1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

91 38 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THÚY HẰNG

TRỢ GIÚP PHÁP LÝ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THÚY HẰNG

TRỢ GIÚP PHÁP LÝ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH

SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự

Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ HUỲNH TẤN DUY

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Huỳnh Tấn Duy Các số liệu

và trích dẫn được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu và tính trung thực của luận văn

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình

Tác giả luận văn

Lê Thị Thúy Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự 7 1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung và hình thức của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự 13 1.3 Cơ sở quy định trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự 23

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29

2.1 Sơ lược lịch sử các quy định về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự 29 2.2 Quy định của pháp luật hiện hành về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự 33 2.3 Thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 54

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM

THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 67

3.1 Định hướng hoàn thiện và bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 67 3.2 Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 70 3.3 Giải pháp bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong

tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 74

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 2.1 Số vụ án mà bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi có Trợ giúp viên pháp

lý bào chữa Error! Bookmark not defined.5 Biểu đồ 2.2.Số vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi được trợ giúp

pháp lý Error! Bookmark not defined.7

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, hoạt động trợ giúp pháp lý đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, giải quyết các khó khăn, vướng mắc pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân Với tư cách là một loại hình dịch vụ công trong

xã hội hiện đại, trợ giúp pháp lý là nhiệm vụ của Nhà nước đồng thời cũng là trách nhiệm chung của toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân

Được trợ giúp pháp lý là một trong những quyền quan trọng, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người bị buộc tội, người bị hại và đương sự trong hoạt động tố tụng hình sự Việc cung cấp trợ giúp pháp lý ban đầu trong lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền con người và quyền tự do của mỗi

cá nhân trong xã hội, quyền này cần được thực hiện một cách kịp thời, nhanh chóng, giúp cho người được trợ giúp pháp lý có được dịch vụ có chất lượng một cách kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, góp phần bảo đảm quyền con người trong tiếp cận công lý

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 lần đầu tiên quy định trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự; quy định trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải giải thích cho người thuộc diện trợ giúp pháp lý về quyền được trợ giúp pháp lý

Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự Việt Nam một cách toàn diện là cấp thiết, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay của nước ta Mỗi tỉnh, thành có một đặc thù khác nhau do

đó tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý cũng có nét khác nhau, vấn

đề cơ bản là cần đưa ra các giải pháp hợp lý, nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng

Trang 8

dịch vụ pháp lý, từ đó bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất nước, số lượng dân nhập cư đông, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, do đó vấn đề trợ giúp pháp lý cần được quan tâm nhiều hơn Từ những đặc thù về tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, hoạt động trợ giúp pháp lý theo các quy định của pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có những nét đặc thù riêng khi

so với các tỉnh, thành khác Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu

đề tài: “Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ, ngành Luật hình sự và Tố

tụng hình sự

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trợ giúp pháp lý là một trong những chính sách xã hội hết sức quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với người nghèo, đối tượng chính sách, người có khó khăn về tài chính trong xã hội trên phương diện pháp luật, tạo điều kiện cho các đối tượng trên có quyền bình đẳng để tiếp cận pháp luật, công bằng trước pháp luật

Dưới hình thức các đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài viết khoa học có một số công trình liên quan đến đề tài luận văn ở những mức độ nhất định, điển hình bao gồm:

Về luận án tiến sĩ luật:

- Tạ Minh Lý (2008), Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới” Đại học Luật Hà Nội;

- Nguyễn Việt Khoa (2019), Hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Học viện khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt

Nam

Về luận văn thạc sĩ luật:

- Hoàng Thị Liên (2014), Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác, Đại học Quốc gia Hà Nội;

Trang 9

- Trần Thị Mỹ Duyên (2019), Trợ giúp pháp lý cho bị hại là người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí

Minh;

- Trần Minh Lộc (2019), Hoạt động bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý đối với vụ án mà bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Về bài viết trên các tạp chí khoa học:

- Đoàn Hữu Văn (2013), “Công tác trợ giúp pháp lý – thực trạng và giải

pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề 6;

- Nguyễn Thị Minh – Trịnh Thị Thanh (2014), “Vai trò của trợ giúp viên pháp

lý trong hoạt động tố tụng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề 6;

- Lê Huỳnh Tấn Duy (2018), “Pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý trong tố

tụng hình sự”, Tạp chí Luật học, số 11

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các mặt, các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực pháp luật về trợ giúp pháp lý từ phương diện quy định của luật đến việc triển khai, thực hiện trong thực tiễn Với vị trí địa lý, nhiệm vụ đặc thù riêng, việc thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định pháp luật tố tụng hình sự trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vừa mang những yếu tố chung của cả nước vừa mang những đặc điểm riêng biệt Tác giả nhận thấy hiện nay chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về vấn đề lý luận cũng như thực tiễn công tác trợ giúp pháp lý tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Luật Trợ giúp pháp lý 2017 Vì vậy, tác giả cho rằng, việc nghiên cứu đề tài “Trợ giúp pháp lý theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay, góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cũng như quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong quá trình tố tụng hình sự, từ đó phân tích thực tiễn thực hiện, nguyên nhân của những hạn chế, bất cập và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

trong thời gian tới, nhằm đảm bảo thực hiện và góp phần nâng cao hơn nữa giá trị,

hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật

và thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về kết quả đạt được cũng như những bất cập, hạn chế và nguyên nhân để có những giải pháp, định hướng nhằm hoàn thiện và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra đối với luận văn là:

- Làm rõ những luận cứ khoa học cơ bản về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự: Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của trợ giúp pháp lý; tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, quyền được trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý

- Phân tích và đánh giá quy định của pháp luật, thực trạng của hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua Nêu lên những ưu điểm, thế mạnh cũng như những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp

lý trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật

và thực tiễn thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để đảm bảo tính khoa học, luận văn có những giới hạn về phạm vi nghiên cứu như sau:

Trang 11

Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng

hình sự 2015 về trợ giúp pháp lý cho bị can, bị cáo và bị hại Ngoài ra, luận văn còn phân tích một số quy định có liên quan của Luật Trợ giúp pháp lý 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Về không gian: Luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực tiễn hoạt động

trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Mặc dù đối tượng được trợ giúp pháp lý rất đa dạng nhưng tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu được thực hiện đối với bị can, bị cáo và bị hại là người dưới 18 tuổi Do đó trong phần thực tiễn, học viên tập trung vào nhóm đối tượng đặc biệt này để khảo sát và đánh giá

Về thời gian: Luận văn tập trung vào giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống các chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp và các vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển bền vững đất nước

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu có tính chất điển hình trong lĩnh vực luật học như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn để đưa ra những đánh giá một cách có hệ thống về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu trên cả hai khía cạnh lý luận, thực tiễn về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự, dựa trên việc phân tích Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và một số quy định của Luật Trợ giúp pháp lý 2017 có liên quan

Trang 12

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận và góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý ở cả nước nói chung và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Luận văn hướng đến các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả những chính sách về trợ giúp pháp lý trong thời gian tới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sau khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực Do đó, một số ý kiến của tác giả sẽ có thể dùng

để tham khảo, áp dụng đối với mô hình hoạt động trợ giúp pháp lý tại một số tỉnh, thành phố khác

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự Chương 2 Quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

và thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Định hướng, giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện quy định

của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

Khái niệm trợ giúp pháp lý

Trên thế giới, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng phổ biến từ giữa thế

kỷ 20, xuất phát từ tiếng Anh là “legal aid”, được dịch sang tiếng Việt với nhiều nghĩa như “tư pháp bảo trợ” [19, tr.229], “trợ cấp pháp lý” [17, tr.255], hoặc “hỗ trợ pháp luật”,… Ở Việt Nam, thuật ngữ này được xuất hiện lần đầu vào năm 1995 khi tiến hành xây dựng Đề án về phát triển hoạt động TGPL và được sử dụng chính thức trong Quyết định số 734/TTG ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách Về mặt ngữ

nghĩa, TGPL gồm hai từ ghép là “trợ giúp” và “pháp lý” Theo đó, “trợ giúp” là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến” [42, tr.753], hoặc có thể được hiểu là sự “góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công” [20, tr.985] Trong khi đó, “pháp lý” được hiểu là “lý luận, nguyên lý về pháp luật” [23,

tr.767] Như vậy, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được hiểu là giúp đỡ, hỗ trợ ai một việc gì khi cần, để giúp họ giảm bớt khó khăn và trong trường hợp này là khó khăn trong lĩnh vực pháp luật và nhu cầu về dịch vụ pháp lý

Đến năm 2006, cùng với việc ban hành Luật Trợ giúp pháp lý, khái niệm TGPL mới được chính thức xác định trong văn bản luật Văn bản này đưa ra khái niệm: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được

trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng

và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ

Trang 14

công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” [29].

Hiện nay, khái niệm TGPL nêu trên đã được sửa đổi bởi Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) theo đó: “Trợ giúp pháp lý là

việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật” [30]

So với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 thì khái niệm mới đã lược bỏ một số mục đích của hoạt động TGPL như: nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật Sự thay đổi này, một mặt, cho thấy hoạt động TGPL sẽ theo hướng tập trung vào việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật; bảo vệ hiệu quả hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, mặt khác, góp phần tăng cường tính khả thi của hoạt động này trên thực tiễn

Như vậy, thông qua việc tìm hiểu quy định về khái niệm TGPL, có thể khẳng định, nội hàm của TGPL bao gồm một số nội dung cơ bản như sau: TGPL (i) hướng tới giúp đỡ, hỗ trợ miễn phí về mặt pháp lý và nâng cao nhận thức pháp luật cho những người được TGPL Chính vì thế, TGPL (ii) mang đặc điểm kinh tế, pháp lý

và bản chất xã hội, nhân đạo sâu sắc Ngoài ra, vì TGPL được quy định là trách nhiệm của Nhà nước nên đây (iii) được xem là một loại hình dịch vụ công do Nhà nước chi trả

Khái niệm trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

TGPL là chính sách được rất nhiều nước quan tâm, coi đây là một thành tố cơ bản của một hệ thống tư pháp hình sự hoạt động hiệu quả dựa trên nguyên tắc pháp quyền Ngày 20/12/2012, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bản Các Nguyên tắc và hướng dẫn tiếp cận TGPL trong tư pháp hình sự, với 14 nguyên tắc

và 18 hướng dẫn Theo đó, TGPL được thừa nhận là thành tố cơ bản trong hệ thống

tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các

Trang 15

quyền khác, bao gồm quyền có phiên toà xét xử công bằng và là một sự bảo đảm quan trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và niềm tin của công chúng đối với tiến

bộ của hệ thống tư pháp hình sự

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 chỉ đưa ra khái niệm chung về TGPL chứ không có khái niệm riêng cho TGPL trong lĩnh vực TTHS Theo quy định của Liên

hợp quốc, TGPL trong lĩnh vực tư pháp hình sự “bao gồm tư vấn pháp lý, hỗ trợ và

đại diện cho người bị tạm giam, bị bắt hoặc bị tù giam, bị tình nghi hay bị cáo buộc, hoặc bị buộc tội và cho các nạn nhân, nhân chứng trong quá trình tố tụng hình sự, được cung cấp miễn phí cho những người không có đủ điều kiện hoặc khi lợi ích của công lý (interests of justice) đòi hỏi như vậy Hơn nữa, “trợ giúp pháp lý” cũng có chủ đích bao hàm các khái niệm về giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin pháp lý và các dịch vụ khác được cung cấp cho các đối tượng thông qua các cơ chế giải quyết tranh chấp và quá trình tư pháp phục hồi” [21, đoạn số 8] Khái niệm này đã đề cập khá chi tiết về các hình thức TGPL, đối tượng được TGPL và mục đích của TGPL trong TTHS

1.1.2 Đặc điểm của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

TGPL trong TTHS là một trong những lĩnh vực của hoạt động TGPL nói chung Chính vì vậy, TGPL trong TTHS trước hết mang đầy đủ đặc điểm chung của TGPL nhưng đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng, cụ thể:

Thứ nhất, đặc điểm về người thực hiện TGPL trong tố tụng hình sự

Các hoạt động TTHS được tiến hành nhằm xác định sự thật khách quan của vụ

án, chứng minh tội phạm, người phạm tội và buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự Những hoạt động này rất dễ ảnh hưởng hoặc xâm phạm đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân nhưng lại được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước Điều này cho thấy TGPL trong TTHS, nếu so sánh với các lĩnh vực pháp luật khác như dân sự, hành chính, là một hoạt động khó khăn và vất vả hơn, đòi hỏi người thực hiện TGPL phải có kiến thức pháp luật, kĩ năng tranh tụng và bản lĩnh vững vàng, đặc biệt khi tham gia tố tụng để thực hiện chức năng bào chữa [15, tr.29-43]

Thứ hai, đặc điểm về hình thức thực hiện TGPL trong tố tụng hình sự

Trang 16

TGPL trong TTHS được thực hiện dưới nhiều hình thức như tư vấn pháp lí, hỗ trợ và đại diện cho người bị buộc tội, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại và đương sự Những hình thức này có mối quan hệ tương hỗ trong quá trình thực hiện và tuỳ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng, trong từng hoạt động tố tụng cụ thể sẽ quyết định hình thức TGPL nào là thích hợp nhất Hình thức tư vấn thường được sử dụng trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố; ngược lại hỗ trợ và đại diện được thực hiện chủ yếu trong giai đoạn xét xử, nhất là tại phiên toà

Thứ ba, đặc điểm về nguồn tài chính của TGPL trong tố tụng hình sự

TGPL trong TTHS được cung cấp miễn phí cho một số người tham gia tố tụng với những điều kiện nhất định Tương tự như TGPL trong những lĩnh vực khác, người được TGPL trong TTHS không phải trả thù lao cho người thực hiện TGPL

mà trách nhiệm này thuộc về Nhà nước Ngân sách nhà nước là nguồn kinh phí chính để đảm bảo cho công tác TGPL bên cạnh các nguồn hợp pháp khác từ sự đóng góp, hỗ trợ của các chủ thể trong xã hội như nguồn tài trợ từ chương trình hợp tác quốc tế, tiền mặt và tài sản đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân… Việc dùng ngân sách nhà nước để đảm bảo cho công tác TGPL thể hiện rõ nét trách nhiệm của nhà nước đối với hoạt động TGPL cũng như tạo động lực và áp lực đối với tính hiệu quả và chất lượng của công tác TGPL trên thực tiễn Đối tượng được trợ giúp pháp lí trong TTHS là một số người tham gia tố tụng bao gồm người bị buộc tội, bị hại và người làm chứng Tuy nhiên, không phải tất cả những người tham gia tố tụng với những tư cách này đều mặc nhiên được TGPL mà họ phải thoả mãn một số điều kiện luật định, thông thường là người có khó khăn về tài chính, người yếu thế trong xã hội (trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi,…)

Thứ tư, đặc điểm về mục đích của TGPL trong tố tụng hình sự

TGPL trong TTHS bao hàm nhiều mục đích Ngoài mục đích chính là hỗ trợ, giúp đỡ cho người tham gia tố tụng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

họ, TGPL theo quan điểm của Liên hợp quốc còn hướng đến các mục tiêu như giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin pháp lí và quá trình tư pháp phục hồi Thông qua hoạt động tư vấn, hỗ trợ người tham gia tố tụng, người thực hiện TGPL đồng thời

Trang 17

thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục pháp luật Bên cạnh đó, TGPL còn đóng vai trò quan trọng tạo điều kiện cho việc xử lí chuyển hướng và sử dụng các biện pháp, hình phạt mang tính cộng đồng; hạn chế việc tạm giữ, tạm giam và hình phạt tù; hợp lí hoá chính sách tư pháp hình sự và bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước [21, đoạn số 4]

1.1.3 Vai trò của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, TGPL đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ

về mặt pháp luật cho những người nghèo và nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội TGPL được xem là chỗ dựa vững vàng về mặt pháp lý, giúp đỡ, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho họ trong quá trình TTHS cũng như củng cố thêm niềm tin của họ vào các cơ quan chức năng, niềm tin vào công lý và sự hiệu quả của nền tư pháp hình sự Việt Nam

BLTTHS năm 2015 là văn bản luật quan trọng, liên quan nhiều đến hoạt động TGPL, đặc biệt lần đầu tiên quy định TGVPL tham gia TTHS với tư cách là người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự Ngày 20/6/2017, Luật trợ giúp pháp lý mới đã được Quốc hội khóa XIV ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 trùng với thời điểm có hiệu lực thi hành các đạo luật quan trọng khác về hình sự như BLHS, BLTTH, qua đó đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện công tác TGPL trên thực tiễn, củng cố thêm vai trò quan trọng không thể thiếu của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS Vai trò của TGPL trong TTHS thể hiện ở những khía cạnh nổi bật như sau:

Thứ nhất, TGPL trong TTHS là một thành tố không thể thiếu trong việc xây

dựng thủ tục TTHS công bằng, nhân đạo và hiệu quả Một trong những nguyên tắc

cơ bản của luật TTHS Việt Nam là nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật TGPL góp phần bảo đảm thực hiện hiệu quả và nghiêm túc nguyên tắc trên cho các đối tượng được TGPL khi tham gia quá trình TTHS Để xây dựng được thủ tục TTHS công bằng, một trong những yêu cầu đặt ra là những người tham gia tố tụng

Trang 18

với cùng một tư cách phải được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ như nhau Trên thực tế, vì nhiều lý do như khó khăn về tài chính, đặc tính dễ bị tổn thương, sự khiếm khuyết về thể chất và nhận thức nên có những người không thể tự mình thực hiện các quyền tố tụng hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đối với những người này, nhà nước có trách nhiệm cung cấp miễn phí sự TGPL cho họ nhằm đảm bảo sự công bằng, đồng thời thể hiện tính nhân văn của pháp luật TTHS Việc giúp cho người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt về mặt pháp luật để họ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, để ngang bằng với các công dân khác thể hiện rõ tính nhân văn của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói chung và của pháp luật TTHS nói riêng Bên cạnh đó, TGPL cũng có những đóng góp tích cực vào tính hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự bởi vì giúp giảm thời hạn tạm giữ, tạm giam những người bị tình nghi phạm tội, giảm số lượng phạm nhân, hạn chế việc kết án oan sai, sự quá tải của toà án và giảm tình trạng tái phạm, tái trở thành nạn nhân [21, đoạn số 3]

Thứ hai, TGPL trong TTHS góp phần đảm bảo việc thực hiện các quyền tố

tụng khác, đặc biệt là quyền được xét xử công bằng Trong TTHS, người tham gia

tố tụng được pháp luật ghi nhận cho rất nhiều quyền như quyền bào chữa, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền tranh luận… Đây là những quyền con người đã được nâng lên thành các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS Trong số các quyền trên thì quyền được xét xử công bằng là một quyền rất quan trọng, được ghi nhận trong pháp luật nhân quyền quốc tế, cụ thể tại Điều 10 Tuyên

ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 đã ghi nhận: “Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghĩa vụ của mình, hay

về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc” và khoản 1 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước các toà án và cơ quan tài phán Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ

Trang 19

án hình sự”;“Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa

có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không

có đủ điều kiện trả” Việc Việt Nam là thành viên của nhiều Công ước quốc tế về

quyền con người đặt ra yêu cầu Nhà nước phải thể hiện vai trò của mình trong bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền con người, quyền công dân cho người nghèo

và nhóm yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội để họ có điều kiện bình đẳng với các chủ thể khác khi tham gia TTHS Để thực hiện tốt quyền bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng, đòi hỏi các bên tham gia tranh tụng, đặc biệt là bên

bị buộc tội, phải được tạo những điều kiện và cơ hội như nhau trong việc thu thập chứng cứ và sử dụng chứng cứ để tranh tụng tại phiên toà Với sự tư vấn, hỗ trợ của người thực hiện TGPL, những hoạt động này sẽ được sử dụng triệt để và có hiệu quả hơn

Thứ ba, TGPL trong TTHS góp phần củng cố niềm tin cho người dân đối với

pháp luật, công lí Qua quá trình thực hiện nghiệp vụ, hoạt động TGPL góp phần thực thi công lí, giúp toà án đưa ra các phán quyết đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; hạn chế tình trạng oan sai [36].Trên cơ sở đó giúp người dân, nhất là những người được TGPL nhận thức được tính nhân đạo của pháp luật nói chung và pháp luật TTHS nói riêng; bản chất, vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực TTHS

1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung và hình thức của trợ giúp pháp lý trong

tố tụng hình sự

1.2.1 Chủ thể của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

Việc xác định chủ thể hoạt động TGPL liên quan đến sự thừa nhận mô hình TGPL được áp dụng ở các quốc gia Nhìn chung, trên thế giới hiện nay có 3 mô hình TGPL chủ yếu, đó là: mô hình luật sư công (mô hình do Nhà nước thực hiện hoàn toàn), mô hình TGPL do luật sư và tổ chức xã hội thực hiện hoàn toàn, mô hình hỗn hợp (TGPL do Nhà nước thành lập tổ chức thực hiện và thu hút luật sư,

Trang 20

các tổ chức xã hội tham gia) Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về TGPL, đặc biệt là ưu, nhược điểm của từng mô hình, ngay từ ngày đầu thành lập, Việt Nam đã lựa chọn mô hình hỗn hợp Mô hình này thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chủ động nguồn lực thực hiện TGPL, đồng thời huy động sự tham gia tự nguyện của các tổ chức xã hội Áp dụng mô hình này Nhà nước có sự chủ động trong việc đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân, tránh bị động phụ thuộc vào nguồn lực ngoài Nhà nước Hơn nữa, sự tồn tại song song hai chủ thể thực hiện TGPL sẽ tạo ra sự cạnh tranh trong việc nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân cũng như chất lượng vụ việc TGPL

Tương ứng với mô hình hỗn hợp, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định những chủ thể sau có quyền thực hiện TGPL: TGVPL, luật sư (thực hiện TGPL theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà nước hoặc thực hiện TGPL theo phân công của tổ chức tham gia TGPL), tư vấn viên pháp luật (làm việc tại tổ chức tham gia TGPL) và cộng tác viên TGPL [30, tr.15] Tuy nhiên, trong TTHS, chủ thể có quyền thực hiện TGPL chỉ bao gồm TGVPL và luật sư Điều này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; điểm d khoản 2 Điều 72, điểm b khoản 2 Điều 76, điểm d khoản 2 Điều 83 và điểm d khoản 2 Điều 84 của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Quy định trên có thể xuất phát từ lý do: để tham gia hoạt động TTHS một cách hiệu quả và phát huy tốt chức năng, vai trò của mình, người thực hiện TGPL ngoài kiến thức pháp luật còn phải có kỹ năng tranh tụng và bản lĩnh vững vàng, đặc biệt trong quá trình tranh luận tại phiên tòa

TGVPL được quy định cụ thể tại Điều 19 Luật TGPL năm 2017 như sau:

“Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm TGPL nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành TGVPL:

1 Có phẩm chất đạo đức tốt;

2 Có trình độ cử nhân luật trở lên;

3 Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý;

4 Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý;

5 Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật”

Trang 21

Từ quy định trên có thể hiểu TGVPL là viên chức của Trung tâm TGPL nhà nước có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 19 Luật TGPL năm 2017 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và cấp thẻ TGVPL trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp [30, tr.18] Ngoài những tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, tình trạng sức khỏe, Luật TGPL năm 2017 đã thay đổi tiêu chuẩn “có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL” và “có thời gian làm công tác pháp luật từ 02 năm trở lên” [29, tr.16] bằng tiêu chuẩn “đã được đào tạo nghề luật

sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL”; đồng thời bổ sung tiêu chuẩn “không đang trong thời gian bị xử

lý kỷ luật” [30, tr.17] Những sửa đổi, bổ sung này nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ TGVPL; qua đó góp phần thực hiện mục tiêu tổng quát của Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn

2015 - 2025 là “sau năm 2025 người thực hiện TGPL là luật sư hành nghề, bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được TGPL được cung cấp dịch vụ TGPL kịp thời, chất lượng tương đương với dịch vụ mà luật sư cung cấp trên thị trường” [37]

Trong TTHS, hoạt động của TGVPL mang tính đặc thù bởi đây là chủ thể đại diện để thực thi trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước đối với nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội TGVPL đóng vai trò là người hướng dẫn pháp luật, bảo đảm cho người được TGPL đều được tiếp cận, sử dụng pháp luật miễn phí trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện để công lý và công bằng xã hội được thực thi, thúc đẩy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân biết quyền và nghĩa vụ của họ theo luật TGPL… bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, mà trước hết là quyền bào chữa

và nhờ người khác bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thông qua hoạt động TGPL Đồng thời, hoạt động tham gia tố tụng của TGVPL còn góp phần xác định sự thật khách quan của vụ việc được nhanh chóng, chính xác, tránh làm oan người vô tội, để lọt tội phạm, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết công việc công bằng và đúng pháp luật; góp phần tích cực thực hiện cải cách tư pháp, mở rộng điều kiện để thực hiện nguyên tắc tranh tụng trước toà, bảo đảm cho

Trang 22

người nghèo, đối tượng chính sách, người già cô đơn, trẻ em không nơi nương tựa, dân tộc thiểu số,… không có điều kiện thuê luật sư cũng được TGVPL tham gia bào chữa và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp miễn phí cho họ trong TTHS

Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư năm 2006, thực hiện dịch vụ pháp lí theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức [27] Luật sư thực hiện TGPL dưới hai hình thức: theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà nước; theo sự phân công của tổ chức tham gia TGPL Luật sư thực hiện hợp đồng TGPL với Trung tâm là việc cá nhân luật sư tham gia với tư cách luật sư độc lập, theo hợp đồng dân sự với Trung tâm Trung tâm căn cứ vào nhu cầu TGPL, nguồn lực thực hiện TGPL tại địa phương để lựa chọn, ký kết hợp động thực hiện TGPL với luật sư có đủ điều kiện Luật sư thực hiện TGPL theo sự phân công của tổ chức tham gia TGPL cũng phải tuân thủ những quy định đối với người thực hiện TGPL Có thể nói đội ngũ luật sư đã tham gia vào hoạt động TGPL ngay từ giai đoạn đầu tiên của việc hình thành và trong suốt quá trình phát triển công tác này Nhất là khi Luật TGPL năm 2006 ra đời đã tạo cơ chế pháp lý cho việc tham gia thực hiện TGPL của luật sư Thực tiễn cho thấy, trong công tác TGPL, luật sư là lực lượng đóng vai trò rất quan trọng, thực hiện phần lớn các vụ việc tham gia tố tụng Theo số liệu thống kê, từ khi triển khai “Chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” ban hành kèm theo Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì đến năm 2013, trong tổng số vụ việc tham gia tố tụng có 15.954 vụ việc do luật sư cộng tác viên thực hiện (chiếm 65,6%) Việc tham gia của luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư trong hoạt động TGPL đã thể hiện được trách nhiệm xã hội của mỗi luật sư trong hoạt động hành nghề, góp phần mang lại những giá trị xã hội cho công tác mang đậm tính chất nhân văn này Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý TGPL là một trong những nghĩa vụ của luật sư Theo quy định, luật sư phải thực hiện nghĩa vụ này ít nhất 01 ngày làm việc (08 giờ) trong 01 năm; nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đủ thời gian bắt buộc mà có lí do chính đáng thì sẽ được thay thế nghĩa vụ bằng việc nộp vào “Quỹ trợ giúp pháp lí” của đoàn luật sư nơi mình là thành viên

Trang 23

một khoản tiền tương ứng khoản thù lao một ngày làm việc của luật sư/năm theo quy định của Chính phủ

Trong TTHS, TGVPL, luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL Với tư cách là người bào chữa, họ sẽ bảo vệ người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo);là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, họ sẽ bảo vệ bị hại, đương

sự trong vụ án hình sự (nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan đến vụ án), người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố

1.2.2 Đối tượng của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

Quyền được TGPL là một quyền cơ bản trong hệ thống quyền con người nói chung và là một quyền cụ thể của quyền tiếp cận tư pháp Về bản chất, đó là những yêu cầu chính đáng của cá nhân hoặc nhóm người nhất định về việc được tiếp cận

hệ thống dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí dựa trên quy định của pháp luật Để hoạt động TGPL mang lại tác động xã hội quan trọng và hiệu quả, cần xác định đúng đối tượng thụ hưởng quyền TGPL và xây dựng được cơ chế thực thi, các kế hoạch, chương trình hành động dựa trên quyền và lợi ích của đối tượng thụ hưởng, qua đó làm phương tiện và mục đích cho toàn bộ hoạt động TGPL

Đối tượng được TGPL nhìn chung được xác định dựa trên tính chất “yếu thế”,

“dễ bị tổn thương”, “thiếu hụt về tài chính” hoặc do tình trạng nhân thân, tình trạng

pháp lý, tính chất vụ việc Việc xác định đối tượng TGPL là yêu cầu quan trọng để làm căn cứ chuẩn bị và dự báo khả năng cung ứng, giúp người thực hiện TGPL có

cơ sở xem xét lựa chọn phương thức thực hiện TGPL phù hợp (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa)

Theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017, đối tượng được TGPL bao gồm:

- Người có công với cách mạng

- Người thuộc hộ nghèo

- Trẻ em

Trang 24

- Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

- Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

- Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo

- Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính: Cha

đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ

16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV

BLTTHS 2015 không có quy định riêng về đối tượng được TGPL trong TTHS

mà đồng nhất với quy định của Luật TGPL, điều này được quy định cụ thể tại

khoản 1 Điều 71 “…Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho họ quyền được TGPL, nếu họ đề nghị được TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm TGPL nhà nước”; Điều 72 quy định người bào chữa cho người bị buộc tội có thể là

TGVPL trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được TGPL; điểm b khoản 2 Điều 76 về chỉ định người bào chữa có quy định nếu người bị buộc tội thuộc diện được bào chữa chỉ định thì Trung tâm TGPL nhà nước cử TGVPL, luật

sư bào chữa cho người thuộc diện được TGPL Điều 83 ghi nhận TGVPL có thẩm quyền tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố Điều 84 cho phép TGVPL tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự

Từ những quy định trên của BLTTHS 2015 có thể thấy, đối tượng được TGPL trong TTHS bao gồm người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo); bị hại, đương sự trong vụ án hình sự (nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án), người bị tố giác, người bị kiến nghị

Trang 25

khởi tố khi họ thuộc diện được TGPL theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp

lý 2017

1.2.3 Nội dung của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

Nội dung của TGPL là trọng tâm mà các bên tham gia quan hệ xã hội hướng tới trong hành động thực tiễn nhằm đạt được mục đích của TGPL Việc xác định nội dung thuộc các lĩnh vực TGPL liên quan đến quan niệm về nội hàm của quyền được TGPL, về phạm vi của lĩnh vực pháp luật cũng như thực trạng của nguồn lực TGPL

và nhu cầu của người được TGPL

So với các hình thức TGPL khác như tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng thì hình thức tham gia tố tụng thực tế chiếm tỉ lệ thấp Tuy nhiên, đây là hình thức TGPL chủ yếu và có vai trò quyết định đối với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các đối tượng được TGPL trong quá trình TTHS Về mặt pháp lý, khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, TGVPL và luật sư thực hiện TGPL được BLTTHS 2015 quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ cũng như được bảo đảm thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của các thủ tục TTHS được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền Trên cơ sở đó, để hiểu rõ nội dung TGPL trong TTHS, luận văn sẽ phân tích từng giai đoạn của quá trình TTHS để có cái nhìn khái quát và

hệ thống nhất

Trong giai đoạn khởi tố VAHS

Về mặt lý luận, giai đoạn khởi tố VAHS bắt đầu từ khi các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc tiếp nhận các nguồn tin về tội phạm như tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố,… Các hoạt động TGPL trong giai đoạn này không được trực tiếp quy định trong Luật TGPL nhưng gián tiếp được thể hiện thông qua các quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố quy định tại Điều 83 BLTTHS năm

2015 Có thể phân loại hoạt động của người TGPL với tư cách tham gia tố tụng này thành các nhóm sau:

Trang 26

Thứ nhất, các hoạt động liên quan đến chứng cứ, bao gồm: đưa ra chứng cứ,

tài liệu, đồ vật, yêu cầu; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu,

đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá Về lý luận, giai đoạn khởi tố VAHS là giai đoạn mở đầu của quá trình TTHS, mang tính chất quyết định liệu rằng có cần thiết phải tiếp tục quá trình TTHS nữa hay không bằng một Quyết định khởi tố VAHS hoặc Quyết định không khởi tố VAHS của cơ quan có thẩm quyền Chính vì vậy, vai trò của TGVPL hoặc luật sư thực hiện TGPL trong giai đoạn này là cực lỳ quan trọng;

Thứ hai, các hoạt động hỗ trợ về tâm lí cho người được trợ giúp, nắm bắt

thông tin về vụ việc bao gồm: có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được điều tra viên hoặc kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người

bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

Thứ ba, hoạt động giúp phát hiện và khắc phục những sai sót của chủ thể tiến

hành tố tụng: Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Thông qua việc thực hiện các hoạt động trên, người TGPL góp phần làm rõ sự thật vụ án, giúp người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố về pháp lí nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp Do nhiệm vụ chính của giai đoạn này là xác định có hay không

có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự nên các hoạt động thuần tuý mang tính chất tố tụng chưa diễn ra nhiều Tuy nhiên, đây lại là lúc mà người được TGPL tiếp xúc lần đầu tiên với quá trình TTHS nên rất cần

sự hỗ trợ về tâm lí và pháp lí

Trong giai đoạn điều tra, truy tố

Trong giai đoạn điều tra, truy tố, hoạt động TGPL của người bào chữa đối với

bị can vẫn mang tính tư vấn và tranh tụng Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can vô

Trang 27

tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đồng thời giúp đỡ về mặt pháp lí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Để thực hiện nhiệm vụ này, người bào chữa sử dụng các quyền cụ thể được quy định tại Điều 73 BLTTHS năm 2015 Quyền hay hoạt động TGPL của người bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố rộng hơn về phạm vi so với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự do số lượng hoạt động

tố tụng mà điều tra viên, kiểm sát viên tiến hành nhiều hơn nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm Tuy nhiên, thực tiễn thời gian vừa qua cho thấy chưa có nhiều vụ án hình sự trong đó việc TGPL được thực hiện từ giai đoạn điều tra Khi đã được tham gia, có lúc các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự tạo điều kiện cho người TGPL thực hiện nhiệm vụ vì nhiều lí do như bận việc, chưa có thời gian điều tra Một bộ phận người tiến hành tố tụng chưa nhận thức đúng vai trò và ý nghĩa của hoạt động TGPL mà cho rằng đây chỉ là vấn đề thủ tục

Trong giai đoạn xét xử

Có thể nói, một trong những đặc trưng nhằm phân biệt công tác TGPL trong lĩnh vực hình sự với các lĩnh vực pháp luật khác đó là việc tham gia tranh luận của TGVPL hoặc luật sư thực hiện TGPL tại phiên tòa xét xử Đây cũng là một trong những lý do về mặt chuyên môn, nghiệp vụ lý giải tại sao Luật TGPL quy định chỉ

có TGVPL và luật sư mới có quyền tham gia tố tụng Hoạt động TGPL của người bào chữa đối với bị can (khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm) và đặc biệt đối với bị cáo (tại phiên toà sơ thẩm) thể hiện tính chất tranh tụng rõ nét hơn so với các giai đoạn trước đó Người bào chữa có quyền: tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT; kháng cáo bản án, quyết định của toà án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất;… Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trong giai đoạn này cũng được trao những quyền tương tự như người bào chữa

1.2.4 Hình thức của trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

Hoạt động TGPL trong TTHS được thực hiện thông qua ba hình thức: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng (khoản 2 Điều 27 Luật TGPL

Trang 28

2017) Đây là những hình thức TGPL chính thống và chủ yếu, được thực hiện xuyên suốt từ khi Nhà nước ban hành chính sách TGPL cho đến nay Trong các hình thức trên, tham gia tố tụng là hình thức TGPL cơ bản nhất, theo đó người TGPL đóng vai trò là đại diện chính thức (người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thụ hưởng sự TGPL) Hình thức tham gia tố tụng và đặc biệt là tham gia tranh tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án là hình thức TGPL chủ yếu và là một trong những hình thức TGPL đã và đang được chú trọng đầu tư về kinh phí, con người và chất lượng dịch vụ nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của các đối tượng được TGPL trong TTHS Định hướng của Nhà nước đối với việc tăng cường sự tham gia tố tụng của TGVPL một lần nữa được thể hiện thông qua quy định tại điểm d khoản 1 Điều 22 Luật TGPL 2017 Theo đó, TGVPL

sẽ bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ TGVPL nếu “không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan”

Quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức, trách nhiệm nghề nghiệp của TGVPL trong hoạt động TGPL của mình

Bên cạnh tham gia tố tụng, hình thức tư vấn pháp luật do người thực hiện

TGPL tiến hành, với những hoạt động như “hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật; hướng dẫn giúp các bên đi đến hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc” [30] Đây là hình thức thể hiện rõ tính thường chất xuyên của TGPL Tư vấn pháp

luật được tiến hành khi xuất hiện các vụ việc pháp luật cụ thể và có yêu cầu của người được TGPL Vì vậy, cần phân biệt hình thức tư vấn pháp luật trong TTHS với hoạt động giải đáp pháp luật đơn giản hoặc hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với những người thuộc đối tượng được thụ hưởng TGPL Cuối cùng, đại diện ngoài tố tụng là hình thức TGPL do luật sư và TGVPL tiến hành, thông qua văn bản cử đại diện ngoài tố tụng cho các đối tượng được thụ hưởng TGPL trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phạm vi đại diện chỉ trong yêu cầu của những đối tượng trên Theo đó, khi đảm nhận việc đại diện ngoài tố tụng, luật sư, TGVPL sẽ thay mặt các đối tượng được thụ hưởng TGPL tham gia,

Trang 29

thực hiện các hoạt động, giao dịch dân sự, thương mại, hành chính… với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác Đây là hoạt động TGPL rất có ý nghĩa đối với các đối tượng được thụ hưởng TGPL khi những đối tượng này có hạn chế về tài chính cũng như hiểu biết pháp luật để có thể tham gia một số hoạt động pháp lý liên quan

1.3 Cơ sở quy định trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

Hoạt động TGVPL trong TTHS được ghi nhận dựa trên các cơ sở sau đây:

Thứ nhất, cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự

- Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

Quyền con người là giá trị phổ biến chung của nhân loại, là nhóm quyền thiêng liêng cao quý mà tất cả các dân tộc, nhân dân trên thế giới phải đoàn kết và trải qua quá trình đấu tranh lâu dài mới có thể đạt được Vì vậy, có thể khẳng định:

“ghi nhận và tổ chức bảo đảm quyền con người trên thực tế là thể hiện của một Nhà nước nhân bản, tiến bộ, dân chủ, văn minh” Việc bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực pháp luật, không chỉ là bản chất mà còn là định hướng, mục tiêu phát triển lâu dài trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bản chất của Nhà nước ta

là nhà nước dân chủ Vì vậy, việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân là một trong những nhiệm vụ của pháp luật nói chung cũng như pháp luật TTHS nói riêng

Với tư cách là một loại hình dịch vụ công trong xã hội hiện đại, TGPL là trách nhiệm của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho các nhóm đối tượng nhất định nhằm hỗ trợ họ tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật, từ đó góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân Trong quá trình TTHS, quyền con người dễ bị tổn thương, xâm phạm nhất và trên thực tế, hậu quả để lại cũng rất nặng

nề Vì vậy, trong TTHS, TGPL được xem là chỗ dựa vững vàng về mặt pháp lý, giúp đỡ, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho những người nghèo và nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội trong quá trình TTHS cũng như củng cố thêm niềm tin

Trang 30

của họ vào các cơ quan chức năng, niềm tin vào công lý và sự hiệu quả của nền tư pháp hình sự Việt Nam Có vai trò to lớn là vậy nhưng quyền được TGPL lại chưa được đề cập một cách chính thức trong BLTTHS – văn bản luật cao nhất quy định

về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng trong TTHS Do đó, để phù hợp với những quy định của pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người cũng như quy định của Hiến pháp năm 2013, cần thiết phải quy định TGPL cho những người nghèo, những đối tượng yếu thế trong xã hội, những người thiếu kiến thức hoặc kinh nghiệm cần thiết để hiểu và vận dụng các quyền của bản thân trong quá trình TTHS, thiếu năng lực pháp lý để đưa ra quyết định và có nguồn lực tài chính hạn chế để có thể có được những sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt pháp lý khi tham gia vào quá trình TTHS

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Quyền bào chữa là một quyền tố tụng rất quan trọng của người bị buộc tội nói chung và bị can, bị cáo nói riêng để bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Ở nước ta, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa là nguyên tắc Hiến định, đồng thời là nguyên tắc đặc thù của TTHS Việc ghi nhận và thực hiện nguyên tắc này góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết

vụ án khách quan, toàn diện và chính xác Quá trình giải quyết vụ án hình sự chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi tồn tại song song hai chức năng buộc tội và gỡ tội Bào chữa là một trong những nội dung cơ bản của TTHS, đối trọng với chức năng buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng Chính sự đối trọng này đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được dân chủ, khách quan

Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người bị buộc tội có quyền

tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Tuy nhiên, không phải bất cứ “người khác” nào cũng có thể trở thành người bào chữa cho người bị buộc tội mà chỉ những người được pháp luật quy định mới trở thành người bào chữa Trong những trường hợp luật định, nếu người buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời

Trang 31

người bào chữa thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải đề nghị các tổ chức được pháp luật quy định cử người bào chữa cho họ

Không chỉ ghi nhận quyền bào chữa của người bị buộc tội, pháp luật còn quy định quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự trong vụ án hình sự Điều này thể hiện nhà nước không chỉ coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của

bị hại, đương sự Theo đó, bị hại, đương sự có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền vệ lợi ích hợp pháp của họ Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật

- Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Điều 26 BLTTHS năm 2015 quy định:“Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng

cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”

Theo tác giả, đây là điểm tiến bộ, nổi bật trong BLTTHS năm 2015 Qua quy định trên có thể thấy là tại phiên tòa các chứng cứ xác định có tội, vô tội; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, áp dụng các điều, khoản luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng

và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, nêu rõ tại phiên tòa Do vậy, các quyết định, bản án Tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có như vậy thì mới đảm bảo vụ án được xét xử công bằng, đúng quy định pháp luật

Nguyên tắc tranh tụng thể hiện rõ nhất tại phiên tòa vì phiên tòa không chỉ là nơi tiến hành hoạt động xét xử mà theo tác giả đó là nơi tổng hợp của tất cả các giai

Trang 32

đoạn của quá trình tố tụng: điều tra, khởi tố, truy tố… và các chủ thể tham gia vào quan hệ tranh tụng bao gồm nhiều chủ thể: bị can, bị cáo, Điều tra viên, KSV… Tại phiên tòa các giai đoạn của quá trình tố tụng sẽ được làm rõ qua phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, qua diễn biến tại phiên tòa ta có thể thấy là không chỉ có chức năng buộc tội, xét xử mà còn có chức năng gỡ tội để làm rõ sự thật khách quan của

vụ án Bên cạnh đó, việc thu thập chứng cứ của các bên phải được xem xét một cách toàn diện, không phân biệt là chứng cứ của bị cáo, của người bào chữa hay của các cơ quan THTT, có như vậy thì mới làm căn cứ cho việc xét hỏi, tranh luận khách quan, toàn diện và từ đó việc tranh tụng mới được đảm bảo

Nhằm bảo đảm quyền của các bên (bên buộc tội và bên bào chữa), nguyên tắc tranh tụng cũng cần đảm bảo sự có mặt đầy đủ những những người tham gia tố tụng, nếu những người này vắng mặt do trở ngại khách quan hoặc vì lý do bất khả kháng thì phải hoãn phiên tòa để đảm bảo việc xét xử được tiến hành khách quan, công khai, đảm bảo sự có mặt của tất cả những người tham gia tố tụng, bởi nếu thiếu một trong những người này thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án

Có thể khẳng định rằng tranh tụng là khâu đột phá trong hoạt động xét xử, nếu nâng cao chất lượng tranh tụng thì chất lượng xét xử sẽ được nâng lên, từ đó giúp xét xử đúng người, đúng tội, hạn chế tình trạng xét xử oan sai, góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan vụ án

Nguyên tắc tranh tụng lần đầu tiên được ghi nhận trong BLTTHS năm

2015, cho thấy sự tiến bộ của nền tư pháp nước ta trong tiến trình xây dựng một nền tư pháp tiến bộ, dân chủ nhằm phục vụ cho nhà nước, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp công dân, góp phần vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Thứ hai, xuất phát từ chính sách bảo đảm quyền con người, quyền công dân, chính sách xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chính sách dân tộc và ưu đãi xã hội của Đảng và Nhà nước

Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta

Trang 33

và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước Tại Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 - văn kiện Đại hội XI của Đảng đã xác định “Từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh

xã hội để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”

TGPL là đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, nêu cao trách nhiệm của nhà nước và xã hội đối với người được các hưởng chính sách ưu đãi về dịch vụ TGPL, thể hiện bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Chính sách về công tác TGPL đã trực tiếp hỗ trợ, đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL cho các đối tượng là người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật có khó khăn về tài chính, đồng bào dân tộc thiểu số,… Việc ra đời của các Trung tâm TGPL xuất phát từ chủ trương xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng

và Nhà nước, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, với hoạt động của Trung tâm TGPL đã giúp cho những đối tượng thuộc diện được TGPL có điều kiện tiếp cận với dịch vụ TGPL miễn phí, củng cố lòng tin của người dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội

Trang 34

Trong Chương 1 của luận văn, tác giả tập trung phân tích lý luận về hoạt động TGPL trong TTHS Qua đó nêu các khái niệm về TGPL nói chung và TGPL trong TTHS nói riêng cũng như nêu lên những đặc điểm, vai trò của hoạt động TGPL trong TTHS Ngoài ra, tác giả cũng trình bày cụ thể về chủ thể, đối tượng, nội dung và hình thức của TGPL trong TTHS BLTTHS 2015 lần đầu tiên chính thức ghi nhận địa vị pháp lý của người thực hiện TGPL trong TTHS với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự, được xem là khung pháp lý tương đối hoàn thiện nhằm hỗ trợ cho công tác TGPL trong TTHS được thực hiện thuận lợi trong mối quan hệ biện chứng với hoạt động bào chữa của luật sư và hoạt động buộc tội của các cơ quan có thẩm quyền, góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, từ đó không làm oan người vô tội hoặc để lọt tội phạm.

Trang 35

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Sơ lược lịch sử các quy định về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1997 đến trước năm 2006

Hoạt động TGPL ở Việt Nam bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1995, xuất phát

từ việc nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; nhiều người dân có nhu cầu cần được hỗ trợ về pháp lý nhưng khi có phát sinh sự việc pháp lý thì những người này không biết liên hệ cơ quan nào để bảo

vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình

Trên tinh thần chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về

công tác bảo đảm quyền được tiếp cận pháp luật của người nghèo là cần “tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí…”, Bộ Tư pháp và Ban

Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) đã chủ động nghiên cứu, triển khai thí điểm thành lập các Trung tâm TGPL của nhà nước tại Cần Thơ (7/1996) và Hà Tây (01/1997) Trên cơ sở đó, cùng với việc nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động TGPL của các nước trên thế giới, Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức Chính phủ

đã hoàn thiện Đề án về việc thành lập tổ chức TGPL và báo cáo xin ý kiến Trung ương Theo đó, hoạt động TGPL không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tư vấn pháp luật mà còn bao gồm cả đại diện, bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng và đại diện ngoài tố tụng miễn phí

Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách Trên cơ sở Quyết định này, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Quyết định số 734/TTg của Thủ tướng Chính phủ Ngày 01/3/2000, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 05/2000/CT-TTg về việc tăng cường công tác TGPL trong toàn quốc Theo đó, Uỷ ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

Trang 36

ương đã ban hành Quyết định thành lập Trung tâm TGPL, Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL Các địa phương trên cả nước cũng ra Quyết định thành lập các tổ chức TGPL tại cơ sở như Tổ, Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL tạo điều kiện

để người nghèo và đối tượng chính sách có thể dễ dàng tiếp cận với hoạt động TGPL tại địa phương nơi sinh sống Ngoài ra, hoạt động TGPL cũng được coi là một chính sách quan trọng trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo và được quy định trong hàng loạt các văn bản pháp luật khác như Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,…

Thực hiện các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, BLTTHS năm 2003 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 đã khắc phục những bất cập, tồn tại, thiếu sót của BLTTHS 1988, trong đó có chế định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, thông qua việc quy định nội dung này thành một điều luật riêng, ghi nhận địa vị pháp lý của người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người bị hại trong TTHS Theo đó, luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận

có quyền tham gia TTHS với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Đây được xem là bước phát triển mới trong chính sách Nhà nước về bảo đảm quyền con người và quyền bình đẳng trước pháp luật, tăng cường cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ người bị hại trước những hành vi trái pháp luật Tuy vậy, việc thực hiện các hoạt động TGPL trong TTHS cũng như địa vị pháp lý của người thực hiện TGPL trong TTHS vẫn chưa được ghi nhận tại BLTTHS 2003 Việc bào chữa của TGVPL đối với bị can, bị cáo trong giai đoạn này chủ yếu được thực hiện bởi đội ngũ Luật sư có tham gia ký hợp đồng cộng tác với các Trung tâm TGPL (trong giai đoạn này gọi là “Cộng tác viên trợ giúp pháp lý”)

Mặc dù chưa được ghi nhận chính thức trong BLTTHS, nhưng những hoạt động TGPL được thực hiện bởi hệ thống trung tâm TGPL nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã cho thấy nhiều hiệu quả trong việc tạo điều kiện cho người

Trang 37

nghèo và đối tượng chính sách tiếp cận và sử dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,… Tuy nhiên, sau một thời gian dài vận hành, việc tổ chức và thực hiện TGPL trên thực tế cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, tồn tại liên quan đến việc tham gia tố tụng còn hạn chế của đội ngũ TGPL hoặc chưa có quy định cụ thể về việc phối hợp, hỗ trợ giữa các cơ quan nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tham gia tố tụng của đội ngũ TGPL,…Trước tình hình đó, Bộ Tư pháp đã thành lập Ban Soạn thảo nhằm xây dựng, hoàn chỉnh Dự án Pháp lệnh TGPL và Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh, trên tinh thần thực hiện Chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh năm 2005 của Quốc hội khoá XI (2002 - 2007) Tuy nhiên, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XI (tháng 11/2005) Quốc hội đã nâng Dự án Pháp lệnh TGPL lên thành Dự án Luật TGPL và chính thức đưa vào Chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội năm 2006

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử tư pháp Việt Nam, thuật ngữ TGPL chính thức được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, hoạt động TGPL miễn phí được ra đời với hệ thống quản lý nhà nước về TGPL xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, trở thành công cụ quan trọng bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đáp ứng kịp thời nhu cầu cần được giúp đỡ pháp luật của người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp Theo đó, trên cơ sở ban hành Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách, hoạt động TGPL ở giai đoạn này được thực hiện thông qua các hình thức như tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng và đại diện ngoài tố tụng miễn phí; người được TGPL chỉ bao gồm người nghèo và đối tượng chính sách

Tóm lại, trong giai đoạn từ năm 1997 đến trước năm 2006, vấn đề TGPL cho

bị can, bị cáo và bị hại vẫn chưa được ghi nhận chính thức trong BLTTHS cũng như các văn bản pháp luật khác Vì vậy, việc bào chữa cho bị can, bị cáo; bảo vệ quyền

Trang 38

lợi cho bị hại trong TTHS thông qua hình thức TGPL miễn phí có thể được thực hiện trong trường hợp nhóm đối tượng này thuộc diện người nghèo hoặc là đồng bào các dân tộc thiểu số.

2.1.2 Giai đoạn từ năm 2006 đến trước năm 2015

Bước ngoặt trong công tác TGPL đó chính là Luật TGPL đã được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 (có hiệu lực ngày 01/01/2007), từ thời điểm này TGPL

đã được nâng lên thành Luật trên cơ sở tiền đề là Quyết định của Thủ tướng chính phủ Đây là một bước chuyển trong sự phát triển của công tác TGPL, đưa TGPL phát triển lên một bước phát triển mới, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nền tư pháp thế giới nói chung và nước ta nói riêng

Theo quy định của Luật TGPL năm 2006 thì TGVPL có tư cách là người thực hiện TGPL, tham gia TTHS để bào chữa cho người được TGPL là bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được TGPL là người bị hại

Như vậy bắt đầu từ Luật TGPL năm 2006, TGVPL đã có thể tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo và bảo vệ quyền lợi cho bị hại Tuy nhiên trong BLTTHS năm 2003 quy định, đối với người bào chữa chỉ có 03 chủ thể: Luật sư, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo và Bào chữa viên nhân dân; đối với người bảo vệ quyền lợi của đương sự cũng chỉ có Luật sư, Bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận (không quy định người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là TGVPL)

Rõ ràng tư cách bào chữa và bảo vệ quyền lợi cho đương sự của TGVPL đã được ghi nhận trong Luật TGPL năm 2006 nhưng lại không được ghi nhận trong BLTTHS năm 2003, chính điều này đã ít nhiều gây khó khăn cho TGVPL khi liên

hệ đến các CQTHTT để thực hiện chức năng của mình Việc BLTTHS 2003 chưa ghi nhận địa vị pháp lý của người thực hiện TGPL đã tạo sự thiếu nhất quán về mặt

cơ sở pháp lý cũng như gây khó khăn cho công tác bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong quá trình TTHS, khi mà nội dung hoạt động TGPL cũng như quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL cho bị can, bị cáo, bị hại trong TTHS chưa được quy định cụ thể, rõ ràng Sự bất cập, thiếu sót

Trang 39

nêu trên về mặt quy định của luật phần nào khiến cho hoạt động tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL còn bỏ ngỏ, không có cơ sở pháp lý để thực hiện, dẫn đến chưa bảo đảm hiệu quả công tác bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo và bị hại.

2.2 Quy định của pháp luật hiện hành về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự

Trong BLTTHS năm 2015, chỉ có một vài quy định đề cập trực tiếp đến thuật ngữ “Trợ giúp viên pháp lý” Điều này cũng dễ hiểu bởi vì TGVPL khi tham gia vào quá trình giải quyết VAHS phải có một tư cách tham gia tố tụng cụ thể Ví dụ khi bảo vệ cho người bị buộc tội thì được gọi là người bào chữa; khi bảo vệ cho bị hại thì được gọi là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Do đó khi TGVPL tham gia với tư cách nào thì sẽ có quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định của BLTTHS năm 2015 và khi họ thực hiện các quyền của mình thì sẽ trở thành hoạt động TGPL trong TTHS Những vấn đề có liên quan khác được điều chỉnh bởi Luật TGPL năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên nguồn luật chính điều chỉnh hoạt động của TGVPL khi tham gia vào quá trình giải quyết VAHS vẫn là BLTTHS Trong phần này của luận văn, học viên tập trung phân tích quy định của BLTTHS năm 2015 về hoạt động bào chữa của TGVPL đối với bị can, bị cáo và hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của TGVPL cho bị hại trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm VAHS

2.2.1 Quy định về hoạt động bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý đối với bị can, bị cáo

Bộ luật TTHS năm 2015 không có quy định riêng về hoạt động bào chữa của TGVPL đối với bị can, bị cáo mà chỉ có các quy định về những vấn đề liên quan đến người bào chữa nói chung như: thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng (Điều 74), lựa chọn người bào chữa (Điều 75), chỉ định người bào chữa (Điều 76), thay đổi hoặc từ chối người bào chữa (Điều 76), thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa (Điều 81) Những quy định này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện BLTTHS năm 2003; góp phần hoàn thiện

Trang 40

chế định người bào chữa (trong đó có người bào chữa là TGVPL), tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường hiệu quả hoạt động bào chữa, giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung phân tích những hoạt động bào chữa mà tác giả cho là phần nổi bật nhất của người bào chữa là TGVPL thông qua các quy định của BLTTHS năm 2015

2.2.1.1 Quy định về việc chỉ định, thay đổi hoặc từ chối Trợ giúp viên pháp lý làm người bào chữa và đăng ký bào chữa cho bị can, bị cáo

Quy định về chỉ định Trợ giúp viên pháp lý làm người bào chữa

Khoản 1 Điều 76 BLTTHS năm 2015 quy định, trong trường hợp người đại diện hoặc người thân thích không mời người bào chữa thì bị can, bị cáo được cơ quan có thẩm quyền THTT chỉ định người bào chữa Điểm b khoản 2 Điều luật này quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền THTT yêu cầu hoặc đề nghị Trung tâm TGPL nhà nước cử TGVPL, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được

TGPL

Trình tự, thủ tục phối hợp trong việc chỉ định TGVPL làm người bào chữa

được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 31 Luật TGPL năm 2017 như sau: “Trong thời

hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu TGPL của bị can, bị cáo, người bị hại là người được TGPL theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung TGPL nhà nước tại địa phương Ngay sau khi nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trung tâm TGPL nhà nước có trách nhiệm thụ lý theo quy

định tại khoản 4 Điều 30 của Luật này và cử người thực hiện TGPL tham gia tố tụng ”

Theo các quy định nêu trên thì việc cử TGVPL để bào chữa cho bị can, bị cáo

sẽ được diễn ra nhanh chóng sau khi cơ quan, người có thẩm quyền THTT nhận được yêu cầu cần người bào chữa của bị can, bị cáo Trung tâm TGPL có trách nhiệm cử TGVPL hoặc luật sư để thực hiện bào chữa Nếu được phân công, TGVPL phải có trách nhiệm nhanh chóng thực hiện việc bào chữa cho bị can, bị

cáo theo quy định

Ngày đăng: 20/12/2020, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồng Anh, “Những kết quả bước đầu triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017”, Trang Trợ giúp pháp lý Việt Nam“https://trogiupphaply.gov.vn/tin-tuc/nhung-ket-qua-buoc-dau-trien-khai-thi-hanh-luat-tro-giup-phap-ly-nam-2017-0”, (14/01/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả bước đầu triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017”, "Trang Trợ giúp pháp lý Việt Nam" “https://trogiupphaply.gov.vn/tin-tuc/nhung-ket-qua-buoc-dau-trien-khai-thi-hanh-luat-tro-giup-phap-ly-nam-2017-0
2. Bộ Công an (2019) Thông tư số 46/2019/TT-BCA quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS năm 2015, ban hành ngày 10/10/2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 46/2019/TT-BCA quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS năm 2015
3. Bộ Tài chính (2017) Thông tư 40/2017/TT-BTC quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị, ban hành ngày 28/4/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 40/2017/TT-BTC quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị
4. Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ tài chính - Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2018) Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, ban hành ngày 29/6/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
5. Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ tài chính - Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2018) Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, ban hành ngày 29/6/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
6. Bộ Tư pháp (2017) Thông tư số 05/2017/TT-BTP về sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, ban hành ngày 20/4/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 05/2017/TT-BTP về sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý
7. Bộ Tư pháp (2008) Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP về việc ban hành quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý, ban hành ngày 08/12/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP về việc ban hành quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý
8. Bộ tư pháp (2016), “Báo cáo Tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý”, Phiên họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý
Tác giả: Bộ tư pháp
Năm: 2016
9. Bộ trưởng Bộ Tư pháp (2018) Quyết định 768/QĐ-BTP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Trợ giúp pháp lý, ban hành ngày 18/4/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 768/QĐ-BTP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Trợ giúp pháp lý
10. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017) Nghị định số 144/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật trợ giúp pháp lý, ban hành ngày 25/12/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 144/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật trợ giúp pháp lý
11. Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm LHQ (UNODC) (2013), Sổ tay Tiếp cập trợ giúp pháp lý sớm trong Tư pháp hình sự và Chương trình Phát triển LHQ (UNDP), tr. 111-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Tiếp cập trợ giúp pháp lý sớm trong Tư pháp hình sự và Chương trình Phát triển LHQ (UNDP)
Tác giả: Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm LHQ (UNODC)
Năm: 2013
12. Nguyễn Minh Chánh (2015), “Tham gia hoạt động tố tụng của trợ giúp viên pháp lý”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 9, tr. 15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham gia hoạt động tố tụng của trợ giúp viên pháp lý”, Tạp chí" Dân chủ & Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Minh Chánh
Năm: 2015
13. Lê Huỳnh Tấn Duy (2013), “Đánh giá quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền bào chữa của người chưa thành niên trên cơ sở các tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 04, tr.11-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền bào chữa của người chưa thành niên trên cơ sở các tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc”, Tạp chí" Khoa học pháp lý
Tác giả: Lê Huỳnh Tấn Duy
Năm: 2013
14. Lê Huỳnh Tấn Duy (2016), “Quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi trong BLTTHS năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 6/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi trong BLTTHS năm 2015”, Tạp chí "Khoa học pháp lý
Tác giả: Lê Huỳnh Tấn Duy
Năm: 2016
15. Lê Huỳnh Tấn Duy (2018), “Pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự”, Tạp chí luật học, Số 11, tr.29-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự”, Tạp chí" luật học
Tác giả: Lê Huỳnh Tấn Duy
Năm: 2018
16. Trần Thị Mỹ Duyên (2019), Trợ giúp pháp lý cho bị hại là người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trợ giúp pháp lý cho bị hại là người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Mỹ Duyên
Năm: 2019
17. Lê Khả Kế (1997), Từ điển Anh - Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, tr.255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Anh - Việt
Tác giả: Lê Khả Kế
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1997
18. Nguyễn Việt Khoa (2019), Hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Việt Khoa
Năm: 2019
19. Nguyễn Thế Kỳ, Phạm Quốc Toản, Lương Hữu Định (1992), Từ điển pháp luật Anh - Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, tr.229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển pháp luật Anh - Việt
Tác giả: Nguyễn Thế Kỳ, Phạm Quốc Toản, Lương Hữu Định
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1992
20. Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, tr.985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm