Tục ngữ (tục : thói quen có lâu đời, được mọi người công nhận ; ngữ: lời nói) là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện nh[r]
Trang 1TỤC NGỮ
VỀ THIÊN NHIÊN VÀ LAO ĐỘNG SẢN XUẤT
ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TÌM HIỂU KHÁI NIỆM
- Tục ngữ
Tục ngữ (tục : thói quen có lâu đời, được mọi người công nhận ; ngữ: lời nói) là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hằng ngày Đây là một thể loại văn học dân gian
Tục ngữ được ví như “túi khôn dân gian”, “kho báu của trí tuệ nhân dân” Hình thành, phát triển
từ thực tiễn tìm hiểu, chiếm lĩnh tự nhiên, thực tiễn lịch sử - xã hội sinh động, tục ngữ vừa là triết
lí, vừa là “cây đời xanh tươi”
Tục ngữ tồn tại như là lời nói, chứ không phải là lời kể, lời hát như các thể loại khác của sáng tác truyền miệng dân gian Chức năng quan trọng và cơ bản nhất của nó lả diễn đạt, truyền bá kinh nghiệm đời sống Các thể loại khác cũng có chức năng này nhưng không trực tiếp, tập trung Kinh nghiệm đời sống trong tục ngữ, so với các thể loại khác, cũng toàn diện và đa dạng hơn ; bởi vì đề tài của tục ngữ rất rộng, bao quát hầu như tất cả các lĩnh vực của thực tại, trong khi các thể loại khác có đối tượng phản ánh giới hạn hơn Có thể nói : ở đâu, lĩnh vực nào nhân dân có kinh nghiệm, ở đó, lĩnh vực đó có tục ngữ Thể loại này phản ánh không chỉ những kinh nghiệm được nhìn thấy, nghe thấy từ các giác quan bên ngoài, mà cả - và điều này càng sâu sắc - những kinh nghiệm được nhìn nhận, suy ngẫm từ các giác quan bên trong tinh tế của con người M Go-rơ-ki nhận xét : “Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch
sử, xã hội của nhân dân”
Nhân dân sáng tạo ra tục ngữ là để vận dụng Trong đời sống và tư duy, tục ngữ thể hiện và hướng dẫn kinh nghiệm về cách nhìn nhận, bình giá, ứng xử, thực hành các hiện tượng Trong ngôn ngữ, tục ngữ làm đẹp, làm sâu sắc thêm lời nói và giúp người ta diễn đạt cả những điều khó diễn đạt hoặc không tiện nói ra trực tiếp
Tục ngữ có khối lượng tác phẩm rất lớn nhưng hình thức các tác phẩm lại rất nhỏ Nó “ép chặt từng từ như xiết ngón tay thành quả đấm [ ], dè sẻn từng tiếng làm cho lời nói cô đọng, giàu ý nghĩa" về hình thức bên ngoài, tục ngữ đúng là thể loại nhỏ nhất, đơn giản Mỗi câu tục ngữ thường chỉ gồm vài từ ngắn gọn, dài nhất cũng chỉ dừng ở khuôn khổ một cặp lục bát : Lá lành đùm lá rách ; Chết trong hơn sống đục; Tấc đất tấc vàng; Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, Tháng ba sấm động phất cờ mà lên Hình thức nhỏ nhưng nội dung, tư tưởng của tục ngữ không nhỏ Lời chật ý rộng, trí tuệ và tình cảm được gói trong những câu tục ngữ cô đọng có thể “đem mở tung ra, viết thành hàng cuốn sách”
Trong tục ngữ, cái cụ thể và cái khái quát liên quan với nghĩa đen và nghĩa bóng Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp, gắn với sự việc và hiện tượng ban đầu Nghĩa bóng là nghĩa gián tiếp, nghĩa biểu tượng, ẩn dụ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng, ở nghĩa đen thì mực là “mực”, đèn là “đèn”, nhưng đến nghĩa bóng thì mực không còn là “mực” nữa, đèn cũng không còn là “đèn” nữa Nghĩa đen của câu tục ngữ Lạt mềm buộc chặt biểu hiện một kinh nghiệm lao động : Sợi lạt chẻ
Trang 2mỏng, ngâm nước cho mềm, mối buộc sẽ bền chặt Nghĩa đen ấy dẫn tới nghĩa bóng này : Ai mềm mỏng, khéo léo trong quan hệ giao tiếp thì dễ đạt được mục đích
Nghĩa đen và nghĩa bóng của tục ngữ quan hệ hữu cơ với nhau Nghĩa bóng được thê hiện thông qua nghĩa đen, trên cơ sở của nghĩa đen Chỉ có thể xới lật, bóc đúng các lớp nghĩa bóng khi đặt
nó trong quan hệ lôgíc với nghĩa đen
Đa số trường hợp nghĩa đen phản ánh kinh nghiệm quan sát tự nhiên và kinh nghiệm lao động, nghĩa bóng thể hiện kinh nghiệm xã hội (Tức nước vỡ bờ, Quá mù hoá mưa, Nhổ cỏ phải nhổ cả lễ, ) Nghĩa đen trở thành nghĩa bóng khi người sử dụng tục ngữ liên hệ, đối chiếu, tìm thấy sự tương đồng giữa điều mà tục ngữ phản ánh với các hiện tượng đời sống và khi đó nghĩa bóng là nội dung gián tiếp nhưng lại là mục đích trực tiếp mà người sử dụng muốn thông báo cho người nghe Tất nhiên không phải câu tục ngữ nào cũng có nghĩa bóng Làm sao tìm thấy nghĩa bóng trong những câu tục ngữ như Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối ; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm ? Không có khả năng chuyên thành nghĩa bóng là những câu không có khả năng, mục đích ví von, liên tưởng với các hiện tượng xã hội (Tháng bẩy nước nhẩy lên bờ ; Gió thổi là chổi trời ; Gió bấc thì hanh, gió nồm thì ẩm) Những câu tục ngữ mà cách diễn đạt đã thể hiện một trình độ nhất định của sự nhận thức khái quát thì cũng ít có khả năng chuyển nghĩa (Yêu nên tốt, ghét nên xấu ; Có làm có ăn
Cơ sở của sự sử dụng tục ngữ theo nghĩa bóng là ở chỗ tục ngữ biểu hiện những nhận xét khái quát một cách cụ thể, hình ảnh Tục ngữ khái quát hoá mà không trừu tượng Nghĩa bóng đã tạo cho tục ngữ khả năng vận dung năng động vào các trường hợp, và cứ mỗi lần được sử dụng ở những văn cảnh khác nhau thì nội dung, ý nghĩa khái nghiệm, những lớp nghĩa nằm bên trong và bên ngoài từ ngữ của nó lại giàu thêm Chang hạn, chỉ một câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây nhưng có thể sử dụng trong nhiều hoàn cảnh Có khi dân gian dùng để nhắc nhở mọi người ghi nhớ công sinh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ hoặc để bày tỏ tình cảm của trò đối với thầy (Cơm cha; áo mẹ, chữ thầy, Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao) Cũng có khi dân gian dùng câu tục ngữ ấy để bộc lộ lòng biết ơn đối với những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, hiến dâng cuộc đời cho Tổ quốc, cho nhân dân hay để nói về tình nghĩa thuỷ chung, sống có trước có sau - một truyền thống đạo đức của con người Việt Nam
Tục ngữ, như đã nói, là thể loại có hình thức bề ngoài rất nhỏ “Một câu tục ngữ còn ngắn hơn cả mũi con chim” Trong mỗi câu tục ngữ, một kinh nghiệm, tư tưởng lớn biểu hiện trong một mệnh đề ; trí tuệ, tình cảm của chủ thể kinh nghiệm dân gian được chắt lọc, cô đúc lại Có một điều rất lí thú, quá trình hình thành dị bản của tục ngữ nhiều khi là quá trình diễn ra sự rút gọn các ngôn từ vốn đã cô đọng Chẳng hạn câu tục ngữ Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già rút gọn thành Khôn trẻ khoẻ già Nhà giàu mua gạo tháng ba, Bán gạo tháng tám mới ra nhà giàu thành Mua gạo tháng ba, bán gạo tháng tám Không pha loãng nội dung trong những hình thức ngôn ngữ thừa thãi, nói ngắn một nội dung lớn, tục ngữ là mẫu mực của sự cô đặc ý nghĩa biểu đạt trong hình thức ngôn ngữ tiết kiệm, hàm súc đến mức tối đa, “tục ngữ có bao nhiêu là ý nghĩa, bao nhiêu là hiện tượng phong phú và tất cả bao nhiêu thứ đó được trồng trên một diện tích ngôn ngữ nhỏ hẹp làm sao”
Tục ngữ rất giàu hình ảnh Tục ngữ Nga có câu : “Lời nói trần trụi không phải là tục ngữ” Những quan sát cụ thể về thiên nhiên, cuộc sống xung quanh đã giúp nhân dân tìm được kho hình ảnh ẩn dụ, so sánh, nhân hoá, vô tận, ngụ suy nghĩ, tình cảm của mình Hình ảnh tạo nên
vẻ đẹp tươi mát, sinh động, tính hàm súc và trong nhiều trường hợp tạo khả năng mở rộng nghĩa cho tục ngữ vì hình ảnh có khả năng biểu trưng Từ quan sát cụ thể đi tới hình ảnh ; từ hình ảnh
cụ thể, giản đơn nâng lên thành hình ảnh khái quát và từ hình ảnh khái quát vận vào các hiện tượng cuộc sống - đó là quy luật, con đường sáng tạo, sử dụng hình ảnh của nhiều câu tục ngữ
Cá cả ở vực sầu là một quan sát khoa học : ở những chỗ nước sâu, thường có cá lớn Nhưng hình ảnh này còn mở ra ý nghĩa về sự tương xứng, phù hợp giữa hiện tượng với hoàn cảnh, môi
Trang 3trường và ý nghĩa này sẽ được người sử dụng tục ngữ dùng để nói về nhiều trường hợp trong các văn cảnh khác nhau Cái thực cụ thể ban đầu đẫ uyển chuyển đi tới những cái thực tương đồng khác
Cũng nhờ hình ảnh chính xác mà sinh động, cụ thể mà khái quát, kinh nghiệm mà chân lí của tục ngữ trở nên có sức thuyết phục hơn Tục ngữ không đơn thuần chỉ là những hình thức nhận thức duy lí mà còn là những hình thức đánh giá thẩm mĩ về các hiện tượng tư nhiên, xã hội
Kết cấu của tục ngữ cân đối chặt chẽ, dựa trên sư lập luận lôgíc và tương quan giữa các hiện tượng Nó vừa mang chức năng cú pháp, vừa mang chức năng ngữ nghĩa Hai hình thức kết cấu
cơ bản của tục ngữ là kết cấu một vế và kết cấu hai vế Hình thức kết cấu thứ hai được sử dụng nhiều hơn Kết cấu hai vế là một mệnh đề kép bao gồm hai bộ phận có mối quan hệ tương đồng (Đất có lề, quê có thói ; Tấc đất tấc vàng), quan hệ tương phản (Được mùa cau, đau mùa lúa ; Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng), quan hệ điều kiện, nhân quả (Gieo gió gặt bão ; Có đứt tay mới hay thuốc), quan hệ so sánh (Một mặt người bằng mười mặt của), quán hệ liệt kê phát triển (Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống) Các vế thường có từ loại, kết cấu ngữ pháp đồng dạng,
bổ sung cho nhau để tạo nên chỉnh thể nghĩa Vị trí của từng vế, cách nối tiếp nhau của chúng góp phần quy định nghĩa của tác phẩm ; ngược lại, nghĩa của tác phẩm cũng điều tiết, chi phối vị trí, cách sắp xếp của chúng
Hình thức kết cấu chặt chẽ, cân đối cho phép tục ngữ loại bỏ được các hư từ suy luận như vì, mà, nếu, thi nên mà vẫn thúc đẩy người ta suy nghĩ và mặt khác giúp mọi người mở rộng các hướng suy luận : Ngồi mát ăn bát vàng; Tay làm hàm nhai; Rau nào sâu ấy; Khôn nhà dại chợ,
Nói đến những loại nghệ thuật có hình thức văn vần không thể không nhắc đến nhịp điệu, vần điệu Cách tổ chức nhịp và vần ở tục ngữ luôn hướng vào chức năng của chúng trong câu Đó là chức năng tạo nên kết cấu cân đối, phân tách, lầm bật quan hệ lập luận - lôgíc giữa các vế, làm nổi bật từ và nghĩa trung tâm, gia tăng sư thống nhất nội tại giữa các yếu tố và sự diễn cảm nghệ thuật Nhịp và vần còn làm cho tục ngữ dễ bám vào trí nhớ con người Cần chú ý rằng, trong tục ngữ, vần và nhịp tự nhiên đồng thời là vần, nhịp lôgíc, góp vào việc biểu hiện nhịp tự nhiên, sinh động, có thật của chân lí Có những trường hợp, tục ngữ gieo vần, gieo nhịp không bình thường
và điều này đã tạo nên ấn tượng đặc biệt, bắt người nghe phải tập trung chú ý vào những cái không nằm trong hệ thống vần, nhịp thông thường - những trung tâm nghĩa mà tục ngữ muốn thông báo
Những đặc điểm nghệ thuật nói trên - sự ngắn gọn, hình ảnh, kết cấu, nhịp, vần - thống nhất nội tại chặt chẽ và chi phối, tác động lẫn nhau
Một đặc điểm nữa cần nhấn mạnh là tục ngữ có sư hoà đồng nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau : phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ khoa học Điểm hoà đồng ấy là chỉ số của sự kết hợp các loại hình phong cách ngôn ngữ và các hình thức nhận thức trong sáng tác truyền miệng dân gian
(Theo Bùi Mạnh Nhi, Văn học dân gian - Những công trình nghiên cứu, NXB Giáo duc, Hà Nội,
1999)
- Gơi dẫn
Bài viết nêu lên những đặc điểm nào của thể loại tục ngữ ?
Trang 4PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
Thật giản dị, những câu tục ngữ ngắn gọn, đúc kết những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt của đời sống xã hội và tình cảm của con người dường như cứ mặc nhiên được mọi người ghi nhớ, thuộc lòng và sử dụng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Thời xưa, tuy chưa có khoa học nhưng bằng kinh nghiệm, tổ tiên chúng ta cũng nắm được trong một chừng mực nhất định quy luật của thiên nhiên Những kinh nghiệm ấy thông qua tập thể quần chúng lao động, được thể hiện bằng những câu có vần vè được phổ biến trong dân gian Đó
là những câu tục ngữ về thời tiết, khí hậu, cày cấy, trồng trọt, chăn nuôi
Bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất bao gồm tám câu, chia làm hai nhóm : Nhóm 1 : Tục ngữ về thiên nhiên và nhóm 2 : Tục ngữ về lao động sản xuất
Nhóm 1 bao gồm bốn câu : Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối; Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa ; Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ; Tháng 7 kiến bò, chỉ lo lại lụt Bốn câu tục ngữ ngắn gọn đã đúc kết được kinh nghiệm quan sát của nhân dân ta đối với thời tiết, khí hậu và các hiện tượng thiên nhiên trong trời đất Những thời gian ngày, đêm, những chuyện nắng, mưa, bão lụt được nhận biết qua một số tín hiệu cụ thể
Có nhưng kinh nghiệm tưởng như thật đơn giản : Có khi quan sát thấy ngày dài đêm ngắn đoán biết được thời gian vào tháng 5 âm lịch, thấy ngày ngắn đêm dài thì khẳng định thời gian vào khoảng tháng 10 âm lịch Có khi chỉ cần nhìn sao trên bầu trời cũng đoán biết được trời nắng hay mưa Có khi nhìn chân trời có ráng vàng là biết trời sắp có dông bão Những ngày tháng 7, kiến
bò lên cao là hiện tượng báo sắp có lụt Những nhận xét, quan sát như thế không thể một ngày
mà có, mà phải sau một thời gian nào đó điều này mới ổn định như một thứ phương châm, chân
lí Nó trở thành một bài học được truyền qua các thế hệ
Nhóm hai bao gồm bốn câu : Tấc đất tấc vàng ; Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền ; Nhất nước, nhì phân,, tam cần, tứ giống ; Nhất thì, nhì thục phản ánh những kinh nghiệm của nhân dân ta trong quá trình lao động sản xuất Mỗi câu tục ngữ đều chất chứa cái nhìn kinh nghiệm và tình yêu lao động của con người Tấc đất tấc vàng là một câu tục ngữ khá quen thuộc với mỗi người Người lao động xưa đã ý thức được giá trị của từng thửa đất mình sinh sống để từ
đó có ý thức giữ gìn, bảo vệ, quý trọng Một câu tục ngữ ngắn gọn mà hàm chứa bao nhiêu ý tình Ở đó người ta thấy sự biểu hiện sâu thắm của một tình yêu tha thiết mặn mà của người dân lao động Các câu tục ngữ Nhất canh trị nhị canh viên, tam canh điền ; Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; Nhất thì, nhì thục chỉ rõ ưu thế của từng công việc cu thể trong quá trình lao động sản xuất Trong các công việc của người dân lao động thì có lẽ việc đào ao nuôi cá là đem lại nguồn lợi kinh tế hữu dụng nhất Người nông dân bớt đi cảnh đầu tắt mặt tối, lam lũ sương nắng ngoài đồng ruộng Trong trồng trọt, yếu tố nước và thời vụ được coi là yếu tố hàng đầu giúp người nông dân có thu hoạch tốt
Bằng lối nói ngắn gọn, có vần, có nhịp điệu, giàu hình ảnh, tục ngữ trở nên rất dễ thuộc, dễ nhớ với mỗi người Hầu hết các câu tục ngữ đều có vần, chủ yếu là vần lưng, vần ở giữa câu, chẳng hạn, như năm nằm, mười cười, nắng vắng, gà nhà, tạo ra được nhịp điệu nhẹ nhàng và cân đối cho lời biểu đạt
VĂN BẢN ĐỌC THÊM
- Ráng vàng thì gió,
Ráng đỏ thì mưa.
Trang 5- Công cây công bỏ, công lảm cỏ công ăn.
- Một lượt tát, một bát cơm.
- Gợi dẫn
Những câu tục ngữ trên nói tới nội dung gì, thể hiện đặc điểm gì của tục ngữ ?