CHƯƠNG 4PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI CHI Ngân hàng là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh của nó phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và quá trình sả
Trang 1CHƯƠNG 4
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI CHI
Ngân hàng là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh của nó
phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và quá trình sản xuất kinh doanh của
các đơn vị kinh tế trong khu vực, các đơn vị làm ăn có hiệu quả sẽ là nguồn cung
cấp vốn dồi dào cho ngân hàng và đây cũng là đầu ra để ngân hàng sử dụng vốn
huy động của mình một cách có hiệu quả
4.1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHNo&PTNT CHI
NHÁNH SONG PHÚ QUA 3 NĂM 2005- 2007
4.1.1 Nguồn vốn
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại thì nguồn vốn nói
chung không những giữ vai trò quan trọng mà còn mang tính quyết định đến hiệu
quả kinh doanh của ngân hàng Muốn hoạt động có hiệu quả ngân hàng phải biết
tự chăm lo về nguồn vốn
Nguồn vốn hoạt động của chi nhánh NHNo&PTNT Song Phú đ ược hình
thành từ 2 nguồn chính: vốn điều chuyển và vốn huy động Nguồn vốn điều
chuyển là vốn được chuyển từ Hội sở chính xuống chi nhánh nhằm đáp ứng nhu
cầu vay vốn của khách hàng Vốn huy động tại chỗ của ngân hàng bao gồm tiền
gửi thanh toán, tiền gửi của các tổ chức tín dụng, tiền gửi tiết kiệm từ dân cư…
Đối với nguồn vốn điều chuyển, do hoạt động của ngân hàng chủ yếu là
huy động và cho vay nên việc đảm bảo khả năng chi trả là một trong các mục tiêu
quan trọng hàng đầu trong hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào Hơn nữa, nguồn
vốn đầu tư cho tín dụng thường chiếm tỷ lệ cao, đôi khi có những biến động về
nhu cầu rút vốn, vượt quá khả năng cân đối vốn của chi nhánh, nếu không có sự
hỗ trợ bên ngoài, chi nhánh sẽ lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán, dẫn
đến gây mất lòng tin nơi khách hàng và đưa các ngân hàng đến bờ vực thẳm của
Trang 2sự phá sản, ảnh hưởng xấu đến hoạt động của toàn hệ thống hoặc chi nhánh phải
tìm biện pháp vay bên ngoài với lãi suất cao, điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến
hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Với sự có mặt của ngân hàng Trung Ương,
trong trường hợp thừa vốn hay thiếu vốn, chi nhánh luôn nhận đ ược sự hỗ trợ của
ngân hàng Trung Ương với vai trò điều hoà vốn nhằm đảm bảo khả năng thanh
toán cho toàn hệ thống, giữ vững uy tín trước khách hàng gửi tiền Chính vì vậy,
nguồn vốn điều chuyển từ ngân hàng Trung Ương đến các ngân hàng chi nhánh
là rất cần thiết, nó góp phần giúp cho hoạt động của chi nhánh ngày càng ổn định
và phát triển
Bên cạnh nguồn vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên, nguồn vốn huy
động được xem là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng vì nó đóng vai trò to lớn,
quyết định sự chủ động trong việc đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động Vì
vậy, ngân hàng cần tích cực trong hoạt động này để tận dụng được nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân, nhằm đầu tư có hiệu quả góp phần phát triển mọi thành phần
kinh tế trong nền kinh tế
Trang 3B ảngẢNG 2 : TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA CHI NHÁNH NĂMTỪ 2005
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tốc
độ tăng, giảm (%)
Số tiền
Tốc độ tăng, giảm (%)
Vốn huy
động 5.744
15,179,54 5.934
13,669,68 13.327
19,0822,28 190 3,31 7.393 124,59 Vốn điều
chuyển
54.4763
2.113
90,4684,83
37.50555.381
90,3286,34
546.541786
80,9277,72
5.392905
16,791,66
8.971.137
2,0523,91
1 ,824, 74
8.530 16.36 4
1 ,917 ,67
(Nguồn: Phòng Tín dụng NHNo&PTNT Song Phú )
)
Qua số liệu trên cho thấy, tổng nguồn vốn hoạt động của chi nhánh tăng qua
các năm Cụ thể: năm 2006 tổng nguồn vốn tăng so với năm 2005 là 14,8274%,
số tuyệt đối là 5.582 1.095 triệu đồng., nNăm 2007 tăng so với năm 2006 là
1 7,9167%, số tuyệt đối là 8.530 16.364 triệu đồng Điều đó cho thấy hoạt động
của chi nhánh ngày càng tăng trưởng, khách hàng tìm đến chi nhánh ngày càng
nhiều, hoạt động tín dụng của chi nhánh cũng vì thế mà tăng cao, đòi hỏi ngân
hàng phải gia tăng nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng
Trong tổng nguồn vốn, vốn huy động (bao gồm tiền gửi tiết kiệm từ dân cư,
tiền gửi thanh toán của của các doanh nghiệp…) của chi nhánh tăng đều qua các
Năm Triệu đồng
Trang 4năm, năm 2006 tăng 190 triệu đồng hay tăng 3,31% so với năm 2005 và năm
2007 tăng so với năm 2006 là 124,59%, số tuyệt đối là 7.393 triệu đồng đã cho
thấy chi nhánh ngày càng chủ động hơn trong nguồn vốn cho vay, lượng vốn
ngày càng được đảm bảo hỗ trợ kịp thời vốn cho khách hàng, tạo dựng được vị
thế trên địa bàn
Bên cạnh nguồn vốn huy động, chi nhánh vẫn cần nguồn vốn điều chuyển
từ Trung Ương để đảm bảo cho khả năng chi trả và thanh toán của chi nhánh
trong những điều kiện cấp thiết Qua bảng số liệu trên cho thấy, lượng vốn điều
chuyển của chi nhánh qua tăng qua 3 năm Do nhu cầu vốn trên địa bàn cao, nên
vốn huy động chỉ có thể đáp ứng một phần, ngân hàng còn phải phụ thuộc rất
nhiều vào vốn điều hòa của ngân hàng tỉnh Do đó, nguồn vốn điều ho à luôn tăng
qua các năm cụ thể như sau: Năm 2006 tăng lên 55.381 triệu đồng, tăng 905 triệu
đồng so với năm 2005, nguồn vốn điều chuyển càng tăng thì khả năng đáp ứng
nhu cầu về vốn cho khách hàng nhiều hơn có thể cải thiện được tình hình kinh tế
xã hội Đặc biệt là năm 2007 nguồn vốn điều chuyển lại tăng 1.137 triệu đồng so
với năm 2006 Vốn điều chuyển tăng qua qua 3 năm chứng tỏ khả năng cho vay
của ngân hàng tăng qua các năm, mặt khác điều đó cũng nói lên khả năng thu hút
vốn của ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho khách hàng
Nhìn chung, tình hình nguồn vốn của chi nhánh qua 3 năm rất khả quan
Điều đó đã nói lên công tác tạo lập nguồn vốn của chi nhánh đủ mạnh và ngày
càng phát triển, làm tăng khả năng cạnh tranh trên địa bàn, từng bước tạo uy tín
đối với khách hàng
4.1.2 Tình hình huy động vốn
Trong hoạt động tín dụng của một ngân hàng thì nguồn vốn giữ vai trò rất quan trọng Thiếu vốn ngân hàng không thể giải ngân nhanh chóng để đáp ứng
kịp thời nhu cầu vay vốn của khách hàng Điều đó làm cho mục tiêu tăng trưởng
dư nợ cũng như nâng cao kết quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng không đạt
Triệu ồng
Trang 5Đối với ngân hàng quốc doanh đặc biệt là hệ thống NHNo thì vốn huy
động tại chỗ giữ vai trò khá quan trọng trong tổng nguồn vốn Khả năng huy
động vốn cao sẽ góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng, khả năng huy động vốn
tại chỗ thấp sẽ ảnh hưởng sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc làm cho lợi nhuận của
ngân hàng không tăng cao vì lãi suất huy động vốn tại chỗ bao giờ cũng thấp h ơn
lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng cấp trên
Mặc dù tình hình kinh tế xã hội những năm qua có nhiều diễn biến phức
tạp nhưng với chiến lược, chính sách đã được xây dựng trong hoạt động kinh
doanh thì chi nhánh Song Phú đã đạt được những kết quả tích cực trong công tác
huy động vốn
Với phương châm của ngân hàng là “đi vay để cho vay”, hoạt động huy
động vốn và tín dụng được xem là 2 hoạt động chủ yếu của ngân hàng Thông
qua hoạt động huy động vốn, ngân hàng tạo được nguồn vốn để phục vụ cho hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, đồng thời thực hiện chức năng trung gian thu
hút mọi khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư gửi tiền vào ngân hàng để tiết kiệm và
kiếm lời, chính nguồn vốn này cũng hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển
Để hoạt động huy động vốn ngày càng phát triển mạnh, ngân hàng đã có
những biện pháp hữu hiệu để thu hút vốn và mở rộng đầu tư bằng những chính
sách huy động vốn hấp dẫn như: tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng… Bên
cạnh đó, các hình thức trả lãi trước, trả lãi sau với các mức lãi suất khác nhau tạo
nên mức lãi suất bình quân đầu vào có tính cạnh tranh cao Chi nhánh đã không
ngừng theo dõi sự biến động lãi suất trên địa bàn để kịp thời điều chỉnh lãi suất
huy động phù hợp, có chính sách ưu đãi đối với khách hàng có số dư tiền gửi lớn
Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị, triển khai thực hiện các hình thức huy
động vốn đa dạng như tiền gửi thanh toán, tiền gửi tài khoản…Bên cạnh đó, chất
lượng phục vụ không ngừng được nâng lên góp phần thu hút khách hàng mới,
đồng thời giữ chân được khách hàng cũ
Trang 7Nguồn vốn huy động của ngân hàng qua 3 năm
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, hoạt động huy động vốn của chi nhánh
trong 3 năm qua đã đạt được những kết quả khả quan nhất định, tổng vốn huy
động tăng cao với tốc độ tăng trưởng khá nhanh
Năm 2006, tổng số vốn huy động là 5.934 triệu đồng, tăng 190 triệu với tốc
độ tăng là 3,31% so với năm 2005
Năm 2007, kết quả huy động vốn tăng đáng kể, tổng số vốn huy động
cuối năm là 13.327 triệu đồng, tăng 7.393 triệu, tương ứng với tỷ lệ tăng là
124,59 %
Nguyên nhân nguồn vốn huy động tăng qua các năm là nhờ vào việc
Nngân hàng đã chú trọng phát triển nguồn này, trong 3 năm qua nNgân hàng đã
điều chỉnh mức lãi suất ngày càng hợp lý trong công tác huy động, đồng thời việc
đa dạng hoá các hình thức huy động đã thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền
vào nNgân hàng như: gửi tiền có quà tặng, gửi tiền có dự bốc thăm trúng th ưởng,
gửi tiền có kỳ hạn, gửi tiền không kỳ hạn, Bên cạnh do cuộc sống người dân
trong địa bànhuyện được khá hơn do được nNgân hàng cho vay vốn và sự hướng
dẫn của chính quyền địa phương trong việc phát triển mô hình kinh tế tổng hợp,
đem lại thu nhập cho người dân ngày càng cao Và cũng nhờ qua quảng bá,
quảng cáo, sự hướng dẫn tận tình của cán bộ nhân viên nNgân hàng đối với
khách hàng đã chỉ cho người dân thấy được lợi ích của việc gửi tiền là số tiền của
Hình 4: Biểu đồ thể hiện tình hình huy động vốn qua
3 năm 2005-2007
Năm
Tiền gửi dân cư Tiền gửi của các TCKT
Tổng số vốn huy động
Trang 8họ được an toàn, sinh lợi và có thể rút ra khi cần sử dụng Vì vậy mà nNgân hàng
đã huy động được ngày càng nhiều vốn hơn
Điều đó cho thấy chi nhánh đã có những chính sách linh hoạt trong công
tác huy động vốn, nắm bắt được xu thế chung của tỉnh nhà nên đã khai thác và
phát triển có hiệu quả, thu hút được nguồn vốn lớn và ổn định trong địa bàn
Tiền gửi dân cư
Qua số liệu trên ta thấy, nguồn vốn huy động chủ yếu là từ dân cư
Năm 2006, tiền gửi từ dân cư tăng 287 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ
tăng là 5,23% so với năm 2005
Cụ thể: tiền gửi không kỳ hạn giảm 61 triệu, hay giảm 10,54%; tiền gửi
có kỳ hạn tăng 348 triệu hay tăng về số tương đối là 7,10%
Năm 2007, tiền gửi từ dân cư tăng 7.145 triệu đồng, với tốc độ tăng là
123,83% so với năm 2006
Cụ thể: tiền gửi không kỳ hạn giảm 251 triệu, hay giảm 48,46%; tiền
gửi có kỳ hạn tăng 7396 triệu hay tăng về số tương đối là 140,82%
Tiền gửi từ dân cư tăng chủ yếu là do lượng tiền gửi có kì hạn tăng đáng
kể Người dân đã chuyển từ tiền gửi không kì hạn sang tiền gửi có kì hạn để
hưởng mức lãi suất cao hơn
Loại tiền gửi này tăng qua 3 năm là nhờ vào việc nNgân hàng có các
chính sách huy động tiền gửi tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang rất được khách
hàng ưa chuộng vì đây là hình thức huy động vốn linh hoạt Người gửi tiền có thể
rút vốn bất cứ lúc nào trong thời gian gửi và được hưởng tiền lãi theo từng thời kì
ứng với thời gian gửi tại ngân hàng Ngoài ra, ngân hàng còn thu hút khách hàng
gửi tiền tiết kiệm trúng thưởng vàng “3 chữ A” với giải đặc biệt rất hấp dẫn trúng
100 cây vàng, bên cạnh đó lãi suất hợp lý, có chương trình khuyến khích người
dân gửi tiền vào ngân hàng và đội ngũ nhân viên ngân hàng có những giải thích
để thuyết phục người dân gửi tiền nhàn rỗi của mình vào ngân hàng, kết hợp với
Chú thích
Trang 9thái độ phục vụ tốt đã giúp khách hàng tìm đến ngân hàng để gửi tiền đã làm cho
nguồn vốn huy động tăng lên đáng kể
Ở vùng nông thôn hiện nay, có rất nhiều hộ dân làm ăn khá giả, trở nên
khá giàu, lượng tiền nhàn rỗi ở vùng nông thôn khá lớn Ngân hàng Song Phú đã
tạo được niềm tin đối với khách hàng qua hoạt động của mình, có các bảng lãi
suất treo ở cổng, người dân qua lại dễ nhìn thấy cùng với sự hướng dẫn cận kẽ
của cán bộ ngân hàng nên việc huy động tiền gửi của người dân là rất thuận lợi
Tuy nhiên, cũng còn phần lớn hộ làm ăn khá giả còn e ngại và chưa từng làm
quen với việc gửi tiền vào ngân hàng, chưa thấy được lợi ích của việc gửi tiền và
họ thường cất giữ tiền bằng cách mua vàng Vì vậy, ngân hàng cần quan tâm hơn
nữa nguồn vốn huy động từ nông thôn, đây là thị trường có tiềm năng lớn mà
ngân hàng cần khai thác trong thời gian tới
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
Năm 2006, tiền gửi của các tổ chức kinh tế giảm 97 triệu đồng với tốc độ
giảm 37,16% so với năm 2005
Năm 2007, tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 248 triệu đồng với tốc độ
tăng 151,22% so với 2006
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế chỉ có tiền gửi không kỳ hạn vì các doanh
nghiệp gửi tiền chủ yếu là để thanh toán trong hoạt động kinh doanh của mình
Hoạt động trên một địa bàn mà hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp
nên việc thanh toán qua ngân hàng còn rất hạn chế Bên cạnh đó, ngân hàng còn
chịu sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại khác hoạt động trên cùng địa
bàn nên khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ
Với kết quả đạt được ở trên là do ngoài những chính sách lãi suất huy
động cạnh tranh, chính sách khuyến mãi của chi nhánh còn có sự đóng góp đáng
kể của cán bộ công nhân viên Đó là cung cách phục vụ tận tình, nhanh chóng và
chính xác nên không những khiến cho khách hàng cảm thấy thoải mái mà còn tạo
được lòng tin nơi khách hàng Bên cạnh đó, khách hàng cũng nhận được nhiều
tiện ích mà ngân hàng cung cấp nên số lượng khách hàng đến với ngân hàng
ngày càng nhiều hơn
Trang 104.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHNo&PTNT SONG PHÚ QUA 3 NĂM
2005- 20072007
Để có thể tồn tại và phát triển bền vững ngoài việc phải tạo ra nguồn vốn
vững mạnh, ngân hàng còn chú trọng đẩy mạnh công tác sử dụng vốn Để biết rõ
hơn về công tác sử dụng vốn của NHNo&PTNT Song Phú, ta đi sâu vào phân
tích tình hình hoạt động của ngân hàng qua 3 năm (2005-2007)
Trang 11Bảng 4: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHNo&PTNT SONG PHÚ QUA
3 NĂM (2005-2007)
ĐVT: Triệu đồng Năm
4.2.1 Khái quát hoạt động tín dụng ngắn hạn Doanh số cho vay
Cho vay là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại, nó là chỉ tiêu ảnh
hưởng tích cực đến quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì vậy, muốn
đạt hiệu quả trong hoạt động kinh doanh thì bên cạnh việc tăng doanh số cho vay
còn phải tăng chất lượng của món vay
Trang 12Doanh số cho vay qua 3 năm liên tục tăng, nguyên nhân chủ yếu là do
doanh số cho vay ngắn hạn tăng qua các năm, còn doanh số cho vay trung và dài
hạn giảm nhưng tốc độ tăng lớn hơn tốc độ giảm
Tỷ trọng về doanh số cho vay theo thời hạn được thể hiện qua hình sau:
Doanh số cho vay qua 3 năm liên tục tăng, nguyên nhân chủ yếu là do
doanh số cho vay ngắn hạn tăng qua các năm, còn doanh số cho vay trung và dài
hạn giảm nhưng tốc độ tăng lớn hơn tốc độ giảm
Doanh số cho vay năm 2005 là 70.677 triệu đồng Trong đó doanh số cho
vay ngắn hạn là 61.336 triệu đồng, doanh số cho vay trung và dài hạn là 9.341
Trang 13 Năm 2006 doanh số cho vay là lên 74.124 triệu đồng, tăng 3.447 triệu
đồng, với tốc độ tăng là 4,88% so với năm 2005
Doanh số cho vay ngắn hạn năm 2006 là 67.183 triệu đồng, tăng thêm
5.847 triệu đồng hay tăng 9,53% so với năm 2005 Doanh số cho vay trung và
dài hạn là 6.941 triệu đồng, giảm 2.400 triệu đồng hay giảm về số tương đối là
25,69%
Năm 2007 doanh số cho vay tăng lên 92.627 triệu đồng, tăng 18.503
triệu đồng, với tốc độ tăng là 24,96% so với năm 2006
Doanh số cho vay ngắn hạn tăng thêm 13.700 triệu đồng hay tăng
20,39% so với năm 2006 Doanh số cho vay trung và dài hạn giảm 4.803 triệu
đồng hay giảm 69,20%
Qua phân tích ta thấy doanh số cho vay ngắn hạn qua các năm luôn chiếm
tỷ trọng cao trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng, cụ thể doanh số cho vay
ngắn hạn năm 2005 chiếm 86,78%;, năm 2006 tỷ trọng này được nâng lên rất cao
là 90,63%;, năm 2007 chiếm 87,32% trong tổng doanh số cho vay Việc đầu tư
cho vay ngắn hạn nhiều sẽ ít rủi ro, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho ngân hàng
4.2.2 Doanh số thu nợ
Với phương châm “an toàn và hiệu quả” NHNo&PTNT Song Phú đã thực
hiện tốt công tác thu nợ của mình Qua 3 năm tình hình thu nợ của ngân hàng đã
đạt được những kết quả cụ thể như sau:
Doanh số thu nợ năm 2005 là 69.929 triệu đồng, trong đó doanh số thu
nợ ngắn hạn là 57.898 là triệu đồng, với tỷ trọng 82,80%,; doanh số thu nợ trung
và dài hạn là 12.031 triệu đồng
Năm 2006 doanh số thu nợ giảm xuống còn 69.383 triệu đồng, giảm 546
triệu đồng, với tốc độ giảm là 0,63 % so với năm 2005 Nguyên nhân doanh số
thu nợ giảm là do doanh số thu nợ trung và dài hạn giảm lớn hơn sự tăng lên của
doanh số thu nợ ngắn hạn Doanh số thu nợ ngắn hạn năm 2006
chiếm tỷ trọng 88,78%; tăng 3.704 triệu đồng hay tăng 6,40 % so với năm 2005,
Trang 14doanh số thu nợ trung và dài hạn giảm 4.250 triệu đồng hay giảm 35,32% so với
năm 2005
Năm 2006 do thời tiết không thuận lợi, dịch bệnh trên gia cầm và gia súc đã
làm cho năng suất giảm xuống, bên cạnh đó vật giá tăng mạnh như vật liệu xây
dựng, phân bón… dẫn đến chi phí để xây dựng, sửa chữa nhà tăng lên ngoài kế
hoạch trả nợ của khách hàng đã ảnh hưởng đến công tác thu nợ của ngân h àng, là
nguyên nhân làm cho doanh số thu nợ năm 2006 giảm xuống
Năm 2007, doanh số thu nợ tăng 17.143 triệu đồng, tăng về số tương đối
là 24,71% Trong đó, doanh số thu nợ ngắn hạn có tỷ trọng là 87,36%; tăng
13.991 triệu đồng, hay tăng 22,71%., Ddoanh số thu nợ trung và dài hạn tăng
3.152 triệu đồng, với tốc độ tăng là 40,51%
Doanh số thu nợ tăng là do doanh số cho vay tăng mạnh, đồng thời để đạt
được kết quả cao như vậy là nhờ sự thường xuyên đôn đốc nhắc nhở của các cán
bộ tín dụng đối với khách hàng vay tiền, và kết quả đạt được như vậy là do cán
bộ tín dụng đã làm tốt khâu thẩm định trước khi cho vay, không vì số lượng mà
luôn quan tâm đến chất lượng, xem chất lượng món vay là điều quan trọng hàng
đầu trong việc quyết định cho vay Vì thế, người đi vay sử dụng vốn có hiệu quả
nên thanh toán nợ sớm và đúng hạn cho ngân hàng
Tóm lại, ta thấy doanh số thu nợ biến động theo tình hình kinh tế xã hội,
đặc biệt là điều kiện tự nhiên vì phần lớn khách hàng của ngân hàng là nông dân
Nguồn vốn đi vay được sử dụng chủ yếu để sản xuất nông nghiệp
Doanh số thu nợ ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số
thu nợ của ngân hàng vì thời gian thu hồi vốn nhanh, đảm bảo nguồn vốn cho
ngân hàng tái đầu tư mở rộng hoạt động cho vay đến các đối tượng khách hàng
khác nhau Ngân hàng cần chú trọng công tác thẩm định, phân loại tín dụng, tích
cực theo dõi các món nợ để thu hồi kịp thời khi đến hạn, đặc biệt là các món nợ
trung và dài hạn để tránh phát sinh nợ quá hạn, hạn chế rủi ro nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Trang 15Tỷ trọng về doanh số thu nợ theo thời hạn được thể hiện qua hình sau:
0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 80000 90000 100000
2005 2006 2007
Tổng doanh số thu nợ
Ngắn hạn Trung và dài hạn
4.2.3 Dư nợ
Năm 2005 tổng dư nợ của ngân hàng là 49.780 triệu đồng, trong đó dư nợ ngắn hạn là 37.859 triệu đồng (chiếm 76,05% tổng dư nợ trong năm), dư nợ trung và dài hạn là 11.921 triệu đồng
Đến năm 2006 tổng dư nợ tăng lên 54.502 triệu đồng, tăng 4.740 triệu đồng, tức tăng 9,52 % so với năm 2005 Mặc dù, năm 2006 dư nợ trung và dài
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Chú thích Doanh số thu nợ ngắn hạn Doanh số thu nợ trungvà dài hạn
Triệu đồng
Ch thích
Năm Hình 6: Biểu đồ doanh số thu nợ qua ba năm 2005-2007
Trang 16hạn giảm nhưng nhu cầu về vốn đối với các khoản vay ngắn hạn tăng nhiều nên
đã làm cho tổng dư nợ tăng lên Cụ thể dư nợ ngắn hạn tăng 5.581 triệu đồng hay tăng 14,74 %, doanh số dư nợ trung và dài hạn giảm 7,05 % với số tiền giảm là
841 triệu đồng so với năm 2005 Dư nợ ngắn hạn năm 2006 chiếm 78,95% tổng
dư nợ
Năm 2007 dư nợ tiếp tục tăng lên và đạt 60.621 triệu đồng, tăng 6.101 triệu đồng,với tốc độ tăng là 19,95 % so với năm 2006 Nguyên nhân là do dư nợ ngắn hạn tăng mạnh, tăng 5.290 triệu đồng Năm 2007 dư nợ trung và dài hạn chỉ chiếm 19,61% tổng dư nợ
Tình hình về dư nợ theo thời hạn qua 3 năm 2005-2007 được thể hiện qua hình sau:
0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000
T ổng dư nợ Ngắn hạn
Trang 17Nợ quá hạn là một chỉ tiêu đánh hiệu quả của công tác tín dụng, nợ quá hạn
càng cao chứng tỏ hiệu quả tín dụng càng thấp
Để thấy được sự biến động của nợ quá hạn theo thời hạn ta tiến hành quan
sát hình sau:
0 100 200 300 400 500 600 700 800
Tổng nợ quá hạn Ngắn hạn Trung và dài hạn
Chú hích
Nợ quá hạn ngắn hạn
Nợ quá hạn trung và dài hạn
Hình 8: Biểu đồ nợ quá hạn theo thời hạn qua ba năm
2005-2007
Chú thích
Triệu đồng
Năm
Trang 18Trong ba năm qua tình hình nợ quá hạn của ngân hàng diễn ra như sau:
Năm 2005 nợ quá hạn là 605 triệu đồng, trong đó nợ quá hạn ngắn hạn là
259 triệu đồng, trung và dài hạn là 346 triệu đồng
Năm 2006 nợ quá hạn đã giảm xuống còn 500 triệu đồng, giảm 105 triệu
đồng hay đã giảm được về tỷ lệ là 17,35 % so với năm 2005 Nợ quá hạn giảm là
do hầu hết các phương án sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn của người đi vay
đều làm ăn có hiệu quả Đặc biệt là nợ quá hạn ngắn hạn đã giảm gần 43,63% so
với năm 2005 Đồng thời, nhờ sự giám sát chặt chẽ của cán bộ tín dụng đối với
các khoản vay trung và dài hạn nên nợ quá hạn tăng không đáng kể là 2,31%
Nhưng đến năm 2007 nợ quá hạn lại tăng lên 732 triệu đồng, tăng 232 triệu
đồng hay tăng 46,40% so với năm 2006 Trong đó, nợ quá hạn ngắn hạn tăng 250
triệu đồng hay tăng về tỷ lệ là 171,23%; nợ quá hạn trung và dài hạn giảm 18
triệu đồng hay 5,08 % so với năm 2006
Tỷ trọng nợ quá hạn ngắn hạn trong 2 năm 2005 và năm 2006 diễn biến
theo hướng thấp hơn so với tỷ trọng nợ quá hạn trung và dài hạn Điều này cho
thấy việc đầu tư vào ngắn hạn ít gặp rủi ro hơn so với đầu tư vốn cho vay trung
và dài hạn Năm 2007 do thời tiết diễn biến phức tạp làm cho lúa bị mất mùa,
đồng thời bệnh rầy nâu và lùn xoắn lá lại quay trở lại và tác động trên diện rộng
Bà con nông dân không có vốn kịp thời dẫn đến tình trạng nợ quá hạn tăng đột
biến
Tóm lại, nợ quá hạn trung và dài hạn còn khá cao, trong khi doanh số dư nợ
trung và dài hạn rất ít, nợ quá hạn ngắn hạn trong 2 năm 2005 và 2006 đã giảm
xuống thấp hơn nợ quá hạn trung và dài hạn Ngân hàng cần giám sát chặt chẽ
hơn các khoản cho vay trung và dài hạn để kịp thời thu hồi nợ đến hạn, giảm tỷ lệ
nợ quá hạn xuống mức thấp thất
Qua phân tích tình hình hoạt động tín dụng, ta thấy hoạt động tín
dụng ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng Doanh số cho vay ngắn hạn qua 3 năm luôn chiếm trên 86%; doanh số thu
Trang 19nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng Do đó, thông qua hoạt động tín dụng
ngắn hạn ta có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng
Bảng 4: TÌNH HÌNH TÍN DỤNG NGẮN HẠN QUA 3 NĂM 2005-2007
ĐVT: triệu đồng
(Nguồn: PhòngTín dụng NHNo&PTNT Song Phú)
4.2.2 Khái quát hoạt động tín dụng trung và dài hạn
Bảng 5: TÌNH HÌNH TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
QUA 3 NĂM 2005-2007
ĐVT: triệu đồng
(Nguồn: PhòngTín dụng NHNo&PTNT Song Phú)
4.3 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA
NHNo&PTNT SONG PHÚ QUA 3 NĂM 2005-2007
Trong thời gian qua NHNo&PTNT Song Phú đã đáp ứng một lượng lớn về
vốn tín dụng ngắn hạn cho khách hàng nhiều hình thức cho vay khác nhau Giúp
cho việc sản xuất kinh doanh của các hộ nông dân có được kết quả khả quan, đáp
ứng vốn kịp thời cho việc tái sản xuất, quá trình thanh toán giữa các doanh
nghiệp diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, qua đó đã góp phần phát triển kinh tế địa
phương
Formatted: Justified
Formatted: Justified
Trang 20Để thấy rõ hơn về hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng ta sẽ tìm hiểu
thông qua các chỉ tiêu sau:
Trang 21Tình hình hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng qua 3 năm được thể
hiện qua hình sau:
4.3.1 Tình hình doanh số cho vay ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của NHNo&PTNT Song Phú,
vì vậy việc mở rộng doanh số cho vay ngắn hạn luôn được ngân hàng đặc biệt
quan tâm
4.3.1 Doanh số cho vay
Nghiệp vụ cho vay là một trong những hoạt động quan trọng của các
nNgân hàng thương mại.Trong tổng các nguồn thu của ngân hàng thì thu từ cho
vay luôn chiếm tỷ trọng cao nhất Cho nên, ngân hàng hoạt động tốt, thưc hiện
cho vay có hiệu quả sẽ tạo nguồn thu ngày càng tăng
Doanh số cho vay là số tiền mà ngân hàng đã giải ngân dưới hình thức tiền
mặt và chuyển khoản trong khoảng thời gian nhất định, sự tăng lên hoặc giảm
Triệu đồng
Năm
Hình 9: Biểu đồ hoạt động tín dụng ngắn hạn qua
ba năm 2005-2007
Trang 22xuống của doanh số cho vay cũng đánh giá được tình hình hoạt động của mỗi
ngân hàng Do bản chất là đi vay để cho vay, vì thế với nguồn vốn huy động
được trong mỗi năm ngân hàng cần có biện pháp thích hợp để sử dụng nguồn vốn
đó có hiệu quả để tránh tình trạng ứ đọng vốn
Nhìn chung, doanh số cho vay của ngân hàng đã không ngừng tăng lên
qua các năm Đạt được kết quả như vậy là do Ban lãnh đạo cùng toàn thể công
nhân viên trong ngân hàng đã nỗ lực hết mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng
thời kết hợp với những biện pháp như mở rộng qui mô tín dụng, cải thiện thủ tục
xin vay vốn …, điều đó cho thấy sự tăng lên và ngày một lớn mạnh về qui mô tín
dụng tại ngân hàng, tạo nên một bước đột phá về sự gia tăng vượt bậc của doanh
số cho vay.u
4.3.1.1 Doanh số cho vay theo địa bàn
Khi phân tích hoạt động cho vay của ngân hàng ta cần phân tích hoạt động
cho vay theo địa bàn từng xã Từ đó mới biết được qui mô của từng xã trong
huyện nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn vốn một cách hợp lý nhất
Địa bàn của từng xã có những đặc điểm kinh tế khác nhau vì vậy nhu cầu về
vốn cũng khác nhau, do đó ngân hàng đã chia doanh số cho vay theo từng địa bàn
khác nhau được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây:
Formatted: Indent: First line: 0 cm
Trang 23Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Trang 24Phú
Thịnh 17.006 27,72 19.216 28,60 23.903 29,55 2.210 12,99 4.687 24,39
Tổng
(Nguồn: Phòng Tín dụng NHNo&PTNT Song Phú)
Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh số cho vay theo địa bàn 4 xã có tỷ
trọng tương đối như nhau Doanh số cho vay của 4 xã đều tăng qua ba năm Qua
3 năm, doanh số cho vay của xã Phú Thịnh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, xã Tân
Phú có tỷ trọng doanh số cho vay thấp nhất
Xã Phú Thịnh: Lluôn dẫn đầu về tỷ trọng doanh số cho vay qua các năm
trong bốn xã Doanh số cho vay của năm 2006 đạt tỷ trọng 28,60%; tăng 2.210
triệu đồng; tăng về số t ương đối là 12,99% so với năm 2005 Năm 2007 doanh số
cho vay tăng 4.687 triệu đồng; với tốc độ tăng 24,39% so với năm 2006; chiếm
29,55% tổng doanh số cho vay của ngân hàng
Dân cưNgười dân ở xã Phú Thịnh sống chủ yếu bằng nghề mua bán kinh
doanh và nuôi cá giống nên nhu cầu vốn cao trong tổng doanh số cho vay toàn
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Trang 25địa bàn Nguồn vốn vay chủ yếu phục vụ cho việc mua bán hàng hóa và đầu tư
cho cá giống phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh
Doanh số cho vay năm 2005 là 17.006 triệu đồng, năm 2006 là 19.216 triệu
đồng Năm 2007 là 23.903 triệu đồng Doanh số cho vay tăng liên tục cho thấy
trong những năm gần đây người dân có xu hướng mở rộng đầu tư sản xuất kinh
doanh, điều này cho thấy kinh tế xã hội của địa phương có bước phát triển khá
mạnh đó cũng là do ngân hàng hỗ trợ vốn cho các thương gia kinh doanh nhằm
phát triển kinh tế xã hội
Xã Song Phú: năm 2006 doanh số cho vay là 15.079 triệu đồng, đạt tỷ
trọng 22,45%; tăng 917 triệu đồng, tăng về số tương đối là 6,48% so với năm
2005 Năm 2007 tăng 2.856 triệu đồng với tốc độ tăng 18,94% so với năm 2006
một số nông dân đã chuyển sang cải tạo vườn, trồng cây ăn trái,…và nguồn vốn
còn phục vụ cho việc mua máy móc để sản xuất nông nghiệp
Xã Long Phú: có tỷ trọng doanh số cho vay được xếp thứ hai sau xã
Phú Thịnh qua 3 năm
Năm 2005 doanh số cho vay đạt tỷ trọng 26,29% Năm 2006 doanh số cho
vay đạt tỷ trọng 27,56% với số tiền cho vay 18.518 triệu đồng; tăng 2.394 triệu
đồng, với tỷ lệ tăng là 14,85% so với năm 2005 Năm 2007 tăng với tốc độ
20,23% với số tiền tăng lên 3.746 triệu đồng so với năm 2006
Doanh số cho vay của xã tăng lên hàng năm là do nông dân trong xã đã
mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực thủy sản trong những năm gần đây vì dịch bệnh
rầy nâu trên cây lúa nên nguồn vốn của người dân còn đầu tư cho lĩnh vực nuôi
cá đồng như: cá lốc, cá rô nhằm tận dụng nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương,
Nguyên nhân doanh số cho vay của xã tăng liên tục là vì bên cạnh sản xuất nông
nghiệp thì bà con nông dân đã mở rộng thêm chăn nuôi heo thịt nhưng với số
lượng mang tính chất gia đình
Trang 26 Xã Song Phú: năm 2006 doanh số cho vay là 15.079 triệu đồng, đạt tỷ
trọng 22,45%; tăng 917 triệu đồng, tăng về số tương đối là 6,48% so với năm
2005 Năm 2007 tăng 2.856 triệu đồng với tốc độ tăng 18,94% so với năm 2006
Nguyên nhân doanh số tăng hàng năm là do bà con nông dân có xu hướng
cải tạo vườn tạp để trồng cây ăn trái Vài năm gần đây phong trào chăn nuôi bò
thịt phát triển mạnh nên nhu cầu về vốn cũng tăng cao
Xã Tân Phú: Đây là xã có doanh số cho vay thấp nhất vì mang tính đặc
thù của xã trồng nông nghiệp Nguồn vốn của người nông dân chủ yếu phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi heo
Năm 2006 cho vay với số tiền là 14.370 triệu đồng, đạt tỷ trọng 21,39%;
tăng 326 triệu đồng hay tăng 2,32% so với năm 2005 Năm 2007 tăng 2.411 triệu
đồng với tốc độ tăng 16,78% so với năm 2006 Năm 2004 là 5.238 triệu đồng
chiếm 4,03% doanh số cho vay của toàn huyệnNăm 2005 là 8.491 triệu đồng
tăng 3.253 triệu đồng hay tăng 62,10% so với năm 2004 Năm 2006 là 9.157
triệu đồng, tăng 666 triệu đồng, tương ứng tăng 7,84% so với năm 2005 Vì vậy,
trong những năm sắp tới ngân hàng cần đẩy mạnh công tác đầu tư vào các xã có
doanh số vay thấp nhằm mở rộng thêm địa bàn hoạt động và thu hút nhiều người
đến vay tiền hơn
Năm 2005, tỷ trọng doanh số cho vay của xã Song Phú là 23,09%; xã
Trang 274.3.1.2 Doanh số cho vay theo đối tượng sử dụng vốn
Trong các thành phần kinh tế tham gia hoạt động cho vay của ngân hàng
có thành phần kinh tế cá thể, hộ sản xuất cơ sở kinh doanh và cho vay doanh
nghiệp được thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 7: DOANH SỐ CHO VAY THEO ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG VỐN
Phú Thịnh Tân Phú
Formatted: Font: 11 pt Formatted Table
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Centered Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Trang 28(Nguồn: Phòng Tín dụng NHNo&PTNT Song Phú)
a Cho vay cá thể, hộ sản xuất:
Ngân hàng cho vay các đối tượng sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại-dịch vụ và cho vay khác đối với cá thể, hộ sản xuất Mà
thành phần cho vay chủ yếu là nông dân, vì theo ngân hàng nông dân là khách
hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và uy tín của ngân hàng Như theo
lời phát biểu của Giám Đốc NHNo&PTNT Việt Nam: “Thực tế hoạt động tín
dụng trên thương trường 10 năm qua cho phép chúng ta khẳng định: nông dân là
khách hàng vay trả sòng phẳng; người dân không chỉ là khách hàng mà còn là
người bạn đồng hành có uy tín của NHNo&PTNT Việt Nam” Do vậy trong quá
trình hoạt động của mình ngân hàng luôn chú trọng cho vay thành phần kinh tế
này
Những năm qua, doanh số cho vay của ngân hàng đối với cá thể, hộ sản
xuất luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong cơ cấu thành phần kinh tế
Năm 2006 doanh số cho vay đối với hộ sản xuất, cá nhân là 63.263 triệu
đồng, tăng 5.787 triệu đồng, với tốc độ tăng là 10,07 % so với năm 2005 Tận
dụng mọi tiềm năng sẵn có để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập n ên nhu cầu
về vốn để cải tạo vườn tạp trồng các loại cây có múi của các hộ nông dân tăng,
đồng thời nhu cầu về vốn của những hộ buôn bán nhỏ cũng tăng lên làm cho
doanh số cho vay tăng lên rất nhiều
Sang năm 2007 doanh số cho vay tiếp tục tăng mạnh 79.243 triệu đồng,
chiếm 97,97% tổng doanh số cho vay ngắn hạn, tăng 15.980 triệu đồng hay tăng
25,26% so với năm 2006 Nguyên nhân là do gần đây các hộ sản xuất kinh doanh
mà đặc biệt là các hộ nông dân, bên cạnh việc sản xuất nông nghiệp người dân
còn được sự quan tâm của chính quyền địa phương, họ được hướng dẫn, khuyến
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 29hiện qui trình xen canh tăng vụ 2 lúa-1 màu do đó nhu cầu về vốn của người dân
tăng lên
b Cho vay doanh nghiệp:
Năm 2006 doanh số cho vay là 3.920 triệu đồng, tăng 60 triệu đồng,
với tốc độ tăng 1,55% so với năm 2005 Trong năm 2006 ngân hàng đã thu hút
thêm được các khách hàng mới, đồng thời vẫn giữa mối quan hệ tốt đối với
những doanh nghiệp là khách hàng truyền thống nên doanh số cho vay đã tăng
lên
Đến năm 2007 doanh số cho vay giảm còn 1.640 triệu đồng, giảm
2.280 triệu đồng hay 58,16% so với năm 2006 Nguyên nhân giảm là do các ngân
hàng cổ phần trên địa bàn đã đưa ra mức lãi suất hấp dẫn dành riêng cho các
doanh nghiệp nhằm thu hút khách hàng là doanh nghiệp
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 30Để thấy được tốc độ tăng giảm về tình hình cho vay của các đối tượng sử
dụng vốn qua ba năm ta lần lượt xem xét hình sau:
Doanh số cho vay theo đối tượng sử dụng vốn
4.3.1.3 Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn
Ngân hàng đã nắm sát tình hình nhu cầu vốn và đáp ứng kịp thời nhu cầu
vốn của bà con nông dân Đồng thời do có đội ngũ nhân viên có nhiều kinh
Doanh số cho vay hộ sản xuât, cá nhân
Tổng doanh số cho vay
Doanh số cho vay DNTN
Doah số cho vay DNTN
Triệu đồng
Năm
Trang 31định nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế trong địa bàn và có kế hoạch về cơ
cấu cho vay phù hợp Do vậy, doanh số cho vay của ngân hàng tăng qua các năm
mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn tăng lên là rất phù hợp với xu thế phát triển kinh
tế và nhu cầu vốn cho sản xuất của người dân
Góp phần thực hiện chương trình mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cùng
với định hướng hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam, tỉnh Vĩnh
Long, của huyện Tam Bình và tình hình thực tế của địa phương Chi nhánh
NHNo&PTNT Song Phú đã mở rộng đầu tư tín dụng đến tận các xã vùng sâu
vùng xa chuyển dịch đầu tư mở rộng đối tượng tín dụng, cơ cấu đầu tư được từng
bước xác định trên cơ sở chuyển dịch theo cơ cấu kinh tế của huyện nhà
Bảng 8: DOANH SỐ CHO VAY THEO MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG VỐN
(Nguồn: Phòng Tín dụng NHNo&PTNT Song Phú ))
Để thấy được nguyên nhân tăng giảm về tình hình doanh số cho vay ta
lần lượt phân tích các đối tượng sau:
a Cho vay nông nghiệp
Trang 32Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà Nước là “đa dạng hoá các hình thức
sản xuất nông nghiệp và kết hợp các hình thức đó lại với nhau nhằm đạt kết quả
cao nhất” đã đạt kết quả rất cao Thấy được lợi ích của việc vay vốn ngân hàng
để thực hiện mở rộng sản xuất nông nghiệp nên nhu cầu vốn của người dân ngày
càng cao làm cho doanh số cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp của ngân hàng
tăng lên
Doanh số cho vay năm 2005 là 40.295 triệu đồng Năm 2006 doanh số
cho vay tăng lên 45.022 triệu đồng, tăng 4.727 triệu đồng, với tốc độ tăng là
11,73% so với năm 2005
Đến năm 2007 doanh số cho vay tăng lên 52.569 triệu đồng, tăng về
lượng là 7.547 triệu đồng tức 16,76% so với năm 2006, doanh số cho vay tăng là
do nguồn vốn đầu tư trong lĩnh vực chăn nuôi và kinh tế tổng hợp tăng
Các đối tượng cho vay ngắn hạn trong nông nghiệp chủ yếu là cho vay
trồng trọt, chăn nuôi và kinh tế tổng hợp
Chăn nuôi:
Đây là đối tượng được ngân hàng quan tâm, theo chỉ đạo phát triển đàn vật
nuôi trong địa bàn 4 xã Cho vay chăn nuôi ngắn hạn được chi phối cho con
giống, thức ăn và thuốc trị bệnh cho các loài vật nuôi như: heo, gia cầm, cá, bò…
Doanh số cho vay chăn nuôi năm 2005 là 1.433 triệu đồng chiếm
3,56% trong tổng doanh số cho vay nông nghiệp
Năm 2006 doanh số cho vay chăn nuôi tăng lên 1.960 triệu đồng,
chiếm 4,35% doanh số cho vay nông nghiệp, tăng 525 triệu đồng hay 36,59% so
với năm 2005 Nguyên nhân tăng là trong những năm gần đây người dân được
các cán bộ nông nghiệp thường xuyên mở các lớp tập huấn về phương pháp chăn
nuôi và cung cấp con giống cao sản nên nhu cầu vay vốn để chăn nuôi của người
dân đã tăng lên Đồng thời, việc mở rộng đầu tư vào chăn nuôi còn giúp người
dân tận dụng được thời gian nhàn rỗi, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống và
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 33 Đến năm 2007, doanh số cho vay trong chăn nuôi tiếp tục tăng cao, đạt
3.069 triệu đồng, với số tiền tăng là 1.109 triệu đồng, hay tăng 56,58 % so với
năm 2006 Nguyên nhân là do người dân được sự hỗ trợ của chính quyền, các cán
bộ nông nghiệp ở địa phương nên họ đã mạnh dạn đầu tư cho chăn nuôi
Kinh tế tổng hợp:
Hiện nay đang tồn tại các loại hình kinh tế tổng hợp là VAC, VACR, VR
Các mô hình này được NHNo&PTNT Song Phú khuyến khích đầu tư và đã thu
hút được đa số người dân, mặc dù chỉ mới được áp dụng gần đây nhưng doanh số
cho vay kinh tế tổng hợp luôn chiếm tỷ trọng cao (hơn 94%) trong tổng doanh số
cho vay nông nghiệp, hình thức này giúp cho việc sử dụng vốn được linh hoạt
hơn, hơn nữa đầu tư tổng hợp sẽ giúp người dân phân tán rủi ro trong sản xuất,
dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng giảm xuống
Năm 2006 doanh số cho vay đạt ở mức cao 43.062 triệu đồng, tăng 4.200
triệu đồng, với tốc độ tăng là 10,81% so với năm 2005 Xuất phát từ những ưu
điểm trên nên ngày càng có nhiều người dân chọn mô hình kinh tế tổng hợp, đây
là nguyên nhân chính của việc tăng doanh số cho vay trong lĩnh vực này
Năm 2007 doanh số cho vay tiếp tục tăng lên 49.500 triệu đồng, tăng 6.438
triệu đồng tức 14,95% so với năm 2006 Doanh số cho vay trong lĩnh vực này
tăng là để phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, tăng
dần cơ cấu nông nghiệp trong cơ cấu ngành
b Cho vay kinh doanh thương mại - dịch vụ:
Để phù hợp với xu hướng đa dạng hoá, ngoài việc phục vụ cho nông
nghiệp là chính thì NHNo&PTNT Song Phú cũng rất quan tâm đến lĩnh vực cho
vay thương mại và dịch vụ Vì đây là cơ sở cho quá trình đô thị hoá của địa
phương, chính vì vậy mà doanh số cho vay trong ba năm qua có chiều hướng
tăng lên
Năm 2006 doanh số cho vay là 20.743 triệu đồng, tăng về lượng là 2.981
triệu đồng hay về tỷ lệ tăng 16,78% so với năm 2005
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 34Năm 2007 doanh số cho vay tiếp tục tăng lên 25.682 triệu đồng, tăng
4.939 triệu đồng, với tốc độ tăng là 23,81% so với năm 2006
Tỷ trọng doanh số cho vay trong lĩnh vực này cũng tăng lên qua các năm,
cụ thể năm 2005 doanh số cho vay chiếm 28,96%, năm 2006 tăng lên 30,88% và
sang năm 2007 tỷ trọng này được nâng lên 31,75% Điều đó cho thấy ngân hàng
đã từng bước chuyển dịch cơ cấu đầu tư đối với lĩnh vực này
b Cho vay các mục đích sử dụng vốn khác:
Ngoài nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ
NHNo&PTNT Song Phú còn cho vay một số mục đích sử dụng vốn khác như:
cho vay chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay hợp tác lao động nước ngoài Tuy lợi
nhuận thu được từ các khoản cho vay này rất thấp nhưng ngược lại đầu tư vào
hoạt động này ít mang lại rủi ro cho ngân hàng
Năm 2006 doanh số cho vay là 1.418 triệu đồng, giảm 1.861 triệu đồng hay
giảm 56,75% so với năm 2005 Nguyên nhân giảm là do trong năm 2006 không
có phát sinh cho vay chứng từ có giá.`
Năm 2007 doanh số cho vay tăng lên 2.632 triệu đồng, tăng 1.214 triệu
đồng hay 85,61% so với năm 2006 Xu hướng đi lao động nước ngoài trong
những năm gần đây gia tăng đáng kể, do đó mà doanh số cho vay để đi hợp tác
lao động nước ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng cao và trong năm 2007 có phát
sinh nhiều món cho vay cầm cố giấy tờ có giá Đồng thời, ngân hàng Trung
Ương có chính sách cho cán bộ công nhân viên vay để làm kinh tế gia đình cải
thiện đời sống vật chất cho cán bộ nhà nước cùng với việc khuyến khích làm
kinh tế phụ đối với các hộ dân ở các cấp chính quyền địa phương
Doanh số cho vay ngắn hạn theo mục đích sử dụng vốn được thể hiện
cụ thể qua hình sau:
Triệu đồng
Trang 350 10000
Tóm lại, doanh số cho vay ngắn hạn của NHNo&PTNT Song Phú qua 3
năm có sự tăng lên rõ rệt Ngân hàng thực hiện ngày càng tốt vai trò của mình
trong việc cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, mạng lưới ngân
hàng ngày càng lớn mạnh rộng khắp đến bà con nông dân Doanh số cho vay
ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cho vay ngắn hạn, còn cho vay kinh
doanh thương mại-dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp hơn Tuy nhiên, ngân hàng cũng
đã dần mở rộng cho vay thương mại-dịch vụ Việc mở rộng này rất phù hợp với
xu thế phát triển kinh tế của huyện nhà Trong hướng tới ngân hàng sẽ tăng
doanh số cho vay của các ngành và dần tăng tỷ trọng các ngành thương mại-dịch
vụ và các ngành nghề khác trong cho vay ngắn hạn của ngân hàng
Để việc cho vay đem lại hiệu quả cao ngân hàng nên chú trọng hơn nữa
đến việc phân loại và phân tích tình hình kinh tế cũng như thiện chí trả nợ của
các khách hàng có quan hệ với ngân hàng để mở rộng đầu tư, cần giữ chân những
khách hàng truyền thống có mối quan hệ tốt từ trước đến nay với ngân hàng
4.3.2 Doanh số thu nợ
Song song với việc tăng doanh số cho vay, chi nhánh NHNo&PTNT Song
Phú không ngừng chú trọng đến công tác thu nợ bởi vì công tác thu hồi nợ rất
Năm
Hình 12: Đồ thịBiểu đồ doanh số cho vay ngắn hạn theo mục đích sử
dụng vốn qua 3 năm 2005-2007
Trang 36quan trọng, nếu thu hồi nợ có hiệu quả sẽ làm giảm nợ quá hạn, hạn chế rủi ro
cho ngân hàng
4.3.2.1 Doanh số thu nợ Tt heo địa bàn
Qua bảng 9 cho thấy công tác thu hồi nợ theo địa bàn của ngân hàng ngày
càng có hiệu quả, thể hiện ở doanh số thu hồi nợ tăng dần qua các năm
Năm 2005 doanh số thu hồi nợ chỉ có 57.898 triệu đồng
Năm 2006 thu được 61.602 triệu đồng, tăng 3.704 triệu đồng, tương ứng
tăng 6,40% so với năm 2005
Năm 2007 doanh số thu nợ là 75.593 triệu đồng, tăng 13.991 triệu đồng hay
tăng 22,70% so với năm 2006
Đạt được kết quả như trên là nhờ vào sự nổ lực thu hồi nợ của chi nhánh mà
trực tiếp là các cán bộ tín dụng phụ trách ở các xã, điều này cũng nói lên việc vay
vốn phục vụ cho sản xuất của nông dân ngày một tốt hơn thể hiện qua khả năng
trả nợ cho ngân hàng
Nhìn chung, ngân hàng cho vay tăng qua các năm thì bên cạnh đó công tác
thu hồi nợ của ngân hàng cũng tăng lên, đều này còn nói lên tính hiệu quả trong
sản xuất nông nghiệp và tính hiệu quả của công tác tín dụng của chi nhánh Song
Phú Trong những năm qua ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho người nông
dân sản xuất
Formatted: Font: 13 pt
Trang 37Bảng 9: DOANH SỐ THU NỢ THEO ĐỊA BÀN QUA 3 NĂM 2005-2007
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered Formatted: Font: 11 pt Formatted: Centered
Trang 38Qua bảng số liệu trên cho thấy công tác thu hồi nợ theo địa bàn của ngân
hàng ngày càng có hiệu quả, thể hiện ở doanh số thu hồi nợ tăng dần qua các
năm
và tính hiệu quả của công tác tín dụng của chi nhánh Song Phú Xã Phú
Thịnh: luôn đạt doanh số thu nợ cao nhất trong 4 xã qua ba năm Năm 2005
chiếm 27,95% ; năm 2006 chiếm 27,25% và tỷ trọng này đựơc nâng lên trong
năm 2007 là 29,17% tổng doanh số thu nợ Đây cũng là do doanh số cho vay của
xã Phú Thịnh luôn dẫn đầu qua 3 năm và việc sản xuất kinh doanh của người dân
trong địa bàn xã ngày càng có hiệu quả
Ba xã Song Phú, Long Phú, Tân Phú có tỷ trọng doanh số thu nợ không
chênh lệch nhiều và ít dao động qua các năm
Xã Tân Phú:nNăm 2005 đạt doanh số thu nợ là 13.169 triệu đồng với tỷ
trọng là 22,75% thấp nhất trong 4 xã Năm 2006, doanh số thu nợ tăng 715 triệu
đồng tương ứng tăng 5,43%; chiếm tỷ trọng 22,54% trong tổng doanh số cho vay
của ngân hàng, xếp hàng thứ tư Điều này là hợp lý bởi vì doanh số cho vay năm
2005 và 2006 của xã Tân Phú cũng có tỷ trọng thấp nhất trong khu vực
Sang năm 2007 tỷ trọng doanh số thu nợ tăng lên hơn cả Song Phú, đạt
22,56% Đạt được kết quả như vậy là nhờ sự đôn đốc người dân trả nợ của cán
bộ tín dụng phụ trách ở xã Tân Phú và nhờ vào giá heo thịt năm 2007 tăng mạnh,
người dân có lãi nhiều nên công tác thu hồi nợ của ngân hàng thuận lợi
tiền thu được 14.486 triệu đồng Năm 2006 thu được 16.205 triệu đồng,, có tỷ
Trang 39trọng là 26,31% tăng 1.719 triệu đồng so với năm 2005 Năm 2007, doanh số thu
nợ tăng 4.504 triệu đồng so với năm 2006
Xã Song Phú: Trong 2 năm 2005 và 2006 doanh số thu nợ đứng thứ ba
sau Phú Thịnh và Long Phú Năm 2005 chiếm 24,28% ; năm 2006 chiếm 23,90%
tỷ trọng này trong năm 2007 giảm còn 20,87% tổng doanh số thu nợ Nguyên
nhân là do năm 2007 có tin cho rằng giống bưởi chùm ở Mỹ gây ung thư nên đã
gây ra tâm lý cho người dân hoang mang, lo sợ khi ăn bưởi nên giá bưởi năm
2007 giảm nhanh chóng và việc tiêu thụ hết sức khó khăn, thậm chí không có
thương lái đi mua Do vậy mà công tác thu hồi nợ trong năm 2007 ở xã Song Phú
gặp nhiều khó khăn
và xã Song Phú đứng thứ ba có tỷ trọng 24,28% với số tiền là14.060 triệu đồng
Sang năm 2006, tình hình cũng diễn ra như năm 2005
Đến năm 2007, doanh số thu nợ của xã Tân Phú đứng thứ ba sau Phú Thịnh và
Long Phú Xã Song Phú rơi xuống thứ tư
Trang 40Bảng 9: DOANH SỐ THU NỢ THEO ĐỊA BÀN
ĐVT: triệu đồng
(Nguồn: PhòngTín dụng NHNo&PTNT Song Phú)
4.3.2.2 Doanh số thu nợ theo đối tượng sử dụng vốn
Doanh số cho vay tại ngân hàng qua 3 năm có sự tăng trưởng khá tốt Trong đó doanh số cho vay đối với hộ sản xuất và cá nhân có sự
tăng trưởng nhanh chóng Sự tăng lên của doanh số cho vay thì doanh số thu nợ
cũng tăng theo
Để thấy được tình hình thu nợ ngắn hạn theo đối tượng sử dụng vốn có hiệu
quả hay không, ta tiến hành phân tích số liệu sau:
Hình 13: Đồ thị doanh số thu nợ theo địa bàn
qua 3 năm 2005-2007 Năm 2007