Châu bản của triều Nguyễn văn bản hành chính của vương triều Nguyễn 1802-1945, lưu lại các dấu tích bút phê của vua bằng son đỏ có nhiều văn bản để lại về thực thi chủ quyền của Việt Nam
Trang 1VỀ NHỮNG CHUYẾN CÔNG VỤ Ở HOÀNG SA VÀ
TRƯỜNG SA THỜI MINH MỆNH (1833-1838)
Hà Minh Hồng (1)
, Ngụy Ngọc Thủy (1)
(1) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (VNU-HCM) Ngày nhận bài 20/8/2018; Ngày gửi phản biện 30/8/2018; Chấp nhận đăng 20/11/2018
Email: honghaminhvn@yahoo.com.vn
Tóm tắt
Từ “Tuyển tập các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, kết hợp với“Đại Nam thực lục” và “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”, dựng lại thành phần và nhiệm vụ của đoàn thuyền do vua và tỉnh tuyển chọn để tham gia chuyến công vụ vãng thám xứ/quần đảo Hoàng Sa thời Minh Mệnh (1833-1838) Thành phần tham gia đoàn thuyền gồm cả quan binh triều đình và dân địa phương vùng cửa biển Sa Kỳ
và Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) thuộc tỉnh Quảng Ngãi, có thể có thêm dân phu, dân thuyền của tỉnh Bình Định Theo lệnh của vua, từng viên quan binh sẽ phụ trách nhiệm vụ khác nhau như cắm mốc giới, đo đạc, khảo sát, vẽ bản đồ, dựng miếu, dựng bia đá, xây bình phong và trồng cây, ghi nhật ký thời tiết, khí tượng, thủy văn của chuyến đi và trong thời gian lưu trú trên đảo
Từ khóa: châu bản triều Nguyễn, cửa biển Sa Kỳ, Cù Lao Ré, vua Minh Mệnh, xứ Hoàng Sa, Abstract
ABOUT THE ASSIGNMENT TO PARACELS & SPRATLYS OF MINH MENH’S REIGN(1833-1838)
Through the study of 12 documents from “the Collection of official documents of the Nguyen dynasty on the exercise of sovereignity of Vietnam in over Hoang Sa (Paracels) and Truong Sa (Spratlys) archipelagoes” combined with the "Dai Nam thuc luc" and "Kham dinh Dai Nam hoi dien su le”and other studies I studied the composition and mission of the delegation selected by the Emperor and Provincial Authority of Quang Ngai, taking part in the surveying mission to Paracels
& Spratlys (1833-1838) Participants of their long sea voyages included the King’s Envoy and local fishermen in the estuaries of Sa Ky and Cu Lao Re (Ly Son island) in Quang Ngai province, possibly more laborers and vessels from Binh Dinh province At the dispatch of the Emperor, each officer will take charge of different tasks such as investigation, measuring the sea routes, drawing the maps of islands, building a temple, setting up stone stele, building a windscreen and planting trees, recording the diaries for weather forecasting, meteorology, marine hydrology of the trip and during the stay on the island
1 Đặt vấn đề
Chủ quyền Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX là không tranh chấp Thực tế là các chúa Nguyễn đã xác lập chủ quyền một cách tự nhiên không tranh chấp với ai, không ai đến tranh chấp, không quốc gia nào không thừa nhận Các nhà thám hiểm và hàng hải từ phương Tây đi sang phương Đông, cũng như các thương nhân và
Trang 2nhiều tàu thuyền khác của các nước trong khu vực từ Trung Quốc, Nhật Bản xuống Gia va, Úc,
Ấn Độ… khi đi qua xứ Đàng Trong, hoặc gặp phong ba ở Bãi Cát Vàng trên vùng biển Đông, đều thừa nhận sự thật về chủ quyền của các Chúa Nguyễn với hoạt động của các hải đội Hoàng
Sa và Trường Sa kiêm quản trong vùng biển Đàng Trong
Như thế các chúa Nguyễn đã đặt ra tiền lệ về tổ chức quản lý, khai thác và làm chủ các quần đảo ngoài khơi xa này từ hàng trăm năm; đến thế kỷ XIX các vua triều Nguyễn trong vai trò quản lý nhà nước tiếp tục thực hiện chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Châu bản của triều Nguyễn (văn bản hành chính của vương triều Nguyễn (1802-1945), lưu lại các dấu tích bút phê của vua bằng son đỏ) có nhiều văn bản để lại về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó có 12 văn bản (từ 5 đến 16), phản ánh những chuyến công vụ của triều Nguyễn ra Hoàng Sa và Trường Sa trong khoảng thời gian từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 của các năm 1833 đến 1838
Phải chăng đó là những hoạt động điển hình, có một không hai của nhà nước phong kiến Việt Nam, không thể có nhà nước phong kiến nào khác làm được như thế ? Hoạt động của Hải đội Hoàng Sa trong giai đoạn này (1833-1838) phải chăng là một loại bằng chứng pháp lý thực
tế cần đưa vào luật lệ quốc tế và trong nước ngày nay ? Sau đây là một số phân tích về thực chất và bản chất của những hoạt động ấy qua nguồn sử liệu thực tế rất quý hiếm từ Châu bản
2 Sơ lược về các chuyến công vụ đến Hoàng Sa qua thư tịch
Hoàng Sa và Trường sa là địa bàn hành chính ngoài khơi xa thuộc triều Nguyễn từ lâu (còn gọi là Bãi Cát Vàng), nên việc quản lý hàng năm đã trở nên thông lệ Bảng thống kê dưới đây tổng hợp từ Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có bổ sung thêm thông tin từ “Đại Nam thực lục” và
“Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”, vẫn giữ nguyên số thứ tự Châu bản trong Tuyển tập:
Chuyến hải trình theo năm Lực lượng tham gia và nhiệm vụ chính
Chuyến hải trình năm 1833
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 22 tháng 11 năm
Minh Mệnh thứ 14 (1833) Xuất xứ: Nội các
Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I Ký
hiệu: Tập 49, tờ 233 – 234
Kinh thành: Cai đội Trương Phúc Sĩ (Sở Văn hóa,
2013), phái viên
Tỉnh: 02 viên dẫn đường là Vũ Văn Hùng và Phạm Văn
Sênh, 18 (lái thuyền và thủy thủ)
Chuyến hải trình năm 1834
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 15 tháng 4 năm
Minh Mệnh thứ 15 (1834) Xuất xứ: Quan Bố
chính, Án sát tỉnh Quảng Ngãi Nơi lưu trữ: Ủy
ban Biên giới Quốc gia
Kinh thành: Cai đội Trương Phúc Sĩ, phái viên có kinh
nghiệm, 20 lính thủy quân; điều động và tu bổ 3 chiếc thuyền lớn; Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ vẽ bản đồ (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tập 4)
Tỉnh: viên dẫn đường Vũ Văn Hùng, 02lái thuyền được
cấp bằng là Đặng Văn Xiểm và Dương Văn Định, 09 thủy thủ (dân phu); thuê và tu bổ 3 chiếc thuyền nhanh, nhẹ, có đem theo vật kiện lên thuyền
Mỗi thuyền chở 8 người
Chuyến hải trình năm 1835
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 13 tháng 7 năm
Minh Mệnh 16 (1835) Xuất xứ: Nội các Nơi
lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I Ký hiệu:
Kinh thành: Cai đội Phạm Văn Nguyên, 03 viên Giám
thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện và Nguyễn Văn Hoằng (vẽ bản đồ) , thủy quân (binh đinh, công tượng…); (lính thợ Giám thành: dựng miếu, bia đá, xây
Trang 3quyển số: 54, tờ 94
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 13 tháng 7 năm
Minh Mệnh 16 (1835) Xuất xứ: Nội các Nơi
lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I Ký hiệu:
quyển số: 54, tờ 92
bình phong) (Quốc sử, 2007, tập 4)
Tỉnh: 02 viên dẫn đường là Vũ Văn Hùng và Phạm Văn
Sênh, thủy thủ (dân phu)
Chuyến hải trình năm 1836
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 12 tháng 2 năm
Minh Mệnh thứ 17 (1836) Xuất xứ: Bộ Công
Nơi lưu trữ: Ủy ban Biên giới Quốc gia
Kinh thành: Viên chánh đội trưởng thủy quân Phạm
Hữu Nhật (cắm cọc gỗ); Chọn thuyền Ô đi đến Quãng Ngãi (Giám thành đo đạc và vẽ bản đồ) (Quốc sử, 2007, tập 4)
Tỉnh: thuê 4 thuyền của dân; thủy thủ (dân phu), phu
thuyền
Chuyến hải trình năm 1837
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 11 tháng 7 năm
Minh Mệnh thứ 18 (1837) Xuất xứ: Bộ Hộ
Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I Ký
hiệu: tập số 57, tờ 210
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 13 tháng 7 năm
Minh Mệnh thứ 18 (1837) Xuất xứ: Bộ Công
Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Ký
hiệu: Tập 57, tờ 244
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 13 tháng 7 năm
Minh Mệnh thứ 18 (1837) Xuất xứ: Nội các
Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Ký
hiệu: Tập 57, tờ 245
Kinh thành: Thủy sư Suất đội Phạm Văn Biện, trong 2
viên Giám thành thì có 1 viên Biền chức Giám thành Trương Viết Soái (khảo sát, vẽ bản đồ), 22 viên binh đinh, 20 viên Thủy sư
Tỉnh: 02 viên dẫn đường là Vũ Văn Hùng và Phạm Văn
Sênh, lái thuyền Lưu Đức Trực, 31 dân phu, thuê 2 chiếc thuyền lớn của tỉnh Quảng Ngãi, thuê 2 chiếc thuyền lớn của tỉnh Bình Định
(Xin chi tiền gạo thuê dân phu đi Hoàng Sa)
Chuyến hải trình năm 1838
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 2 tháng 4 nhuận
năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) Xuất xứ: Bộ
Công Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia
I Ký hiệu: Tập 68, tờ 21
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 6 tháng 4 nhuận
năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) Xuất xứ: Bộ
Công Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia
I Ký hiệu: Tập 68, tờ 40
Văn bản 5 Châu bản đề ngày 21 tháng 6 năm
Minh Mệnh thứ 19 (1838) Xuất xứ: Bộ Công
Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I Ký
hiệu: Quyển số 68, tờ 215
Văn bản 5 Châu bản ngày 19 tháng 7 năm Minh
Mệnh thứ 19 (1838) Xuất xứ: Quan Bố chính
tỉnh Quảng Ngãi Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ
quốc gia I Ký hiệu: Quyển số 64, tờ 146 – 147
Kinh thành: Viên ngoại lang, Thị vệ, thủy sư, Khâm
thiên giám, vệ Giám thành (đo vẽ khảo sát), binh thuyền; điều động 2 chiếc thuyền tỉnh Bình Định
Tỉnh: 02 viên dẫn đường là Vũ Văn Hùng và Phạm Văn
Sênh, thủy thủ (dân phu), dân thuyền, thuê 2 chiếc thuyền lớn của tỉnh Quảng Ngãi (2 chủ thuyền đồng thời là lái thuyền: Nguyễn Văn Chòm và Trần Văn Đức), thuê 2 chiếc thuyền lớn của tỉnh Bình Định
(Quảng Ngãi tâu bốn thuyền đã ra khơi)
Nguồn: Tổng hợp từ Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của
Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Các chuyến đi trên đây cho biết những gì? Mỗi năm/hàng năm/liên tục trong 6 năm, vua Minh Mệnh đều cử đoàn thuyền công vụ ra Hoàng Sa và Trường Sa làm công việc của vương
Trang 4triều: ghi nhật ký, khảo sát, đo vẽ, cắm mốc, xây miếu, dựng bia đá, xây bình phong, trồng cây, thu lượm hóa vật và hải sản quí Chuyến đi thứ 1, 3, 5 chỉ có thông tin chuyến về; Chuyến đi 2,
4 chỉ có thông tin chuyến đi; Chỉ có chuyến thứ 6 là đầy đủ thông tin chuyến đi và chuyến về Các văn bản của Châu bản đối chiếu với “Đại Nam thực lục”, “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” đã cho biết rõ hơn thành phần và nhiệm vụ của lực lượng tham gia đoàn thuyền do vua và tỉnh tuyển chọn Trong các chuyến hải trình, mỗi công việc giao cho từng viên quan binh phụ
trách, công vụ chính mỗi năm sẽ khác nhau theo lệnh của vua
3 Về thành phần tham gia đoàn thuyền
3.1 Lực lượng do triều đình phái
Lực lượng do triều đình phái gồm có thủy quân, công tượng (lính thợ), vệ Giám thành, Khâm thiên giám, Thị lang Bộ Công và Thị vệ Họ sẽ nhận giấy sai đi từ hạ tuần tháng giêng (Ủy ban Biên giới Quốc gia, 2013) Lực lượng do Kinh phái sẽ đi trên 03 chiếc thuyền lớn từ cửa Thuận An đến thẳng tỉnh Quảng Ngãi để phối hợp với lực lượng do tỉnh Quãng Ngãi và tỉnh Bình Định phái đi
3.1.1 Thủy quân
Thủy quân thời vua Minh Mệnh được chia làm hai cấp: Cấp trung ương (Kinh thành) và cấp địa phương (hay cấp tỉnh) Cấp trung ương (Kinh thành) gọi là Kinh kỳ thủy sư Lực lượng thủy quân này được trang bị đầy đủ cả về vũ khí, tàu thuyền cũng như có sự luyện tập thường xuyên để đáp ứng được các yêu cầu về quân sự và dân sự khi triều đình cần dùng đến Không phải địa phương nào cũng có lực lượng thủy quân Số lượng thủy quân ở các tỉnh là không như nhau Thường thì lính tuyển vào các vệ thủy quân là dân cư ở các vùng ven sông, ven biển Đôi khi để cho
đủ số lượng thì triều đình cũng lấy lính ở các đơn vị khác bổ sung sang (Nguyễn Thị Thu Thủy và Nguyễn Phương Nga, 2016) Về nhiệm vụ của thủy quân, năm Minh Mệnh thứ 14, tâu được chuẩn:
“khi ở trại theo mùa tập luyện, khi ra trận phải xông pha chống địch…” [1,40] Chế độ luyện tập của thủy quân tương đối khắt khe, quy định nghiêm ngặt về ngày giờ Họ không chỉ tập bắn súng với bia đạn đứng mà còn tập với các mục tiêu di chuyển hoặc sử dụng đại bác nhắm vào đích là những chiếc thuyền giả Thủy quân luôn được huấn luyện thao diễn cho thông thuộc đường biển, đường sông, cũng như chỗ nông, chỗ sâu, chỗ hiểm, chỗ dễ và chỗ đảo lớn, đảo nhỏ, nơi sâu, nơi cạn để tránh nguy hiểm
Vũ khí chủ yếu mà thủy quân được cung cấp là súng quá sơn, thần công và súng trường, cùng thuốc đạn, giáo dài, mác sắt, câu liêm, ống phun lửa, cầu đinh lửa, pháo thăng thiên, cho đến quả đá, kim từ thạch, phàm tất cả dụng cụ thủy chiến Ngoài thuyền và vũ khí thiết yếu trong quân đội, thủy quân còn được trang bị địa bàn và đồng hồ cát, kính thiên lí của phương Tây Việc vua huy động lực lượng thủy quân tinh nhuệ đi trên loại thuyền nhanh nhẹ để đề phòng trường hợp xấu là đoàn thuyền phải đương đầu chống lại bọn hải phỉ thì có thể đuổi cho đến cùng và Sử sách triều Nguyễn thường nhắc tới loại cướp này với nhiều cái tên như: giặc Tàu Ô, giặc Tề Ngôi, Thanh phỉ, giặc Đồ
Bà, giặc biển Chà Và, giặc biển… Cụ thể, tháng 3 năm 1835, giặc biển ở hải phận Sa Kỳ thuộc địa phận Quãng Ngãi nổi lên đón cướp thuyền buôn…(Quốc sử, 2007, tập 4) Do đó, lực lượng thủy quân cũng gián tiếp đảm nhận thêm nhiệm vụ vây bắt bọn hải phỉ
Như vậy, dưới thời vua Minh Mệnh có một lực lượng thủy quân hùng mạnh được thao diễn rèn luyện các kỹ năng thông qua các đợt giả chiến và từ thực tiễn Thủy quân được trang bị súng, đồng hồ cát, kính thiên lý và hầu hết các dụng cụ thủy chiến Ông đã dùng lực lượng biền
Trang 5binh thủy quân ở Kinh thành làm lực lượng nồng cốt chủ đạo quan trọng tham gia vào các chuyến hải trình đến xứ Hoàng Sa (Ủy ban Biên giới, 2013) Chỉ huy đội thủy quân qua các năm là Cai đội Trương Phúc Sĩ (năm 1833, 1834), Cai đội Phạm Văn Nguyên (1835), Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật (năm 1836) và Thủy sư suất đội Phạm Văn Biện (năm 1837) Ngoài ra, nhiệm vụ quan trọng của Cai đội Thủy quân là đến được đảo nào thì sử dụng cọc gỗ do Bộ Công chuẩn bị sẵn từ trước để cắm mốc đánh dấu Trên cọc gỗ có ghi
rõ năm tháng chính thức của vương triều, họ tên quan chức nhà nước và cụm từ kết thúc mang tính quyền lực của Vua Minh Mệnh là “Hãy tuân mệnh” (Ủy ban Biên giới, 2013)
3.1.2 Vệ Giám thành
Nhà Nguyễn có 4 đội Giám thành, mỗi đội 50 người Năm 1833, vệ Giám thành được chuẩn định chức sự là: lệ thuộc Hộ thành binh mã ty, các viên vệ Giám thành nắm được kỹ thuật đo đạc thủy trình và kỹ thuật xây thành kiểu Vauban của Pháp cho nên họ được sai phái ra
xứ Hoàng Sa làm nhiệm vụ như vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia đá, xây bình phong và trồng cây lưu niệm Vua Minh Mệnh thành tâm thờ cúng các vị thần biển với ý thức cầu xin thần biển phù
hộ nên ông sai phái vệ Giám thành đem theo vật liệu đến xứ Hoàng Sa để lập miếu, dựng bia nhằm cầu xin thần biển phù hộ, độ trì để biển yên, sóng lặng, an toàn các chuyến hải trình Mỗi chuyến hải trình từ năm 1834 đến 1838, vua Minh Mệnh đều giao việc vẽ bản đồ cho vệ Giám thành Cụ thể là Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ (1834), ba viên Giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện và Nguyễn Văn Hoằng (1835), Biền chức Giám thành Trương Viết Soái (1837) Tuy nhiên, qua khảo cứu các tài liệu tôi chưa biết tên viên Giám thành được giao nhiệm vụ đo vẽ khảo sát xứ Hoàng Sa năm 1833, 1836 và 1838
Như vậy, nhiệm vụ của vệ giám thành đến Hoàng Sa qua mỗi chuyến đi thường khác nhau như đo đạc, vẽ bản đồ; đem theo vật liệu dựng miếu, dựng bia đá, xây bình phong; và trồng cây Có lẽ, nhiệm vụ đo vẽ xứ Hoàng Sa là khó khăn nhất Kết quả chuyến đi năm 1835,
1837, 1838 cho thấy công tác vẽ bản đồ đều vẫn chưa chu tất, đều bị vua trách phạt và được
chuẩn cho tha (Ủy ban Biên giới, 2013) Tuy nhiên, tấm bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ
được vẽ vào năm 1838, vẫn là bản đồ hành chính đầu tiên của nước ta được vẽ theo khổ dọc, với phương Bắc ở trên, phương Nam ở dưới, phương đông ở bên phải, phương tây ở bên trái Trên bản đồ này, hình vẽ Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa xuất hiện ở bên phải bản đồ, tương tự như trên các bản đồ Việt Nam sau này (Trần Đức Anh Sơn, 2014)
3.1.3 Công tượng
Công tác tu bổ tàu thuyền do tượng binh (lính thợ, hay công tượng) đảm trách Những người lính thợ này được biên chế theo những ngành nghề riêng, hình thành những tổ chức gọi
là ty hay đội làm việc trong các quan xưởng hay tượng cục Ngoài việc đóng thuyền mới, các công xưởng đóng thuyền còn đảm trách việc tu sửa tàu thuyền theo định kỳ Vua Minh Mệnh luôn chú trọng tu bổ tàu thuyền ở Kinh thành và ở tỉnh trước khi ra khơi và ông còn cho các thuyền đem theo vật kiện lên thuyền để lính thợ sử dụng để sửa chữa những sự cố
hư hỏng nếu xảy ra trong suốt chuyến đi (Ủy ban Biên giới, 2013)
3.1.4 Khâm thiên giám
Dưới thời Vua Minh Mệnh, đã cho thành lập “Chiêm hậu ty chuyên giữ việc chiêm nghiệm, suy tính khí hậu trong 1 hạt” (Quốc sử, 2007, tập 3, tr 921) cũng như ghi nhận thời tiết thất thường thì phải ghi nhật ký và tâu lên Vua thông qua bản đồ nhật ký phong vũ ghi rõ tai
Trang 6nạn gió bão, mưa đá, hạn, lụt Khâm thiên giám am hiểu thiên văn, hiểu biết độ ngang, độ dọc của địa cầu, hiểu biết về mặt trăng, mặt trời, các ngôi sao như kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Họ làm nên bộ lịch “Thất chính” dâng lên Vua
Năm 1825, Vua Minh Mệnh cấp cho Khâm Thiên Giám 3 cái kính chiêm nhật kính, đại thiên lý kính và thiên lý kính Vua Dụ cho Khâm thiên giám rằng: “…bọn ngươi giữ chức chiêm hậu, trên trông trời, dưới trông đất đều là phận sự Mà kính thiên lý nhà nước cấp cho, từ trước vẫn bỏ, không dùng để nhòm ngắm, thực là lười biếng, bỏ thiếu chức vụ Cái tội về trước tạm hãy khoan tha Từ nay nên cắt lượt nhau cứ 5 ngày lại học tập nhòm xem 1 lần, cốt trong 2 tháng đều được hiểu kỹ Ai trái lệnh này thì phải tội” (Quốc sử, 2007, tập 5, tr 824)
Tháng 8, năm 1826, Vua Minh Mệnh cấp cho Khâm thiên giám hai thước phong vũ và hàn thử Vua từng bảo bộ Lễ rằng: “Thước hàn thử vốn có độ thường, như khí trời tạnh sáng thì khí dâng lên, âm u thì khí sụt xuống, biết trước khí hậu cái ấy rất nghiệm Nếu ấm áp mà khí xuống, âm
u mà khí lên thì là khí bất chính, nhân dân dễ sinh bệnh tật Lấy thước ấy để đo lường khí hậu thực
là phép diệu Biết xem xét kỹ thì suy tính không sai” (Quốc sử, 2007, tập 2, tr 514)
Tháng 12, năm 1838, vua Minh Mệnh cho rằng, người hàng hải phải thuộc hải trình, cho nên ông yêu cầu bộ Công biên tập cuốn Hải trình tập nghiệm sách trên cơ sở tra tập các sách Sách được chia thành 4 mục với các nội dung: 1 Phong vũ tổng chiêm (phép quan trắc khí tượng và thiên văn), 2 Hành thuyền tỵ kỵ (những việc kiêng kỵ và tránh né trong lúc đi thuyền) 3 Tạo thuyền tỵ kỵ (những điều tránh kỵ trong lúc chế tạo thuyền), 4 Vãng sự tập nghiệm (góp nhặt và chiêm nghiệm những việc trong khi đi đường) Nội dung biên soạn tập trung chủ yếu vào vấn đề kiểm xét chiều gió giúp cho việc đi biển nên tiến, nên dừng một cách
hiệu quả Điều quan trọng là Hải trình tập nghiệm đã lấy những ghi chép cụ thể, chi tiết đến
ngày tháng năm của sự kiện thuyền công hỏng việc trong khoảng thời gian từ năm 1820 đến năm 1838 để làm chứng nghiệm cho những lý thuyết đó (Đinh Thị Hải Đường, 2014) Ngoài ra,
vua Minh Mệnh cho bộ Công biên soạn cuốn Thủy sư đà công khóa tích thưởng phạt lệ để làm
tài liệu đào tạo và khảo hạch cho thủy thủ Những quyển nhật ký hải trình của đoàn thuyền cũng như nhật ký của Khâm thiên giám cũng hữu ích cho Bộ Công biên tập hai tập sách trên Vua đã phái Khâm thiên giám tham gia trong chuyến hải trình đến xứ Hoàng Sa năm
1838 (Ủy ban Biên giới, 2013), có lẽ Khâm thiên giám đã sử dụng chiêm nhật kính, đại thiên lý kính và thiên lý kính cùng với thước phong vũ và hàn thử bên cạnh việc bói toán chiêm tinh để ghi nhật ký thời tiết, khí tượng, thủy văn của chuyến đi và trong thời gian lưu trú trên đảo, giúp cho đoàn thuyền giảm thiểu tối đa nguy hiểm và trở về đất liền an toàn Qua đó ta thể thấy, vua Minh Mệnh rất tin tưởng khả năng suy tính, phán đoán qua bói toán, thông tường thiên văn và địa lý của Khâm thiên giám
3.1.5 Viên ngoại lang, thị vệ
Qua khảo cứu các tài liệu, tôi nhận thấy vào năm 1838, vua cử viên ngoại lang Đỗ Mậu Thưởng và viên thị vệ Lê Trọng Bá thuộc bộ Công đi xứ Hoàng Sa, tuy chưa rõ nhiệm vụ cụ thể của họ, nhưng có thể biết được rằng viên thị vệ rất thông thạo cách sử dụng kính thiên lý,
do đó họ giúp chỉ bảo những thủy thủ chưa có kinh nghiệm khác
3.2 Lực lượng do tỉnh phái
Vùng cửa biển Sa Kỳ không có sông chảy ra nên không có hiện tượng cát bồi, có độ sâu tương đối thích hợp để làm cảng thuyền Hai bên cửa biển thuận lợi cho dân cư sinh sống, nhất
Trang 7là bờ phía Nam, xã An Vĩnh, sống bằng nghề đi biển và làm nông nghiệp Bờ phía Bắc thuộc xã
An Hải, ít trù phú, ít dân cư hơn (Sở Văn hóa, 2013) Cách cửa biển Sa Kỳ 27km và cách thủ phủ Quảng Ngãi 50km là đảo Cù Lao Ré hay còn gọi là Lý Sơn, người Bồ Đào Nha thường gọi
là Pulo Catah, người Trung Quốc gọi là Ngoại La.Vào đầu thế kỷ thứ XVI có 7 ngư dân ở làng
An Vĩnh (xã An Vĩnh) trong đất liền dùng thuyền ra phía tây đảo sinh cơ lập nghiệp gọi là thất tộc (Phạm Văn, Phạm Quang, Võ Xuân, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Trần) lập nên phường An Vĩnh;
8 ngư dân từ làng An Hải (xã An Hải) cũng chiếm phần đất phía đông của đảo lập nên phường
An Hải, gọi là bát tộc (Nguyễn, Trương, Dương, Nguyễn, Nguyễn, Trần, Lê, Võ) sau này bị phế truất 2 vị tiền hiền nên hiện nay trên đảo Lý Sơn chỉ còn 13 vị tiền hiền (Trần Nam Tiến, 2014) Nghĩa là, trên đảo có hai phường An Vĩnh và phường An Hải được thành lập từ cư dân gốc ở xã An Vĩnh và xã An Hải ở ngoài đất liền, cụ thể là vùng cửa biển Sa Kỳ Những người con trên đất đảo cũng chịu đầy đủ mọi nghĩa vụ với làng quê gốc của mình ở đất liền Trong các chuyến đi xứ Hoàng Sa, thông thường họ đều mang theo một đôi chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré), 7 cái đòn (nẹp) tre Nếu chẳng may, trong chuyến đi có người nào hi sinh thì dùng chiếu quấn xác, đòn tre dùng làm nẹp và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển Chiếc thẻ tre nhỏ ghi
rõ tên tuổi, quê quán phiên hiệu đơn vị của người mất được cài kỹ trong bó chiếu, cũng là dấu hiệu nhận biết nếu có ai vớt được thì nhờ chiếc thẻ mà biết thông tin con người đó đã vị quốc vong thân (Trần Nam Tiến, 2014)
3.2.1 Viên dẫn đường và lái thuyền
Vua Minh Mệnh thông qua Bộ Công gửi lệnh cho tỉnh thuê thuyền, dân phu, dân thuyền
để lo liệu việc công ở Hoàng Sa (Ủy ban Biên giới, 2013) Vua sử dụng hình thức cho tỉnh tuyển chọn người am hiểu đường biển và có kinh nghiệm đi xứ Hoàng Sa vào vị trí lái thuyền (đà công) hay vị trí thủy thủ Riêng đối với vị trí lái thuyền, thì tỉnh sẽ cấp bằng cho viên lái thuyền đó (Ủy ban Biên giới, 2013) Năm 1835, năm 1837 và năm 1838, ông Vũ Văn Hùng (hay Võ Văn Hùng) và ông Phạm Văn Sênh (hay Phạm Văn Sanh) đều được tín nhiệm và cử vào vị trí dẫn đường cho đoàn thuyền đến Hoàng Sa Riêng năm 1834, Vũ Văn Hùng vẫn ở vị trí dẫn đường và chưa có tài liệu viết về Phạm Văn Sênh có được cử vào vị trí dẫn đường hay không? Vũ Văn Hùng chính là người thuộc gia tộc họ Võ (Văn) tại làng An Vĩnh, ông là hậu duệ của Võ Văn Khiết (cai đội Hoàng Sa năm 1776), Võ Văn Phú (cai đội Hoàng Sa năm 1803) (Sở Văn hóa, 2013) Vũ Văn Hùng còn giúp tỉnh lo việc tuyển chọn binh phu và chọn lái thuyền là ông Đặng Văn Xiểm (phường An Hải) (năm 1834) và ông Dương Văn Định (thôn Hoa Diêm) (năm 1834) và ông Lưu Đức Trực (năm 1837) Tỉnh đều cấp bằng cho các viên lái thuyền này
3.2.2 Thủy thủ
Những người ngư dân (dân phu, thủy thủ) được nhận giấy sai đi xứ Hoàng Sa gọi là dân binh (Ủy ban Biên giới, 2013) Họ không giống như quân nhân chính quy, không được trả lương hàng tháng mà chỉ được miễn tiền sưu và được thưởng tiền 1 hoặc 2 quan tùy theo chuyến đi (Ủy ban Biên giới, 2013) Ngoài ra, họ còn được hưởng phần dư, phần còn lại ngoài số quy định phải nộp cho triều đình Thủy thủ tham gia chuyến hải trình năm 1834 là những người con của đảo Lý Sơn gồm có Phạm Vị Thanh (Phạm Quang Thanh hoặc Phạm Quang Tình), Trần Văn Kham và Vũ Văn Nội (hay Võ Văn Công)- phường An Vĩnh; Nguyễn Văn Mạnh và Trương Văn Tài -phường An Hải Ngoài ra, có 3 thủy thủ khác ở tỉnh Quãng Ngãi là Ao Văn Trâm - xã Lệ Thủy Đông Nhị, tổng
Trang 8Bình Hà, huyện Bình Sơn; Trần Văn Lê và Nguyễn Văn Doanh (hay Nguyễn Văn Dinh) đều cùng một quê quán là ở thôn Thạch Than, tổng Ca Đức, huyện Mộ Hoa (Ủy ban Biên giới, 2013) Tỉnh tạm ứng cấp phát gạo và các vật dụng cần thiết đi biển cho thủy thủ, còn các thức ăn khác như cá, chim….thì thủy thủ tự chủ động đánh bắt và nấu nướng ăn (Ủy ban Biên giới, 2013) Trên mỗi chiếc thuyền đều có bếp lửa, đây là loại loại bếp truyền thống được giữ lửa bằng các nùi dây dừa khô Thuyền của ngư dân là chính ngư dân đó tự đóng lấy (xem mô phỏng thuyền buồm thế kỷ XVII bên dưới), đó là loại thuyền câu nhỏ hay còn gọi là tiểu điếu thuyền, loại thuyền này có mê và đáy dưới bằng tre đan rồi quét cứt trâu và dầu rái lên Phía trên thành thuyền làm bằng gỗ trò hay gỗ sao, có ba cột buồm bằng gỗ kiền kiền và các bộ phận không quan trọng như các then thì làm bằng gỗ mù u có sẵn ở địa phương So với thuyền được làm ở các địa phương khác thì thuyền ở vùng cửa biển Sa Kỳ hay đảo Lý Sơn có ba cánh buồm đan bằng lá, các dụng cụ như lu chứa nước đều làm bằng tre Do đó, thuyền của ngư dân vừa nhỏ, vừa nhẹ nên dễ dàng cập được vào bờ các đảo san hô ở xứ Hoàng Sa (Trần Nam Tiến, 2014) Các thuyền dân do quan chức sai phái đi công vụ Hoàng Sa đều được miễn thuế trong năm Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp không được đặc ân này nên quan Bố chính tỉnh Quảng Ngãi đã làm bản tâu nói rõ nhiệm vụ các thuyền này phục vụ cho việc đo vẽ tại Hoàng Sa để xin đặc ân miễn thuế đó (Ủy ban Biên giới, 2013) Năm 1838, tỉnh Quãng Ngãi thuê 2 chiếc thuyền thuyền lớn trong dân Chiếc thứ 1 của chủ thuyền tên Nguyễn Văn Chòm có biển số 22, dài 2 trượng 7 thước, rộng 6 thước 7 tấc, sâu 2 thước 1 tấc Chiếc thứ 2 của chủ thuyền Trần Văn Đức có biển số 89, dài 2 trượng 1 tấc, rộng 6 thước 7 tấc, sâu 2 thước 3 tấc (Ủy ban Biên giới, 2013) Do đó, 2 dân thuyền Nguyễn Văn Chòm và Trần Văn Đức cùng tham gia chuyến hải trình năm 1838, có lẽ họ sẽ phụ trách công việc lái thuyền và sữa chữa thuyền của họ
4 Về hoạt động của các lực lượng tham gia công vụ
Mỗi năm khu vực biển Đông trung bình xuất hiện 9 – 10 cơn bão, các cơn bão này thường có đường đi ngang qua hoặc quét qua vùng biển quần đảo Hoàng Sa Bão thường gây ra mưa lớn, sóng lớn và gió giật với cường độ mạnh gây nhiều khó khăn cho việc xây dựng công
Mô phỏng thuyền ở đảo Lý Sơn thế kỷ XVII Mô phỏng thuyền buồm và các công cụ
dùng để đi Hoàng Sa (đầu thế kỷ XVII) (Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, 2013)
Trang 9trình, cơ sở vật chất trên quần đảo.Trong mùa hè, hướng sóng Tây – Nam chiếm ưu thế 53-55% Độ cao sóng 3-4m Các hướng sóng khác có tần suất thấp và độ cao nhỏ hơn 3-4m Trong mùa Đông, sóng Đông Bắc chiếm ưu thế với tần suất 70-72% với độ cao cực đại đạt tới 4-6m Các hướng sóng Đông và Bắc có tần suất 10-15% và có độ cao cực đại 3-4m Do đó, vào mùa Đông, vùng bờ biển Quảng Trị đến Quảng Ngãi thường xuyên đón nhận nhiều tàu thuyền bị hư hại ngoài xứ Hoàng Sa dạt vào Điều này cho thấy đoàn thuyền thuận sóng gió ra xứ Hoàng Sa vào hạ tuần tháng 3 và trở về đất liền vào thời điểm hạ tuần tháng 6 là hợp lí, tuy nhiên cũng có trường hợp dời lại ngày khởi hành hoặc ngày trở về
Công vụ vãng thám theo chu kỳ năm, mỗi năm đi một lần, tùy thuộc vào thời tiết thì việc đoàn thuyền dời lại thời điểm ra khơi đều được tâu báo lên Vua (Ủy ban Biên giới, 2013) Lịch khởi hành thường cố định vào hạ tuần tháng ba (Ủy ban Biên giới, 2013) Để chuyến hải trình thuận ra xứ Hoàng Sa buồm xuôi gió, năm 1834, vua cho tỉnh Quảng Ngãi làm lễ cầu gió (Ủy ban Biên giới, 2013) Tế lễ ở cửa biển không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh của triều đình và binh lính, mà còn là cách để triều đình xoa dịu nỗi đau và làm yên lòng gia quyến của những binh lính đã hi sinh trong các chuyến đi; đồng thời gửi một thông điệp động viên họ hăng hái tham gia chuyến hải trình đầy hiểm nguy, giúp họ không nản chí, chùng bước hay nghi ngại gian khổ Đây cũng là dịp để vua Minh Mệnh thể hiện sự quan tâm đối với đoàn thuyền, giúp
ổn định tư tưởng lực lượng tham gia
Binh thuyền và phái viên của triều đình đi từ cửa Thuận An đến tỉnh Quảng Ngãi để phối hợp với dân binh của tỉnh Quảng Ngãi hoặc bổ sung thêm dân binh của các tỉnh lân cận như Bình Định Nếu đoàn thuyền chậm trễ mà có lý do chính đáng thì không bị trách phạt, song nếu tùy tiện làm trễ lịch trình thì sẽ bị phạt (Ủy ban Biên giới, 2013)
Từ vùng cửa biển Sa Kỳ, đoàn thuyền gồm có thuyền của triều đình, thuyền của dân tỉnh Quãng Ngãi hoặc có thêm thuyền của dân tỉnh Bình Định, tất cả cùng nhổ neo đi đến xứ Hoàng
Sa mất khoảng 3 ngày 3 đêm (Ủy ban Biên giới, 2013) Sau khi đến được xứ Hoàng Sa, mỗi thành viên có nhiệm vụ của riêng mình, khi có thời gian có lẽ tất cả đều tham gia thu lượm những hải vật quí lạ ở như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi, đồi mồi, hải ba Ngoài hải vật, mọi người còn thu lượm hàng hóa do tàu thuyền các nước bị đắm trước đó như vàng bạc, tiền tệ, súng ống, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, ngà voi, sáp ong, đồ sứ… Công tác thu nhặt súng ống có
lẽ là quan trọng hơn cả vì vũ khí gia tăng sức mạnh quân sự cho triều đình
Sau khi thực hiện các nhiệm vụ do Vua giao, đúng thời điểm được ấn định trước thì đoàn thuyền trở về đất liền vào hạ tuần tháng 6 (Ủy ban Biên giới, 2013) qua cửa biển Thuận An rồi đến Kinh để báo cáo tình hình chuyến đi, đồng thời khai nộp hóa vật, hải vật Nếu bất kỳ ai trong chuyến đi có tư tệ gì thì Bộ Công kết hợp với bộ Hình sẽ trực tiếp điều tra xét hỏi (Ủy ban Biên giới, 2013) Khi đến cửa Thuận An, nếu đài Trấn Hải dự trước kéo cờ đỏ chúc mừng và bắn phát súng lớn, thì đoàn thuyền đoán biết có thể gặp sóng gió nên trì hoãn việc vào bến, trong khi điều kiện sóng nước ổn thỏa thì đài bắn 3 phát súng lớn Do biền binh thủy quân luôn
có mặt trên các chuyến hải trình nên trên đài trông thấy đoàn thuyền luôn có treo cờ vàng và có bắn súng khi thuyền vào bến Vào ban đêm hiệu cờ được thay bằng chiếc đèn lồng lớn, chu vi trên dưới 7, 8 thước, trong bọc giấy trắng, ngoài bọc vải the Những tháng mưa rét, gió bão thì trên đài không treo đèn lồng Ý nghĩa truyền tin của cờ hiệu và bắn súng được thủy quân biền binh dưới thời vua Minh Mệnh nắm rất vững (Nội các triều Nguyễn, 1973)
Trang 105 Nhận xét và đề xuất
- Triều Nguyễn không chỉ có 6 chuyến hải trình với các đoàn thuyền đến hai quần đảo (xứ) Hoàng Sa, Trường Sa thực thi công vụ dài ngày, nhưng qua 6 chuyến liên tục này cho thấy việc thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa là thường xuyên và không đứt đoạn Thành phần tham gia đoàn thuyền đến xứ Hoàng Sa gồm cả quan binh triều đình và dân địa phương vùng cửa biển Sa
Kỳ và Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) thuộc tỉnh Quãng Ngãi, có thể có thêm dân phu, dân thuyền của tỉnh Bình Định Đó là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính quyền triều Nguyễn, từ trung ương đến địa phương, tất cả các thành phần/bộ phận chức năng liên quan
- Lực lượng chủ chốt do triều đình phái đi công vụ đến xứ Hoàng Sa là thủy quân tinh nhuệ được trang bị thuyền nhanh nhẹ cùng với vũ khí thủy chiến nên nếu gặp bọn hải phỉ thì dễ dàng vây bắt Nhiệm vụ quan trọng của Cai đội Thủy quân là đến được đảo nào thì sử dụng cọc
gỗ do Bộ Công chuẩn bị sẵn từ trước để đi đến được đảo nào thì cắm mốc lưu dấu đến đó Vệ Giám thành nắm được kỹ thuật đo đạc thủy trình và kỹ thuật xây thành kiểu Vauban của Pháp cho nên qua mỗi chuyến đi thường nhận nhiệm vụ khác nhau như đo đạc, vẽ bản đồ, dựng miếu, dựng bia đá, xây bình phong và trồng cây Lính thợ và chủ thuyền là hai thành phần nắm
kỹ thuật đóng và sửa chữa tàu thuyền, họ sẽ nhận nhiệm vụ tu bổ, sửa chữa những hỏng hóc của tàu thuyền nếu có Chuyến đi năm 1838, sử sách còn ghi lại có sự tham gia của Phái viên triều đình là Khâm thiên giám, viên ngoại lang bộ Công và Thị vệ Có lẽ Khâm thiên giám đã ghi nhật ký khí tượng, thủy văn của chuyến đi và trong thời gian lưu trú trên đảo, giúp cho đoàn thuyền giảm thiểu tối đa nguy hiểm và trở về đất liền an toàn
- Thành phần thứ hai tham gia đoàn thuyền đó là những ngư dân am hiểu đường biển, có kinh nghiệm đi xứ Hoàng Sa được tỉnh tuyển chọn vào vị trí dẫn đường hay lái thuyền, họ chính là những người con, người cháu của thành viên đội Hoàng Sa trước đây Riêng đối với vị trí lái thuyền, thì viên dẫn đường sẽ ứng cử, nếu tỉnh chấp thuận thì cấp bằng cho viên lái thuyền đó Khi cần thiết thì triều đình còn tuyển chọn lực lượng dân thuyền, dân phu sống ven biển tỉnh Bình Định
- Trước mỗi chuyến đi, vua Minh Mệnh đều có sự chuẩn bị chu đáo từ việc rèn luyện kĩ năng đi biển cho lực lượng tham gia đoàn thuyền, hoặc tuyển chọn những người đã có kinh nghiệm đi xứ Hoàng Sa, ông còn chuẩn bị trước các vật kiện đề phòng tàu thuyền có sự cố hỏng hóc trong suốt chuyến hải trình dài ngày; ông còn chú ý, quan tâm động viên tinh thần cho từng thành viên tham gia đoàn thuyền thông qua việc tế lễ cầu gió ở cửa biển Những hoạt động của triều chính thời Minh Mệnh trong mấy năm ấy thể hiện rõ khả năng quản lý chặt chẽ của vương triều, trách nhiệm của vị vua đối với giang sơn Tổ quốc nói chung và biển đảo nói riêng
- Hoạt động của các hải đội Hoàng Sa và Trường Sa kiêm quản từ thời các chúa Nguyễn được tiếp tục hoàn thiện trong thời triều Nguyễn để thực hiện chủ quyền không tranh của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hàng trăm năm (thế kỷ XVII-XIX) là độc đáo, hiệu quả, có một không hai trong khu vực và thế giới Đó không chỉ là bằng chứng độc đáo của chủ quyền và thực hiện chủ quyền của Việt Nam thời Chúa Nguyễn – Triều Nguyễn, mà còn cần ghi vào trong các văn bản pháp lý của quốc gia Việt Nam ngày nay (Luật Biển Việt Nam) – cũng như văn bản pháp lý quốc tế, về điển hình một cách thức cần thiết của một nhà nước/quốc gia có chủ quyền về biển đảo