tin hoặc kỹ năng kỹ thuật…) để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý kiến của cá nhân Ở cấp độ này tính tự do, hứng khởi bộc phát đã nhường bước cho các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi của người sáng tạo

Cấp độ 3: Sáng tạo phát kiến có đặc trưng là sự phát hiện hoặc “tìm ra” do

“nhìn thấy” các quan hệ mới giữa các thông tin trước đây Đây chưa phải là cấp bậc sáng tạo cao nhất mà chỉ là chế biến các thông tin cũ và sắp xếp lại chúng để đi đến các quan hệ mới và đó chính là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến

Cấp độ 4: Sáng tạo cải tiến (đổi mới, cải cách) là cấp bậc sáng tạo cao Nó thể

hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật, kỹ thuật hay sản xuất, tức đòi hỏi một trình độ trí tuệ nhất định Từ đó xây dựng được các ý tưởng cải

Trang 23

tạo, cải cách có ý nghĩa xã hội và khoa học kỹ thuật Lackben cho rằng dự án trong đầu càng xa với ban đầu bao nhiêu thì sự sáng tạo càng lớn bấy nhiêu

Cấp độ 5: Sáng tạo bậc cao, tột đỉnh của quá trình sáng tạo Người ta đưa ra

những ý tưởng mới hoàn toàn, thậm chí nảy sinh những ngành nghề mới, trường phái mới, chương trình mới… vượt qua trí tuệ đương thời Đại diện cho những người đạt cấp bậc này là Einstein trong vật lý học, Picasso trong hội họa, Chopin trong âm nhạc, Darwin trong sinh vật học, K Marx, Hồ Chí Minh trong xã hội và khoa học chính trị (Lê Thanh Thủy, 2004)

Sáng tạo của trẻ em thường ở cấp bậc thấp nhất là sáng tạo biểu hiện, đây là

bậc quan trọng nhất của sáng tạo, vì không có nó thì chẳng có một chút sáng tạo nào cao hơn Đặc trưng của cấp độ một là tính bộc phát, hứng khởi và tự do khoáng đạt, nếu như hai đặc tính này bị hạn chế, bị gò ép vào khuôn phép ngay từ lúc nẩy mầm thì rất có hại cho sự sáng tạo

Như vậy, nếu chúng ta làm hạn chế những biểu hiện sáng tạo của trẻ ngay từ tuổi MN dần dần sẽ trở thành thói quen, ngấm dần vào trong tư duy của con người,

đi đến chỗ thụ động, máy móc

1.2.2 Khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ

1.2.2.1 Khái niệm khả năng sáng tạo

Khả năng là cái có thể xuất hiện trong điều kiện nhất định

Khả năng sáng tạo là sự hội tụ của nhiều yếu tố như: khả năng nhận thức, tính cách cá nhân, cảm xúc và những yếu tố từ môi trường

Mọi trẻ em đều tiềm ẩn năng lực sáng tạo, nhưng sự sáng tạo của trẻ em không giống sự sáng tạo của người lớn Sự sáng tạo của người lớn là việc tạo ra cái mới, cái độc đáo, gắn với tính chủ đích, có tính bền vững và thường là kết quả của quá trình

nỗ lực tìm tòi để phát minh, sáng kiến ra những sản phẩm hoàn toàn mới lạ và có ý nghĩa nhất định trong đời sống xã hội Nhưng ở một đứa trẻ thì khả năng sáng tạo lại chính là khi trẻ bắt đầu tái tạo, bắt chước, mô phỏng một điều gì đó và thường không

có tính chủ đích Sự sáng tạo của trẻ em phụ thuộc nhiều vào xúc cảm, tình huống và thường kém bền vững

Trang 24

Ở lứa tuổi mầm non, trong bất cứ hoạt động nào trẻ cũng tỏ ra ngạc nhiên, tò

mò và có khuynh hướng khám phá, thử nghiệm Do vậy, nếu một đứa trẻ không có khả năng sáng tạo thì không hẳn do trẻ vốn đã thiếu khả năng sáng tạo mà có thể xuất phát từ gia đình, trường học và môi trường văn hóa mà trẻ tiếp nhận

Khả năng sáng tạo được thể hiện rõ rệt ở trẻ 5 - 6 tuổi vì ở tuổi này trẻ đã bắt đầu thích nghi với những điều xảy ra xung quanh thông qua việc học, chơi và biết chủ động tham gia nhiều hoạt động khác nhau, từ đó trẻ tích lũy và biết cách phát huy khả năng sáng tạo của mình

1.2.2.2 Vai trò của sáng tạo đối với sự phát triển tâm lý cho trẻ mẫu giáo

Lứa tuổi MG là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm lý, do đó mọi tác động đến trẻ lúc này đều có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển nhân cách của chính đứa trẻ sau này Cho nên việc phát hiện và bồi dưỡng tính sáng tạo cho trẻ cần phải được quan tâm thích đáng bởi vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Mặc dù những nghiên cứu về khả năng sáng tạo của trẻ còn ít, nhưng thông qua các nghiên cứu của một số nhà tâm lý, giáo dục học thì chúng ta đã phần nào thấy được vai trò của tính sáng tạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ Điều này thể hiện ở một số điểm: (Phạm Thị Nguyên Chi, 2013)

Một là, hoạt động sáng tạo là một hình thức giúp trẻ tự do thể hiện cái tôi của

mình Đề cặp đến vấn đề này, X.L.Rubinstein cho rằng: “Mặc dù vốn kiến thức kinh nghiệm của trẻ còn hạn chế, nhưng trẻ có nhiều cơ hội để bộc lộ sự sáng tạo mang tính chủ quan của mình Điều quan trọng là phải xem cái gì là cái mới chủ quan của trẻ Sứ mệnh của sự sáng tạo với vị trí là bậc thang cao nhất ở hoạt động của con người, có liên quan không chỉ những giá trị khách quan và sự phát triển xã hội mà còn có giá trị chủ quan đối với sự phong phú đa dạng trong cuộc sống cá nhân” (Chu Quang Tiềm, 1999)

Như vậy, ý nghĩa sự sáng tạo của trẻ không chỉ được xem xét ở kết quả trong sản phẩm sáng tạo mà còn được nhìn nhận trong bản thân quá trình sáng tạo Điều quan trọng không hẳn là ở cái mới mà trẻ tạo ra, mà là trẻ đang được sáng tạo, đang được bộc lộ và rèn luyện trong hoạt động sáng tạo đó Sáng tạo của trẻ như một trò

Trang 25

chơi nảy sinh từ một nhu cầu cấp bách tự nhiên Trẻ tự mình khám phá, tìm tòi, nghĩ

ra một cái mới và thể hiện cái mới đó với niềm vui sướng vô biên

Hai là, hoạt động sáng tạo giúp trẻ hình thành và phát triển những xúc cảm,

tình cảm thẩm mỹ ở trẻ Khi trẻ sáng tạo, những xúc cảm ở trẻ lay động, qua đây trẻ

có thể nhìn thấy cái đẹp, yêu cái đẹp và cố gắng tạo ra cái đẹp trong khuôn khổ vốn kinh nghiệm ít ỏi của mình Cho dù những gì mà trẻ tạo ra không mang giá trị xã hội lớn lao, không mang tính độc đáo hay mới đối với xã hội, nhưng khi được hoạt động, được sáng tạo và trải nghiệm cảm xúc đã mang lại cho trẻ niềm vui thích vô biên và cũng là món quà vô giá mà sáng tạo mang lại cho trẻ

Ba là, hoạt động sáng tạo giúp phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của trẻ Với trẻ,

muốn cho trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ phát triển phải cho nó được tham gia vào các hoạt động, trong đó hoạt động vui chơi là hoạt động cơ bản Thông qua hoạt động vui chơi vá cả hoạt động tạo hình trẻ được tiếp xúc với thế giới xung quanh, xác lập được quan hệ của mình với hoàn cảnh và với người khác Trẻ được giao lưu, trao đổi, trình bày ý kiến của mình và thỏa sức tưởng tượng

Do vậy có thể nói, thông qua những ý tưởng và sáng tạo đã giúp cho các nét tâm lý

xã hội, những tri thức, kinh nghiệm và ngôn ngữ của trẻ có nhiều cơ hội phát triển

1.2.2.3 Đặc điểm sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Sáng tạo của trẻ mầm non có những đặc điểm như sau: (Lê Thị Thanh Bình, 2006)

- Sáng tạo của trẻ bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu đã có trước, một nhu cầu cấp bách tự nhiên và điều kiện tồn tại của trẻ Trẻ không bao giờ sáng tạo cái gì mà trẻ không biết, không hiểu và không có hứng thú

- Trẻ có thể sáng tạo đột nhiên, có cách làm việc tự do, không cần ghi nhớ, không cần sự bắt chước, bất kì chỗ nào thiếu trí nhớ, những kỉ niệm bị rạn nứt chỉ còn lại những yếu tố rời rạc thì óc tưởng tượng sẽ móc ghép theo cách riêng, thế là

có sáng tạo

- Sáng tác của trẻ ít khi nghiền ngẫm lâu về tác phẩm của mình, phần lớn trẻ sáng tác liền một mạch Trẻ giải quyết nhu cầu sáng tạo của mình nhanh chóng và triệt để những tình cảm đang tràn ngập trong lòng trẻ

Trang 26

- Trẻ không phải ngẫu nhiên tập trung vào việc sáng tạo, mà chính sáng tạo cho phép đứa trẻ ở lứa tuổi này có thể dễ dàng thể hiện hơn hết những điều đang tràn ngập tâm hồn trẻ

- Trò chơi hay sáng tác của trẻ không phải là hồi ức đơn giản, mà là sự gia công sáng tạo những ấn tượng đã tiếp nhận Sự phối hợp những tiếp nhận ấy và từ đó cấu tạo nên một thực tế mới, đáp ứng nhu cầu và hứng thú của bản thân Vậy khả năng biết xây dựng một hệ thống bằng các yếu tố, biết phối hợp cái cũ lại thành những kết hợp mới chính là tạo nên cơ sở của sáng tạo

- Sáng tạo của trẻ cũng như trò chơi, về căn bản còn chưa tách rời khỏi hứng thú và đời sống cá nhân Sáng tạo của trẻ biểu hiện một cách tự phát, độc lập với ý muốn của người lớn

- Trong mọi hoạt động của mình trẻ luôn có cảm giác thắc mắc, tò mò cao độ

và một sự nỗ lực tự phát nhằm khám phá, thử nghiệm và thao tác theo kiểu độc đáo mang tính trò chơi Đó là biểu hiện mang tính sáng tạo của trẻ

- Sáng tạo của trẻ mang tính chất tổng hợp các lĩnh vực trí tuệ, tình cảm, ý chí

và đặc biệt là tưởng tượng sáng tạo được hưng phấn với một sức mạnh trực tiếp của cuộc sống

- Chúng ta biết rằng so với người lớn, tri thức và kinh nghiệm của trẻ còn ít ỏi, trí tưởng tượng còn nghèo nàn, hứng thú đơn giản và sơ đẳng hơn nhưng do sự dễ dãi, sự mộc mạc của trí tưởng tượng nên trẻ sống trong thế giới tưởng tượng nhiều hơn, tin vào sản phẩm của trí tưởng tượng nhiều hơn, kiểm tra những sản phẩm ít hơn do đó mà trẻ dễ có những biểu hiện sáng tạo hơn

- Sản phẩm sáng tạo của trẻ có thể không hoàn hảo nhưng ưu thế là chúng nảy sinh trong quá trình sáng tạo của trẻ

- Ở đứa trẻ, toàn bộ con người nằm trong sự vận động thực tế trực tiếp Nó

sáng tạo ra hành động thực tế Nó quan tâm trước hết đến quá trình hành động chứ không phải đến kết quả (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2006)

Tóm lại: Giai đoạn đầu tiên của quá trình sáng tạo, ý tưởng xuất hiện chính trong quá trình hoạt động của trẻ Trẻ càng nhỏ thì càng nhanh chóng thực hiện ý

Trang 27

tưởng của mình Trẻ càng có nhiều kinh nghiệm thì sự liên tưởng và ý tưởng tạo hình càng phong phú

1.2.2.4 Đặc điểm ngôn ngữ tạo hình trong tranh vẽ của trẻ mẫu giáo

Đặc điểm ngôn ngữ tạo hình trong tranh vẽ của trẻ được xem như là các phương tiện truyền cảm mang tính tạo hình mà trẻ sử dụng để thể hiện những hiểu biết, suy nghĩ, tình cảm của mình qua các hình ảnh, hình tượng (Lê Thanh Thủy, 2009)

a Đường nét, hình dạng

Đường nét, hình dạng là những dấu hiệu đầu tiên của hình vẽ giúp trẻ nhận ra

và hiểu được mối liên hệ giữa sự vật thật và hình ảnh biểu đạt sự vật đó

Lúc đầu, do khả năng thao tác để tạo ra các đường nét còn hạn chế nên hình

vẽ của trẻ còn mang tính sơ đồ, lắp ráp từ những hình học Do sự phát triển nhanh về thể lực, cơ bắp và khéo léo của vận động, trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng tạo nên các đường nét với tính chất khác nhau khá phức tạp Với trình độ phát triển của năng lực nhận thức thẩm mỹ và kĩ năng vận động, trẻ ở tuổi này có thể cảm nhận được tính nguyên thể của các hình ảnh đối tượng miêu tả và biết dùng đường nét liền mạch, mềm mại, uyển chuyển để truyền đạt hình dáng trọn vẹn của mọi sự vật trong cấu trúc hợp lý, đồng thời thể hiện tư thế vận động, hành động phù hợp với nội dung sáng tạo Đặc biệt trẻ 5 – 6 tuổi đã có vốn kinh nghiệm phong phú cho nên các biểu tượng hình thành khá đầy đủ về hình dáng, cấu trúc và đặc điểm riêng biệt, khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính chất của đường nét và hình để thể hiện vẻ độc đáo, rất riêng của mỗi hình tượng sự vật cụ thể Hình tượng của trẻ đến gần với hiện thực, mất dần tính chủ quan

b Màu sắc

Trong tranh vẽ của trẻ em, hình vẽ là dấu hiệu hàng đầu để tạo nên hình ảnh

sự vật, nhưng màu sắc mới là yếu tố mang lại hiệu quả thẩm mỹ cho hình ảnh và gây tác động thẩm mỹ nhất đến trẻ cũng như người xem tranh Màu sắc chính là phương tiện quan trọng thể hiện sự sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình

Trẻ mẫu giáo bé thường sử dụng màu theo ý thích và theo cảm xúc, trẻ có khả năng phân biệt và sử dụng được nhiều màu Những màu có chung một gốc thường

Trang 28

được trẻ quy lại thành một màu đại diện Sang tuổi mẫu giáo lớn, trẻ tiếp tục sử dụng đồng thời cả hai cách vẽ màu: “màu bắt chước” và “màu không bắt chước” Trẻ có thể thuộc lòng các màu quy định theo chuẩn mẫu như đất thì màu nâu, bầu trời thì màu xanh dương, cỏ thì màu xanh lá…, trẻ có thể sử dụng màu tự do nhưng tình trạng vẽ màu kiểu tự do, ngẫu nhiên không liên hệ với nội dung ý đồ mô tả vẫn còn phổ biến Tuy nhiên, một số trẻ đã có vốn hiểu biết khá phong phú về màu sắc, đã có khả năng độc lập quan sát để thấy được vẻ linh hoạt trong sự thay đổi màu sắc của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực và làm quen qua quá trình tri giác với một số cách phối hợp màu sắc Tính tích cực quan sát, nhận thức chính là điều kiện giúp trẻ biết sử dụng màu sắc một cách sinh động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung tranh vẽ, qua đó

mà biểu lộ suy nghĩ, tình cảm, ước mơ của mình Vì thế, giáo viên cần kích thích hứng thú về vẻ đẹp của sự vật hiện tượng thông qua màu sắc, điều đó sẽ làm cho màu sắc và

sự phối hợp màu trong bài vẽ của trẻ sẽ rất truyền cảm

c Bố cục

Ngoài đường nét, hình dạng, màu sắc, trẻ mẫu giáo còn sử dụng một phương tiện truyền cảm khác đó là sự sắp xếp vị trí các hình ảnh trong không gian tranh vẽ hay còn gọi là xây dựng bố cục Bố cục là phương thức tổ chức nghệ thuật của một tác phẩm nghệ thuật

Ngoài khả năng tạo nhịp điệu, trẻ mẫu giáo lớn đã biết tạo nên bố cục tranh với thế cân bằng qua cách sắp xếp đối xứng Để tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa nội dung với hình thức của tranh, nhiều trẻ biết dùng cách sắp xếp thể hiện sự vận động, hành động và các mối quan hệ giữa các sự vật, nhân vật để tạo ra một không gian có chiều sâu với nhiều tầng cảnh Tính nhịp điệu trong bố cục tranh vẽ của trẻ 5 – 6 tuổi thể hiện ở nhiều vẻ: bằng sự sắp xếp lặp đi, lặp lại của các hình ảnh cùng loại, bằng

sự sắp xếp đan xen các hình ảnh không cùng loại, bằng sự phân biệt, thể hiện quan hệ chính - phụ Tuy nhiên, tranh vẽ thường mang tính liệt kê, trẻ trải đều các hình vẽ trên mặt giấy, ít có trước, sau, xa, gần và ít tuân theo tỉ lệ trong thực tế

Hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện tạo hình trong tranh vẽ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tri giác hình tượng, vào sự lựa chọn góc độ nhìn và khả năng cảm nhận vẻ đẹp đa dạng, sinh động của thế giới xung quanh, đồng thời

Trang 29

phụ thuộc vào khả năng tưởng tượng sáng tạo, biến đổi hình tượng và vào mức độ phong phú sâu sắc của các xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ của trẻ

1.2.2.5 Một số đặc điểm tâm lý có liên quan đến phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

a Đặc điểm phát triển tư duy

Tư duy giúp trẻ hiểu rõ nhiệm vụ đặt ra, từ đó giúp trẻ tạo ra hình ảnh sáng tạo, bay bổng, rực rỡ, giàu màu sắc cảm xúc Vì thế nhà giáo dục cần:

Dạy cho trẻ các phương pháp và phương tiện cải biến, phát triển ở trẻ

những khả năng liên hợp các biểu tượng đã có

Dạy trẻ diễn đạt các ý tưởng khác nhau và thực hiện các ý tưởng ấy trong các dạng hoạt động có sản phẩm Việc diễn đạt bằng lời một cách chi tiết và đầy đủ các ý tưởng không chỉ về cái gì sẽ làm mà còn cả cách thức làm việc đó, làm cho quá trình xây dựng hình ảnh mới thành quá trình có chủ định

Sự hình thành tư duy phê phán cũng đóng góp cho sự phát triển khả năng sáng tạo ở trẻ Trẻ có thái độ phê phán với những hình ảnh sáng tạo của mình

b Đặc điểm phát triển tưởng tượng

Sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ nhỏ thường gắn liền với khả năng hiểu và

sử dụng một loại ngôn ngữ giao tiếp đặc biệt, đó là ngôn ngữ hình ảnh trực quan

Sự xuất hiện của tưởng tượng trong quá trình tạo hình, tính tích cực của tưởng tượng thay đổi theo sự phát triển tâm lý chung, đặc biệt là theo sự phát triển của tri giác bằng thị giác của trẻ em

Ở tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi): với sự phát triển của quá trình nhận thức và vốn kinh nghiệm của trẻ, ở lứa tuổi này tưởng tượng của trẻ bắt đầu mang tính độc lập, có thể tách khỏi quá trình tạo hình, đi trước định hướng và điều khiển các hành động tạo hình nhằm đạt kết quả đã tạo ra từ trước quá trình tạo hình Trẻ có thể độc lập tìm kiếm các nội dung hoạt động vẽ, định trước tên gọi các “tác phẩm” tương lai và dùng trí tưởng tượng để xây dựng các hình tượng phù hợp với nội dung đã định Trong hoạt động vẽ, tưởng tượng của trẻ liên kết khá chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng với tri giác, trí nhớ, tư duy đặc biệt là tư duy trực quan sơ đồ trong quá trình quan sát phân tích các đối tượng miêu tả để hình thành các biểu tượng Với sự hỗ trợ của xúc cảm,

Trang 30

tình cảm tưởng tượng của trẻ có thể giúp chúng biến đổi một cách dễ dáng các biểu tượng, từ đó xây dựng dễ dàng các biểu tượng mới Ở tuổi 5-6 tuổi mức độ phát triển của năng lực tưởng tượng mang tính sáng tạo, điều này biểu hiện rõ ở khả năng xây dựng và thực hiện dự định tạo hình Để thực hiện nhiệm vụ tạo hình, trẻ đã biết độc lập tìm kiếm, tích lũy thông tin, lựa chọn đề tài cụ thể, trên cơ sở đó mà xây dựng nên hình ảnh đồ họa của kết quả tạo hình trong đầu (mô hình tâm lí) phù hợp với nội dung đã lựa chọn Sức hấp dẫn của các hình vẽ mà trẻ có thể tạo nên phụ thuộc phần lớn vào mức độ đầy đủ, phong phú và rõ nét các thông tin hình ảnh trong trẻ vào khả năng liên kết các ấn tượng, các kinh nghiệm cũ hoặc thay đổi bổ sung các hình ảnh khái quát ban đầu, làm cho chúng ngày càng sinh động và mang màu sắc nghệ thuật hơn (Lê Thanh Thủy, 2002)

1.3 Lý luận hoạt động vẽ theo ý thích

1.3.1 Khái niệm hoạt động vẽ theo ý thích

Vẽ theo ý thích là vẽ những gì trẻ thích, không theo một đề tài cho trước Trẻ được quyền lựa chọn nội dung đề tài mà trẻ thích Vẽ theo ý thích nhằm rèn luyện trí nhớ, trí tưởng tượng sáng tạo (Lương Thị Hồng Thúy, 2016)

Hoạt động vẽ theo ý thích là hoạt động nhằm rèn luyện, cũng cố những kỹ năng mà trẻ đã học, trẻ phải nhớ lại hoặc tưởng tượng ra các hình tượng theo ý thích (Ưng Thị Châu, Nguyễn Lăng Bình, Lê Đức Hiền, 1998)

Vẽ là một hoạt động tạo hình được nhiều trẻ yêu thích, trẻ có nhiều điều kiện thể hiện những ấn tượng của mình về thế giới xung quanh ở mọi lúc, mọi nơi mà không phải chờ đến khi có điều kiện mới thực hiện được Cụ thể như khi đang chơi ở sân, trẻ muốn thể hiện một ấn tượng nào đó, trẻ chỉ việc dùng viên phấn, cục gạch, cái que để vẽ là trẻ có thể thực hiện được ý thích của mình

Theo từ điển tiếng Việt thì: “Vẽ là dùng bút mà tả hình trạng các vật cho được như thực bằng đường nét hoặc màu sắc” (Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa

Việt Nam, 1999)

Khi bàn về hoạt động vẽ của trẻ mầm non, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã cho

rằng: “Vẽ là hoạt động mà ở đó tập hợp những cảm nhận mà trẻ có về cơ thể mình và

Trang 31

về thế giới xung quanh được phóng chiếu vào đường nét, hình dạng do nó tạo ra”

(Hồ hoàng Yến, 2011)

Theo tác giả Nguyễn Quốc Toản: “Hoạt động vẽ là hoạt động tạo ra sản phẩm trên mặt phẳng bằng nhiều chất liệu khác nhau” (Nguyễn Quốc Toản, 2009) Đối với trẻ mẫu giáo, ở hoạt động này trẻ phải quan sát đối tượng, nhận xét thông

qua ước lượng bằng mắt về hình dáng, tỉ lệ… và diễn tả lại trên nền giấy bằng cảm nhận riêng của mình

Khi nghiên cứu về hoạt động tạo hình, tác giả Lê Thanh Thủy cho rằng:

“Hoạt động vẽ là dùng đường nét, hình mảng, màu sắc tạo bố cục thể hiện trên mặt phẳng hai chiều” (Lê Thanh Thủy, 2009)

Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về hoạt động vẽ nhưng đều có những điểm giống nhau đó là hoạt động tạo ra sản phẩm trên

mặt phẳng bằng đường nét và màu sắc Đây cũng là nội dung mà chúng tôi chọn lọc

để nghiên cứu hoạt động vẽ theo ý thích

1.3.2 Đặc điểm hoạt động vẽ theo ý thích của trẻ mẫu giáo

Hoạt động vẽ theo ý thích nhằm phát triển tính độc lập, chủ động trong công việc và phát triển khả năng sáng tạo của trẻ, cũng cố những kỹ năng, kỷ xảo mà trẻ

đã học, đồng thời giúp cho người lớn đánh giá được sự tiếp thu những kỹ năng, kỷ xảo tạo hình cũng như khả năng sáng tạo của trẻ, từ đó có định hướng tốt hơn trong việc giáo dục trẻ em

Trong quá trình vẽ theo ý thích, trẻ không được trang bị kiến thức mới mà chỉ vận dụng những kiến thức đã học để miêu tả Tùy theo ý thích của mình, trẻ được tự

do thoải mái lựa chọn nội dung để thể hiện Nội dung vẽ theo ý thích rất đa dạng và phong phú, trẻ có thể miêu tả một sự vật hiện tượng riêng biệt hay miêu tả một sự kiện trong truyện cổ tích, trong môi trường xung quanh mà trẻ thấy, trẻ biết và ghi nhớ thành biểu tượng, những hình ảnh quen thuộc đối với trẻ Trong quá trình hoạt động, trẻ đã vận dụng những tri thức, kỹ năng, kỷ xảo đã học để miêu tả chủ đề do tự mình sáng tạo

Giờ học tạo hình theo ý thích có những nội dung không phải do cô đề ra mà phụ thuộc vào ý muốn của trẻ Nhiệm vụ của giáo viên là làm sao nảy sinh ở trẻ những ý

Trang 32

tưởng, gợi ý để trẻ nhớ lại những biểu tượng mà trẻ đã cảm thụ từ trước, giúp trẻ thể hiện nội dung trên giấy, những biểu tượng không thu hẹp trong một đề tài nào cả, mà

nó rất phong phú sinh động (Lê Hồng Vân, 2002)

Cách tiến hành giờ học vẽ theo ý thích gồm các bước sau:

Bước 1: Gây hứng thú và giao nhiệm vụ

- Giáo viên tạo cho trẻ tâm thế thoải mái, hứng thú và xác định được ý tưởng tạo hình của mình bằng cách sử dụng các biện pháp như bài hát, thơ, câu đố, tình huống có vấn … đề để trẻ cảm thấy cần thiết tạo ra sản phẩm cho các hoạt động của trẻ

- Định hướng cho trẻ cách thức hiện:

Giáo viên có thể không cần cho trẻ quan sát mẫu hay tranh mẫu mà trong giờ học cô gợi ý bằng nhiều hình thức khác nhau để làm sống lại những biểu tượng mà trẻ đã thu được trước đó và khai thác kinh nghiệm, hiểu biết của trẻ, giúp trẻ tự tìm ra cách thể hiện (trẻ có thể nêu lên ý kiến cá nhân, có thể thông qua các gợi ý, hướng dẫn của giáo viên, có thể trao đổi theo những nhóm nhỏ có cùng lựa chọn)

Bước 2: Trẻ thực hiện

Giáo viên quan sát và giúp đỡ trẻ khi cần thiết Giáo viên đến từng trẻ, hỏi xem trẻ vẽ gì? Góp ý cho trẻ về cách sắp xếp các hình tượng hoặc bổ sung chi tiết vào chỗ trống cho cân đối hoặc giúp trẻ sử dụng màu sắc cho phù hợp, nếu trẻ hỏi

Bước 3: Trưng bày sản phẩm

Đánh giá thẩm mỹ của mỗi sản phẩm, trao đổi, chia sẻ và thưởng thức kết quả hoạt động

Động viên, khuyến khích những trẻ có nhiều sáng tạo (Vụ Giáo dục mầm non, 2005) Hoạt động vẽ theo ý thích được xem như là một thể loại tạo hình theo đề tài tự chọn Dưới hình thức hoạt động này, trẻ được chủ động, tích cực, tự do lựa chọn và thể hiện nội dung miêu tả mà mình thích theo dự định của cá nhân Để hạn chế những khó khăn mà trẻ có thể gặp, giáo viên cần định hướng các đề tài tự chọn trong phạm vi những kinh nghiệm, những xúc cảm, tình cảm mà trẻ được trải nghiệm (Lê Thanh Thủy, 2009)

Tóm lại: trong phân chia các thể loại của hoạt động tạo hình có thể nói hoạt động tạo hình theo ý thích là một thể loại tạo điều kiện cho trẻ được bộc lộ khả năng

Trang 33

sáng tạo nhiều nhất Những giờ tạo hình này nếu được thực hiện đúng mức sẽ mang đến cho trẻ nhiều niềm vui sướng và đạt được những kết quả “bất ngờ” về sự phát triển khả năng sáng tạo ở trẻ

1.3.2.1 Những biểu hiện sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động

vẽ theo ý thích

Khả năng sáng tạo của trẻ được thể hiện rất phong phú và đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau, riêng về hoạt động vẽ nói chung và hoạt động vẽ theo ý thích nói riêng những biểu hiện sáng tạo của trẻ mẫu giáo được thể hiện cụ thể như sau:

- Trẻ luôn có những ý tưởng phong phú mới lạ

- Trẻ cũng dễ dàng và nhanh chóng tạo ra bức tranh từ gợi ý của giáo viên

- Trẻ sử dụng màu sắc táo bạo, khác thường, khả năng phối màu rất phong phú,

đa dạng

- Bố cục tranh vẽ của trẻ hợp lý, hài hòa, sự lựa chọn, sắp xếp và liên kết giữa các hình, hình với đề tài mang nét đặc sắc riêng của trẻ

- Sử dụng nhiều nguyên vật liệu khác nhau để thể hiện ý tưởng

- Biết giải thích ý nghĩa việc lựa chọn màu sắc hay đường nét thể hiện

- Trẻ luôn luôn độc lập trong khi vẽ

- Nêu lên được ý tưởng của sản phẩm

- Trẻ đặt tên mới lạ cho sản phẩm

Khả năng sáng tạo rất cần thiết cho trẻ trong việc học tập sau này Nó không tự xuất hiện, tự phát triển mà được hình thành thông qua việc nhà giáo dục, tổ chức và hướng dẫn Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động mang tính sáng tạo ở lứa tuổi này là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của người lớn và giáo viên mầm non

1.3.2.2 Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với sự phát triển của trẻ

Hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ nói riêng là hoạt động sáng tạo nghệ thuật, trong đó con người không chỉ nhận thức cái đẹp của thế giới xung quanh mà còn cải tạo nó theo quy luật của cái đẹp Bên cạnh đó, Hoạt động tạo hình cũng là một phương tiện quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện (Lê Thị Thanh Bình, 2006)

Trang 34

a Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với giáo dục trí tuệ, ngôn ngữ

Trong quá trình vẽ theo ý thích trẻ có nhiều cơ hội để tìm hiểu, khám phá các

sự vật hiện tượng trong môi trường xung quanh như đặc điểm đặc trưng, sự tương quan giữa các đặc điểm đó, nhận biết hình dáng, màu sắc Từ đó xây dựng các biểu tượng sự vật hiện tượng, biết quan sát, phân tích, so sánh, đánh giá vật này với vật khác Ngoài ra, trẻ còn tìm hiểu bản chất của các vật liệu trong hoạt động vẽ và sự liên quan giữa kết quả thu được và vật liệu tạo hình

Hoạt động vẽ còn là môi trường thuận lợi hình thành ở trẻ các phẩm chất trí tuệ như tính tự giác, tính ham hiểu biết, tính tích cực nhận thức và óc sáng tạo Hoạt động này còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ Trong quá trình nhận biết các đối tượng,

so sánh và nhận xét sản phẩm tạo hình sẽ giúp trẻ phát triển vốn từ, lời nói hình tượng - truyền cảm và ngôn ngữ mạch lạc hơn

b Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với giáo dục đạo đức

Thông qua các giờ VTYT, các đức tính tốt được hình thành như tính tích cực chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao, kiên nhẫn làm việc từ đầu đến cuối, biết lắng nghe ý kiến của cô và các bạn

Ngoài những biểu tượng, kinh nghiệm mà trẻ thu nhận được từ thế giới xung quanh qua hoạt động vẽ, trẻ còn biểu lộ những tình cảm, xúc cảm thái độ đối với những gì mà trẻ thể hiện Tham gia vào hoạt động vẽ, trẻ có những điều kiện tiếp thu chuẩn mực thẩm mỹ - đạo đức trong xã hội, trải nghiệm các xúc cảm tình cảm, học hỏi các kĩ năng xã hội qua các hình vi văn hóa xã hội qua các hình tượng, các sự kiện được miêu tả

Hoạt động tạo hình là một phương tiện giao tiếp, trẻ luôn mong muốn được người khác tiếp nhận và cảm nhận, hiểu được những điều mà trẻ muốn gửi gắm trong sản phẩm Đồng thời trẻ luôn chờ đợi ở người khác sự động viên, khuyến khích, khen ngợi và rất thích thú khi nhận được sự đồng cảm từ người khác

Hoạt động vẽ còn giúp trẻ phản ánh những sự vật hiện tượng có trong thiên nhiên, những gì làm trẻ rung động, suy nghĩ và có những tình cảm yêu ghét đối với chúng Khi tham gia vào hoạt động vẽ, trẻ còn trải nghiệm những xúc cảm - tình cảm khi có mong muốn sẽ tạo ra sản phẩm thật đẹp cho người khác Chính những điều đó

Trang 35

là điều kiện để hình thành ở trẻ ý thức cộng đồng, luôn quan tâm, nghĩ đến người khác trong giao tiếp xã hội

c Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với việc giáo dục thẩm mỹ

Hoạt động vẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển cảm giác, tri giác thẩm mỹ Ở trường mầm non, hoạt động tạo hình chiếm khá nhiều thời lượng và được thực hiện thông qua các loại hình như vẽ, nặn, thủ công, lắp ghép- xây dựng Giáo viên tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, nhận ra các đặc điểm thẩm mỹ độc đáo, hấp dẫn của các đối tượng Khi quan sát các sự vật, hiện tượng của cuộc sống xung quanh, trẻ em thường hồi hộp xúc động Sự tri giác một màu sắc rực rỡ hay một phong cảnh tuyệt diệu làm trẻ xúc động, vui mừng Những đặc điểm thẩm mỹ này là những yếu tố kích thích sự xuất hiện những rung động, xúc cảm thẩm mỹ như cảm xúc về màu sắc trong quá trình tri giác sự phối hợp màu sắc tuyệt đẹp: những ngôi sao nổi bật trên nền trời tối, những đóa hoa cúc vàng trên thảm cỏ xanh …, hay sự xuất hiện cảm xúc nhịp điệu khi thưởng thức một sự cân đối nhịp nhàng của vật thể:

sự sắp xếp các cành cây, sự nhấp nhô của ngọn sóng Từ đó tạo cho trẻ có những xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ, giúp trẻ biết thưởng thức cái đẹp từ thiên nhiên Dần dần trẻ

có được khả năng đưa ra những nhận xét đơn giản và có thẩm mỹ về những sự kiện của cuộc sống, về con người, các tác phẩm nghệ thuật mà làm phát triển thị hiếu thẩm mỹ Trẻ mẫu giáo lớn có sự cảm nhận được cái đẹp tinh tế hơn mẫu giáo bé, trẻ

có thể cảm nhận cái đẹp sự hài hòa của màu sắc, đường nét, sự mềm mại của điệu múa, nhịp điệu của bản nhạc Trẻ mẫu giáo lớn đánh giá cái đẹp tương đối chính xác hơn Trẻ hiểu đối tượng được xem là đẹp phải có hình dáng cân đối, có sự tương quan giữa các phần và phong phú về màu sắc

Mỗi dạng hoạt động tạo hình ngoài những ảnh hưởng chung đối với phát triển thẩm mỹ ở trẻ, nó còn có những ảnh hưởng đặc trưng riêng của từng loại Vẽ có ảnh hưởng đến phát triển cảm giác màu sắc, trẻ học cách nhận biết vẻ đẹp của sự kết hợp nhiều màu sắc khác nhau

Quá trình thể hiện các sản phẩm vẽ là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy để phối hợp, xây dựng hình tượng mới làm cho các sản phẩm của trẻ ngày càng trở nên sinh động, hấp dẫn và mang

Trang 36

màu sắc nghệ thuật Hoạt động vẽ không chỉ là cơ hội thuận lợi cho trẻ được tiếp xúc với cái đẹp mà còn nảy sinh và nuôi dưỡng ở trẻ hứng thú với hoạt động nghệ thuật

và niềm say mê sáng tạo nghệ thuật Chính hứng thú trong hoạt động vẽ đã giúp trẻ khám phá cái đẹp, cái mới lạ trong thế giới xung quanh mặc dù trẻ có thể đã nhìn nhưng không nhìn thấy, đã nghe nhưng không nghe thấy

Trong quá trình hoạt động vẽ, năng khiếu sáng tạo nghệ thuật của trẻ được phát triển, trẻ biết vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào cuộc sống hàng ngày như

ăn mặc sao cho đẹp, ở sao cho gọn gàng, ngăn nắp… từ đó có ý thức tôn trọng và bảo vệ cái đẹp

d Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với việc giáo dục thể chất

Hoạt động vẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể lực của trẻ Những giờ tham gia hoạt động vẽ, với bầu không khí tự do thoải mái sẽ mang đến cho trẻ niềm vui thích Chính sự phấn khởi này sẽ ảnh hưởng tốt đến hệ thần kinh, tác động đến sự điều hòa hoạt động của các bộ phận trong cơ thể trẻ

Các giờ học vẽ giúp cho bàn tay và các ngón tay của trẻ phát triển, tạo điều kiện cho trẻ học viết ở trường phổ thông Trong quá trình tạo hình các chuyển động của tay

và mắt được phát triển linh hoạt và phối hợp nhịp nhàng, giáo viên hướng dẫn cho trẻ có

tư thế ngồi đúng, tránh cho trẻ không bị vẹo cuộc sống, vai không bị lệch

Hoạt động vẽ còn là biện pháp trị liệu tâm lý đối với trẻ khuyết tật, những người có căn bệnh trầm uất, bệnh thần kinh Sự tự do thoải mái trong quá trình thể hiện, biểu lộ các xúc cảm, tình cảm sẽ giúp người bệnh điều hòa các quá trình ức chế

và hưng phấn, lấy lại thế cân bằng Có thể xem hoạt động vẽ là “món ăn tinh thần”, một loại “vitamin” đặc biệt cho sự phát triển tâm lý và sinh lý của trẻ em

e Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với việc giáo dục lao động

Hoạt động vẽ tạo ra sản phẩm Quá trình này đã giúp trẻ “thiết kế”, “kiến tạo”, “chế tạo” nên các sản phẩm, biểu hiện thành quả lao động của chính trẻ Hoạt động đã rèn luyện cho trẻ những kĩ năng lao động thực tiễn, thói quen làm việc lao động tự giác Đây là môi trường lý tưởng để hình thành ở trẻ ý thức lao động, lòng yêu lao động, có thái độ biết bảo vệ, trân trọng những sản phẩm lao động cũng như đối với người lao động

Trang 37

Mặt khác khi chuẩn bị cho giờ học vẽ, cô hướng dẫn trẻ cùng tham gia kê bàn ghế một cách cẩn thận, nhường nhịn, giúp đỡ nhau Đối với lớp mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn cô hướng dẫn các cháu trực nhật sắp xếp các vật liệu tạo hình sao cho thuận lợi, gọn gàng và đẹp mắt, không vứt các vật liệu thừa xuống sàn nhà mà phải

để gọn vào một chỗ để sau giờ học sẽ bỏ vào sọt rác

f Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông

Hoạt động vẽ còn là môi trường phương tiện để hình thành cho trẻ những cơ

sở ban đầu của hoạt động học tập trong trường phổ thông

Qua hoạt động vẽ, trẻ được bồi dưỡng khả năng độc lập tổ chức một quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn để tạo nên các vật thể sản phẩm Hoạt động này hình thành ở trẻ khả năng đánh giá và tự đánh giá Ngoài ra, nó còn góp phần vào việc chuẩn bị cho trẻ một vốn kiến thức sơ đẳng về tự nhiên, xã hội, khoa học kỹ thuật giúp trẻ nhanh chóng tiếp thu các kiến thức ở trường phổ thông Sự hoạt động khéo léo, linh hoạt trong vận động tay giúp trẻ sau này học viết ở trường phổ thông

sẽ đạt kết quả tốt hơn

Hoạt động vẽ còn góp phần chuẩn bị tâm thế cho trẻ bước vào lớp phổ thông vì hoạt động đó đã giúp giáo dục cho trẻ lòng ham muốn nhận thức, tiếp thu những điều mới lạ, có thói quen học tập một cách có mục đích, có tổ chức, biết nghe lời chỉ bảo của thầy cô Hoạt động tạo hình là môi trường cho trẻ rèn luyện năng lực hành vi của mình nhằm thực hiện nhiệm vụ đã đề ra, biết cách tự điều khiển hành vi và những ước muốn của mình, biết từ chối những ước muốn để thực hiện những hoạt động cần thiết

1.3.2.3 Nội dung hoạt động vẽ cho trẻ MG 5 - 6 tuổi trong Chương trình giáo dục mầm non

Theo Chương trình giáo dục mầm non năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Chương trình GDMN có sửa đổi, bổ sung một số nội dung theo thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 31/12/2016) đã đưa ra nội dung phát triển thẫm mỹ có nội dung trẻ thể hiện các kỹ năng và sự sáng tạo khi tham gia các hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ nói riêng cụ thể như sau:

“ Lựa chọn, phối hợp các nguyên vật liệu tạo hình để tạo ra sản phẩm; phối hợp các kỹ năng để tạo ra sản phẩm có màu sắc, hình dáng, đường nét và bố cục;

Trang 38

nhận xét sản phẩm tạo hình về màu sắc, hình dáng, đường nét và bố cục; tìm kiếm lựa chọn các dụng cụ, nguyên vật liệu phù hợp để tạo ra sản phẩm theo ý thích ”

Trong nội dung kết quả mong đợi của chương trình Giáo dục mầm non có nêu trong lĩnh vực phát triển thẩm mỹ về hoạt động vẽ như sau:

“ Phối hợp và lựa chọn các nguyên vật liệu tạo hình để tạo ra sản phẩm; phối hợp các kỹ năng vẽ để tạo thành bức tranh có màu sắc hài hòa, bố cục cân đối; nhận xét các sản phẩm tạo hình về màu sắc, hình dáng, bố cục ”

1.3.2.4 Các chỉ số đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009) với các chuẩn và chỉ số nhằm phát triển lĩnh vực thẫm mỹ:

“Bộ chuẩn nhằm hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nâng cao chất

lượng chăm sóc, giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em năm tuổi vào lớp 1 " Trong

đó, hoạt động tạo hình và khả năng sáng tạo của trẻ được nêu cụ thể như sau: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009)

Chuẩn 22: Trẻ thể hiện một số hiểu biết về tạo hình

Chỉ số 102 Biết sử dụng các vật liệu khác nhau để làm một sản phẩm đơn giản

Chỉ số 103 Nói được ý tưởng thể hiện trong sản phẩm tạo hình của mình

Chuẩn 28: Trẻ thể hiện khả năng sáng tạo

Chỉ số 118 Thực hiện một số công việc theo cách riêng của mình

Chỉ số 119 Thể hiện ý tưởng của bản thân thông qua các hoạt động khác nhau

1.3.3 Một số tiêu chí đánh giá khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5-6 tuổi trong tranh vẽ theo ý thích

Trên cơ sở nghiên cứu về hoạt động vẽ và khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, chúng tôi xác định biểu hiện sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt

động vẽ theo ý thích được thể hiện ở những tiêu chí sau:

+ Về nội dung:

- Tên tranh vẽ: trẻ đặt tên mới lạ cho sản phẩm

- Đặc điểm nội dung tranh vẽ: có sự thay đổi về nhân vật, sự vật hiện tượng,

tình tiết, bối cảnh và sự biểu hiện trạng thái cảm xúc của các hình ảnh trong tranh vẽ

Trang 39

+ Về hình thức

- Bố cục: sử dụng luật phối cảnh để thể hiện chiều sâu trong không gian

- Màu sắc: sử dụng màu sắc một cách có chủ ý, theo ý đồ miêu tả

- Hình vẽ: giàu tính hình tượng, thể hiện ở nhiều dạng hoạt động

Từ các tiêu chí này, chúng tôi đưa ra thang đánh giá mức độ sáng tạo của trẻ trong tranh vẽ theo ý thích như sau:

(0 điểm)

Trung bình (1 điểm) Cao (2 điểm)

Nội dung

Tên tranh vẽ

Đặt tên tranh

vẽ giống mẫu, theo sự gợi ý của GV

Đặt được tên cho sản phẩm nhưng trùng với bạn hoặc có sự thay đổi tên tranh

vẽ nhưng không hoàn toàn

Đặt được tên mới

lạ cho sản phẩm

Đặc điểm nội dung bức tranh

Lặp lại gần như nguyên vẹn các sự vật hiện tượng theo sự gợi ý của giáo viên hoặc bắt chước theo khuôn mẫu

đã học trước

đó

Có sự thay đổi ít

về nhân vật, sự vật, hiện tượng, tình tiết, bối cảnh theo đề tài

Thể hiện rời rạc mối liên hệ giữa các nhân vật trong tranh vẽ

Có sự thay đôi nhiều về nhân vật,

sự vật, hiện tượng, tình tiết, bối cảnh được thể hiện một cách mới mẻ theo suy nghĩ riêng của trẻ

Thể hiện mối liên

hệ giữa các nhân vật trong tranh vẽ

Không sử dụng luật phối cảnh, không có

Có điểm nhấn thể hiện được ý tưởng

Chưa sử dụng

Sử dụng luật phối cảnh thể hiện chiều sâu trong không gian như: sử dụng

Trang 40

Hình thức

Bố cục

điểm nhấn trong tranh vẽ

luật phối cảnh luật xa gần, mối

tương quan về kích thước giữa các hình

vẽ trong tranh và thể hiên được điểm nhấn trong tranh

vẽ

Màu sắc Chưa biết sử

dụng màu sắc phù hợp

Màu sắc tương đối phù hợp với nội dung, tuy nhiên còn đơn điệu, phần lớn tô màu quen thuộc,

có thêm một số màu sắc mới mẻ thể hiện sự biến đổi của sự vật, hiện tượng

Màu sắc phong phú, phù hợp với nội dung, sử dụng màu một cách có chủ ý theo ý đồ miêu tả, biết phối màu, có đậm, nhạt, gợi cảm, mới lạ

Hình vẽ

Thể hiện được đối tượng tuy nhiên còn sơ sài

Thể hiện được đặc điểm riêng của đối tượng

Đường nét mềm mại, tư thế phù hợp với nội dung, giàu tính hình tượng Đối tượng trong tranh được thể hiện dưới nhiều dạng hoạt động, tạo nên bức tranh sinh động, mới lạ

Các mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt động vẽ theo ý thích

- Mức cao: trẻ đạt thang điểm từ 8 – 10 điểm

Ngày đăng: 20/12/2020, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w