1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Đọc hiểu văn bản: Xa ngắm thác núi Lư - Tư liệu Ngữ Văn 7

4 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 20,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài thể hiện từ những sinh hoạt xa hoa quý tộc, đến cảnh nghèo túng nhất của dân chúng, cảnh đời, cảnh tiên, cảnh thiền, núi non, sông nước, trận mạc, biên tái, hoa cỏ rất phong phú :[r]

Trang 1

XA NGẮM THÁC NÚI LƯ

(Vọng Lư sơn bộc bố)

ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

TÌM HIỂU KHÁI NIỆM

- Thơ Đường

Thơ Đường là một hiện tượng thi ca đặc biệt được cả nền và đỉnh Kéo dài suốt từ thời nhà Đường, từ khi Đường Thái Tông Lí Uyên dựng triều đại, cho đến khi nhà Đường mất, ròng rã ba trăm năm (618 - 907) Số lượng có tới hàng vạn bài thơ của khoảng hai nghìn ba trăm nhà thơ Cái nền vĩ đại ấy, lại có những thi hào nổi danh trở thành những danh nhân thế giới như Lí Bạch,

Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Một phong trào thơ, mở đầu và phát triển, luôn luôn có những tên tuổi mới, vượt trội lên Phong cách của những nhà thơ nổi tiếng của đời Đường rất đa dạng : Manh Hạo Nhiên, Vương Duy, Trần Tử Ngang, Cao Thích, Lí Thương Ân, Trương Tịch, Đỗ Mục, Lưu

Vũ Tích, Đỗ Tuân Hạc, Tào Đường/ Thơ của họ đã rất khác nhau, nói chi đến Lí Bạch và Đỗ Phủ Đề tài thể hiện từ những sinh hoạt xa hoa quý tộc, đến cảnh nghèo túng nhất của dân chúng, cảnh đời, cảnh tiên, cảnh thiền, núi non, sông nước, trận mạc, biên tái, hoa cỏ rất phong phú : ở tài thơ này với tài thơ khác, một đề tài lại có vẻ đẹp chung, những phong vị riêng Vua chúa như Đường Thái Tông, Đường Cao Tông, Võ Tắc Thiên, Đường Huyền Tông (Minh Hoàng), Hiển Tông, Mục Tông, Tuyên Tông, nữ thi sĩ như Đỗ Thu Nương, Trần Ngọc Lan, Dương Quý Phi, hoặc những dân chúng bình thường ở thành thị hoặc thôn dã đều làm thơ, yêu thơ Sinh hoạt ngâm thơ, thưởng thơ ở các nhà giàu đã đành, mà trong quân, những tiệc lớn của nhà vua hay tết nhất, lễ hội của dân chúng, thơ cũng là một thứ được nhiều người mến mộ

Nhiều bài thơ hay đã được lưu truyền hàng ngàn năm nay, không những ở trong nước mà đã vượt ra ngoài nước Thơ đã là một quy định trong thi cử

Thơ Đường có ảnh hưởng lớn trong nền văn hoá Trung Hoa, với các nước láng giềng

Di sản đồ sộ và tính hoa của thơ Đường đã trở thành niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa và là một trong những điểm sáng rực rỡ của văn hoá nhân loại

Không riêng gì thơ ca mà cả ngành khác như hoạ, nhạc, múa cũng đều phát triển Do đó, ngành này đem những vẻ đẹp cho những ngành khác Thơ Đường rất trọng âm nhạc, hình ảnh, khắc hoạ Sự trau chuốt khổ công đi đôi với những cảm hứng tự nhiên/ không phải tự dưng hái được,

mà do những kiến thức thu hái từ nhiều nguồn của các nhà thơ đời Đường Vương Duy không những là một nhà thơ, còn là một hoạ sĩ, một nhà thư pháp Do đó trong thơ ông thơ và hoạ kết hợp rất điêu luyện Sau này, thi hào Tô Đông Pha đời Tống đã phải thốt lên rằng : "mỗi bài thơ của ông (Vương Duy) là một bức hoạ, và trong mỗi bức hoạ của ông lại có một bài thơ" Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán, Cao Thích nghe hát ở Kì Đình, thẩm âm sành điệu chẳng khác gì nhạc công, nhạc sĩ

Thơ Đường sâu sắc về nội dung, đẹp về hình thức ; hiện thực và lãng mạn đều đạt tới những đỉnh cao

Thơ Đường được chia ra hai loại : cổ thể và tân thể (luật) Trong cổ thể lại có bài năm lời (ngũ ngôn) và bảy lời (thất ngôn)

Trang 2

Trong thơ luật có loại tuyệt cú (bốn câu) và bát cú (tám câu), mỗi phần trong bài bát cú đều có quy tắc cụ thể để thành một quy định về cấu trúc (phá, thừa, thực, luận và kết) Ngoài ra, còn có luật bằng trắc, bắt buộc để tạo thành âm điệu và vần, làm phong phú cho bài thơ

Thơ Đường có mấy thời kì :

1 Sơ Đường

2 Thịnh Đường

3 Trung Đường

4 Vãn Đường

Cũng có nhà nghiên cứu chỉ chia gọn làm ba thời kì là sơ, thịnh và vãn hoặc sơ, trung và vãn Mỗi thời kì đều có những nhà thơ rất tiêu biểu

( Theo Ngô Văn Phú, 300 bài thơ tình tiêu biểu,

NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000)

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

Xa ngắm thác núi Lư là bài thơ thất ngôn tuyệt cú (cũng gọi là tứ tuyệt) của Lí Bạch Đây là bài thơ thứ hai trong chùm thơ hai bài, một bài thơ thuần tuý tả cảnh Bài thơ làm vào khoảng cuối đời, khi nhà thơ lại có dịp ngao du, thưởng ngoạn phong cảnh (Trước đó, do Lí Lân, người mà ông phò tá bị dẹp, nên ông bị đày đi Dạ Lang, giữa đường thì được tha, lại trở về Giang Tây)

Lư sơn là thắng cảnh nổi tiếng ở phía nam thành phố cửu Giang, tỉnh Giang Tây Hương Lô tức

là Hương Lô Phong trên núi Lư Đỉnh núi vừa cao, vừa tròn, mây trắng bay lơ lửng trên đỉnh, xa trông như cái lò hương đang toả khói (lò đốt trầm hương) nên mối có tên như thế Nhưng dưới mắt Lí Bạch, cảnh tượng lại hiện ra với màu sắc mới :

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay

Ánh nắng chiếu xuống núi làm cho mây hiện thành màu tía và lò hương toả khói tía, một sắc màu lộng lẫy, rực rỡ khác thường Câu này nguyên tác là "Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên", nghĩa là nắng chiếu lò hương làm cho nó sinh ra khói tía Chữ sinh rất thần tình, nó làm cho đỉnh núi tĩnh bỗng nhiên sống động Tiếc là câu thơ dịch chưa lột được ý này Câu thứ nhất dành để giới thiệu núi Lư, chưa nói gì đến thác, nhưng nó không hề lạc đề Nhà thơ phải dựng núi trước

để tả "thác treo" tiếp sau Ba câu còn lại chỉ nói tới thác nước và cảm giác khi ngắm thác

Xa trông dòng thác trước sông này

Câu thơ nói rõ điểm nhìn là xa trông Nhiều sự vật khi ngắm xa có một vẻ đẹp mà khi ngắm gần không thấy Tô Đồng Pha, đời Tống, làm bài thơ Đề Tây Lâm Bích, khi đến thăm Lư sơn, có hai câu nổi tiếng :

Bất thức Lư sơn chân diện mục Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.

(Nghĩa là : Không biết được diện mạo thực của Lư sơn, Chỉ biết vì thân đang ở trong núi ấy.)

Trang 3

Như vậy, cảnh đẹp của thác nước Lư sơn như Lí Bạch tả thì chỉ xa trông mới thấy được Câu thứ hai này trong nguyên tác là :

Dao khan bộc bố quái tiền xuyên

(Nghĩa là : Nhìn xa thấy thác nước như treo trước dòng sông phía trước núi.)

Chữ quải (treo) đây là một nhãn tự (chữ mắt), nó lây tĩnh để tả động Thác nước cao trông xa như treo trước dòng sông trước núi Chữ treo còn gợi ra hình tượng dòng thác như dải lụa khổng

lồ, bởi chỉ có dải lụa thì người ta mới treo được, chứ làm sao treo được dòng thác đang chảy ? Câu thơ bao hàm một ý vị ngợi ca thiên nhiên kì vĩ, phi thường Đáng tiếc là câu thơ dịch bỏ mất cái chữ treo thần tình đó

Từ trạng thái tĩnh, dòng thứ ba chuyển sang tả thác nước trong trạng thái động :

Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước

Đã bay lại còn thẳng xuống, rồi ba nghìn thước cao vòi vọi, cực tả ấn tượng về cái thế thác chảy vừa nhanh, vừa mạnh, vừa cao, tưởng như là gần ngay trước mắt Dường như câu thơ vẫn chưa nói hết cảm giác về khí thế hùng mạnh của thác nước, nhà thơ lại bồi thêm một ẩn dụ, tạo thành câu kết :

Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.

Nguyên tác câu thơ này là :

Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

(Nghĩa là : Ngỡ như dải Ngân Hà rơi từ chín tầng trời xuống.)

Chín tầng trời là cao lắm Dải Ngân Hà vốn rất cao, trên chửi tầng trời Câu dịch nói "dải Ngân

Hà tuột khỏi mây" không chính xác Tưởng như Ngân Hà ở trên mây mà trên mây thì đã lấy gì làm cao Dải Ngân Hà rơi từ chín tầng trời xuống thì hẳn là mạnh lắm, khủng khiếp lắm, không sức mạnh nào ngăn đỡ được !

Liên tưởng dòng thác với Ngân Hà là hết sức độc đáo, bởi vì dòng thác và Ngân Hà vốn rất xa nhau Nhưng độc đáo mà vẫn tự nhiên, bởi vì dòng thác dưới ánh nắng hẳn sáng lên trong dòng sông bạc, lại chảy mạnh như thế thì chỉ rơi từ trên trời xuống mới hình dung được

Chỉ bốn câu thơ, 28 chữ, mà tác giả đã vẽ lên được cảnh đẹp phi thường Không phải giản đơn là cảnh đẹp tự nhiên mà là cảnh đẹp trong con mắt nhìn đầy tưởng tượng độc đáo, luôn biến hoá của tác giả Mỗi câu mỗi cảnh, mỗi cách hình dung Từ nắng chiếu làm lò hương sinh khói tía, đến tả dòng thác theo bút pháp hoá động làm tĩnh, như dải lụa treo, rồi lại tả thác lao nhanh, lao mạnh, rồi lại tả thác cao đổ xuống như sông Ngân rơi từ chín tầng trời Một cảnh thác hùng vĩ, ngoạn mục hiện lên trước mắt

Chữ dùng trong bài rất sinh động, có thần : chữ sinh (sinh), chữ treo (quải), chữ rơi (lạc) đều lột

tả được thần thái của cảnh sắc Các hình ảnh đều độc đáo, do trí tưởng tượng phong phú, phóng khoáng, khác thường

Trang 4

Lư sơn là một danh thắng Sau Lí Bạch, còn có nhiều nhà thơ Trung Quốc khác cũng làm thơ về cảnh thác Lư sơn, nhưng chỉ có bài của Lí Bạch là hay nhất Đúng như nhà thơ Tô Đông Pha, đời Tống, nói:

Để khiển Ngân Hà nhất phái thuỳ

Cổ lai duy hữu trích tiên từ.

(Nghĩa là : Trời khiên Ngân Hà sa xuống đất, Nhưng xưa nay chỉ có bài thơ của trích tiên Lí Bạch mà thôi.)

(Trần Đình sử, Sđd)

VĂN BẢN ĐỌC THÊM

TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIÊN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG (Hoàng Hạc lâu tống

Manh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) Bạn từ lầu Hạc lên đường, Giữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòng

Bóng buồm đã khuất bầu không, Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời

(Lí Bạch, Ngô Tất Tô' dịch)

* Gợi dẫn

Những hình ảnh trong bài thơ giúp em hiểu thêm gì về phong cách nghệ thuật của Lí Bạch ?

Ngày đăng: 19/12/2020, 23:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w