Để đạt được kết quả này là do sự góp phần chủ yếu của các hình thức TCLTCN trên địa bàn tỉnh nhất là KCN.Bình Dương đã phát huy tốt thế mạnh của các hình thức TCLTCN, điều này manglại sứ
Trang 1NGUYỄN TRÍ
NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC
LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS PHẠM THỊ XUÂN THỌ
2 PGS.TS NGUYỄN MINH TUỆ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3dưới sự hướng dẫn khoa học của: TS Phạm Thị Xuân Thọ và PGS.TS NguyễnMinh Tuệ Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án có nguồn trích dẫn
rõ ràng, trung thực
Tác giả luận án
Nguyễn Trí
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 4 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
Tiểu kết chương 1
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 2
Chương 3 THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC TỒ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 3
Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 4
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5CCN Cụm công nghiệp
CNH – HĐH Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
CNSX & PP Công nghiệp sản xuất và phân phối
GTSXCN (GOCN) Giá trị sản xuất công nghiệp
KCN, KCX Khu công nghiệp, khu chế xuất
Trang 6MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
Tiểu kết chương 1
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 2
Chương 3 THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC TỒ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 3
Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 4
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
Tiểu kết chương 1
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 2
Chương 3 THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC TỒ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 3
Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tiểu kết chương 4
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Bản đồ định hướng phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương 159
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi ra đời CN là ngành giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, là độnglực to lớn trong quá trình CNH, HĐH đất nước, đóng góp lớn vào sự tăng trưởngkinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới Cùng với cơ cấu CN theo ngành, theothành phần kinh tế thì cơ cấu CN theo lãnh thổ hay còn gọi là TCLTCN có ý nghĩaquan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường thông quaviệc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực phát triển
Trong những năm gần đây ngành CN tỉnh Bình Dương luôn duy trì được mức
độ tăng trưởng cao, ổn định, GTSXCN tăng liên tục từ 89,2 nghìn tỷ đồng (giá hiệnhành) năm 2005 lên 277,8 nghìn tỷ đồng năm 2010 và 786,3 nghìn tỷ đồng năm
2016 Trong cơ cấu GTSXCN của cả nước năm 2016 tỉnh Bình Dương chiếm10,4% đứng thứ hai trong 63 tỉnh và thành phố (sau TP HCM) [73] Trong cơ cấuGDP của tỉnh Bình Dương thì ngành CN chiếm tỷ trọng cao nhất trên 60% năm
2016, tỷ lệ lao động làm việc trong ngành CN chiếm trên 60% [17] Bình Dương làđiểm sáng về phát triển ngành CN trong vùng KTTĐPN và cả nước, nằm trong tốpđầu những tỉnh có GTSXCN chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GTSXCN của cả nước
và trong cơ cấu GDP của tỉnh Có thể nói CN là ngành chủ lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế của tỉnh trong những năm qua và đang từng bước chuyển mình để trởthành trung tâm CN lớn và hiện đại
Ngành CN tỉnh Bình Dương ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớnvào gia tăng GTSXCN vùng KTTĐPN và cả nước Để đạt được kết quả này là do
sự góp phần chủ yếu của các hình thức TCLTCN trên địa bàn tỉnh nhất là KCN.Bình Dương đã phát huy tốt thế mạnh của các hình thức TCLTCN, điều này manglại sức bật mới cho sự phát triển KT - XH của tỉnh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng CNH, HĐH đổi mới kỹ thuật công nghệ, tạo môi trường cạnh tranh,kích thích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế phát triển
Trong thời gian qua các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương đã đạt đượcmột số thành tựu nhất định đặc biệt là các KCN đã tạo việc làm, nâng cao thu nhậpcho người lao động, đóng góp to lớn vào sự tăng trưởng GDP của tỉnh Góp phần
Trang 11thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh ngày càng mạnh mẽ, tích cực theohướng CNH, HĐH, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên sự phốihợp, liên kết để phát triển giữa các hình thức TCLTCN của tỉnh chưa cao, chưa pháthuy hết tiềm năng và đang còn bộc lộ một số hạn chế, vấn đề chất lượng lao độngđang làm việc trong các hình thức TCLTCN chưa cao, môi trường chưa thực sự
được đảm bảo Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở tỉnh Bình Dương” nhằm góp phần phát triển các hình thức
TCLTCN một cách khoa học, hiện đại, đạt hiệu quả cao về KT - XH và môi trường,thúc đẩy kinh tế tỉnh Bình Dương phát triển ngày càng giàu mạnh
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn về TCLTCN, phân tích thựctrạng phát triển, rút ra những thành tựu và thách thức của các hình thức TCLTCN ởtỉnh Bình Dương Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả các hình thứcTCLTCN về KT – XH, môi trường
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTCN trên thế giới và Việt Nam
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương
Trang 121909, của Alfred Marshall (Hoa Kỳ) năm 1920 Đây là những lý thuyết, công trìnhnghiên cứu có giá trị và ý nghĩa to lớn trong việc quản lý và phát triển lãnh thổ mộtcách hợp lý, hiệu quả.
Hướng nghiên cứu về xác định vị trí tối ưu cho các nhà máy, xí nghiệp trênlãnh thổ, tiêu biểu có công trình nghiên cứu của Alfred Weber (1868 - 1958) năm
1909 [88] và [91], với lý thuyết “khu vị luận CN” giải thích sự tập trung CN vàolãnh thổ do ba nguyên nhân: Thứ nhất chi phí vận tải rẻ nhất, thứ hai chi phí nhâncông rẻ nhất, thứ ba là nơi các xí nghiệp tập trung có thể sử dụng phế liệu làmnguyên liệu rẻ tiền, trên cơ sở mục tiêu chính là “tối thiểu hóa chi phí sản xuất vàtối đa hóa lợi nhuận” Trong ba nguyên nhân trên thì chi phí vận tải đầu vào và đầu
ra được xem có ý nghĩa quan trọng nhất vì đây là cơ sở để lựa chọn, bố trí địa điểmsản xuất Tùy vào tính chất của từng ngành sản xuất, từng doanh nghiệp mà việc xácđịnh vị trí phân bố công nghiệp phải linh hoạt Tuy nhiên việc định vị các doanh
Trang 13nghiệp phụ thuộc rất nhiều yếu tố, ngoài chi phí vận chuyển thì còn có yếu tố tựnhiên như khí hậu, địa hình và yếu tố KT-XH như các hoạt động tín dụng, vốn, lịch
sử chính trị xã hội Weber coi thành phố, các cửa vào ra là những "nút" nhữngtrọng điểm của lãnh thổ Thành phố là trung tâm thị trường, có sức hút lớn và lantỏa ra xung quanh, tạo thành các vành đai với chức năng khác nhau để phục vụ chotrung tâm Việc tập trung phát triển CN sẽ tăng tiềm lực kinh tế cho vùng hội tụ cóđược các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển Trong một không gian nhất định tậptrung được nhiều doanh nghiệp sẽ tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tiết kiệm, chia sẻchi phí đầu tư về hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tăng cường liên kết thực hiệnchuyên môn hóa sản xuất Bên cạnh đó lý thuyết này cũng chỉ ra những hạn chế khi
mà tập trung quá nhiều các doanh nghiệp trên một không gian hẹp sẽ gây nên sựcạnh tranh và chèn ép, công tác xử lý môi trường sẽ gặp khó khăn Lý thuyết củaAlfred Weber có giá trị cho đến ngày nay và được vận dụng trong việc lựa chọn cácvùng lãnh thổ trọng điểm cho phát triển, phù hợp với một nền kinh tế đang ở giaiđoạn đầu của quá trình phát triển CN, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam
Hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của điểm trung tâm đối với các vùng xungquanh, tiêu biểu có công trình nghiên cứu của W Christaller là một nhà địa lýngười Đức đã đưa ra lý thuyết “điểm trung tâm” vào năm 1933 [96] Lý thuyếtnày được hoàn thiện trên những ý tưởng và mô hình của G Thunen và Alfred.Weber W Christaller đã góp phần to lớn vào việc tìm kiếm quy luật của sự pháttriển đô thị theo không gian Ông cho rằng, khu vực nông thôn chịu ảnh hưởng rấtlớn từ các thành phố Thành phố như những cực hút, hạt nhân của sự phát triển.Thành phố là trung tâm cho tất cả các điểm dân cư khác của vùng, là đối tượng đểthu hút đầu tư có trọng điểm Theo lý thuyết này trong quy luật phân bố không giancần phải xác định được sự tương quan giữa thành phố và vùng xung quanh, định vịđược các nút trọng điểm ở những lãnh thổ khác nhau Lý thuyết này chính là cơ sở
để bố trí các điểm đô thị có khả năng phát triển thông qua lực hút từ trung tâm Lýthuyết “điểm trung tâm” của W Christaller sau đó được phát triển bởi AugustLosch (người Đức) đã chỉ ra được quy luật chung của sự phát triển lãnh thổ là việc
Trang 14hình thành và phát triển những trung tâm nơi hội tụ điều kiện thuận lợi nhất cho
sự phát triển có sức hút và lan toả không gian vùng xung quanh rất lớn Các điểmtrung tâm ấy chính là các đô thị Lý thuyết này cho đến ngày nay vẫn còn nhiềugiá trị thực tiễn, đặc biệt trong mối quan hệ 2 chiều giữa CNH với đô thị hóa.Điều này được thể hiện rõ nét hơn khi nghiên cứu địa bàn tỉnh Bình Dương, chínhquá trình ĐTH là hạt nhân để phát triển CN, tạo nên các trung tâm CN và ngượclại CN phát triển tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cần thiết tạo sức hút cho
sự phát triển các đô thị Tuy nhiên nếu trên một lãnh thổ các yếu tố về địa hình,dân số, tài nguyên, sức mua, chi phí vận chuyển đồng đều nhau thì việc vận dụng
lý thuyết này sẽ không khả thi
Nghiên cứu về các cực phát triển, cực tăng trưởng tiêu biểu có lý thuyết củanhà bác học người Pháp Francoi Perroux (1903 - 1987) [theo 90] đã đưa ra lý thuyết
“cực phát triển” vào năm 1950 Ông quan niệm các đô thị chính là các “cực” pháttriển Hệ thống các cực phát triển tương tác với nhau, có sức lan toả ra xung quanhrất lớn Trong các đô thị thì ngành CN và DV có vai trò to lớn trong việc tạo ra cáccực phát triển Trên phạm vi một lãnh thổ trong một thời gian nhất định thì sẽ xuấthiện những địa điểm (cực) phát triển tới mức hoàn chỉnh và những cực đang trongquá trình phát triển hoặc chưa phát triển, nghĩa là một vùng lãnh thổ không thể pháttriển kinh tế đồng đều ở các nơi trên lãnh thổ trong cùng một thời gian, mà có xuhướng phát triển mạnh nhất ở một vài nơi này, trong khi nơi khác lại chậm pháttriển hoặc trì trệ Francoi Perroux cũng đã định nghĩa về “cực phát triển” và “cựctăng trưởng” Cực phát triển là khu vực có một hoạt động động lực và các hoạt độngkhác xoay quanh nó, có tác động lôi cuốn các khu vực xung quanh, tương đối hoànthiện và khá ổn định về chức năng và quy mô
Cực tăng trưởng là khu vực mà hoạt động của nó chịu ảnh hưởng thúc đẩy từbên ngoài của một cực phát triển, các hoạt động của nó diễn ra mạnh mẽ, chịu ảnhhưởng của các lực hút từ trung tâm lan tỏa ra, vì thế cực tăng trưởng là vệ tinh củacực phát triển, các cực tăng trưởng đang trong quá trình hoàn thiện về chức năng,quy mô Lý thuyết này phù hợp với những quốc gia, những vùng thiếu vốn đầu tư vìvậy trong quá trình phát triển cần đầu tư có trọng điểm để tạo ra các cực tăng
Trang 15trưởng Lý thuyết này được áp dụng rộng rãi ở các nước châu Á, nhất là các nướcĐông Nam Á, giải thích sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hướng pháttriển có trọng điểm.
Khoa học địa lý phát triển ngày càng mạnh mẽ đặc biệt vào những thập niên
60 của thế kỷ XX, tổ chức lãnh thổ trở thành một bộ môn cơ bản, được xem như là
lý thuyết và phương pháp quy hoạch lãnh thổ toàn diện, tổng thể KT – XH Tác giả
Y.U.G Xauskin trong cuốn sách “Những vấn đề địa lý kinh tế hiện nay trên thế giới” đã đề cấp đến TCLT với nội dung chính là phân công lao đông theo lãnh thổ,
tổ chức xã hội theo lãnh thổ và những vấn đề phân vùng kinh tế liên quan đến phát
triển của lãnh thổ [Y.U.G Xauskin – Phạm Văn Thái dịch (2010), những vấn đề địa lý kinh tế hiện nay trên thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội]
Tiêu biểu cho những xu hướng mới trong nghiên cứu tổ chức lãnh thổ thờihiện đại gồm J.R Friedman, Paul Robin Krugman J.R Friedman với hướngnghiên cứu tập trung vào chính sách phát triển vùng và quy hoạch không gian lãnh
thổ với những công trình nổi tiếng như: The prospect of cities (2002), Cities for citizens: Planning and the rise of civil society in a global age (1998), territory and Function (1979) Đô thị hóa và những tác động của nó đến sự phát triển KT – XH
của lãnh thổ là những nội dung được ông đề cập trong những cuốn sách này [92].Paul Robin Krugman là nhà kinh tế học người Mỹ, với những nghiên cứu nổitiếng, đóng góp lớn vào kho tàng lý luận phát triển kinh tế quốc tế trong thời đạimới, vấn đề chính sách phát triển không gian lãnh thổ được ông dành thời gian quan
tâm nghiên cứu như cuốn sách: The spatial economy: Cities, rigions and international trade; Economic Geography and Pulic Policy [97].
Những hình thức TCLTCN cụ thể như KCN, CCN cũng đã trở thành đối tượngnghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các nhà hoạch định chiến lược phát triển kinh
tế trên những phạm vi lãnh thổ khác nhau KCN là một hình thức TCLT rất quantrọng đối với sự phát triển ngành CN của nhiều quốc gia trên thế giới, được pháttriển mạnh trong nửa sau thập niên của thế kỷ XX, KCN là hình thức thu hút mạnh
mẽ nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đã có nhiều hướng nghiên cứu về tác động củaKCN như tác động của KCN đến môi trường của Liu, Hwa-Jen [93] cho rằng sựu
Trang 16phát triển nhanh của các KCN đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường,nghiên cứu về tác động xã hội của KCN như Wu Jiaping trong [98] cho rằng sựhình thành các KCN gây ra những áp lực lớn về giáo dục, vấn đề giải tỏa, sinh kếcho người dân mất đất, các vấn đề nhà ở, nhà trọ chất lượng thấp của công nhânthuê ở, tệ nạn xã hội
Trong thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX hàng loạt các quốc gia đã thành lập cácKCN, điển hình là những quốc gia ở Châu Á với nhiều tên gọi khác nhau và một sốnước đã có những thành công nhất định trong việc phát triển các KCN, KCX, khukinh tế cửa khẩu như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài loan, Thái Lan, Singapore cácKCN có vai trò to lớn trong, tích cực đối với sự phát triển kinh tế của các nước này,tuy nhiên quan niệm về KCN giữa các nước chưa có sự đồng nhất
Trong khi ở Hàn Quốc tập trung chú ý thành lập các KCN tập trung, thì TrungQuốc [35], nổi bật là thành lập các mô hình khu kinh tế mở, khu phát triển côngnghệ cao, KCX, các đặc khu kinh tế lớn ven biển như ở Thâm Quyến, Sán Đầu, ChuHải, Hạ Môn, Hải Nam Thực hiện phát triển theo mô hình KCN Hương Trấn (thuhút các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia đầu tư), cùng với chính sách tăng cường
mở cửa với thị trường bên ngoài, cho phép các công ty, doanh nghiệp nước ngoàitham gia đầu tư, quản lý tại các đặc khu kinh tế, đặc khu chế xuất nên số lượng cácCCN, KCN tăng nhanh Nhờ thành công trong thu hút vốn đầu tư FDI ở TrungQuốc đã làm cho khối lượng nhiều sản phẩm CN của Trung Quốc đứng hàng đầuthế giới Tuy nhiên nhiều CCN, KCN ở miền Đông Nam của Trung Quốc (QuảngĐông, Chiết Giang) đang đối mặt với nhiều thách thức và gây ra ảnh hưởng hưởnglớn đến môi trường
Ở Đài Loan, kế hoạch xây dựng các KCN – KCX được triển khai từ năm 1966(với KCX Cao Hùng), ngày nay đã có hơn 100 KCN đi vào hoạt động đã đóng gópnhiều thành quả quan trọng vào sự phát triển kinh tế của đất nước Bên cạnh cácKCN quan trọng nhất do Trung ương quản lý còn có các KCN do chính quyền địaphương và tư nhân quản lý, hầu hết các huyện đều có KCN Với những chính sáchthông thoáng, có những ưu tiên nhất định như hỗ trợ, miễn giảm thuế, gia tăng thờihạn nộp thuế, áp dụng chính sách một cửa cho các doanh nghiệp… Đài Loan đã
Trang 17nhanh chóng trở thành một trong những “con rồng” châu Á chỉ sau 3 thập kỷ thựchiện CNH, với nhiều kinh nghiệm quý báu như: Phải có sự phối hợp hiệu quả giữacác KCN quốc gia với các KCN địa phương quản lý, tập trung phát triển các ngành
kỹ thuật cao có khả năng cạnh tranh trên thị trường, ổn định phát triển CNCB ở địaphương để đẩy nhanh quá trình CNH ở nông thôn, tập trung phát triển cơ sở hạ tầngđồng bộ và hiện đại…[26]
Ở Malaysia việc xây dựng và phát triển các KCN được bắt đầu từ năm 1970,việc phát triển CN được chính phủ cho phép mở ra nhiều khu thương mại tự do cóchính sách ưu đãi đặc biệt với đầu tư nước ngoài (thời gian thuê đất dài hạn có thể
từ 50 năm đến 100 năm) Phát triển nhiều doanh nghiệp chế xuất nằm ngoài KCX
để tăng nguồn hàng nhập khẩu, tận dụng hết tiềm năng Có chính sách hỗ trợ vốntích cực từ phía nhà nước cho các KCN Chú ý đầu tư phát triển các dịch vụ xã hộinhư nhà ở, trường học, khu thương nghiệp, khu vui chơi giải trí… [30]
Ở Thái Lan bắt đầu xây dựng các KCN vào những năm 70 thế kỷ XX, cácKCN đã nhanh chóng giúp Thái Lan thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH đấtnước Các KCN tập trung phát triển chủ yếu ở Băng Kốc và tạo ra các vành đaixung quanh để tận dụng các lợi thế của nhau về thị trường, nguyên liệu, lao động…Chính phủ Thái Lan đã có những hỗ trợ, ưu đãi (như thuế nhập khẩu thiết bị máymóc có nơi được miễn 50%, có nơi được miễn hoàn toàn) đối với các vành đaikhác nhau làm sao để kích thích được sự phát triển CN giữa các vành đai, thực hiện
cơ chế quản lý một cửa đều tập trung vào cục quản lý các KCN Thái Lan vì thế cácthủ tục pháp lý diễn ra nhanh chóng, tiện lợi cho nhà đầu tư Chú ý quản lý môitrường hết sức chặt chẽ, bằng pháp luật và bằng kinh tế Doanh nghiệp phải chitrả chi phí cho quá trình xử lý chất thải [30] Nhìn chung mỗi quốc gia đều có nữngchính sách phát triển KCN theo hướng riêng phù hợp với tình hình thực tiễn củamỗi nước, nhưng nhìn chung là đều tập trung thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu
tư của các doanh nghiệp Các KCN sẽ hình thành và phát triển khi hội tụ đượcnhiều điều kiện thuận lợi như dư địa xây dựng và vị trí phân bố KCN, giá thuê đấthấp dẫn, hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn thiện đồng bộ tính kết nối cao, sự hỗ trợcủa chính quyền địa phương liên quan đến các thủ tục pháp lý, thuế…
Trang 18Về CCN có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là Alfred Marshall (1880
- 1959) [94], là người đầu tiên giới thiệu khái niệm về quận công nghiệp (Industrial
District) trong cuốn sách “Principles of Economics” (Các nguyên tắc kinh tế học) của ông ra đời năm 1920, đã cho rằng các quận đều có những lợi thế riêng bao
gồm vô số công ty SME (Small and Medium Enterprise - doanh nghiệp vừa và nhỏ)cùng ngành tập trung sản xuất tại một địa bàn Alfred Marshall đã vận dụng giảithích cho các cụm doanh nghiệp SME tại nước Anh Sự hoạt động của các công tycho phép phát triển mạnh mẽ những thế mạnh nổi bật của địa phương, trong đó mộthoặc một số công ty (thường là công ty lớn) đóng vai trò là trục của nền kinh tế khuvực Các nhà cung ứng và các công ty có liên quan nằm xung quanh trục giống như
là nan hoa của một bánh xe Đây chính là mối quan hệ thứ bậc, các công ty xung
quanh do các công ty trục chi phối “Principles of Economics”của Alfred Marshall
có trị rất lớn đã tạo tiền đề cho việc nghiên cứu các hình thức TCLTCN sau này, đặcbiệt là CCN
Becattini G (1990), “ The marshallian Industrial districts as a Economic notion ” in F.Pyke et al., Industrial districts and inter – firm Coper ation in Italy Trên cơ sở sử dụng khái niệm quận công nghiệp của Alfred Marshall để mô tả
Socio-sự phát triển thịnh vượng của doanh nghiệp SME tại các thị trấn, quận công nghiệp
ở Tuscany, thuộc nước Ý năm 1990 [89] Ông đã cung cấp cách nhìn tổng quan vàlàm rõ hơn khái niệm “quận công nghiệp” mà Alfred Marshall đưa ra trước đó Vềmặt bản chất quận công nghiệp là một địa bàn phát triển CN trên lãnh thổ được hìnhthành do sự tăng trưởng ngành CN
Giáo sư Michael E Porter – Đại học Havard (Mỹ), trong cuốn sách “The Competitive Advantage of Nations” tạm dịch “lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”
(1990), ông đã đưa ra khái niệm về CCN (Industrial cluster): “Cụm công nghiệp là
sự tập trung địa bàn của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệpliện kết cũng như các tổ chức có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như cáctrường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại ) trong một lĩnh vực cụ thể,vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau” [95] Porter vận dụng những cơ sở lý luậncạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế Các yếu tố có thể
Trang 19quyết định của các ngành sản xuất là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện
về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp.Vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ đóng vai trò rất quan trọng Vấn đề lợi thếcạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quảtrong cụm ngành là những vấn đề quyết định đến sự thành công của ngành sản xuất.Khái niệm về CCN của Porter được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu của các họcgiả sau này
Như vậy trên thế giới việc nghiên cứu và phát triển các lý thuyết kinh tế,nghiên cứu sự phát triển ngành CN và tổ chức lãnh thổ CN với các hình thức cụ thể
đã diễn ra từ lâu, các nội dung nghiên cứu rất đa dạng, phong phú dựa trên nhiềuquan điểm và khía cạnh khác nhau gắn với địa bàn nghiên cứu cụ thể Đây là nhữnghướng nghiên cứu cơ bản, có giá trị nhất định trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể; xácđịnh được quy luật khách quan về sự phân bố và phát triển các hình thức sản xuấttrên lãnh thổ Mỗi lý thuyết, công trình nghiên cứu đề cập những khía cạnh khácnhau nhưng nhìn chung đều hướng tới việc khai thác lãnh thổ một cách hợp lý khoahọc và có hiệu quả
Tuy nhiên trong thời hiện đại thì TCLTCN mang nhiều đặc trưng mới, trong
đó nhân tố quan trọng thể hiện được quy luật phát triển từ trình độ thấp lên trình độcao, cái cũ sẽ bị cái mới thay thế và loại bỏ dần diễn ra trong hầu hết các ngành sảnxuất CN đó chính là sự phát triển nhanh của trình độ khoa học kỹ thuật và tiến bộcông nghệ Nhận thức được điều này các nước đang phát triển trong quá trình CNH,HĐH cần phải có những chính sách thông thoáng, mở cửa để thu hút đón nhận cáclàn sóng đầu tư, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đào tạo nguồn nhânlực chất lượng cao đến từ các nước tiên tiến trên thế giới Các lý thuyết, các côngtrình nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để tác giả tham khảo vận dụng vào việcđánh giá các điều kiện, phân tích thực trạng TCLTCN cho địa bàn nghiên cứu
4.2 Trong nước
Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX ở nước ta việc nghiên cứu TCLTCN đãthu hút được nhiều nhà khoa học quan tâm Theo thời gian đã có nhiều công trình
Trang 20nghiên cứu lớn, có giá trị của các nhà khoa học, nhà hoạch định chiến lược pháttriển
Năm 1994, Viện Chiến lược và Phát triển Việt Nam thuộc Bộ Kế hoạch vàĐầu tư đã đưa ra 6 hình thức TCLTCN ở nước ta bao gồm: ĐCN, CCN, KCN,TTCN, vùng CN [6] Đây là cơ sở khoa học quan trọng quy định khá cụ thể về cáchình thức TCLTCN của nước ta
Các quy định về KCN, KCX của nước ta đã ra đời như: “Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 về quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao” cũng
như những nghị định bổ sung sửa đổi vào năm 2008, năm 2013 của Chính phủ nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã làm căn cứ cho sự ra đời và hoạt động,quản lý và phát triển của các KCN [19]
Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 về việc ban hành quy chếquản lý cụm công nghiệp, đã trình bày rất rõ về các từ ngữ CCN, các ngành nghềsản xuất kinh doanh, quy hoạch, mở rộng, thành lập, bổ sung CCN
Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về KCN, KCX và khukinh tế của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [17]
Nghị định 164/2013/NĐ/CP ngày 12/11/2013 đã sửa đổi bổ sung một số quyđịnh về KCN, KCX, khu kinh tế tại nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, đểnhằm khắc phục một số vướng mắc, khó khăn để các KCN phát triển hiệu quả hơn Nghị định 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 về quản lý, phát triển cụm côngnghiệp Nghị định này đã quy định rất rõ liên quan đến các lĩnh vực, ngành, nghề,
cơ sở sản xuất, kinh doanh được khuyến khích đầu tư, di dời vào cụm công nghiệp,trình tự đầu tư, quy hoạch, mở rộng các CCN ở nước ta
Các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ KT - XH, điển hình như công
trình của GS Lê Bá Thảo với đề tài độc lập trọng điểm cấp nhà nước năm 1994 “Tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm” và năm 1996 “cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ Việt Nam” [52] Các công trình đã phân tích sâu sắc
thực trạng phân bố không gian CN của Việt Nam theo thời gian, làm rõ được sự hợp
lý và bất hợp lý, yêu cầu điều kiện và khả năng TCLTCN, dự báo khả năng pháttriển một số ngành CN chủ đạo của Việt Nam trong thời gian tới, phác họa một sơ
Trang 21đồ khối trong TCLTCN, vấn đề lựa chọn sử dụng các nguồn lực một cách kỹ lưỡng
để phát triển hướng chuyên môn hóa cho từng địa phương Công trình của GS Lê
Bá Thảo đã có ý nghĩa hết sức to lớn cả về lý luận và thực tiễn, là cơ sở khoa họcđối với quy hoạch, phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN ở các địa phương
cụ thể, đặt nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo về TCLTCN
Từ năm 2000 đến nay các hình thức TCLTCN đã được nghiên cứu dưới góc
độ lý thuyết gắn liền với thực tiễn của vùng và địa phương cụ thể, tiêu biểu là cáccông trình nghiên cứu của các tác giả sau đây:
“Tổ chức lãnh thổ CN Việt Nam” năm 2000 của GS.TS Lê Thông và PGS.TS
Nguyễn Minh Tuệ [53], trong công trình này các tác giả đã trình bày rất cụ thể và hệthống về TCLTCN, làm rõ được các đặc điểm của các hình thức TCLTCN, đề cậptới thực trạng phát triển KCN ở Việt Nam, một hình thức quan trọng trong thời kỳCNH – HĐH
Báo cáo tổng hợp “Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam” của TS Trần Du Lịch, PGS TS Đặng Văn Phan
và các thành viên vào tháng 4/2004, trong đó đã phân tích được hiện trạng chuyểndịch cơ cấu kinh tế, làm rõ được lợi thế so sánh giữa các địa phương vùngKTTĐPN, các hạn chế chủ yếu của vùng và đưa ra định hướng phát triển của vùngtrong thời gian tới, sự phát triển các KCN, KCX của vùng đã được phân tích làm rõ
Hội thảo Khoa học tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội Việt Nam “Nghệ thuật để đảm bảo đất nước phát triển thành công trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của Viện
chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2007 [6] Qua hội thảo ý kiếncủa nhiều chuyên gia được đưa ra để bàn luận và đúc rút có ý nghĩa quan trọng về lýluận và thực tiễn trong bức tranh TCLTCN ở nước ta Kỷ yếu Hội nghị hội thảo
quốc gia “20 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế ở Việt Nam” năm 2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư [7], đã trình bày được
những thành tựu, hạn chế khó khăn của các KCN, KCX, khu kinh tế ở nước ta, trên
cơ sở đó đề xuất quan điểm, định hướng phát triển KCN, KCX, KKT trong giaiđoạn tới một cách bền vững về mặt KT - XH, môi trường
Các hướng nghiên cứu về hiện trạng phát triển các KCN có Ngô Thế Bắc
Trang 22“KCX, KCN ở Việt Nam hiện nay” [5], “Phát triển KCN, KCX những vấn đề đặt ra” của Vũ Anh Tuấn [75] Hướng nghiên cứu liên quan đến giải pháp phát triển
KCN ở Việt Nam thông qua kinh nghiệm của một số nước như của Trần Hồng Kỳ
(2008).“Phát triển các KCN, KCX gắn với việc hình thành và phát triển các đô thị công nghiệp, kinh nghiệm một số nước châu Á và vận dụng vào Việt Nam”, “Các khu công nghiệp, khu chế xuất Việt Nam – Hiệu quả hoạt động và xu hướng phát triển" của Lê Thị Hường (2004), đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh
Hướng nghiên cứu liên quan đến đánh giá các KCN có “Các tiêu chí đánh giá
sự phát triển bền vững KCN Việt Nam” của Lê Thế Giới [28] và của Lê Thị Hường [34] Liên quan đến tác động xã hội của KCN có Nguyễn Bình Giang [29] đề cập
đến vấn đề việc làm, hướng giải quyết, nhà ở của người lao động
Vùng KTTĐ phía Nam có một số quy hoạch như: “Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” của Thủ Tướng Chính phủ ngày 13/2/2014 [62] Quy hoạch phát triển CN Vùng Đông Nam Bộ đến năm 2020 được phê duyệt theo QĐ số 3582/QĐ-BCT ngày 3/6/2013 của Bộ Công Thương [11] Đây là
cơ sở quan trọng để tác giả so sánh, đối chiếu trong phân tích thực trạng và địnhhướng phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương
Ngoài ra còn có các công trình quan trọng khác liên quan đến TCLTCN nước
ta, có thể kể đến như: “Tổ chức lãnh thổ” của Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng
2002 [42], “Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam trong thời kì hội nhập” của Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng 2006 [43], “Hiện trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả các khu CN Việt Nam thời kì CN hóa và hiện đại hóa” của Phạm Xuân Hậu năm 2006 [30], “Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam” của Lê Thông, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ năm 2012 [60], “Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam” của Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức năm 2012 [56] Qua các công trình nghiên cứu tác
giả đã kế thừa, vận dụng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về các hình thứcTCLTCN để có cơ sở phân tích, tổng hợp các hình thức TCLTCN ở địa bàn nghiêncứu
Trang 23Các luận án tiến sĩ địa lý học đã bảo vệ theo hướng TCLTCN đã đề cập đếnvấn đề về TCLTCN, TCLT kinh tế và các hình thức TCLTCN trong đó chú ý đến
hình thức KCN, KCX, TTCN “Tổ chức lãnh thổ CN Nghệ An” của Lương Thị
Thành Vinh năm 2011 đã làm rõ được thực trạng phát triển, phân bố và định hướng
phát triển các hình thức TCLTCN tỉnh Nghệ An [86], “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ
CN ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Hoàng Công Dũng năm 2012 đã đánh giá thực
trạng phát triển, chuyển dịch cơ cấu CN TP Hồ Chí Minh, đề xuất định hướng phát
triển CN theo công viên CN [22], “Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ CN ở tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Thị Thịnh năm 2014 đã làm rõ thực trạng phát triển,
phân bố và đề xuất các giải pháp phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN ởtỉnh Phú Thọ [58]
Ở tỉnh Bình Dương nơi có nền kinh tế phát triển năng động, đã và đang diễn
ra quá trình CNH, HĐH tốp đầu cả nước Vì vậy vấn đề TCLT, TCLTCN đangđược quan tâm nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là:
- “Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu” của tác giả Vũ Đức
Thành sở văn hóa thông tin Bình Dương (chủ biên) năm 1999 Đề tài đã khái quátđôi nét về điều kiện tự nhiên – xã hội, kết cấu hạ tầng, khẳng định sự vươn lêncủa CN trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
- “Thực trạng và giải pháp chiến lược phát triển KCN tỉnh Bình Dương”
luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Sơn Khanh năm 2000 Đề tài phân tích thựctrạng phát triển các KCN Bình Dương, tổng kết những thành tựu và hạn chế củacác KCN, trên cơ sở đó tác giả đưa ra những giải pháp thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ hơn các KCN tỉnh Bình Dương
- “Tác động của nguồn vốn đầu tư đến phát triển CN tỉnh Bình Dương” luận
văn thạc sĩ của tác giả Trần Ngọc Linh năm 2005 Đề tài đã phân tích, đánh giáđược thực trạng của việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư cho phát triển CN Đưa ranhững giải pháp tích cực nhằm thu hút vốn đầu tư vào phát triển CN
- “Quá trình hình thành và phát triển các KCN và tác động của nó đến
sự phân bố nguồn lao động tỉnh Bình Dương” luận văn thạc sĩ Vương Minh Hùng
Trang 24năm 2002 Luận văn đã làm rõ được những ưu điểm và hạn chế của tỉnh BìnhDương về về sự hình thành và phát triển các KCN, tác động của các KCN tới sựphân bố dân cư và lao động của tỉnh Bình Dương, đưa ra một số giải pháp nângcao hiệu quả hoạt động của các KCN, phát triển nguồn lao động của tỉnh.
- Ngoài ra còn có các báo cáo, điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
và phát triển CN của tỉnh Bình Dương như: “Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020, bổ sung quy hoạch đến năm 2025” của Thủ tướng Chính phủ [69], “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương đến năm 2020, bổ sung đến năm 2025” của UBND tỉnh Bình Dương [82], “Phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2020” [45], kỷ yếu 20 năm hình thành – hội nhập và phát triển 1995 – 2015 của Ban Quản lý các KCN Bình Dương năm 2015 [3].
Dựa trên các kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu đề tài đã kế thừa
hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn quý giá về TCLTCN và các hình thức TCLTCN
để vận dụng nghiên cứu cụ thể vào tỉnh Bình Dương
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Lãnh thổ KT XH tỉnh Bình Dương là một hệ thống con trong hệ thống KT
-XH của cả nước Hệ thống lãnh thổ tỉnh Bình Dương lại do nhiều phân hệ con nhỏhơn tạo thành như các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế Các phân hệ này có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, có tác động, ảnh hưởng đến các yếu tố trong toàn hệthống và giữa các hệ thống với nhau Việc nghiên cứu các hình thức TCLTCN củatỉnh Bình Dương không thể tách rời vấn đề CN và các hình thức TCLTCN ở cáctỉnh vùng KTTĐPN và cả nước Do vậy, để nghiên cứu các hình thức TCLTCN tỉnhBình Dương thì cần xem xét chúng trong mối quan hệ tác động qua lại giữa cácthành phần trong toàn hệ thống tự nhiên, KT - XH của tỉnh và mối tương quan với
sự phát triển của vùng và cả nước trong sự vận động và phát triển không ngừng
Trang 25Do vậy, cần phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cáchình thức TCLTCN để đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy sự pháttriển của các hình thức TCLTCN một cách hiệu quả nhất.
5.1.3 Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng địa lý đều có nguồn gốc phát sinh và quá trình pháttriển riêng của nó Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh vào việc nghiên cứu cáchình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương sẽ cho thấy lịch sử hình thành cũng nhưnhững chuyển biến về tình hình phát triển các hình thức TCLTCN trong từng giaiđoạn lịch sử cụ thể
5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của đời sống đều tác động đến môi trườngsinh thái CN là ngành ảnh hưởng lớn nhất đến môi trường Khí thải CN, nước thải,rác thải đã làm ô nhiễm môi trường, đồng thời việc sử dụng tài nguyên thiên nhiênkhông hợp lý đang làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững, trong quá trình phát triển CN thựchiện phương châm phát triển sản xuất đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng phảibảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu các thế
hệ trong tương lai Điều đó có nghĩa là sự phát triển các hình thức TCLTCN trên địabàn tỉnh phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững, phải hài hòa, hợp
lý với sự phát triển KT- XH chung của toàn tỉnh, tránh không để tình trạng gây ônhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người
Trang 26
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu
Việc thu thập tài liệu, số liệu để nghiên cứu là yêu cầu khách quan, là phươngpháp được sử dụng đầu tiên để tiếp cận vấn đề nghiên cứu [1] Phương pháp nàyđược tiến hành với các bước cụ thể như sau: Bước 1: Xác định đối tượng và các nộidung để thu thập nguồn tài liệu theo mục tiêu của đề tài Bước 2: Tiến hành thu thậptài liệu từ các nguồn thống kê có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy Bước 3:
Xử lý phân tích và tổng hợp tài liệu trên cơ sở nguồn tài liệu đã thu thập từ các cơquan ban ngành của tỉnh Bình Dương, vùng KTTĐPN, các Bộ, ban, ngành… Tácgiả tiến hành tính toán xử lý, phân tích, tổng hợp bằng nhiều hình thức khác nhau đểđánh giá các nguồn lực phát triển, hiện trạng phát triển của các hình thức TCLTCN
ở địa bàn nghiên cứu
5.2.3 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Tác giả tiến hành phân tích, so sánh đối chiếu các số liệu thống kê để thấyđược hiện trạng sự phát triển của các hình thức TCLTCN và sự khác biệt về cáchình thức TCLTCN giữa địa phương trong tỉnh hay so sánh với vùng KTTĐPN và
cả nước
Dựa trên cơ sở các nguồn tư liệu thu thập được, tác giả đã xử lý, sắp xếp, phânloại và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TCLTCN Phân tích rút ra những thuậnlợi và khó khăn của các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương Phân tích những tácđộng tích cực và tiêu cực của các hình thức TCLTCN, từ đó đưa ra định hướng mới
Trang 27TCLTCN tỉnh Bình Dương Đồng thời, tác giả cũng sử dụng các số liệu của các cơquan ban ngành trong cả nước, của vùng KTTĐPN về thống kê KT – XH vàTCLTCN để phân tích, so sánh với TCLTCN tỉnh Bình Dương.
5.2.4 Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp cần thiết đối với nghiên cứu để có thể xác định được mức
độ tin cậy của các tài liệu, số liệu đã có, xác định được thực tế phân bố và phát triểncác hình thức TCLTCN Thu thập những hình ảnh, số liệu thông qua quan sát thựctiễn và có thể đưa ra những kiến nghị có cơ sở khoa học
5.2.5 Phương pháp điều tra xã hội học
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm xác định thêm độ tin cậy của các nhậnxét đánh giá trong đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề cơ sở hạ tầng, môi trườngKCN, đời sống người lao động, trình độ người lao động… các doanh nghiệp của 3KCN (KCN VISIP 1, KCN Mỹ Phước 1, KCN An Tây) trên địa bàn tỉnh BìnhDương Đối tượng điều tra là các doanh nghiệp (điều tra liên quan đến mức độ đápứng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, chính sách của các cấp quản lý, lao động củaKCN và vấn đề môi trường của KCN), người lao động trong các KCN (điều tra cácvấn đề liên quan đến trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động củađịa phương hay đến từ tỉnh hay TP khác Các vấn đề liên quan đến thu nhập và thựchiện các chế độ, chính sách của doanh nghiệp cho người lao động theo quy định củapháp luật, các phúc lợi xã hội dành cho người lao động, đời sống của người laođộng và mức độ hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp sử dụng laođộng), các hộ dân sống xung quanh có KCN hoạt động (chủ yếu điều tra về tácđộng của KCN hoạt động đến các vấn đề như giải quyết việc làm, nâng cao thunhập, cải thiện mức sống, tình hình an ninh trật tự xã hội, bảo vệ môi trường đếncác hộ dân xung quanh KCN) Đề tài chọn TX Thuận An và TX Bến Cát làm địabàn điều tra (đây là hai địa bàn có số lượng KCN hoạt động nhiều so với các địa bàn
khác trong tỉnh) Số mẫu điều tra được thể hiện ở phụ lục 3.17 tổng hợp các phiếu
khảo sát 3 KCN
Trang 285.2.6 Phương pháp thang điểm tổng hợp
Đề tài sử dụng phương pháp thang điểm để đánh giá xếp bậc sự phát triển củacác CCN, KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo trọng số của các tiêu chí đượcchọn, trên cơ sở đó sẽ phân thành các CCN, KCN ở mức độ lớn, trung bình và nhỏ.Điểm cao nhất của mỗi tiêu chí chưa tính trọng số là 3 điểm và điểm thấp nhất là 1điểm (trong đó các KCN, CCN đạt 3 điểm/tiêu chí = mức độ lớn, đạt 2 điểm/tiêu chí
= mức độ trung bình, đạt 1 điểm/tiêu chí = mức độ nhỏ) (phụ lục 3.8 và 3.15) Mỗi
tiêu chí đều có trọng số cụ thể, các tiêu chí quan trọng hơn có trọng số cao hơn, caonhất là trọng số 3, kế đến trọng số 2, thấp nhất là trọng số 1 Tổng số điểm cao nhất
đã tính trọng số của CCN là 41 điểm thấp nhất là 17 điểm, của KCN cao nhất là 45điểm thấp nhất là 17 điểm Tiêu chí môi trường KCN tác giả cho điểm theo cácmức: 3 điểm = mức tốt, 2 điểm = mức khá, 1 điểm = mức trung bình Việc xác địnhcác trọng số này chỉ mang tính tương đối dựa vào nhận định của tác giả và thamkhảo ý kiến của các chuyên gia Việc phân các KCN, CCN thành các bậc lớn, trungbình, nhỏ thì dựa vào tổng điểm các tiêu chí đánh giá KCN, CCN sau khi đã tínhtrọng số và được trình bày cụ thể trong phần phân loại KCN, CCN
5.2.7 Phương pháp bản đồ, GIS
Đây là phương pháp quan trọng, mọi công trình địa lý đều bắt đầu và kết thúcbằng bản đồ Sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu nội dung nghiêncứu sẽ trực quan hơn và toàn diện hơn Trong đề tài hệ thống số liệu cập nhật sẽđược xây dựng thành những biểu đồ, bản đồ chuyên đề phản ánh rõ thực trạng củacác hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương Trong luận án tác giả sẽ thành lập bản đồhành chính tỉnh Bình Dương, bản đồ các nhân tố ảnh hưởng đến các hình thứcTCLTCN tỉnh Bình Dương, bản đồ hiện trạng phát triển CN tỉnh Bình Dương, bản
đồ TCLTCN tỉnh Bình Dương, bản đồ định hướng sự phát triển và phân bố các hìnhthức TCLTCN tỉnh Bình Dương
5.2.8 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được tác giả sử dụng để xin ý kiến đóng góp của các chuyêngia, các nhà khoa học để có cái nhìn đa chiều về các hình thức TCLTCN ở tỉnh BìnhDương nhằm thực hiện được các nội dung nghiên cứu của đề tài Trong nghiên cứu
Trang 29về các hình thức TCLTCN Bình Dương, tác giả đã tham khảo ý kiến của các chuyêngia về cơ sở lý luận TCLTCN, các hình thức TCLTCN, các giải pháp phát triển phân
bố các hình thức TCLTCN của các nhà quản lý như: Sở Công thương tỉnh BìnhDương, Ban quản lý các KCN tỉnh Bình Dương, các nhà khoa học chuyên ngànhĐịa lý KT - XH của trường Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm TP HCM
5.2.9 Phương pháp dự báo
Trên cơ sở phân tích hiện trạng phát triển các hình thức TCLTCN ở BìnhDương, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, phân bố các hình thức TCLTCNBình Dương, cũng như những khó khăn tồn tại và những chủ trương chính sáchđịnh hướng thúc đẩy sự phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN của tỉnh, tácgiả đưa ra những dự báo trên cơ sở kế thừa một cách có chọn lọc từ quy hoạchchung của vùng KTTĐPN, quy hoạch của tỉnh Bình Dương về sự phát triển và phân
bố các hình thức TCLTCN đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
6 Những đóng góp chủ yếu của luận án
- Đúc kết, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTCN để vận dụng vàođịa bàn tỉnh Bình Dương
- Lựa chọn các tiêu chí đánh giá các hình thức TCLTCN ở trên địa bàn tỉnhBình Dương
- Làm sáng tỏ những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến sựhình thành và phát triển của các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương
- Làm rõ được thực trạng phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN ở tỉnhBình Dương, trong đó đi sâu vào KCN
- Đề xuất các giải pháp để phát triển có hiệu quả và bền vững các hình thứcTCLTCN
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTCN
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến các hình thức TCLTCN ở tỉnh BìnhDương
Chương 3: Thực trạng các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương
Trang 30Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả các hình thức TCLTCN ở tỉnh BìnhDương
Trang 31Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm
Công nghiệp
“CN là một tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm nhất địnhthông qua quy trình công nghệ để tạo ra sản phẩm” [dẫn theo 60]
“Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng
hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến, chế tác, chế phẩm" cho nhu cầu
tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo cho cuộc sống loài ngườitrong sinh hoạt Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúcđẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”
[https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p].
Theo tác giả, công nghiệp được hiểu là ngành sản xuất ra của cải vật chất cóquy mô lớn nhằm phục vụ cho sự phát triển của toàn xã hội, gắn với sự phát triểncủa các hình thái xã hội, có những đặc điểm riêng và áp dụng các quy trình côngnghệ để tạo ra sản phẩm
Sản phẩm công nghiệp và giá trị sản xuất công nghiệp
Sản phẩm công nghiệp là chỉ tiêu phản ánh kết quả trực tiếp của hoạt động sản
xuất công nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định, bao gồm các sản phẩm vật chất
và sản phẩm dịch vụ công nghiệp [dẫn theo 72]
Sản phẩm vật chất công nghiệp là sản phẩm CN được tạo ra do tác động của
công cụ lao động lên đối tượng lao động làm thay đổi hình thái ban đầu của nguyên,vật liệu để tạo ra sản phẩm có giá trị sử dụng mới hoặc sản phẩm được khai thác từ
các mỏ Sản phẩm vật chất công nghiệp gồm: Chính phẩm là những sản phẩm vật
chất CN sản xuất ra đạt quy cách và phẩm chất đúng tiêu chuẩn kỹ thuật quy định,
thứ phẩm là những sản phẩm vật chất CN sản xuất ra chưa đạt đủ tiêu chuẩn kỹ
thuật quy định về quy cách và phẩm chất nhưng vẫn có giá trị sử dụng và được tiêu
thụ (thị trường chấp nhận), phụ phẩm còn gọi là sản phẩm song song là những sản
Trang 32phẩm vật chất được tạo ra trong quá trình sản xuất CN cùng với sản phẩm chính[dẫn theo 72].
Sản phẩm dịch vụ công nghiệp là loại sản phẩm CN biểu hiện dưới hình thức
gia công hoặc làm tăng thêm giá trị sử dụng của sản phẩm CN nhưng không làmthay đổi hình thái giá trị sử dụng ban đầu của sản phẩm [dẫn theo 72]
Giá trị sản xuất công nghiệp là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị của sản phẩm
ngành công nghiệp từ các cơ sở sản xuất công nghiệp được tính theo giá thực tếhoặc giá so sánh, gồm giá trị sản xuất của các ngành: công nghiệp khai khoáng;công nghiệp chế biến; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nướcnóng, hơi nước và điều hòa không khí; công nghiệp cung cấp nước, quản lý và xử lýrác thải, nước thải [72]
Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm:
- Doanh thu công nghiệp (doanh thu bán sản phẩm, dịch vụ công nghiệp, bánphế liệu, phế phẩm và doanh thu cho thuê máy móc, thiết bị có kèm theo người điềukhiển) [dẫn theo 72]
- Chênh lệch cuối kỳ, đầu kỳ thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, sản phẩm dởdang [dẫn theo 72]
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP- Index of Industrial Production)
Chỉ số sản xuất CN là chỉ tiêu dùng để đánh giá tốc độ phát triển sản xuấtngành CN hàng tháng, quý, năm Chỉ số được tính dựa trên khối lượng sản phẩmsản xuất, nên còn được gọi là “chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp”, đây là chỉtiêu quan trọng phản ánh nhanh tình hình phát triển toàn ngành CN nói chung và tốc
độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm nói riêng Chỉ số sản xuất
CN là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất CN tạo ra trong thời kỳ hiện tại vớikhối lượng sản xuất CN kỳ gốc Chỉ số sản xuất CN có thể tính với nhiều kỳ gốckhác nhau, ở nước ta hiện nay thường chọn kỳ gốc so sánh là cùng kỳ năm trước vàkỳ trước liền kề [dẫn theo 17]
Cơ cấu công nghiệp
Trước hết cơ cấu là nội dung được các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực quantâm vì cơ cấu gắn liền với tính hệ thống, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
Trang 33nền kinh tế Phân tích nền kinh tế thực chất là phân tích cơ cấu của nền kinh tế cóthuận lợi để thúc đẩy nền kinh tế hoạt động hiệu quả hay không, có đáp ứng đượcyêu cầu của sự phát triển xã hội hay không Một nền công nghiệp được đánh giá làphát triển khi nó có một cơ cấu cân đối và hợp lý Vì vậy trước khi đưa ra quanniệm cơ cấu CN thì cần làm rõ thuật ngữ cơ cấu kinh tế Theo từ điển Bách khoa
Việt Nam thì “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Có các loại cơ cấu kinh tế khác nhau:
cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật mà trước hết cơ cấu công - nông nghiệp là quan trọng nhất” [32].
Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng hợp lý là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong quá trình CNH,HĐH đất nước, sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ngược lại Cơ cấungành kinh tế biến đổi sâu sắc sẽ kéo theo sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo vùng
Cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơcấu ngành Cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế được diễn ra trên từng lãnhthổ nhất định Vì vậy cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần kinh tế và theolãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, có sự biến đổi theo thờigian trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng nhất vì phản ánh được trình
độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Cơ cấu công nghiệp là một trong những lĩnh vực của cơ cấu ngành kinh tếnằm trong cơ cấu nền kinh tế, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế toàn cầu cũngnhư đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về cơcấu công nghiệp, nhưng phần lớn đều thống nhất cơ cấu công nghiệp được hiểu làtổng thể các bộ phận, lĩnh vực hợp thành ngành CN Các bộ phận, lĩnh vực trongtổng thể có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau được biểu hiện ở cácquan hệ tỷ lệ về số lượng, chất lượng theo không gian, phù hợp với những điều kiệnKT-XH nhất định và gắn liền với một giai đoạn nhất định Các bộ phận hợp thành
cơ cấu CN gồm cơ cấu CN theo ngành, theo thành phần kinh tế và theo lãnh thổ,
Trang 34trong đó cơ cấu CN theo ngành là bộ phận cơ bản nhất của cơ cấu CN, bởi vì cơ cấutheo thành phần kinh tế chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu, gồm nhiều thành phầnkinh tế hoạt động sản xuất theo những ngành CN cụ thể Cả cơ cấu CN theo ngành
và theo thành phần kinh tế đều cần phải có địa bàn (lãnh thổ) cụ thể để hoạt độngsản xuất (cơ cấu theo lãnh thổ) Vì vậy cơ cấu CN theo ngành, theo thành phần kinh
tế và theo lãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về cơ cấu CN, tác giả luận án cho rằng: Cơ cấu ngành công nghiệp là tổng thể các bộ phận, các lĩnh vực ngành nghề cấu thành
hệ thống ngành CN và mối quan hệ tương tác giữa chúng, được biểu hiện qua tỷ lệ về mặt lượng và chất của các bộ phận, lĩnh vực tham gia sản xuất trên cơ sở các nguồn lực để tạo ra của cải vật chất ở từng giai đoạn nhất định nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển xã hội.
Bản chất của tổ chức lãnh thổ chính là tìm ra phương án hợp lý nhất để trongquá trình phát triển của các ngành, lĩnh vực theo cùng hướng và liên hệ mật thiết vớinhau tạo ra tính nhất quán cần thiết Các hoạt động kinh tế phải nhằm đạt được hiệuquả KT - XH cao và có được sự phát triển bền vững cho lãnh thổ và cho cả hệ thốnglớn hơn Tổ chức lãnh thổ phải xác định được giới hạn sức chứa, mối quan hệ giữacác ngành sản xuất, trong các lãnh thổ và giữa các lãnh thổ với nhau Các đối tượngtrong lãnh thổ nếu được sắp xếp, bố trí hài hòa và có trật tự nhất định thì lãnh thổ đó
sẽ phát triển mang lại hiệu quả cao [31]
Trang 35Tổ chức lãnh thổ kinh tế
Tổ chức lãnh thổ kinh tế được hiểu là việc tổ chức các hoạt động kinh tế theolãnh thổ Tổ chức lãnh thổ kinh tế là nội dung cụ thể của một chính sách kinh tếphát triển theo lãnh thổ dài hạn, trong đó con người hoặc các tổ chức kinh tế có tưcách pháp nhân làm chủ thể các hoạt động kinh tế Đối tượng của các hoạt độngkinh tế là sản xuất kinh doanh để tạo ra các sản phẩm và các hoạt động làm thay đổigiá trị của sản phẩm và các dịch vụ cho xã hội [42]
Ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây việc quy hoạch và tổ chức lãnh thổ
là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng, các vùng lớn chính là các địa bàn lãnhthổ để nghiên cứu, mỗi vùng là bộ phận của lãnh thổ hoàn chỉnh trong phạm vi mộtquốc gia, trong lãnh thổ vấn đề được chú trọng quan tâm đó là phân công lao độngtheo lãnh thổ, sự phân bố các lực lượng sản xuất, mối quan hệ giữa các đối tượng,việc cải tạo sử dụng các nguồn lực trong lãnh thổ
Ở các nước phương Tây có nền CN phát triển thì tổ chức lãnh thổ là xác địnhđược các điểm, các cực của lãnh thổ có khả năng phát triển để lan tỏa, lôi kéo cácđiểm, các vùng xung quanh và những vùng kém phát triển…
Ở các nước đang trong quá trình thực hiện CNH, HĐH quan tâm trước tiên tớinhững địa bàn, những vùng trọng điểm… Sẽ phát huy lợi thế để phát triển sớm, cókhả năng ảnh hưởng lớn và lôi kéo lan tỏa để các vùng khác trong đó có các vùngkém phát triển
Ở Việt Nam, theo Ngô Doãn Vịnh (2005), tổ chức không gian KT - XH là sựsắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm
sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên lao động, vị trí địa lý kinh tế,chính trị và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả KT
- XH cao và nâng cao mức sống, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ[87]
TCLT kinh tế không phải là hiện tượng bất biến mà là chịu sự chi phối của quyluật tự nhiên và quy luật xã hội Những phương án tổ chức lãnh thổ kinh tế đều docon người hoạch định trên cơ sở khoa học có tổ chức, phù hợp với điều kiện thực tế
Trang 36của lãnh thổ đó để đưa ra được những phương án kiến thiết có lợi nhất phù hợp vớicác mục tiêu phát triển KT - XH
Như vậy, theo tác giả thì: Tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp và phối hợp các ngành kinh tế có mối liên hệ qua lại ảnh hưởng lẫn nhau, chịu sự tác động của các yếu tố tự nhiên và yếu tố KT – XH, trong đó chú ý tới các cực, các nút, các điểm
có mối quan hệ, lan tỏa liên ngành và liên vùng, nhằm sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả KT - XH cao và phát triển bền vững của lãnh thổ đó.
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp
TCLTCN là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theolãnh thổ TCLTCN được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa học và thực tiễn.Trên thế giới, có nhiều quan điểm, nhiều lý thuyết về phát triển và tổ chứckhông gian (tổ chức lãnh thổ) CN Thuật ngữ “tổ chức không gian” được nhiềunước phát triển như ở Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng khá phổ biếnvào những năm 60 của thế kỷ XX TCLTCN được xem là hệ thống các mối liên kếtkhông gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở sửdụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực, đạt hiệu quả cao về KT – XH, môi trường
Ở nước ta, hầu hết các nhà khoa học đều khá thống nhất: TCLTCN được nhìn nhận là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ trên cơ sở sử dụng hợp lý nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về các mặt KT - XH, môi trường
[76]
Cơ sở của TCLTCN là do sự phân công lao động theo lãnh thổ, TCLTCNchính là tổ chức, bố trí hợp lý các hoạt động sản xuất trên lãnh thổ gồm định vị cáchình thức TCLTCN trên cơ sở các lợi thế so sánh, phù hợp của từng lãnh thổ trong
hệ thống quy hoạch chung để đạt hiệu quả cao về KT - XH và môi trường
1.1.2 Các hình thức TCLTCN vận dụng ở Việt Nam và cấp tỉnh
Không gian CN được tạo nên bởi sự tập trung các cơ sở sản xuất CN trên mộtlãnh thổ nhất định, trên cơ sở ảnh hưởng của các nguồn lực không gian CN sẽ tạothành bức tranh CN thông qua các hình thức TCLTCN như ĐCN, CCN, KCN,TTCN, vùng CN
Trang 371.1.2.1 Các hình thức TCLTCN cấp quốc gia
Bức tranh các hình thức TCLTCN ở nước ta rất đa dạng với các cấp phân vị
khác nhau, có các quan niệm khác nhau về các hình thức TCLTCN Trong thời kỳ
CNH - HĐH, trong quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH và CN dưới góc độ địa
lý học các nhà nghiên cứu đã đưa ra có các hình thức TCLTCN cơ bản sau đây:CCN, KCN, TTCN, vùng CN
- Cụm CN, theo quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý CCN thì: “Cụm công nghiệp là
khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranhgiới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếunhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các
cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do Ủy ban nhândân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhândân cấp tỉnh) quyết định thành lập” [66]
CCN là một lãnh thổ có ranh giới ước lệ, được xác định bởi văn bản pháp lý
và có kế hoạch thành lập, có quy mô nhỏ hơn KCN và được bố trí một số cơ sở CNthuần túy CCN thường gắn với lãnh thổ cấp huyện (thị xã) hoặc liên huyện, là hạt
nhân để thực hiện CNH, HĐH nông thôn cấp huyện CCN gồm một vài xí nghiệp,
mối quan hệ giữa các xí nghiệp thường đơn giản, thiếu chặt chẽ và không có banquản lý riêng Quy mô các CCN không quá 50 ha, trường hợp cần thiết phải mởrộng diện tích cũng không quá 75 ha
- Khu CN, theo nghị định số 34/CP ngày 24 tháng 4 năm 1999 của Chính phủ:
“KCN là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng CN và thựchiện các dịch vụ cho sản xuất CN, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cưsinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập TrongKCN có thể có doanh nghiệp chế xuất” [19] Vì vậy có thể hiểu KCN là nơi tậptrung các hoạt động CN tương đối lớn gồm nhiều xí nghiệp CN, chuyên sản xuấthàng CN và thực hiện những dịch vụ sản xuất CN, có những liên kết kinh tế - kỹthuật với nhau, thống nhất sử dụng cơ sở hạ tầng và xử lý chất thải, được hưởng
Trang 38những quy chế ưu đãi riêng, không có dân cư sinh sống, phân bố ở những địa bàn
có vị trí địa lý thuận lợi và có phân cấp quản lý rõ ràng
- Khu chế xuất là chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho
sản xuất hàng hoá xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu có ranh giới địa lý xác định, doChính phủ quyết định thành lập tại những địa bàn có vị trí thuận tiện cho xuất khẩu
và sản xuất hàng xuất khẩu
- Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kỹ thuật
cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm: Nghiên cứutriển khai khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa
lý xác định, do Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trongkhu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất
- Trung tâm CN, là hình thức TCLTCN ở trình độ cao, gắn liền với các đô thị
vừa và lớn Mỗi trung tâm CN có thể gồm các KCN, CCN hoặc một nhóm xínghiệp CN thuộc nhiều ngành CN khác nhau, trong đó có một hay một vài xínghiệp hạt nhân hay xí nghiệp nòng cốt quyết định hướng chuyên môn hóa, có sứcthu hút các lãnh thổ lân cận Các xí nghiệp nòng cốt này được hình thành trên cơ sởnhững lợi thế về vị trí địa lý, nguồn lao động tài nguyên là cơ sở để hình thànhTTCN Các xí nghiệp trong TTCN có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về kỹ thuật sảnxuất, kinh tế và quy trình công nghệ Trong TTCN song song với các xí nghiệp hạtnhân nòng cốt thì còn có các xí nghiệp bổ trợ, phục vụ cung cấp nguyên liệu, tiêuthụ sản phẩm, sữa chữa máy móc, thiết bị, cung cấp lương thực thực phẩm, hàngtiêu dùng cho nhu cầu của dân cư Các TTCN rất đa dạng, được phân loại bởi cáctiêu chí như vai trò của TTCN, GTSXCN của TTCN, tính chất chuyên môn hóa củaTTCN
- Vùng CN, đây là hình thức TCLTCN cao nhất ở nước ta Vùng CN là một
khu vực tương đối rộng lớn trên phạm vi nhiều tỉnh, thành phố có các điều kiệnthuận lợi về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng, các yếu tố kinh tế xã hội, nguồn nhân lực,
có khả năng bố trí tập trung CN cao, động lực chính để thúc đẩy và kéo theo sự pháttriển kinh tế của cả vùng và lan rộng ra cả nước Ở nước ta, Bộ Công nghiệp (nay là
Bộ Công thương) đã phân ra 6 vùng CN (vùng 1: Trung Du và Miền núi Bắc Bộ trừ
Trang 39tỉnh Quảng Ninh; vùng 2: Đồng bằng Sông Hồng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh;vùng 3: Từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Ninh Thuận; vùng 4: Tây Nguyên trừ LâmĐồng; vùng 5: Đông Nam Bộ, tỉnh Bình Thuận; vùng 6: Đồng bằng Sông Cửu
Long).
1.1.2.2 Các hình thức TCLTCN cấp tỉnh (cụ thể là tỉnh Bình Dương)
Trong nghiên cứu các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương, tác giả tập trungphân tích, đánh giá các hình thức TCLTCN gồm: CCN, KCN, TTCN trong đó chú ýnghiên cứu hình thức KCN một hình thức phổ biến nhất
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN
1.1.3.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ
a Vị trí địa lý
VTĐL với tác động trực tiếp và gián tiếp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọnđịa điểm cho các hình thức TCLTCN như CCN, KCN, TTCN Sự hình thành và pháttriển các xí nghiệp của các ngành CN phụ thuộc rất nhiều vào VTĐL
Ảnh hưởng của VTĐL đến các hình thức TCLTCN được thể hiện qua mức độthuận lợi như gần các trục đường giao thông, sân bay, bến cảng, gần nguồn nước,khu vực tập trung đông dân cư dễ tiếp cận với yếu tố thị trường và nguồn lao động
Vị trí địa lý thuận lợi sẽ hấp dẫn thu hút vốn đầu tư, lao động, khoa học kỹ thuật,phát triển các loại hình dịch vụ từ đó mức độ tập trung CN sẽ cao, các hình thức
tổ chức CN càng đa dạng và phức tạp Ngược lại những khu vực có VTĐL kémthuận lợi: nằm trong hoặc gần các khu vực có chính trị không ổn định, hay xảy raxung đột sắc tộc, tôn giáo, có nhiều trở ngại trong điều kiện tự nhiên… sẽ gây khókhăn cho việc xây dựng, kêu gọi nguồn vốn đầu tư và phát triển các hình thứcTCLTCN
Tỉnh Bình Dương có VTĐL rất thuận lợi (về các yếu tố tự nhiên, kinh tế xãhội chính trị, giao thông) để phát triển TCLTCN, đặc biệt là các KCN
b Phạm vi lãnh thổ
Phạm vi lãnh thổ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thứcTCLTCN, được thể hiện qua sự phân dị các yếu tố tự nhiên và KT-XH Phạm vi
Trang 40lãnh thổ là địa bàn để phân bố các hình thức TCLTCN, vì vậy những lãnh thổ rộnglớn thì bức tranh về phân hóa ngành CN và các hình thức TCLTCN sẽ đa dạng hơn
so với những lãnh thổ có phạm vi hẹp
1.1.3.2 Nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tiền đề vật chất không thể thiếuđược để hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN Nó ảnh hưởng rõ rệt đếnviệc hình thành và xác định cơ cấu ngành CN trong các hình thức TCLTCN Sốlượng, chất lượng, phân bố và sự kết hợp của nguồn tài nguyên thiên nhiên trên lãnhthổ có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển và phân bố của các hình thứcTCLTCN
a Khoáng sản: Số lượng chủng loại, trữ lượng, chất lượng khoáng sản và sự
kết hợp các loại khoáng sản trên lãnh thổ sẽ chi phối quy mô, cơ cấu và quy trìnhcông nghệ của các xí nghiệp trong các hình thức TCLTCN
b Địa hình và đất: Là cơ sở để bố trí, xây dựng các hình thức TCLTCN.
Những khu vực có địa hình bằng phẳng, đất đai rộng, nền đất cứng… Sẽ thuận lợicho việc xây dựng các hình thức TCLTCN, ngược lại nền đất yếu, quỹ đất ít, khuvực đồi núi sẽ gây khó khăn cho việc phát triển các hình thức TCLTCN Tuy nhiêntrong nền kinh tế thị trường hiện nay thì quỹ đất, giá đất, địa tô chênh lệch là yếu tốquan trọng để hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN
c Khí hậu và nguồn nước: Đặc điểm khí hậu có tác động không nhỏ đến việc
lựa chọn kỹ thuật và công nghệ sản xuất của các ngành CN thuộc các hình thứcTCLTCN khác nhau Khí hậu thuận lợi tạo điều kiện cho các cây trồng, vật nuôiphát triển tạo thành tập đoàn cây trồng vật nuôi đặc thù là cơ sở, là nguồn nguyênliệu cho ngành CNCB phát triển
Nguồn nước có ý nghĩa rất lớn đối với các ngành CN Mức độ thuận lợi hay khókhăn về nguồn cung cấp nước hoặc thoát nước là điều kiện quan trọng để định vị các xínghiệp CN của các hình thức TCLTCN Với sự phát triển sản xuất CN trên những lãnhthổ nhất định đòi hỏi phải có nguồn cung cấp nước đầy đủ, liên tục
d Tài nguyên sinh vật: Sự phong phú về rừng và các loại lâm sản khác là điều
kiện thuận lợi để cung cấp vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho ngành CN chế biến giấy,