Gần đây các nghiên cứu của các nhà tâm lí Schuhrke 2000 về nhận thức của trẻ em về hành vi tính dục cho thấy trẻ 2 tuổi bắt đầu nhìn, chơi với sờ mó và nhận xét về bộ phận sinh dục của m
Trang 1Huỳnh Thị Thùy Dương
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2Huỳnh Thị Thùy Dương
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS LÊ THỊ MINH HÀ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS
TS Lê Thị Minh Hà Các kết quả và số liệu đảm bảo tính khách quan, trung thực và
chưa có bất cứ ai công bố trong các công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2018
Tác giả
Huỳnh Thị Thùy Dương
Trang 4
Hôm nay, nhìn lại chặng đường học tập trong thời gian qua, tôi thật sự biết ơn gia đình, thầy cô, nhà trường, bạn bè, đồng nghiệp Vì vậy, tôi trân trọng gửi lời cảm ơn đến:
- PGS TS Lê Thị Minh Hà, người đã luôn động viên, tận tình chỉ dẫn và
định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn
- Quý Thầy Cô Trường Đại học Sư phạm Tp HCM, Đại học Sài Gòn, Cao đẳng Trung ương Tp HCM đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức hữu ích trong suốt thời gian học tập chương trình cao học tại Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh;
- Quý Thầy Cô phòng Sau đại học, Khoa Giáo dục Mầm non Trường ĐHSP Tp
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu;
- Ban giám hiệu, giáo viên trường Mẫu giáo Sơn Ca, các trường Mầm Non trên địa bàn Thành phố Tân An đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
- Sau cùng, tôi cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và tất cả những người thân
đã luôn ở bên tôi ủng hộ, động viên, chia sẻ với tôi khi tham gia chương trình học Cao học cũng như hoàn thành luận văn
Tôi xin gởi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc đến tất cả những người mà tôi đã được hân hạnh biết đến - với lòng biết ơn chân thành
Học viên cao học
Huỳnh Thị Thùy Dương
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục giới tính 6
1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục giới tính ở nước ngoài 6
1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục giới tính cho trẻ ở trong nước 9
1.2 Lí luận về giáo dục giới tính 12
1.2.1 Giới tính 12
1.2.2 Giáo dục giới tính 15
1.2.3 Một số vấn đề về mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc, nội dung, phương pháp GDGT đối với trẻ MG 5 – 6 tuổi 17
1.2.4 Vai trò của giáo dục giới tính với sự phát triển của trẻ MG 5 – 6 tuổi 22
1.3 Hoạt động vui chơi và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển của trẻ 24
1.3.1 Một số vấn đề cơ bản của hoạt động vui chơi 24
1.3.2 GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC 29
1.4 Lí luận về biện pháp giáo dục giới tính 33
1.4.1 Biện pháp, Biện pháp giáo dục 33
1.4.2 Biện pháp giáo dục giới tính 33
1.4.3 Biện pháp giáo dục giới tính cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC 34
1.4.4 Biện pháp tổ chức giáo dục giới tính cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC 35
1.5 Cơ sở khoa học của GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC 36
1.5.1 Cơ sở sinh lí, tâm lí của GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi qua HĐVC 36
Trang 61.5.4 Cơ sở giáo dục học của GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi qua HĐVC 43
1.5.5 Nội dung GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC 44
Tiểu kết chương 1 47
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI 49
2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 49
2.1.1.Vài nét về cơ sở giáo dục được khảo sát 49
2.1.2 Mục đích nghiên cứu 49
2.1.3 Đối tượng khảo sát và thời gian nghiên cứu 49
2.1.4 Nội dung khảo sát và phương pháp nghiên cứu 50
2.2 Kết quả nghiên cứu 52
2.2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL và GVMN về GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi 52
2.2.2 Tìm hiểu GVMN tổ chức HĐVC cho trẻ NG 5 – 6 tuổi nhằm GDGT 69
2.2.3 Thực trạng nhận thức giới tính và hành vi giới tính của trẻ MG 5–6 tuổi 72
Tiểu kết Chương 2 85
Chương 3 THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI 86
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC 86
3.2 Đề xuất các biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC 87
3.2.1 Biện pháp 1 87
3.2.2 Biện pháp 2 88
3.2.3 Biện pháp 3 89
3.2.4 Biện pháp 4 89
3.3 Tổ chức thực nghiệm 90
Trang 73.3.3 Thời gian thực nghiệm 91
3.3.4 Tiến trình thực nghiệm 91
3.3.5 Tiêu chí đánh giá 103
3.4 Phân tích kết quả TN 103
3.4.1 Kết quả đo trước TN giữa nhóm ĐC và nhóm TN 103
3.4.2 Kết quả nghiên cứu sau khi tác động thực nghiệm giữa nhóm ĐC và nhóm TN 105
Tiểu kết Chương 3 120
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của giáo viên ở các trường mầm non được
khảo sát 52
Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL và GVMN về nội dung GDGT cho trẻ MG 5-6 tuổi 53
Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL và GVMN về tầm quan trọng của GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi 53
Bảng 2.5 Mức độ thực hiện GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC 54
Bảng 2.6 Nhận thức của CBQL và GVMN về vai trò của HĐVC đối với GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi 55
Bảng 2.7 Ý kiến của GVMN và CBQL về các loại trò chơi có thể GDGT ở trường mầm non 57
Bảng 2.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến GDGT cho trẻ MG 5-6 tuổi trong HĐVC 58
Bảng 2.9 Biện pháp giáo viên sử dụng khi tổ chức HĐVC nhằm GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi 60
Bảng 2.10 Khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình tổ chức HĐVC nhằm GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi 65
Bảng 2.11 Thang đo đánh giá nhận thức giới tính và hành vi giới tính của trẻ 74
Bảng 2.12 Tổng hợp mức độ biểu hiện nhận thức giới tính và hành vi giới tính của trẻ MG 5 – 6 tuổi 81
Bảng 3.1 Kết quả mức độ nhận thức và hành vi giới tính của nhóm ĐC và nhóm TN trước TN 104
Bảng 3.2 Kết quả xếp loại của nhóm ĐC và nhóm TN trước và sau TN 105
Bảng 3.3 Kết quả so sánh nhận thức giới tính của nhóm ĐC trước và sau TN 107
Bảng 3.4 Kết quả so sánh hành vi giới tính của nhóm TN trước và sau TN 108
Bảng 3.5 Kết quả so sánh nhận thức giới tính của nhóm TN trước và sau TN 112
Bảng 3.6 Kết quả so sánh hành vi giới tính của nhóm TN trước và sau TN 113
Trang 10Biểu đồ 3.1 Kết quả so sánh nhận thức giới tính của nhóm ĐC trước và sau TN 107 Biểu đồ 3.2 Kết quả so sánh hành vi giới tính của nhóm ĐC trước và sau TN 110 Biểu đồ 3.3 Kết quả so sánh nhận thức giới tính của nhóm TN trước và sau TN 113 Biểu đồ 3.4 Kết quả so sánh hành vi giới tính của NTN trước và sau thử nghiệm 115
Trang 11Bậc học mầm non chính là bậc học đầu tiên, là nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, còn là thời kỳ vàng để phát triển nhân cách cho trẻ Giáo dục giới tính (GDGT) là một bộ phận của giáo dục, vì vậy GDGT cho trẻ trong giai đoạn này là cần thiết GDGT giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách giải quyết các vấn đề về giới tính trong cuộc sống, đặt nền tảng tương lai cho một con người có ý thức và chung sống hài hòa trong cộng đồng Chuyên gia giới tính học của Trung Quốc – Giáo sư Ngô Gia
Bình nhận định rằng: “Trong cuộc đời của mỗi con người đều cần giáo dục giới tính,
trong đó tuổi ấu thơ và tuổi dậy thì là hai thời kì quan trọng nhất Sự giáo dục không hoàn thiện trong hai thời kì này sẽ để lại hậu quả xấu, thậm chí gây ảnh hưởng tới cả cuộc đời của một con người” Bởi vậy, có thể nói, GDGT hoàn thiện ở thời thơ ấu là
sự đảm bảo quan trọng cho sự tu dưỡng một nhân cách đẹp ở tương lai của một con
người “Trẻ sẽ có những hành động đúng bắt đầu từ việc trẻ nhận thức đúng về giới
tính của mình Là một bé trai chứ không phải một bé gái và ngược lại” [9,tr.112]
Nhận thức được điều này rất nhiều nước trên thế giới đã chú trọng tới việc nghiên cứu GDGT cho trẻ ngay từ khi trẻ còn ở độ tuổi mầm non, nhằm thiết lập sự công bằng, bình đẳng, bền vững cho cả nam giới và nữ giới trong xã hội văn minh
Ở Việt Nam, trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch Hội Đồng Bộ
trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” Tuy nhiên, so với các nước phát
triển khác, GDGT ở nước ta hiện nay vẫn còn lạc hậu, kiến thức về giới tính của
Trang 12những người làm công tác giáo dục hay cha mẹ trẻ vẫn còn hạn chế, rất khó có thể giảng giải các kiến thức về giới tính cho trẻ và cũng khó để giải đáp các câu hỏi về giới tính mà trẻ đưa ra Bên cạnh đó, xã hội hiện nay đang nổi lên nhiều vấn đề của trẻ
em liên quan đến giới tính như: Quyền bình đẳng của mọi trẻ em, bảo vệ trẻ em khỏi
bị xâm hại tình dục, nạn mại dâm ngày càng lôi kéo cả lứa tuổi vị thành niên Vì vậy, GDGT cho trẻ em để phù hợp với chuẩn mực xã hội là quan trọng và cần thiết
Đối với trẻ MG lớn, những nét đặc trưng tính cách của một cá thể đã hình thành
và phát triển dần Trẻ đã có ý thức về bản thân mình, ý thức được sự khác nhau giữa bản thân trẻ và người khác Vì vậy, rèn luyện và phát triển những nội dung GDGT cần thiết, phù hợp với các chuẩn mực xã hội sẽ dễ dàng mang lại hiệu quả Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục mầm non ở nhiều nơi cho thấy, nhiều cơ sở chưa chú trọng đúng mức việc GDGT cho trẻ, chưa nhận thức được những ưu thế trong dạy học đối với việc hình thành nhận thức giới tính và hành vi giới tính cho trẻ MG 5 – 6 tuổi Qua tìm hiểu một số trường mầm non, chúng tôi nhận thấy các giáo viên đã có sự quan tâm và thực hiện GDGT cho trẻ Tuy nhiên, việc tiến hành GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi và đề ra biện pháp giáo dục phù hợp vẫn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức
Xuất phát từ những lý do trên việc đề xuất những biện pháp GDGT cho trẻ MG
5 – 6 tuổi là cần thiết Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Biện pháp giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng một số biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
- Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Tân An, Long An
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
Trang 134 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tuổi
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non ở Thành phố Tân An, Long An
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu một số biện pháp
GDGT cho trẻ MG 5- 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi (HĐVC) theo Chương trình Giáo dục Mầm non 2009 và Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi
Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Đề tài dự kiến tiến hành nghiên cứu tại Trường
Mẫu giáo Sơn Ca – Phường 1, trong thời gian dự kiến là 8 tuần (08/01/2018/ 08/03/2018)
6 Giả thuyết khoa học
Thực trạng GVMN chưa quan tâm sử dụng biện pháp GDGT khi tổ chức HĐVC, nhận thức về giới tính và hành vi giới tính của trẻ MG 5- 6 tuổi còn hạn chế Nếu sử dụng một số biện pháp GDGT trong quá trình tổ chức HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi thì nhận thức về giới tính và hành vi giới tính của trẻ MG 5- 6 tuổi sẽ thay đổi tích cực
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
7.2.1.1 Mục đích
Trang 14- Khảo sát thực trạng nhận thức của CBQL và GVMN về GDGT cho trẻ MG 5 –
6 tuổi thông qua HĐVC
- Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
- Thực trạng khó khăn mà CBQL và GVMN gặp phải trong quá trình tổ chức GDGT
- Thực trạng nhận thức giới tính và hành vi giới tính của trẻ MG 5 – 6 tuổi
Trang 157.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 13.0 để xử lý số liệu của đề tài Các thuật toán thống kê xử lý và phân tích các số liệu nghiên cứu: Tính tần số, giá trị trung bình
(X), kiểm nghiệm T…
8 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về giới tính, GDGT, GDGT cho trẻ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Giả thuyết khoa học
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
8 Đóng góp của luận văn
9 Cấu trúc của luận văn
B Phần nội dung
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục giới tính
Vấn đề GDGT là vấn đề nghiên cứu khá phổ biến của một số nhà nghiên cứu Tâm lý học Việc nghiên cứu GDGT đã đạt đến những thành tựu nhất định trong giai đoạn hiện nay Trong lịch sử, những nghiên cứu về GDGT đã hình thành từ rất sớm
Có thể nói khi con người bắt đầu quan tâm đến vấn đề giới tính, những tia sáng đầu tiên nghiên cứu về GDGT bắt đầu được quan tâm
1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục giới tính ở nước ngoài
Từ xa xưa, ở phương Tây cũng như phương Đông, vấn đề giới tính và GDGT được nhìn nhận với sự chi phối của những tín niệm tôn giáo và đạo đức
Đến đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, sự phổ biến của các phương tiện thông tin đại chúng trong xã hội và nhất là việc gia tăng dân số, vấn đề GDGT được nhấn mạnh và đề cập ngay ở độ tuổi MG
Ở Liên Xô trước đây: Nhiều công trình nghiên cứu, trong đó các công trình của
P P Blonxki, B E Raicop đã chỉ ra sự hiện hữu của một số biểu hiện tính dục sớm ở trẻ em… và mối quan hệ chặt chẽ giữa GDGT với các hoạt động cá nhân của trẻ A X Macarenco và V A Xukhomlinxki cũng có những đóng góp quan trọng về lĩnh vực GDGT và coi đó là một nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh [22, tr.12]
Ở châu Âu, người ta cũng tiến hành GDGT từ rất sớm (Thụy Điển, Đức, Hà Lan, Đan Mạch…), song phải đến thập kỉ 60 của thế kỉ XX, GDGT mới được khẳng định
và nghiên cứu rộng rãi Các nhà khoa học Đức quan niệm rằng: “ Những hiểu biết khoa học về vấn đề GDGT cần được trang bị ngay cho cả các cô mẫu giáo, vườn trẻ Ở
đó cũng cần đến giáo dục về mối quan hệ đúng đắn giữa những người khác giới” [20,
tr 8] Có thể kể đến một số nghiên cứu cụ thể về hành vi giới tính ở trẻ em như sau: Singmurh Freud, cha đẻ trường phái phân tâm Năm 1915 ông đưa ra các giai đoạn phát triển tâm lí tính dục của trẻ em từ 0 - 15 tuổi
Trang 17Học thuyết phát triển nhận thức về giới của L Kohlberg đưa ra các giai đoạn trong sự hiểu biết về tính bất biến giới tính của trẻ Trước 5 tuổi, ở trẻ có ít những hiểu biết về hoạt động phù hợp với giới tính Thuyết sơ đồ giới tính của Martin và Haverson – mặt khác – lại cho rằng khi ở trẻ nhỏ có cơ sở thông tin về giới tính cũng
đủ để giúp trẻ bắt đầu hình thành những qui tắc liên quan đền giới tính
Nghiên cứu của Fagot (197) trên 200 trẻ MG trong khi chơi đã cho thấy rằng, trẻ
có những phản ứng đặc biệt đối với những bạn không thự c hiện đúng mẫu hành vi giới tính Ví dụ bé trai thích chơi với búp bê sẽ bị bạn chỉ trích nhiều hơn 5 – 6 lần so với số trẻ tuân thủ vai trò giới Mặt khác, những trẻ gái thích chơi làm lính cứu hỏa hơn làm y tá thì không bị chỉ trích gì Sự bắt buộc, động viên trong nhóm trẻ cũng tạo
ra những hiệu quả khác nhau Ví dụ, Fagot (1985) trong một nghiên cứu khác phát hiện ra rằng, trẻ hay đáp lại thông tin phản hồi của bạn cùng giới hơn là bạn khác giới.Kiểu phản hồi này tạo ra sự thể hiện khác nhau trong hành vi của trẻ Theo các nghiên cứu của Lamb (1979) và Holden (1980), sự chỉ trích của bạn bè chính là một biện pháp hữu hiệu để chấm dứt những hoạt động không phù hợp với giới tính của trẻ Đồng thời, những trẻ có hành vi vai trò giới phù hợp, được khen ngợi sẽ duy trì hoạt động đó lâu hơn
Cũng chính vì thế mà con gái có xu hướng tìm đến con gái, con trai tìm đến con trai để chơi nhiều hơn và tìm đến bạn khác giới Các nghiên cứu của Maccobly, Powlishta, Jacklin cho biết, trẻ MG 4 – 5 tuổi sử dụng thời gian lớn gấp 3 lần để chơi với bạn cùng giới; đến 5 – 6 tuổi, con số này là 11 lần
Gần đây các nghiên cứu của các nhà tâm lí Schuhrke (2000) về nhận thức của trẻ
em về hành vi tính dục cho thấy trẻ 2 tuổi bắt đầu nhìn, chơi với sờ mó và nhận xét về
bộ phận sinh dục của mình và mời gọi người chăm sóc trẻ cùng làm giống trẻ [46, tr 47]
Nghiên cứu của Conger và Gamlambos (1997) cho thấy: Trẻ 4 – 6 tuổi biết dùng
từ để mô tả bộ phận sinh dục, nhận ra sự khác biệt giữa nam và nữ Tự khám phá cơ thể của mình, thông qua trò chơi đóng vai (trò chơi gia đình: cầm tay, hôn nhau), biết hỏi
em bé sinh ra từ đâu, và có thể đề nghị được sờ vào bộ phận sinh dục của người khác trong trò chơi bác sĩ (khám bệnh) [46, tr 49]
Trang 18Nghiên cứu của Volbert (2000), nghiên cứu bằng cách phỏng vấn 147 trẻ 2 – 6 tuổi Kết quả cho thấy trẻ 2 – 5 tuổi chưa biết hành vi tính dục của người lớn Có 3 đứa trẻ 6 tuổi mô tả một cách công khai về hành vi tính dục 1 bé trai có kiến thức nhiều nhất nói e đã thấy hành động này trong một bộ phim [46, tr 54]
Nghiên cứu của Stafort và Cohen Kettenis (2000) trên các bà mẹ Hà Lan về hành vi giới tính của con mình mà họ quan sát được (nghiên cứu trên 351 trẻ trai và
319 trẻ gái từ 0 – 11 tuổi) Kết quả cho thấy: 97% trẻ đã biết sờ mó bộ phận sinh dục của mình, 60% trẻ chơi trò “bác sĩ” với bạn bè và khám phá cơ thể của bạn, 50% trẻ thủ dâm, 33% trẻ sờ vào bộ phận sinh dục người khác, 21% cho người khác xem bộ phận sinh dục của mình, 13% vẽ hình bộ phận sinh dục, 8% nói về hành động tình dục, 2% bắt chước hành vi tình dục với búp bê Những hành vi này tăng dần theo độ tuổi
Từ các nghiên cứu này các nhà giáo dục cho rằng cần phải GDGT cho trẻ càng sớm càng tốt [46, tr 59] Bởi vậy, một số nước trên thế giới đã bắt đầu GDGT cho trẻ khi trẻ còn nhỏ, cụ thể là:
Tại Anh, trẻ mầm non phải được GDGT Điều này được quy định cụ thể là khi trẻ 5 tuổi sẽ bắt đầu được học về giới tính như một môn học bắt buộc cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở Bất kể là trường công lập hay tư thục đều phải có môn học này Chương trình với tên gọi “Khóa học nhà nước yêu cầu” Chương trình học được chia làm 4 phần tương ứng với 4 độ tuổi
Ở châu Á, các quốc gia như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy giới tính tại trường học Malaysia, Philippines và Thái Lan thiên về giáo dục chi tiết sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi [49]
Trung Quốc đã tiến hành GDGT cho học sinh từ năm 1974 và hiện nay là một trong những nước có nhiều công trình nghiên cứu, và phát triển cao trong nghiên cứu khoa học về giới tính Trong cuốn sách “Giáo dục khoa học về giới tính – Dành cho trẻ mầm non” của tác giả Quý Thành Diệp – Ngô Hán Vinh do nhà xuất bản Phụ Nữ dịch lại đã giới thiệu một cách có hệ thống về giới tính của trẻ mầm non Năm 2001, chính phủ Hồng Công chủ trường đưa GDGT vào các trường MG và nhà trẻ Ở Philippine,
Bộ giáo dục đưa GDGT vào chương trình chính khóa bắt buộc ở trường phổ thông,
Trang 19Ở Nhật những cuộc thảo luận về giới tính và những vấn đề nhạy cảm liên quan không
hề hiếm tại các trường MG lớn Giai đoạn đi MG là môi trường và cơ hội để dạy trẻ về giới tính, giúp các bé nhận thức và hiểu được sự khác biệt giữa bé trai và bé gái ở điểm nào để thiết lập ý thức tự bảo vệ bản thân
Tại Malaysia, trẻ em học giới tính từ khi lên 4 Malaysia là một trong những nước đầu tiên tại khu vực Đông Nam Á thực hiện công tác phổ cập giáo dục cho trẻ em từ năm 4 tuổi Chương trình học của các bé sẽ do Bộ phát triển phụ nữ, gia đình và cộng đồng, Bộ giáo dục, các chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ biên soạn [49] Nội dung GDGT đã được lồng ghép một cách hợp lí vào nhiều bộ môn văn hóa khác, chủ yếu là môn kế hoạch hóa gia đình qua các giờ chính khóa, và qua các hoạt động ngoại khóa theo mức độ khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau Ở nước này, việc nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, những phương pháp và những phương tiện dạy học về giới tính rất được quan tâm và cuốn hút học sinh, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao
Ngoài ra, công tác chỉ đạo giáo dục bình đẳng giới hiện nay của các nước trong khu vực rất được quan tâm, và có những tiến bộ vượt bậc Các trò chơi cho trẻ tại bậc mầm non đều được thiết kế đặc biệt để đảm bảo trẻ vừa được chơi tự do vừa được giáo viên hướng dẫn nhằm giúp trẻ phát triển khả năng tập trung, giải quyết vấn đề, sự bền bỉ Ngoài ra, công tác đánh giá trẻ chơi như thế nào được chú trọng đặc biệt Sự phát triển của trẻ được đánh giá liên tục “Đó không phải là chơi tự do mà là học qua chơi” Bên cạnh việc GDGT cho trẻ em thì người Mỹ còn dạy cho trẻ em: Biết quý trọng mạng sống của mình và yêu quý người khác giới
1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục giới tính cho trẻ ở trong nước
Từ thượng cổ, tổ tiên tộc Việt đã có quan niệm về giới tính “Trời cha”, “ Đất mẹ”, Trời – đất như cặp nam nữ Họ quan niệm khá cởi mở, phóng khoáng về tình dục, coi sinh hoạt nam nữ là hành vi tự nhiên, cần thiết để bảo tồn và phát triển nòi giống,
có liên quan đến sự phồn vinh và hành phúc của quốc gia, dân tộc (hình tượng giao cấu của đôi trai gái trên mặt trống đồng Đông Sơn, truyện Chử Đồng Tử…) Từ thời Bắc thuộc, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, những chuyện liên quan đến giới tính và tình
Trang 20dục trở thành điều cấm kị đối với lớp trẻ “Trung, Hiếu, Tiết, Hạnh – Nam nữ thụ thụ bất thân” – Đó là châm ngôn sống, mọi người nhất nhất phải noi theo
Theo bác sĩ Đào Xuân Dũng (1996), ở Việt Nam giai đoạn xã hội cận đại có hai nhân vật lịch sử xứng đáng được coi là những người can đảm nhất trong cách tiếp cận với vấn đề tình dục và GDGT là Hồ Xuân Hương với nhưng bài thơ đặc sắc và Vũ Trọng Phụng với tiểu thuyết “Làm đĩ” của mình [48, tr 61]
Trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, GDGT đã bắt đầu được quan tâm rộng rãi Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã kí nêu rõ “Bộ giáo dục, bộ đại học và trung học chuyên nghiệp, tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan, xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về nhân cách gia đình và nuôi dạy con cái” Bộ giáo dục đã đưa ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và GDGT trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu công bố Các tác giả Đặng Xuân Hòa, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Thoa, Bùi Ngọc Oánh, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, khiều khía cạnh chi tiết của giới tính
và GDGT Nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra về tình yêu về đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc GDGT cho thanh niên và học sinh Những công trình này đã được nêu lên nhiều vấn đề phong phú và đa dạng về vấn đề giới tính và GDGT ở Việt Nam
Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh ( gọi tắt là giáo dục đời sống gia đình ) có kí hiệu VIE/88/P09 ( gọi tắt là đề án P09 ) đã được Hội Đồng Chính Phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa Học giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thủy và Giáo sư Đặng Xuân Hoài đề án đã được tiến hành hành rất thận trọng
và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình
Trang 21yêu, hôn nhân, nhận thức về GDGT của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước Tiếp theo là công trình nghiên cứu về vấn đề GDGT của trường ĐHSPHN1 do PGS PTS Nguyễn Quang Uẩn chủ trì Trong cuốn “Tâm lý học phát triển”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Đồng khi nói về GDGT ông cho rằng: Giới tính là do di truyền tạo ra Có ba loại giới tính: nam, nữ và lưỡng tính Ông nghiên cứu sâu về chuẩn mực vai giới trong xã hội, những khác biệt tâm lí giữa các giới tính, nhận định truyền thống của các nền văn hoá về giới tính cũng như sự tác động của quan điểm truyền thống đối với sự khác biệt của giới tính [22, tr.15]
Trong cuốn sách “Giáo dục giới tính cho trẻ em” của các tác giả Bùi Thị Thơm – Nguyễn Thị Vân Anh – Phạm Mai Hương do Nxb Văn Hoá Thông Tin đã chỉ ra sự cần thiết của việc GDGT cho trẻ “Đó là một việc làm quan trọng, cần được quan tâm, không thể lảng tránh và ảnh hưởng đến tương lai của trẻ” đồng thời các tác giả cũng đã đưa ra một số những biện pháp GDGT cho trẻ như: Hãy là bạn của trẻ trước khi trở thành một nhà giáo dục trẻ, những điều trẻ muốn biết hãy để trẻ biết, sử dụng đồ chơi
để giáo dục giới tính cho trẻ, tất cả mọi người toàn xã hội hãy cùng chung tay GDGT cho trẻ…[26, tr.16]
Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc Gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề
có liên quan như: giáo dục sức khỏe sinh sản; giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đình; GDGT cho học sinh Việc nghiên cứu giới tính
và GDGT đã được sự quan tâm nhiều của nhà nước, Bộ giáo dục và đào tạo và các bậc phụ huynh
Riêng trong lĩnh vực giáo dục mầm non, những nghiên cứu về giới tính của trẻ
MG chưa nhiều và chưa có hệ thống Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học mới đây của một số tác giả như là: Luận văn tiến sĩ Lí luận và lịch sử Sư phạm học của Nguyễn Thị Thu Hà (2000)” Các biện pháp giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi” Tìm hiểu một số biểu hiện giới tính trong hành vi chơi của trẻ MG lớn”, Luận văn thạc sĩ Tâm lí học của Trần Thị Thúy Vinh (2011) “ Sự nhận dạng giới tính ở trẻ MG 5 – 6 tuổi dưới ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình”
Trang 22Sau nhiều năm nghiên cứu, Bộ Giáo dục và đào tạo đã xây dựng chương trình khung GDMN năm 2009 và bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi (2010), định hướng cho GVMN trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường mầm non Đây là hai tài liệu đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện việc GDGT cho trẻ nhằm giúp trẻ phát triển một số giá trị, phẩm chất phù hợp với lứa tuổi như: nhận thức đúng về giới tính, có hành vi ứng xử phù hợp với giới tính… góp phần hoàn thành mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị tâm thế để trẻ bước vào lớp một
Các quan điểm trên của các nhà khoa học đều đề cập đến sự cần thiết của việc sử dụng trò chơi cũng như thông qua HĐVC để giáo dục trẻ nói chung và GDGT cho trẻ nói riêng Nhưng gần như ít người nghiên cứu về GDGT trong HĐVC
1.2 Lí luận về giáo dục giới tính
1.2.1 Giới tính
1.2.1.1 Khái niệm giới tính
Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử dụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh dục…Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc với tính dục Đó là quan niệm chưa thực sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặc hiểu về một mặt nào đó của giới tính
Giới tính (sex) – Theo Từ điển tâm lí học (2008) – “là những khác biệt giữa nam
và nữ cả về yếu tố sinh học lẫn yếu tố tâm lí”
Từ góc độ sinh học, giới tính là tập hợp những dấu hiệu gen tương phản của những cá thể một loài
Từ góc độ xã hội, giới tính là tổ hợp những đặc điểm cơ thể, di truyền, văn hóa –
xã hội, hành vi đảm bảo vị thế cá nhân, xã hội và pháp lí của những người nam giới và phụ nữ” [35, tr.243] Trước hết theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới Những đặc điểm này rất phong phú và đa dạng
Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên sự khác biệt giới (cả
về mặt sinh học lẫn tâm lí xã hội), giúp chúng ta phân biệt giới này với giới kia
Trang 23Về mặt sinh học, con người sinh ra đã xác định những đặc điểm khác nhau về
giới tính Sự khác biệt giới về mặt sinh học dễ nhận thấy và quan trọng nhất là cấu tạo
và chức năng của hệ cơ quan sinh dục, sau đó là hình thái, cấu tạo và chức năng của các hệ cơ quan khác trong cơ thể (bộ xương của phụ nữ nhỏ hơn, xương chân, tay ngắn hơn, đặc biệt là mông, ngực, bụng…); hiện tượng dậy thì (bé gái dậy thì sớm hơn bé trai), tuổi thọ (bình quân tuổi thọ của nam giới ngắn hơn nữ giới 6 – 8 năm)…
Về mặt xã hội, sự khác biệt giới tính thể hiện qua hành vi xã hội, nhu cầu, thái độ,
hoạt động, tình cảm, ý chí, tính cách, năng lực, xu hướng của nam giới và phụ nữ; vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho từng giới; các mối quan hệ và hoạt động xã hội; tư thế, tác phong, cách ăn mặc, trang điểm; các vấn
đề thẩm mỹ giới tính và đạo đức giới tính…
Những đặc điểm trên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên sự khác biệt giữa hai giới Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này với giới kia
Có thể định nghĩa, giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sự
khác biệt giữa nam và nữ
Dưới góc độ tâm lí học, giới tính là tổng thể những đặc điểm tâm lí, hành vi của
từng giới, là toàn bộ những biểu hiện mà ta quan sát được (cách ứng xử, nói năng, ăn mặc, sở thích), nó chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ từ môi trường sống, hoàn cảnh xã hội, nền văn hóa của môi trường đó, thay đổi theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ và toàn diện về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ [11, tr.30] Tiếp thu có kế thừa những quan điểm trên, chúng
tôi nhận thấy rằng: Giới tính là những đặc điểm của giới, những đặc điểm này tạo nên
đặc trưng của giới, giúp chúng ta phân biệt giới này với giới kia
1.2.1.2 Nguồn gốc giới tính
Những đặc điểm giới tính do 2 nguồn gốc tạo ra:
- Nguồn gốc sinh học: Theo Giáo sư Nguyễn Quang Vinh, giới tính của con
người do các tế bào sinh sản quyết định Tế bào sinh sản nam (tinh trùng) có 2 loại: Loại chứa nhiễm sắc thể X quy định giới tính nữ; loại chứa nhiễm sắc thể Y quy định
Trang 24giới tính nam Tế bào sinh sản nữ (trứng) chỉ chứa một loại nhiễm sắc thể X Nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể X thụ tinh với trứng, em bé sinh ra sẽ là nữ (X +X) Nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y thụ tinh với trứng, em bé sinh ra sẽ là nam (X + Y)
“Giới tính của động vật (trong đó có con người) được quyết định ngay từ lúc thụ tinh, tùy theo trứng X được kết hợp với tinh trùng X hay Y” [31].Theo IU I Kusniruk và A.P Serbakov đó là giới tính di truyền Có thể nói, giới tính di truyền là giới tính được xác định bởi sự thụ tinh giữa trứng và tinh trùng Sự thụ tinh như vậy (X + Y) hay (X +X) trong những điều kiện thông thường, sẽ làm cho thai nhi có cấu tạo đặc trưng của nam hoặc nữ trong quá trình phát triển của nó Do cấu tạo khác nhau nên hoạt động sinh lí ở mỗi giới có những đặc điểm khác nhau Các tuyến sinh dục và hooc môn (nội tiết tố) tiết ra từ những tuyến này quy định những đặc điểm sinh lí cơ thể riêng biệt và các thành phần tạo nên những nét tính cách đặc trưng của mỗi giới
Các tác giả IU I Kusniruk và A.P Serbakov cho rằng chính các tuyến sinh dục (buồng trứng hoặc tinh hoàn) tạo nên “giới tính đích thực” của con người “Gọi là giới tính đích thực vì nó phản ánh đặc trưng khả năng của tuyến sinh dục sản sinh ra tinh trùng hay trứng, đồng tời cũng tạo ra những hooc môn giới tính nam hoặc nữ đặc thù” Các hooc môn này ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc và sự phát triển của chức năng sinh dục bên trong và bên ngoài cùng những đặc điểm giới tính phụ khác Qua đó, nó giúp con người có đầy đủ những chức năng thật sự của người nam hoặc người nữ Như vậy, giới tính đích thực là giới tính được xác định do hoạt động thực tế của cơ quan sinh dục [22, tr.31]
- Nguồn gốc xã hội: Những đặc điểm sinh học chưa đủ để xác định giới tính
Theo Giáo sư Trần Trọng Thủy, “Tình cảm và ý thức về giới tính của con người chỉ được hình thành qua sự giao tiếp với những người khác qua ảnh hưởng của giáo dục
và những điều kiện của xã hội những đặc điểm về giải phẩu và sinh lí của cơ thể mới chỉ là tiền đề, là cơ sở vật chất tạo nên sự khác biệt về giới tính mà thôi Do đó có thể nói, giới tính của con người còn do các mối quan hệ chi phối [22, tr.32]
Xã hội ảnh hưởng đến giới tính con người ở nhiều mặt :
+ Xã hội quy định, đánh giá con người theo những phẩm chất đặc điểm, tư thế, tác phong riêng, phù hợp giới tính
Trang 25+ Xã hội quy định sự phân công lao động giữa nam và nữ khác nhau: người nam thường được đòi hỏi nhiều hơn ở những công việc khó khăn, nguy hiểm, nặng nhọc…
ở người nữ lại là những công việc cần sự khéo léo, nhẹ nhàng hơn…
+ Xã hội ảnh hưởng đến yếu tố có nguồn gốc sinh học: người nam thường được đòi hỏi phải cao lớn, khỏe mạnh, người nữ có thể nhỏ bé, “xinh xắn” hơn
+ Sự giáo dục của xã hội, của người lớn ảnh hưởng nhiều đến đặc điểm giới tính của con người Nếu một bé gái được nuôi dưỡng, giáo dục theo những điều kiện và môi trường của bé trai, bé gái đó dễ có những hành vi cư xử của bé trai, dễ có nhiều nam tính và ngược lại, đối với một bé trai cũng vậy
1.2.2 Giáo dục giới tính
1.2.2.1 Khái niệm giáo dục giới tính
GDGT là một lĩnh vực phức tạp Có nhiều định nghĩa khác nhau về GDGT, chẳng hạn như:
Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiến hành GDGT khi các em vào thời kì chín muồi giới tính Nhưng A V Petrovxki đã khẳng định “Quan niệm đó không đúng bởi
vì một loạt vấn đề liên quan đến GDGT phải được giải quyết ngay từ thời kì thơ ấu” [2] Gần đây, việc nghiên cứu về GDGT đã được xã hội quan tâm nhiều, và được tiến hành một cách hệ thống, khoa học Dần dần, vấn đề này đã được đánh giá đầy đủ, đúng đắn hơn Quan niệm về GDGT ngày càng hoàn thiện, cụ thể, rõ ràng
Theo A G Khrivcova, D V Kolexev, “GDGT là một trong quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với người khác” [22,tr 142]
Theo A V Petrovxki, “GDGT là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề giới tính” [22,tr 142]
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam về vấn đề GDGT thì : GDGT là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh dục , sinh sản , quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản, và các trách nhiệm, việc tránh thai và các khía cạnh của thái độ tình dục loài người [2,tr 137]
Trang 26Giáo sư Trần Trọng Thủy, Giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng GDGT có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức con người, “là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em” [22,tr 142]
Theo Giáo sư Phạm Hoàng Gia, GDGT phải được xem xét như là một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội Nó có mối liên hệ mật thiết với giáo dục dân số, kế hoạch hóa gia đình, hôn nhân – gia đình và với các mặt giáo dục khác trong nhà trường phổ thông Do vậy, cần phải tiến hành công tác GDGT một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tính chất hệ thống với các mặt giáo dục khác
Từ những quan niệm trên, có thể đi tới kết luận: “GDGT là quá trình giáo dục
con người (thanh thiếu niên), nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính, hướng hoạt động của họ và việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc xã hội phát triển” [22, tr.144]
1.2.2.2 Thời điểm giáo dục giới tính cho con người
Một vấn đề quan trọng đặt ra là nên GDGT cho con người vào thời điểm nào là hợp lí? Một số quan niệm cho rằng, chỉ nên GDGT khi các em đã trưởng thành Một
số khác lại đòi hỏi phải giáo dục cho con người khi bước vào tuổi dậy thì Tuy nhiên nhiều nhà khoa học đều thống nhất rằng, nên GDGT cho con người càng sớm càng tốt Giới tính xuất hiện từ rất sớm ở con người, bởi vậy để con người phát triển toàn diện và tốt đẹp, cũng cần GDGT từ rất sớm “GDGT thì có thể và cần phải bắt đầu càng sớm càng tốt, từ khi trẻ mới rời nhà hộ sinh” [17].Giáo sư Trần Trọng Thủy cũng
có quan điểm tương tự: Cũng như mọi lĩnh vực khác, GDGT phải được tiến hành ngay
từ những năm đầu tiên của cuộc đời con người (tất nhiên, ở mỗi lứa tuổi phải có nội dung và hình thức thích hợp).Tuy nhiên, đối với tuổi dậy thì, GDGT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vì các em đã bước sang thời kì phát dục và ở thời kì này, gia đình và nhà trường giúp đỡ các em được nhiều nhất [22, tr.145]
Trang 27Do hiện tượng “gia tốc” phát triển về lứa tuổi, do đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao và ổn định, sự phát triển của con người ngày càng nhanh và càng sớm hơn Ngày nay thậm chí ngay từ 10, 12 tuổi, có khi còn sớm hơn, nhiều em đã bắt đầu quan tâm đến một số vấn đề của đời sống tính dục, của quan hệ yêu đương thầm kín như người lớn Vì thế, trang bị kiến thức về giới tính cho các em là điều rất cần thiết Như vậy, GDGT phải được tiến hành càng sớm càng tốt Ở mỗi lứa tuổi nhất định, cần có những nội dung, chương trình, phương pháp thích hợp Tuy nhiên tùy theo điều kiện từng quốc gia, từng vùng, từng thời kì,…việc GDGT có thể bắt đầu ở những lứa tuổi khác nhau Trong tình hình và điều kiện nước ta hiện nay, có thể GDGT cho trẻ ngay từ độ tuổi mầm non
1.2.3 Một số vấn đề về mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc, nội dung, phương pháp GDGT đối với trẻ MG 5 – 6 tuổi
1.2.3.1 Mục đích của GDGT
Là hình thành ở trẻ em sự hiểu biết đúng đắn về bản chất của các tiêu chuẩn và tâm thế đạo đức trong các lĩnh vực, các mối quan hệ qua lại của hai giới, và nhu cầu hành động theo các tiêu chuẩn và tâm thế đó trong tất cả các lĩnh vực hoạt động
1.2.3.2 Nhiệm vụ của GDGT
Theo G.I Ghrraximovic và D V Kolexev [41, tr 191]., nhiệm vụ của GDGT là:
- Giáo dục niềm tin trong lĩnh vực các quan hệ thân thiết với người khác giới, con người không phải độc lập với xã hội, không thể hoàn toàn tách biệt các quan hệ giữa hai giới thành quan hệ xã hội Đồng thời còn phải giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội của con người đối với từng hành động của mình
- Giáo dục niềm mong muốn có một gia đình bền vững, khỏe mạnh thân ái, nhu cầu có con hợp lí, có ý thức và khả năng giáo dục con cái
- Giáo dục ý thức tôn trọng đối với những người khác, với những người nam giới
và nữ giới, giáo dục khả năng chú ý và tôn trọng những đặc thù và những mối quan tâm của cả 2 giới
- Giáo dục khả năng và ý muốn đánh giá các hành động của mình đối với những người khác, không phải chỉ với mọi người nói chung, mà đối với những người thuộc giới nhất định Có được khái niệm đâu là hành động tốt, đâu là hành động xấu trong
Trang 28lĩnh vực ấy
- Giáo dục thái độ trách nhiệm đối với sức khỏe của mình và đối với người khác
- Giáo dục quan niệm đúng đắn về sự trưởng thành cùng với nội dung và các dấu hiệu đích thực của nó (nhất là quan niệm về cách cư xử và đời sống tính dục)
Theo tác giả Nguyễn Thị Đoan [7], nhiệm vụ của GDGT bao gồm:
+ Giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội trong quan hệ giới tính con người
+ Giáo dục khả năng hiểu biết những đặc điểm giới tính trong quá trình hoạt động chung với bạ khác giới, biết tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau
+ Bồi dưỡng những hiểu biết về hanh vi tốt xấu, cái cho phép và cái không thể vượt qua trong quan hệ với người khác giới Biết tự đánh giá hành vi của mình trong quan hệ với người khác giới
+ Bồi dưỡng những hiểu biết đúng đắn về sự trưởng thành sinh lí của con người + Bồi dưỡng ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân và của người khác,
+ Bồi dưỡng tinh thần phê phán và thái độ không khoan nhượng đối với những tàn tích và quan điểm đạo đức phong kiến tư sản trong phạm trù giới tính
Như vậy, nhiệm vụ của GDGT bao gồm cả việc truyền thụ tri thức về giới tính,
về mối quan hệ nam nữ và các mối quan hệ khác (bản thân, gia đình, xã hội, ) và cả việc giáo dục những phẩm chất đạo đức, những hành vi cư xử với mọi người, nhất là làm trẻ biết được những hành vi tốt và xấu, đúng và sai trong quan hệ với người khác giới, những tri thức và quan niệm đúng đắn về đời sống giới tính con người Về vấn đề này tác giả Nguyễn Bích Ngọc viết trong Báo cáo khoa học tại đề án P09 hai nhiệm vụ
cơ bản của GDGT như sau:
- Phê phán, bác bỏ những nhận thức không đúng đắn về bản năng sinh dục, về quan hệ tình dục, về khuynh hướng “giải phóng tình dục”,…
- GDGT phải giúp con người hình thành được những tri thức, những quan niệm đúng đắn, khoa học, phù hợp, có tác dụng cho họ và xã hội
Tiếp thu có kế thừa những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy rằng: Có năm nhiệm vụ cơ bản trong GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
Trang 29+ Thứ nhất, giúp trẻ có một số hiểu biết nhất định về đặc điểm giới tính và có thiện cảm trong mối quan hệ của mình với những người khác trên cơ sở tính đến những đặc điểm giới tính của họ
+ Thứ hai, hình thành và giáo dục nhận biết ban đầu một số phẩm chất đạo đức giới tính
+ Thứ ba, là giáo dục trẻ nhận thức về giới tính và bước đầu biết tự đánh giá, phân biệt đúng sai, tốt xấu trong hành vi của mình trong quan hệ với bạn cùng giới và khác giới
+ Giáo dục thái độ và hành vi về giới, bình đẳng giới cho trẻ
+ Cuối cùng, nhiệm vụ GDGT là giáo dục cho trẻ ý thức giữ gìn, bảo vệ và rèn luyện sức khỏe của mình, trong đó có cơ quan sinh dục
1.2.3.3 Nội dung của GDGT
Theo Giáo sư G I Gheraximovic, nội dung GDGT có thể bao gồm các vấn đề:
- Các vấn đề liên quan đến thuộc tính về giới của trẻ, đến ý nghĩa của thuộc tính này đối với cá nhân và đối với xã hội
- Các vấn đề của gia đình và của các quan hệ trong gia đình, ý nghĩa của các vấn
đề đối với trẻ, cũng như đối với toàn xã hội
- Các vấn đề của trẻ ra đời và tính kế tục của các thế hệ
- Các vấn đề thuộc đạo đức giới tính
- Các vấn đề vệ sinh giới tính
Theo Giáo sư Trần Trọng Thủy nội dung của GDGT bao gồm những vấn đề tính dục, trong đó bao gồm cả sự biến đổi về đặc điểm tính dục trong các giai đoạn phát triển cơ thể và sự xử sự đối với nhau trong đời sống và gia đình, những tri thức và thái
độ chung của con người về các vấn đề đó [31]
Theo Lê Năng An “ Nội dung GDGT khá rộng, đề cập tới các vấn đề: Những đặc điểm của tuổi thơ, tuổi thanh niên, giới nam và giới nữ, để chuẩn bị cho cuộc sống gia đình, mối quan hệ giữa trẻ em và người lớn, giữa trẻ em với nhau, đặc điểm tâm lí của giới nam và nữ” [31]
Theo Chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT – BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào
Trang 30tạo đã đề cập đến mục tiêu giáo dục trẻ MG về “Phát triển nhận thức” và “Phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội” đã đưa ra nội dung: Trẻ khám phá bản thân và có ý thức
về bản thân
Ở nội dung “Phát triển nhận thức” đối với trẻ MG 5 – 6 tuổi có đề cập: Họ tên, ngày sinh, giới tính, đặc điểm bên ngoài, sở thích của bản thân và vị trí của trẻ trong gia đình
Ở nội dung “Phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội” đối với trẻ MG 5 – 6 tuổi có
đề cập: Tên, tuổi, giới tính
Hơn nữa ở kết quả mong đợi của chương trình này cũng đưa ra nội dung thể hiện đặc điểm phát triển nhận thức giới tính của trẻ 5 – 6 tuổi:
- Nói đúng họ, tên, ngày sinh, giới tính của bản thân khi được hỏi, trò chuyện
- Nói được họ tên, tuổi, giới tính của bản thân, tên bố, tên mẹ, địa chỉ nhà hoặc điện thoại
- Nói được mình có điểm gì giống và khác bạn (dáng vẻ bên ngoài, giới tính, sở thích, cá nhân)
- Đặc điểm, sở thích về giới tính của các bạn
- Điểm giống và khác nhau của mình với người khác
Theo bộ Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi (2010) cũng đã đưa ra nội dung cụ thể ở các chỉ số 27, 28, 29, 30 về GDGT cho trẻ [1]:
Chỉ số 27: Nói được một số thông tin quan trọng về bản thân và gia đình có liên quan đến giới tính
Chỉ số 28: Ứng xử phù hợp với giới tính của bản thân
Chỉ số 29: Nói được khả năng và sở thích riêng về giới tính của bản thân
Chỉ số 30: Đề xuất trò chơi và hoạt động thể hiện sở thích giới tính của bản thân Như vậy trong Chương trình giáo dục mầm non và Bộ chuẩn của trẻ 5 tuổi cũng
đã xác định mục tiêu và nội dung GDGT Thực hiện các chỉ số/ nội dung mang đến hiệu quả cho việc cung cấp kiến thức về các đối tượng cần GDGT
Các tác giả Nguyễn Khắc Viện, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Thị Đoan cho rằng có thể đưa ra những nội dung để GDGT cho trẻ MG như sau:
Trang 31- Giáo dục trẻ nhận thức đúng đắn về giới, bình đẳng giới, hình thành ở trẻ những thái độ tự nhiên đối với những dấu hiệu đặc trưng của giới ở bên ngoài
- Bước đầu giáo dục những đặc trưng “tính nam, tính nữ” cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
- Giáo dục trẻ ý thức giữ gìn sức khỏe bản thân, bảo vệ và rèn luyện thói quen giữ gìn vệ sinh cơ quan sinh dục
Tiếp thu có kế thừa những các quan điểm và tài liệu trên, người nghiên cứu đưa
ra 2 nội dung chính để hướng vào việc hình thành và phát triển cho trẻ MG 5 – 6 tuổi những kiến thức cơ bản về giới tính:
- Giáo dục trẻ nhận thức về giới tính của mình
- Giáo dục trẻ hành vi về giới tính, ý thức bảo vệ, giữ gìn vệ sinh thân thể, ứng
xử phù hợp với giới tính Đồng thời, giáo dục thái độ và hành vi phù hợp với bình đẳng giới cho trẻ
Như vậy, bằng nhiều hình thức khác nhau GVMN sẽ hướng tới việc giáo dục cho trẻ những kiến thức về giới tính cụ thể, góp phần hoàn thiện nhân cách sau này Tuy nhiên, không phải những nội dung GDGT đã kể ở trên là đủ giúp trẻ có tri thức tốt về giới tính và đủ ứng dụng cho cuộc sống sau này Mà đây chỉ là những nội dung cơ bản, phù hợp với lứa tuổi của trẻ
1.2.3.4 Nguyên tắc của GDGT
Việc GDGT cho trẻ MG là vấn đề quan trọng, cần thiết, tuy nhiên cũng là một lĩnh vực phức tạp và tế nhị Vì vậy, ngoài việc phải đảm bảo những nguyên tắc chung như: Tính khoa học, tính giáo dục, tính thực tiễn,… như các môn học khác, cần phải chú ý thêm những vấn đề sau đây:
- GDGT phải gắn liền với giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách GDGT phải gắn liền với việc giáo dục và hình thành nếp sống sinh hoạt lành mạnh, lối sống văn hóa văn minh Cần phải các định rõ, đó là một trong những mục tiêu cơ bản của GDGT
- GDGT phải thực hiện một cách toàn diện cả về sinh lí giới tính, tâm lí giới tính, thẫm mĩ giới tính,…Không nên chỉ tập trung vào những vấn đề sinh lí của trẻ mà xem nhẹ đặc điểm phát triển tâm lí xã hội giới tính
Trang 32- Phải kết hợp việc giảng dạy mang tính chân thật, tin cậy với việc hình thành thái độ đúng đắn Khi giáo dục các nội dung GDGT cần lồng ghép nhiều nội dung góp phần hình thành ý thức đạo đức và hành vi phù hợp với giới tính
- GDGT phải được thực hiện một cách phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi, với yêu cầu giáo dục đặc trưng, thích hợp với đối tượng, phù hợp với phong tục tập quán tại địa phương
1.2.3.5 Phương pháp GDGT cho trẻ MG:
GDGT cho trẻ nhỏ rất khác biệt so với GDGT cho người lớn Không nên giảng giải cho trẻ các khái niệm tâm lí giới tính hay đạo đức giới tính một cách khô cứng mà nên căn cứ vào các đặc điểm tâm sinh lí ở trẻ, kết hợp với các kiến thức về giới tính có liên quan đến hành vi thường ngày và sự phát triển của trẻ, cũng như những thắc mắc của trẻ về vấn đề giới tính để đưa ra phương pháp giáo dục hợp lí, giúp trẻ hình thành
quan niệm cơ bản về giới tính và ý thức bảo vệ giới tính Có thể nếu ra một số phương
pháp chủ yếu sau: Phương pháp sử dụng trò chơi, trò chuyện; phương pháp giải thích kết hợp với hỏi đáo gợi mở và tranh ảnh minh họa; phương pháp rèn luyện theo chế độ sinh hoạt; phương pháp tạo tình huống giáo dục; phương pháp thuyết phục bằng sự gương mẫu của người lớn
1.2.4 Vai trò của giáo dục giới tính với sự phát triển của trẻ MG 5 – 6 tuổi
1.2.4.1 GDGT tác động đến nhận thức về giới tính của trẻ MG 5 – 6 tuổi
Con người bình thường nào cũng có những nhu cầu nhất định về đời sống giới tính khi tới một độ tuổi nào đó Ngay từ lúc còn rât nhỏ, trẻ đã bắt đầu quan tâm đến các vấn đề giới tính, đó là kết quả của quá trình tự nhiên nhằm nhận thức thế giới xung quanh Nhu cầu khám phá bản thân, những đặc điểm mang tính cá nhân, hay những cách ứng xử, hành động sao cho phù hợp với giới tính lại càng cao Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cho rằng, GDGT có một ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục và phát triển nhân cách nói chung và trí tuệ của trẻ MG nói riêng GDGT chẳng những dạy cho trẻ trí thông minh, biết sẽ chia, sống tình cảm mà còn giáo dục cho trẻ tự tin vào bản thân, tính hài hước, tính tổ chức, tính kỉ luật, biết khẳng định mình…
Trang 33GDGT đáp ứng những nhu cầu về vấn đề giới tính, giúp cho trẻ có định hướng đúng đắn và phù hợp với đời sống giới tính và đời sống xã hội Việc trang bị cho trẻ những tri thức phù hợp, khoa học sẽ giúp trẻ phát triển nhân cách, thích ứng hơn với đời sống, chuẩn bị cho trẻ vào đời một cách vững chắc và tự tin
1.2.4.2 GDGT có vai trò quan trọng đối với bước đầu hình thành nhân cách toàn diện của trẻ MG 5 – 6 tuổi
Mục đích giáo dục của chúng ta hiện nay là đào tạo con người mới phát triển toàn diện Đó chính là con người có nhân cách phát triển về mọi mặt: đạo đức, tài năng, trí tuệ, có khả năng góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp, phát triển Nhưng chính những phẩm chất tốt đẹp của nhân cách, và sự đóng góp hiệu quả của con người đối với xã hội lại phụ thuộc vào đời sống giới tính của họ Nhiều phẩm chất nhân cách quan hệ mật thiết với giới tính, hoặc cũng chính là những đặc điểm của giới tính và ngược lại Theo Giáo sư Trần Trọng Thủy “tình yêu thực sự là điều kiện quan trọng nhất của sự nảy nở và phát triển nhân cách con người” Thật vậy, GDGT góp phần quan trọng làm nhân cách phát triển toàn diện Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, GDGT có tác dụng hình thành phẩm chất và cá tính của con người Lúc này trẻ chưa biết tự đánh giá, mà trẻ biết về mình qua nhận xét, đánh giá của người lớn trong gia đình và thầy cô giáo Nếu trong thời kì này, trẻ hình thành một số cá tính và hành vi không tốt, về sau rất khó sửa chữa
Trẻ MG 5– 6 tuổi là một trong những giai đoạn quan trọng trong việc hình thành tính cách cho trẻ Tính cách có vai trò cực kì quan trọng trong sự trưởng thành của mỗi người Một người nếu có phẩm chất và tính cách tốt thì sẽ gặp những điều may mắn, thuận lợi trong suốt cuộc đời; ngược lại, nếu một người có những tính cách không tốt, hoặc bị nhiễm những thói hư tật xấu thì chắc chắn sẽ gây ra những mối nguy hại khôn lường cho cuộc đời của người ấy [36, tr.49]
Quả thật, chúng ta không thể xem nhẹ vai trò của GDGT trong toàn bộ quá trình bồi dưỡng nên nhân tài như AX Macarenco đã từng đánh giá: “Nền tảng của giáo dục chủ yếu được xây dựng từ khi trước 5 tuổi, nó chiếm tới 90% chất lượng của cả quá trình giáo dục [42, tr.94]
Trang 34Từ sau 5 tuổi trở đi, tất nhiên vẫn phải giáo dục, con người sẽ trưởng thành thêm một bước để rồi đơm hoa, kết trái, nhưng bông hoa mà bạn dày công vun trồng thật sự
đã có nụ từ khi trước 5 tuổi” [10, tr.53] Trẻ MG 5 – 6 tuổi đang trong thời kì phát cảm ngôn ngữ Trẻ sẽ nói để thể hiện nhu cầu của mình cho người khác biết, và cũng sẽ học cách chăm sóc bản thân, ứng xử với mọi người sao cho phù hợp với giới tính của mình Và, thay vì trẻ lạc quan yêu đời, thấy thế giới như một nơi đáng sống (nếu người lớn trong quá trình chăm sóc hiểu được những tình huống về giới tính thực tế trong môi trường của trẻ và đồng cảm với trẻ) thì ngược lại, trẻ có nguy cơ "nhìn thế giới như một nơi đầy thù địch" với rất ít hi vọng vào sự trợ giúp bên ngoài Một lần nữa chúng ta thấy được tầm quan trọng của GDGT trong việc chăm sóc giáo dục trẻ
1.2.4.3 GDGT giúp trẻ thích ứng hơn với đời sống, chuẩn bị cho trẻ vào đời một cách vững chắc và tự tin
Xã hội xung quanh trẻ là một thế giới muôn màu muôn vẻ Là động lực cho trẻ liên tục tìm tòi, khám phá Và việc thực hiện GDGT thật tốt chính là góp phần cho trẻ hiểu hơn về thế giới xung quanh, đặc biệt là nhận thức về giới Trẻ nhận thức được bản thân, về giới tính của mình và người khác giúp trẻ có cơ hội thể hiện mình là một đứa trẻ bản lĩnh, và thích ứng được với xã hội Một đứa trẻ được quan tâm, GDGT kịp thời
sẽ biết đưa ra những hành động phù hợp với giới tính Bất kể nơi nào, khi trẻ ở trường học, hay ở nhà, hoặc khi tiếp xúc với xã hội bên ngoài thì việc trao đổi, ứng xử với người khác giới một cách chuẩn mực, có hành vi giới tính phù hợp sẽ là một công cụ
bổ trợ tuyệt vời Ngoài ra, GDGT giúp trẻ mạnh dạn tự tin thể hiện giới tính của mình, đồng thời phần nào đó cải thiện việc bất bình đẳng giới hiện nay Nó giúp trẻ hiểu được giá trị bản thân, trẻ sẽ hiểu việc mình nên làm và việc không nên làm Từ đó góp phần hoàn thiện nhân cách, và tạo nên một xã hội văn minh, văn hóa
1.3 Hoạt động vui chơi và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển của trẻ
1.3.1 Một số vấn đề cơ bản của hoạt động vui chơi
1.3.1.1 Khái niệm
HĐVC là một trong các loại hình hoạt động của trẻ ở trường mầm non, là hoạt động chủ đạo của trẻ MG được người lớn tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn
Trang 35các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này [33, tr.53]
Theo học thuyết của L.X Vwgotxki, A.N Leeonchep, D.V Enconhin, K.D Usinxki, P.Ph Lexgapht đều khẳng định vui chơi là phương tiện phát triển toàn diện cho đứa trẻ, trong vui chơi đứa trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội của người lớn một cách tự nhiên: hình thành những tình cảm, thị hiếu của trẻ, hình thành phong cách quan hệ và giao tiếp với bạn bè và với người lớn, công nhận khả năng và sự cần thiết phải có sự chỉ đạo của người lớn đối với trò chơi, vui chơi của trẻ [27, tr.42]
Đối với Việt Nam, một số nhà tâm lí học mà đại diện là PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết khẳng định khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội được
mô phỏng lại, tạo cơ hội cho trẻ được thực hành, thể hiện các hành vi, thái độ, ứng xử, mang sắc thái riêng của mỗi giới [27, tr.43]
1.3.1.2 Những đặc trưng cơ bản của HĐVC
Khác với các hoạt động khác, HĐVC có những đặc thù riêng Bởi vì, HĐVC không phải là hoạt động tạo ra sản phẩm và hành động chơi không buộc phải tuân theo một phương thức chặt chẽ [33]
Trẻ càng lớn lại nảy sinh càng nhiều mâu thuẫn giữa khả năng có hạn và nhu cầu ngày một nâng cao HĐVC giúp trẻ giải quyết được mâu thuẫn trên, vì vậy chơi là nhu cầu rất tự nhiên của trẻ Động cơ chơi nằm ngay trong quá trình chơi của trẻ Trong khi chơi trẻ thấy được sự hấp dẫn, lôi cuốn của trò chơi càng làm cho trẻ thích thú say sưa hơn với trò chơi Chơi chỉ với mục đích là để thỏa mãn nhu cầu chơi, hoàn toàn không có sự bắt buộc, gượng ép Chính vì thế, HĐVC mang tính tự nguyện rất cao
Tính kí hiệu, tượng trưng:
Trẻ có vốn kinh nghiệm càng phong phú thì càng sử dụng được nhiều ký hiệu tượng trưng phục vụ cho trò chơi một cách hiệu quả hơn Và trong quá trình chơi xuất hiện những tình huống cần sử dụng ký hiệu tượng trưng, đòi hỏi trẻ phải tưởng tượng sáng tạo và học hỏi được thêm kinh nghiệm từ trò chơi Cũng nhờ có trí tưởng tượng, sáng tạo ra những ký hiệu tượng trưng mà trẻ kéo gần khoảng cách giữa trò chơi và xã
Trang 36hội thực của người lớn, và cũng nhờ đó mà trẻ như có thể hòa vào cuộc sống người lớn rất tự nhiên
Tính tự do:
Tính tự do thể hiện rất rõ trong HĐVC vì GVMN không được áp đặt trẻ từ nội dung chơi, hình thức chơi, cách chơi, bạn chơi, vai chơi, mà tất cả đều giao quyền cho trẻ, trẻ tự nghĩ ra, tự điều khiển cuộc chơi và tự dừng khi hết hứng thú chơi
Giáo viên không được phép áp đặt ý muốn chủ quan của mình lên trẻ, không được can thiệp sâu vào ý đồ chơi của trẻ, không bắt buộc trẻ GVMN chỉ đóng vai trò gợi mở, hướng dẫn cho trẻ khi cần thiết và động viên khuyến khích trẻ để trẻ duy trì hứng thú chơi
Tính tích cực, giàu cảm xúc chân thực:
Một nhà giáo dục nào đó đã nói “trẻ em là những nhà thám hiểm bẩm sinh”, trẻ
em muốn biết tất cả về thế giới xung quanh vì thế các bé tích cực nhận thức, sự tích cực ấy thể hiện qua sự thôi thúc muốn tìm tòi, khám phá, nhận thức thế giới xung quanh bằng tất cả các giác quan của mình
Cảm xúc của trẻ thể hiện tích cực qua trò chơi, trẻ vui theo nhân vật, trẻ buồn theo nhân vật, trẻ sợ hãi hoặc vui mừng cũng theo nhân vật Cảm xúc ấy không thể giả tạo, khi chơi trẻ thật sự hòa mình vào nhân vật và sống cùng nhân vật
Tính tự lực, tự điều khiển:
Vì HĐVC mang tính tự nguyện cao nên trẻ càng phát huy được tính chủ động, tích cực của mình Từ đó dẫn đến nhiều ý tưởng mới, sáng kiến mới trong trò chơi Trẻ
có thể tự tổ chức và điều khiển trò chơi theo mong muốn của mình và của nhóm bạn
Sở dĩ tính tự lực của trẻ cao là vì trẻ đang thỏa mãn nhu cầu của chính mình chứ không phải làm việc cho người khác hay vì phải hoàn thành nhiệm vụ được giao
Bản chất xã hội sâu sắc:
Đó là nguồn gốc sâu xa của trò chơi Quá trình hình thành hoạt động chơi của trẻ diễn ra theo cơ chế kế thừa kinh nghiệm lịch sử xã hội với con đường giáo dục là căn bản Người lớn bằng phương pháp hướng dẫn đúng đắn có vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển hoạt động chơi của trẻ, đảm bảo phát huy vai trò giáo dục nhiều mặt của hoạt động chơi [33, tr.57]
Trang 37Nội dung, chủ đề của các trò chơi đều gắn liền với cuộc sống thường nhật của trẻ, phản ánh chân thực nhất những gì diễn ra trong cuộc sống và trẻ tái hiện lại nó dưới con mắt trẻ thơ vì vậy trong tất cả các trò chơi đều mang bản chất xã hội sâu sắc Trẻ đóng vai bà, mẹ, chị, bác sỹ, kỹ sư, đều là những mối quan hệ rất mật thiết với trẻ và
để lại cho trẻ không ít ấn tượng
Đặc biệt trong trò chơi giúp rèn luyện những hiểu biết cần thiết về giới tính cho trẻ như biết nguồn gốc sinh ra đời, biết ứng xử phù hợp với giới tính
Bộc lộ cái riêng của mình
Mỗi đứa trẻ lớn lên trong một môi trường khác nhau, mang những di truyền khác nhau và nhân cách cũng khác nhau Nên khi tham gia trò trẻ được tự do thể hiện bản tính riêng của mình Có trẻ mạnh mẽ, có trẻ nhút nhát, có trẻ thân thiện gần gũi nhưng
có trẻ lại rất xa cách, qua trò chơi giáo viên có thể tận dụng cơ hội này để quan sát mà nắm bắt được tính cách khác nhau về giới tính của mỗi bé từ đó có biện pháp giáo dục phù hợp hơn Giáo viên nên khuyến khích động viên trẻ hòa nhập vào nhóm chơi, đây cũng là cơ hội GDGT cho trẻ rất hữu ít
Tóm lại, HĐVC có những đặc trưng riêng và phù hợp với lứa tuổi MG nên nó đã hiển nhiên trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi đứa trẻ
1.3.1.3 Ý nghĩa của HĐVC đối với sự phát triển của trẻ
Như nhà giáo dục xô viết A.X.Macarencô đã khẳng định: “Trò chơi có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống trẻ em, có ý nghĩa như ý nghĩa của hoạt động, công tác và sự phục vụ của người lớn vậy Trong khi chơi trẻ như thế nào thì sau này, khi lớn lên, trong công tác, phần lớn trẻ sẽ như thế ấy Do đó, việc giáo dục những nhà hoạt động tương lai bắt đầu trước tiên từ trò chơi” [22, tr.119]
HĐVC là hoạt động chủ đạo của trẻ MG:
HĐVC giúp trẻ thể hiện được bản thân như tính độc lập và tập khẳng định “cái tôi” thông qua “xã hội trẻ em” Khi tham gia HĐVC trẻ thực sự là một chủ thể tích cực Trẻ có thể tạo ra các tình huống và giải quyết nó, trẻ có thể bày tỏ tình cảm của mình một cách tự nhiên nhất mà không bị lệ thuộc vào bất cứ yếu tố nào Các kỹ năng của trẻ được hình thành trong HĐVC và ngược lại các kỹ năng này giúp trẻ chơi tốt hơn Mặt khác, HĐVC trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ vì nó chi phối tất cả các
Trang 38hoạt động khác của trẻ, nó ảnh hưởng lớn đến các mặt phát triển của trẻ như nhận thức, tình cảm, kĩ năng xã hội, ngôn ngữ, là nền tảng của việc hình thành và phát triển nhân cách ở trẻ
HĐVC là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ:
Khi tham gia HĐVC, trẻ không những vận dụng những hiểu biết, những kỹ năng
đã có vào trò chơi mà những kiến thức, kỹ năng mới cũng sẽ được hình thành trong quá trình chơi Khi chơi trẻ xuất hiện mâu thuẫn giữa kiến thức và kỹ năng hiện có với yêu cầu mới của trò chơi Bởi thế muốn chơi tốt trẻ phải ra sức học hỏi những kiến thức mới và rèn luyện những kỹ năng mới Thông qua trò chơi, giúp trẻ hiểu sâu sắc về thế giới xung quanh, cũng cố, mở rộng và chính xác hóa các biểu tượng Từ đó, nảy sinh nhu cầu có tri thức mới, thúc đẩy phát triển các quá trình tâm lý nhận thức và tính tích cực, sáng tạo của trẻ ngày càng được nâng lên một cách tự nhiên Đây còn là điều kiện, phương tiện rèn luyện các giác quan
1.3.1.4 HĐVC đối với việc GDGT cho trẻ MG
- Động cơ của HĐVC nằm ngay trong quá trình chơi vì vậy GDGT qua HĐVC tức là tiến hành GDGT ngay trong quá trình hoạt động chơi của trẻ MG
- HĐVC là hoạt động mô phỏng cuộc sống của người lớn, khi chơi trẻ đồng thời
mô phỏng những đặc điểm giới tính nam hoặc nữ, trẻ bộc lộ hành vi thái độ, cách ứng
xử giao tiếp mang sắc thái giới tính
- HĐVC mang tính tự nguyện nên khi GDGT có thể đưa những nội dung rất đời thường, linh hoạt vào trò chơi của trẻ, giúp trẻ tự nhiên, thoải mái tiếp nhận các nội dung GDGT
- HĐVC là hoạt động độc lập và tự điều khiển, khi thực hiện các biện pháp GDGT qua HĐVC trẻ phải tự điều khiển hành vi của mình phù hợp với vai chơi, đúng đặc điểm giới tính của vai, nhưng không làm mất đi giới tính vốn có của trẻ
- HĐVC mang màu sắc xúc cảm chân thực mạnh mẽ, là cơ hội để giáo dục những đặc điểm giới tính mà trẻ yêu thích cho mình và cho bạn khác giới
Trang 391.3.2 GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua HĐVC
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ MG Tổ chức tốt HĐVC là con đường cơ bản tốt nhất để giáo dục và phát triển nhân cách cho trẻ, đặc biệt là GDGTcho trẻ MG
5 – 6 tuổi
HĐVC là một trong những phương tiện GDGT cho trẻ 5 – 6 tuổi, nó giúp mở rộng, củng cố chính xác hoá những biểu tượng của trẻ về giới tính Trong khi thực hiện các hành động chơi, thao tác chơi , trẻ nhận ra được đặc tính quen thuộc, kiến thức về giới tính, cũng là cơ hội để trẻ lĩnh hội hành vi theo giới tính Giáo viên mầm non (GVMN) có thể GDGT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua việc tổ chức HĐVC cho trẻ:
Trẻ MG 5 – 6 tuổi có rất nhiều thời gian để vui chơi và được vui chơi với nhiều loại trò chơi rất phong phú, đa dạng giúp trẻ phát triển toàn diện các năng lực chung của nhân cách HĐVC có thể chuyển tải nội dung GDGT cho trẻ bằng các hoạt động tìm hiểu nhận thức thế giới xung quanh và quá trình lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm, chuẩn mực đạo đức xã hội Trẻ 5 – 6 tuổi tham gia chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề công phu hơn trẻ ở độ tuổi trước Khi chơi, trẻ có chuẩn bị đạo cụ, dùng và diễn giải các kí hiệu, biểu tượng Đặc biệt trẻ 5 – 6 tuổi có thể tự lập kế hoạch vui chơi trước Trẻ chọn bạn bè tham gia chơi dựa trên tiêu chí cùng chung sở thích Trẻ được hình thành những tình cảm, những thị hiếu, hình thành phong cách quan hệ giao tiếp với bạn bè Trẻ có cái nhìn về bình đẳng giới nhẹ nhàng như việc bạn trai có thể tham gia công việc nhà như quét lớp, giặt quần áo Bạn gái mạnh mẽ, tự tin hơn trong giao tiếp.Từ đó hình thành và phát triển thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ,… bao gồm cả nhận thức giới tính và hành vi giới tính với những điểm mạnh riêng của mỗi giới Qua HĐVC trẻ học tâm lí cũng tức là học trở thành một người nam hay phụ nữ trong tương lai
Trò chơi đóng vai theo chủ đề
Nói đến HĐVC trước tiên phải nói đến trò chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề Ở đó mô tả lại xã hội người lớn với các mối quan hệ có giới nam và giới
nữ Biện pháp GDGT cho trẻ MG 5 – 6 tuổi qua HĐVC là biện pháp lồng ghép GDGT vào các trò chơi đóng vai theo chủ đề Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề tham gia chơi là trẻ MG 5 – 6 tuổi, chúng hóa thân vào các vai chơi Mỗi vai chơi đều có thể
Trang 40mang những đặc điểm phẩm chất nhân cách riêng hoặc chung trong đó bao gồm cả giới tính nam và nữ Trẻ hiểu được đặc điểm chung và cả những nét riêng của mỗi giới Thông qua các vai chơi, trẻ dễ dàng hướng tới cái đẹp trong hành hành vi của các bạn mình nhất, dễ tiếp thu cái đẹp trong quan hệ với các bạn Góp phần chỉnh sửa những suy nghĩ chưa đúng về giới và bình đẳng giới cho trẻ ngay từ nhỏ Như vậy vai chơi đã thực sự trở thành ”cầu nối ’’ giữa trẻ với các chuẩn mực giới tính, giúp cho quá trình hình thành nhận thức, hành vi, và cách ứng xử trong quan hệ giới tính giữa hai giới thêm tình cảm, thiện chí dễ dàng hơn Việc luân đổi vai chơi sẽ làm thay đổi vị thế, nội dung giao tiếp, giúp trẻ được trải nghiệm và thực hành nhiều đặc điểm giới tính của mình và của bạn khác giơi, trẻ dễ dàng hiểu mình, hiểu bạn và càng thêm tự tin, tự hào với giới tính của mình Trẻ biết đặc mình vào vị trí của người khác, từ đó trẻ biết tự điều chỉnh, bổ sung để dần dần hoàn thiện mình hơn
Sử dụng các trò chơi đóng vai theo chủ đề mang nội dung GDGT cho trẻ chơi chính là giúp trẻ tự tạo ra những tình huống mang sắc thái giới tính rất tự nhiên và dễ dàng tiếp thu nội dung GDGT
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại trò chơi trong đó trẻ đóng một vai chơi cụ thể để tái tạo lại những ấn tượng, những xúc cảm mà trẻ thu nhận được từ môi trường
xã hội của người lớn nhờ sự tham gia tích cực của trí tưởng tượng [33, tr 121]
Khi tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề, cô cho trẻ nhập vào các vai chơi: Ông bà, bố
mẹ, dì chú, chú thím, anh trai, chị gái, em trai em gái,…cho trẻ trải nghiệm những những vai chơi thông qua những giao tiếp, những ứng xử, những đồ dùng đồ chơi phù hợp với giới tính của mình Khi trải nghiệm các vai chơi trẻ nhận biết được giới tính của vai chơi mình đang đảm nhận, trẻ nhận biết được giới tính của các vai chơi khác từ đó trẻ biết lựa chọn đồ dùng đồ chơi phù hợp, có những hành động chơi phù hợp với giới tính của vai chơi đó và có những ứng xử phù hợp với những vai chơi khác Điều đó hình thành ở trẻ những biểu tượng rõ ràng về giới tính cho trẻ
Trò chơi xây dựng
Trò chơi xây dựng thuộc loại trò chơi sáng tạo Hoạt động của trẻ trong trò chơi này có nội dung chủ yếu là tạo ra các mô hình phỏng theo bề ngoài (hình dạng, cấu trúc, ) sự vật xung quanh và chơi với các mô hình ấy [33, tr.124]