1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Tìm hiểu chung về văn nghị luận - Tư liệu Ngữ Văn 7

5 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 22,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn nghị luận là một loại văn,, trong đó người viết dùng lí lẽ và những dẫn chứng (ngoải đời và trong sách vở) để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó của cuộc sống hoặc văn học, nhằm thuyết p[r]

Trang 1

TÌM HIỂU CHUNG VỀ VĂN NGHỊ LUẬN TÌM HIẾU KHÁI NIỆM

• Văn nghị luận

Văn nghị luận rất khác các kiểu bài làm văn đã được học và làm ở các lớp trước (văn miêu tả, kể chuyện, tường thuật người ta tạm gọi là loại văn sáng tác) Nếu như loại văn sáng tác nhằm kích thích trí tưởng tượng, xây dựng óc quan sát tinh tế với tình cảm chân thực, những khám phá hồn nhiên về thiên nhiên, về đời sống gia đình và xã hội, thì văn nghị luận nhằm hình thành và phát triển khả năng lập luận chặt chẽ, trình bày những lí lẽ và dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu sức thuyết phục ; diễn tả những suy nghĩ và nêu những ý kiến riêng của mình về một vấn đề nào đó trong cuộc sống hoặc trong văn học, nghệ thuật

Các em thử so sánh hai đoạn văn sau đây thì sẽ thấy rõ điều đó

Đoạn 1

Âm nhạc là nghệ thuật gắn bó với con người từ khi lọt lòng mẹ cho tới lúc từ biệt cuộc đời Ngay

từ lúc chào đời, em bé đã được ôm ấp trong lời ru nhẹ nhàng của người mẹ Lớn lên với những bài hát đồng dao, trưởng thành với những điệu hò lao động, những khúc tình ca vui buồn với biết bao sinh hoạt nghệ thuật ca hát từ thôn xóm đến thành thị, người Việt Nam chúng ta cho tới lúc hết cuộc đời vẫn còn tiếng nhạc vắng theo với những điệu hò đưa linh hay điệu kèn đưa đám.

(Phạm Tuyên, Các bạn trẻ đến với âm nhạc,

NXB Thanh niên, Hà Nội, 1982) Đoạn 2

Mở sách tìm một ngày đại an trong tháng, ông tôi gọi mẹ tôi và thím tôi đến, phát lệnh chuẩn bị tắm Hai bà chạy ríu cả chân vì mừng rỡ, người nào việc nấy, riêng tôi, trong khi chờ đợi thì chơi đùa quanh quẩn ngoài sân với mây đứa em Gần trưa ông tôi tự đứng dậy đi men ra ngoài ngồi vào một cái chõng tre đặt bên mây thau nước Mẹ tôi cầm gáo từ từ dội, cũng có thề nói là tẩm nước lên khắp bờ vai và lưng ông, tấm lưng đóng vảy bóng như phủ bằng sáp, củng không biết nên hiểu đấy là do tuổi già hay do ông lười tắm Vốn là một người ngại cả trời nóng, ngại

cả trời rét, ông ít đi ra khỏi nhà, càng ít động đến nước và lửa.

Nước trôi tuồn tuột từng gáo, từng gáo, cái vỏ mướp được kì thật mạnh vậy mà vẫn cứ trượt

đi , máy lần tôi ngã dúi dụi tấm lưng nhẵn như da rắn không thấm nước làm tôi hoang mang vì thấy mình bất lực, còn ông tôi thì cười khò khè.

(Đỗ Chu, Mảnh vườn xưa hoang vắng, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1989)

Có thể thấy rõ, đoạn văn thứ nhất là một đoạn văn nghị luận, ở đoạn văn này, nhạc sĩ Phạm Tuyên nêu lên ý kiến của mình về sự gắn bó giữa âm nhạc với con người Ý chính được làm sáng

tỏ là : “Âm nhạc gắn bó với con người từ khi lọt lòng mẹ tới lúc từ biệt cuộc đời” Để thuyết phục người đọc điều ấy, nhạc sĩ đã đưa ra dẫn chứng : cả cuộc đời một con người lúc nào cũng gắn bó với âm nhạc

Trang 2

- Lúc sinh ra : Có lời ru của mẹ.

- Lớn lên : Hát đồng dao

- Trưởng thành : Hò lao động và những khúc tình ca vui buồn

- Lúc chết : Có điệu hò đưa linh hay điệu kèn đưa đám

Các dẫn chứng được đưa ra theo trình tự thời gian Điều đó hoàn toàn phù hợp và làm sáng tỏ được ý cần chứng minh

Đoạn văn thứ hai lại là một đoạn văn miêu tả Sự việc mỗi lần ông tắm (thực ra là tắm cho ông) được nhà văn Đỗ Chu miêu tạ lại, tái hiện lại rất sinh động Bằng những quan sát vừa tinh tế vừa hóm hỉnh, kết hợp với một tình cảm trân trọng, một tấm lòng chân thực, Đỗ Chu đã tạo nên trước mắt ta “một bức tranh dân gian vừa vui vừa cảm động” như có nhà văn đã nhận xét

Vui vì chỉ có chuyện tắm của ông thôi mà cả nhà cứ “ríu cả chân vì mừng rỡ, người nào việc nấy”, vui vì tác giả đặc tả cái lưng ông già một năm tắm có hai lần rất sinh động : “tấm lưng đóng vảy bóng như phủ bằng sáp”, “nước trôi tuồn tuột từng gáo, từng gáo”, “tấm lưng nhẵn như

da rắn không thấm nước”, “cái vỏ mướp được kì thật mạnh vậy mà vẫn cứ trượt đi”,

Cảm động vì chân thực, vì nhưng tấm lòng yêu thương, kính trọng người ông, yêu kính tuổi già, một tình cảm thật nhân hậu và rất Việt Nam

Để hình dung và nhận biết được rõ hơn về hai loại văn này, các em đọc kĩ và so sánh hai loại đề sau :

Loại đề thứ nhất :

Đề 1 Hãy tả lại chú gà trống nào đó mà em đã có dịp quan sát.

Đề 2 Hãy thuật lại buổi chào cờ đầu tuần của trường em.

Đề 3 Em vừa đọc đước một truyện cổ tích hay Hãy kể lại cho các bạn cùng lớp nghe (ghi lại

thành một bài văn)

Đề 4 Hãy viết thư cho bạn nơi xa, kể lại một việc làm tốt của mình.

Loại đề thứ hai :

Đề 1 Tục ngữ có câu : Có công mài sắt, có ngày nên kim Em hãy chứng minh câu tục ngữ trên.

Đề 2 Nói chuyện với học sinh, Bác Hồ đã dạy : “Có tài mà không có đức là người vô dụng Có

đức mà không có tài, làm việc gì cũng khó”.

Em hãy giải thích câu nói trên

Đề 3 Hãy phân tích một vài đặc điểm cơ bản nhất của nhân vật chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn

của Ngô Tất Tố

Đề 4 Tục ngữ có câu : Gần mực thỉ đen, gần đèn thì rạng Hãy bình luận câu tục ngữ đó.

Trang 3

Đề 5 Bình giảng bài ca dao sau :

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Hai loại đề trên chưa phải đã nêu hết các kiểu và các dạng cụ thể, nhưng chúng là các dạng tiêu biểu của hai loại văn Bốn đề của loại đầu, các em đã học, đã làm, đã quen thuộc Chúng thuộc loại văn sáng tác Năm đề của loại thứ hai, các em chưa được học, chưa được luyện tập ở các lớp trước Đặc điểm chung của loại đề thứ hai là đề nào cũng nhằm yêu cầu người viết làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, thuyết phục người đọc thấy được cái đúng, cái hay, cái đẹp cũng như chỉ ra

và phê phán cái sai, cái dở, cái xấu của các vân đề được bàn đến Muốn thuyết phục được người đọc thì các em phải đưa ra lí lẽ và những dẫn chứng cụ thể Lí lẽ chặt chẽ, sáng sủa, sắc sảo làm cho người đọc hiểu được vấn đề Dẫn chứng cụ thể, sinh động, toàn diện làm người nghe tin vào những điều mình nói Khi ai đó hiểu và tin rồi thì tức là người ấy đã bị thuyết phục Ví du, ở đề 2 (loại đề thứ 2) đã nêu ở trên Để làm sáng tỏ ý nghĩa câu nói của Bác, đọc kĩ đề, các em sẽ thấy vấn đề cần thuyết phục người đọc là Vai trò của tài và đức đối với mỗi con người cũng như đôi với xã hội nói chung Muốn thuyết phục được người đọc, trước hết các em phải làm cho họ hiểu, bằng cách dùng lí lẽ của mình giải thích thế nào là tài, thế nào là đức ? Người vô dụng là như thế nào ? Làm việc gì cũng khó nghĩa là thế nào ? Tại sao người có tài mà không có đức là vô dụng ? Tại sao người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó ? Như vậy muốn làm người có ích thì phải như thế nào ? Tài và đức có quan hệ với nhau không ? Căn cứ vào thời gian và những yêu cầu cụ thể của đề, các em có thể đưa ra những lí lẽ của mình để giải thích cho người đọc hiểu tất cả các câu hỏi xoay quanh vấn đề trên

Sau khi làm cho người đọc hiểu, các em tiếp tục chứng minh điều mình vừa giải thích ở trên là đúng sự thật, là có thực, tức là phải làm cho người đọc tin bằng những ví dụ, những dẫn chứng

cụ thể, trong đời sống, trong sách báo mà mình biết Những dẫn chứng đưa ra cần theo một trật

tự nào đó thích hợp với vấn đề đang bàn bạc (dẫn chứng càng phong phú, toàn diện, chân thực càng làm cho người đọc tin hơn), ơ đề trên, các dẫn chứng đưa ra nên theo trật tư từ gần đến xa Nghĩa là nêu những dẫn chứng gần gũi, xung quanh mình (trong lớp, ở trường, quanh xóm, làng, ) rồi mở rộng dần đến những dẫn chứng mình đọc được trong sách vở, nghe người khác kể lại, Thêm vào đó, dẫn chứng đưa ra phải đầy đủ, toàn diện Nghĩa là có dẫn chứng người có tài

mà không có đức nên vô dụng, có dẫn chứng người có đức mà không có tài thành ra làm việc gì cũng khó Cuối cùng nêu một số dẫn chứng người vừa có tải vừa có đức là những người có ích, người đáng nêu gương, đáng học tập

Những dẫn chứng ở trên, trong quá trình viết các em có thể vừa giải thích vừa chứng minh, tức là vừa lập luận, đưa lí lẽ vừa đưa dẫn chứng để làm sáng tỏ những lí lẽ đó, nhưng cũng có thể tách làm phần hai sau khi đã giải thích

Đến đây (tuy chưa thật đầy đủ), chúng ta có thể nêu lên cách hiểu chung nhất về văn nghị luận :

Văn nghị luận là một loại văn,, trong đó người viết dùng lí lẽ và những dẫn chứng (ngoải đời và trong sách vở) để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó của cuộc sống hoặc văn học, nhằm thuyết phục người đọc, làm cho họ hiểu và tin là đúng đắn Vấn đề ấy có thể là cái haỵ, cái đúng, cái đẹp (để noi theo), nhưng cũng có thể là cái dở, cái sai, cái xấu (để phê phán).

Trang 4

Ngôn ngữ của văn nghị luận là ngôn ngữ của tư duy lôgíc nhằm nhận biết, lí giải và phân tích đời sống chứ không phải là ngôn ngữ của tư duy hình tượng nhằm mô tả và tái hiện đời sống như loại văn sáng tác Chính vì thế nó luôn đòi hỏi sự sáng sủa, chặt chẽ và chính xác.

Bố cục chung của bài văn nghị luận không có gì khác so với bố cục của các loại văn khác Nghĩa là nó cũng luôn có ba phần lớn : Mở bài (đặt vấn đề), Thân bài (giải quyết vấn đề) và Kết bài (kết luận, kết thúc vấn đề).

( Theo Nguyễn Đăng Mạnh - Đỗ Ngọc Thông, Hướng dẫn Tập làm văn 8, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995)

VĂN BẢN ĐỌC THÊM

BÀN VỀ THẦY

Những người theo đòi học vấn thời xưa ai cũng có thầy Thầy là kẻ truyền đạo, dạy nghề, giảng giải những điều ngờ vực Con người không phải sinh ra là đã biết hết mọi nhẽ, ai mà chẳng có những điều ngờ vực ? Ngờ vực mà không học thầy thì cái điều ngờ vực ấy cuối cùng cũng không giải quyết được Những người sinh ra trước ta, cố nhiên họ biết về đạo trước ta, ta theo mà học

họ ; những người sinh ra sau ta, nếu họ có thể biết về đạo trước ta, ta cũng theo mà học họ Ta cốt học cái đạo, cần gì phải biết là họ sinh ra trước hay sau ta ? Vì thế cho nên bất luận địa vị cao hay thấp, nhiều tuổi hay nhỏ tuổi, nơi nào có đạo thì ở nơi đó có thầy vậy

Than ôi, cái lẽ học thầy từ lâu đã thất truyền thì có muốn cho người biết cái điều ngờ vực cũng khó lắm thay ! Các thánh nhân ngày xưa, cái hơn người đã hẳn rồi, vậy mà còn tìm thầy để học hỏi Đám đông ngày nay sự thua kém các thánh nhân cũng đã hẳn rồi thế mà còn lấy việc học thầy làm xấu hổ Vì như vậy cho nên bậc thánh thì càng thánh mà kẻ ngu dại lại càng ngu Bậc thánh sở dĩ là thánh, kẻ ngu sở dĩ là ngu, lí do cũng chỉ thế mà thôi ! Những kẻ yêu con biết chọn thầy để dạy con, cũng vẫn coi việc mình học người là , xâu hổ, thật là lầm vậy Ông thầy dạy trẻ

em đọc sách và tập ngắt câu đâu phải là kẻ truyền đạo, giảng giải điều ngờ vực như tôi nói đâu Không biết ngắt câu thì tìm thầy mà học, còn có những điều ngờ vực lại không tìm thầy mà học Học cái nhỏ mà bỏ cái lớn, tôi chẳng thấy họ sáng suốt chút nào Thầy cúng, thầy thuốc, thầy nhạc, người làm các nghề khác đều không coi việc học hỏi nhau là xấu hổ Còn những kẻ có học, làm quan, thì mỗi khi nói ai là thầy của ai, ái là trò của ai liền túm tụm mà cười Hỏi tại sao thì nói : Kẻ ấy và kẻ kia cùng trạc tuổi với nhau, học vấn cũng tương tự như nhau thôi Học kẻ địa vị thấp hơn mình thì cảm thấy là sỉ nhục mà học kẻ địa vị cao hơn mình thì cảm thấy như là a dua Chao ôi, cái đạo học thầy không còn, nghe thế cũng đủ biết vậy Thầy cúng, thầy thuốc, thầy nhạc, người làm các nghề khác nhau, những kể quân tử đều xem thường cả, cho nên nay tó thức của họ không bằng những kẻ kia, vậy mà họ vẫn còn lấy làm lạ !

Kẻ thánh nhân không có thầy cố định Khổng Tử đã học Trường Hoằng, Sư Nhương, Lão Đam Loại người như Đàm Tử về mặt hiền đức đều không bằng Khổng Tử Khổng Tử nói : Cứ trong

ba người cùng đi tất có một người có thể làm thầy ta Vì thế, học trò không nhất thiết là phải thua thầy, thầy cũng không nhất thiết phải hiền đức hơn trò Thầy trò chỉ khác nhau về một điểm là biết về đạo trước và sau, nghề nghiệp tinh và không tinh, có thế mà thôi

( Theo Hàn Dũ, Tuyển tập tản văn đời Đường,

tập I, Trung Hoa thư cục, 1962)

Trang 5

CUỘC SỐNG ĐẸP

Thế nào là một cuộc sông đẹp nhất của người Việt Nam ta ? Theo tôi, một cuộc sống đẹp phải xây dựng trên những cơ sở sau đây :

Một là, tình thương yêu đối với Tổ quốc, đối với đồng bào, đối với nhân dân lao động Một xã hội tốt đẹp là một xã hội trong đó mọi người thương yêu lẫn nhau, mọi người sống trong đoàn kết, thân ái, trong hợp tác, tương trợ

Hai là, đấu tranh chống các thế lực phản động, chống cường quyền, áp bức và quét sạch mọi tư tưởng lề thói của xã hội cũ còn rơi rớt lại, nhất là thói lười biêng, ăn bám

Ba là, lao động Mọi người đều phải lao động vì tập thể, vì xã hội, lao động có kỉ luật, có kĩ thuật

và có năng suất cao

Bốn là, mọi người vươn tới đỉnh cao về nhân phẩm và trí tuệ Phải rèn luyện các đức tính : tận tuỵ, trung thành, hi sinh, xả thân, thật thà, dũng cảm, khiêm tốn Phải nâng cao trình độ học vấn,

ra sức phát huy năng lực sáng tạo, cống hiến nhiều cho xã hội

Trong các điểm trên, tình thương là cơ sở quan trọng nhất tạo nên cái đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa Tình thương là hạnh phúc của con người, là tình cảm cao đẹp thuộc bản chất của người lao động

(Lê Duẩn, Con đường tu dưỡng rèn luyện của thanh niên)

- Gợi dẫn

Từ cách hiểu về văn nghị luận ở phần đầu, hãy giải thích tại sao hai văn bản trên lại có thể coi là văn nghị luận

Ngày đăng: 20/12/2020, 01:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w