1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

43K02 1 nguyễn trần phương thủy bài tập cá nhân số 2

35 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập cá nhân số 2 môn Quản trị chiến lược thầy Nguyễn Xuân Lãn. Yêu cầu phân tích ngành của Việt Nam. Bài phân tích về ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2019. Sử dụng nhiều số liệu minh chứng để kết luận như: cung cầu, mức độ hài lòng của khách hàng đối với từng thương hiệu, thị phần ngành ô tô, mô tả về chuỗi giá trị của ngành,... Bài này của mình đạt điểm khá cao =)))

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH



BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 2 Phân tích ngành ô tô Việt Nam

GVHD: TS Nguyễn Xuân Lãn SVTH: Nguyễn Trần Phương Thủy Lớp: 43K02.1

Đà Nẵng, 11/2020

Trang 2

Nguyễn Trần Phương Thủy 2

MỤC LỤC

I Tổng quan về ngành ô tô Việt Nam 3

1 Định nghĩa ngành 3

2 Mô tả ngành 3

2.1 Lịch sử ngành ô tô Việt Nam 3

2.2 Vòng đời ngành ô tô Việt Nam 4

2.3 Đặc điểm chung của ngành 6

2.4 Tình hình cung cầu 9

2.5 Chuỗi giá trị trong ngành ô tô Việt Nam 13

II Phân tích môi trường bên ngoài 15

1 Yếu tố kinh tế 15

2 Yếu tố pháp lý 18

3 Yếu tố văn hóa – xã hội 20

4 Yếu tố công nghệ 24

III Phân tích mô hình năm lực lượng cạnh tranh 25

1 Quyền lực thương lượng của người mua 25

2 Quyền lực thương lượng của nhà cung cấp 26

3 Áp lực từ sản phẩm thay thế 26

4 Áp lực từ các đối thủ tiềm tàng 27

5 Mức độ cạnh tranh trong ngành 28

IV Nhóm chiến lược 33

V Các yếu tố tạo nên sự thành công của ngành 34

VI Lực lưỡng dẫn dắt ngành 34

Trang 3

Nguyễn Trần Phương Thủy 3

Thời gian nghiên cứu: từ năm 2015-2019

1 Định nghĩa ngành

Ngành ô tô Việt Nam bao gồm nhiều công ty và tổ chức tham gia vào việc sản xuất, lắp ráp, tiếp thị và phân phối xe có động cơ Ngành ô tô không bao gồm các ngành dành riêng cho việc bảo dưỡng ô tô sau khi giao hàng cho người sử dụng chẳng hạn như các cửa hàng sửa chữa ô tô và trạm nạp nhiên liệu cho động

2 Mô tả ngành

2.1 Lịch sử ngành ô tô Việt Nam

Tháng 12/1958, chiếc xe bốn chỗ đầu tiên hiệu Chiến Thắng được sản xuất

ở miền Bắc Xe được các kỹ sư, công nhân Việt Nam ở Nhà máy Chiến Thắng (phía Bắc) phát triển từ mẫu xe Fregate chạy xăng của Pháp trên tinh thần nội địa hóa tối đa

Năm 1970, chiếc La Dalat giá rẻ do người Việt lắp ráp theo tiêu chuẩn của Hãng Citroen (Pháp) xuất hiện ở thị trường miền Nam La Dalat có đến 4 dòng

xe, trung bình mỗi năm bán được 1.000 chiếc từ năm 1970 đến 1975, tỉ lệ nội địa hóa tăng từ 25% đến 40%

Năm 1991, hai doanh nghiệp ôtô có vốn đầu tư nước ngoài đã được thành lập là Xí nghiệp liên doanh ôtô Hòa Bình và Công ty liên doanh Mekong Auto

Tháng 8/1995, 3 ông lớn trong ngành ôtô thế giới đăng ký vào Việt Nam cùng nhận được giấy phép đầu tư thành lập liên doanh ôtô tại Việt Nam trong 1 ngày là Toyota, Ford và Chysler Ngành ôtô Việt Nam cũng đã chứng kiến sự có mặt của khoảng 16 doanh nghiệp ôtô có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có nhiều tên tuổi như Toyota, Ford, Honda, Mitsubishi, Mercedes-Benz

Trang 4

Nguyễn Trần Phương Thủy 4

Năm 2004, 2 doanh nghiệp Việt Nam là Công ty cổ phần ôtô Trường Hải (Thaco) và Công ty cổ phần ôtô Xuân Kiên (Vinaxuki) đã được Thủ tướng cho phép sản xuất, lắp ráp ôtô các loại

Năm 2012, Ôtô Xuân Kiên gặp khó khăn, sau đó phải đóng cửa

Năm 2016, Ôtô Trưởng Hải dẫn đầu thị phần Ôtô Việt Nam

Năm 2017, Vingroup khởi công tổ hợp sản xuất ô tô VinFast tại Hải Phòng Tháng 10/2018, VinFast đã đưa hai xe mẫu Sedan Lux A 2.0 và SUV Lux

SA 2.0 tham gia triển lãm quốc tế Paris Motor Show, một trong những sự kiện ô

tô lớn nhất toàn cầu và nhận được sự đón nhận nhiệt tình của công chúng quốc tế

2.2 Vòng đời ngành ô tô Việt Nam

Ngành ô tô Việt Nam từ 2007 đến nay có thể chia làm 4 giai đoạn chính:

Giai đoạn 2007 – 2008

Tốc độ tăng trưởng doanh số bán xe duy trì ở mức 2 con số, lần lượt ở mức 97% và 37% Trong năm 2017, Bộ tài chính đã tiến hành 3 đợt giảm thuế với hy vọng hạ nhiệt giá bán xe trong nước Tại thời điểm Việt Nam gia nhập WTO (1/2017), các loại ô tô mới nguyên chiếc được giảm thuế nhập khẩu từ 90% xuống 80%

Trang 5

Nguyễn Trần Phương Thủy 5

Tháng 8/2007, cắt giảm tiếp xuống còn 70% và vào tháng 11/2007, thuế xuất đối với ô tô mới nguyên chiếc còn 60%

Giai đoạn 2009 – 2012

Tốc độ tăng trưởng doanh số bán xe bắt đầu chậm lại vào năm 2009 (+7%),

và sụt giảm mạnh vào năm 2012 (-33%) Trong đó, sự suy giảm của thị trường ôtô năm 2012 xuất phát từ bối cảnh khó khăn của nền kinh tế nói chung Bên cạnh

đó, việc tăng phí, thuế cùng với việc các loại thuế, phí mới được ban hành cũng góp phần làm giảm sức mua của thị trường

Giai đoạn 2013 – 2016

Tốc độ tăng trưởng doanh số bán xe liên tục đạt 2 con số, mạnh nhất là vào năm 2015, với tốc độ tăng trưởng 55% Trong đó, mức tăng trưởng 55% trong năm 2015 được cho là đến từ việc thị trường chạy đua tránh áp lực tăng giá trong năm tới do các thay đổi về cách tính thuế Tiêu thụ Đặc biệt

Trong khi dó, mức tăng trưởng 24% năm 2016 được cho là nhờ chiến lược giảm giá xe để kích cầu tiêu dùng của nhiều hãng xe

Giai đoạn 2017 – Nay

Tốc độ tăng trưởng doanh số bán xe có dấu hiệu chững lại vào năm 2017, khi sụt giảm 10%, tuy nhiên phục hồi nhẹ trở lại vào năm 2018 (+6%) và 11 tháng đầu năm 2019 (+14%)

Trong năm 2017, sự suy giảm doanh số toàn thị trường chủ yếu bị tác động

từ những chính sách mới có hiệu lực từ 2018 Tâm lý chung của khách hàng là chờ đợi, chủ yếu kỳ vọng giá xe giảm nhiều trong 2018 do thuế nhập khẩu từ ASEAN về 0% và thuế nhập khẩu linh kiện về 0%

Năm 2018, tốc độ tăng trưởng doanh số bán xe chậm lại được lý giải là do những vướng mắc trong việc nhập khẩu xe, qua đó gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung trên thị trường

Trang 6

Nguyễn Trần Phương Thủy 6

Năm 2019, giá xe giảm khoảng từ 8- 15% đã góp phần thúc đẩy đẩy tăng trưởng doanh số bán xe toàn thị trường Bước sang 2020, với nguồn cung dồi dào

và lượng nhập khẩu tiếp tục tăng trưởng cao, giá xe ô tô được dự sẽ tiếp tục điều chỉnh giảm

2.3 Đặc điểm chung của ngành

Tỉ lệ sở hữu ô tô ở Việt Nam còn ở mức rất thấp so với các nước trong khu vực Mới đây, trang web Seasia vừa đưa ra một dữ liệu về tỷ lệ sở hữu ôtô trên mỗi 1.000 người của các nước Đông Nam Á Theo đó, Brunei đứng đầu danh sách với 721 xe, tiếp đến là Malaysia với 443 và Thái Lan 225, Việt Nam đứng gần cuối bảng với chỉ 23 xe/1000 người dân Bên cạnh đó, với mặt bằng lãi suất ở mức thấp và ổn định, tín dụng cho vay mua ô tô tăng trưởng liên tục cộng thêm những chính sách hỗ trợ của Chính phủ như giảm phí trước bạ xe ô tô sẽ tiếp tục

là những yếu tố thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ ô tô trong nước

Với lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc theo cam kết AFTA

và WTO, giá ô tô được dự báo sẽ giảm mạnh với sự thâm nhập thị trường của nhiều hãng xe trong khu vực Thêm vào đó, Việt Nam vẫn đang được đánh giá là một trong những quốc gia có chi phí sản xuất hấp dẫn đối với các nhà sản xuất

Do đó, nguồn cung mặt hàng ô tô sẽ trở nên dồi dào

Với sự tăng trưởng cả về nhu cầu và sản lượng cung cấp, thị trường ô tô Việt Nam được dự đoán sẽ tăng trưởng liên tục trong thời gian tới

Mặc dù có nhiều tiềm năng để phát triển, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức Trước hết, trong khi Chính phủ đang

có nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn FDI, ngành sản xuất ô tô lại không hưởng lợi lớn từ những chính sách này Trong khi các nhà sản xuất hàng đầu thế giới như Toyota, Honda, Mazda, Ford liên tục tăng vốn đầu tư vào Thái Lan, Indonesia… Việt Nam vẫn đang là nhà sản xuất với sản lượng không đáng kể

Trang 7

Nguyễn Trần Phương Thủy 7

Một trong những nguyên nhân chính của sự chậm phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là sự yếu kém của ngành sản xuất linh kiện phụ trợ Điều này khiến cho các doanh nghiệp lắp ráp phụ thuộc rất lớn vào linh kiện nhập khẩu

Ngoài ra, cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam còn thiếu đồng bộ với chất lượng không cao Điều này khiến cho các phương tiện 2 bánh nhỏ gọn hấp dẫn hơn so với ô tô

2.3.1 Thị phần trong ngành

Hiện nay, theo Báo cáo của Chứng khoán Bảo Việt, tính riêng trong Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), bốn ông lớn gồm Toyota, Honda, Ford và Thaco hiện đang chiếm tới 77% thị phần thị trường ô tô tại Việt Nam Trong đó, chiếm thị phần cao nhất là một doanh nghiệp nội - Thaco với tỉ lệ 34,3% Đứng thứ hai là Toyota với 23,8% thị phần Honda và Ford lần lượt nắm giữ 10,2% và 8,7% thị phần xe trong nước Còn lại là các thương hiệu khác như VinFast, Mitsubishi,

2.3.2 Phân khúc thị trường

Theo hoạt động kinh doanh chính, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được chia làm 2 bộ phận là sản xuất và phân phối Thực tế, các doanh nghiệp có hoạt

Trang 8

Nguyễn Trần Phương Thủy 8

động sản xuất cũng có kênh phân phối riêng như Trường Hải, TMT, Toyota…Trong khi đó, các doanh nghiệp phân phối chủ yếu làm đại lí cho các hãng xe liên doanh như Toyota, Ford… hoặc nhập khẩu và phân phối xe nguyên chiếc của các hãng lớn Các doanh nghiệp đặc trưng có thể kể đến HHS (chuyên phân phối xe tải Dongfeng Trung Quốc), SVC (đại lí cho nhiều hãng xe), HAX (đại lí Mercedes)

Theo nguồn gốc xe, có thể chia thị trường trong nước thành 2 phân khúc là

xe lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu nguyên chiếc Xu hướng ưa chuộng xe nhập khẩu được thể hiện rõ qua sự tăng trưởng thị phần của phân khúc xe nhập khẩu, mà chủ yếu là các loại xe có giá trị cao Theo số liệu của Hải Quan Việt Nam, trong tháng 11/2019, ô tô nguyên chiếc các loại được đăng ký làm thủ tục hải quan nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ 5 thị trường chính là từ Thái Lan với 5.807 chiếc, từ Indonesia với 4.009 chiếc, từ Trung Quốc với 480 chiếc, từ Mexico với 472 chiếc và từ Nhật Bản với 271 chiếc Số xe nhập khẩu từ

5 thị trường này chiếm tới 94% tổng lượng xe nhập khẩu vào Việt Nam trong tháng

Theo mục đích sử dụng, thị trường Việt Nam được chia làm 2 phân khúc là

xe thương mại (CV) và xe du lịch (PC) Xe thương mại, đặc trưng bởi các dòng

xe tải, xe bus với mục đích sử dụng chính là chuyên chở người và hàng hóa Mặc

dù ít được nói đến, tuy nhiên đây là một phân khúc cực kì quan trọng Các thương hiệu lớn là THACO, Cửu Long (TMT), Vinaxuki, Isuzu hay các dòng xe nhập khẩu như Dongfeng, SINO… Ngược lại, xe du lịch, với các dòng xe con từ 4-9 chỗ, được nhắc đến rất nhiều trong thời gian qua Đây là một phân khúc có sự tham gia của rất nhiều nhà sản xuất lớn và có thương hiệu mạnh như Toyota, Ford, Honda, KIA, Mazda Tổng cục Hải quan ghi nhận, từ đầu năm 2019 đến hết tháng 11/2019, Việt Nam nhập khẩu tới 133.696 chiếc ô tô nguyên chiếc các loại, tăng 95,6% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống là 99.261 chiếc, gấp 2,3 lần; ô tô vận tải là 28.427 chiếc, tăng 36,4% so với 11 tháng năm 2018

Trang 9

Nguyễn Trần Phương Thủy 9

2.3.3 Tỉ lệ nội địa hóa

Tỷ lệ nội địa hóa thấp khiến cho giá thành cao Hoạt động sản xuất, lắp ráp ôtô Việt Nam có tỷ lệ nội địa hóa thấp nhất, cụ thể, xe tải dưới 7 tấn đạt tỷ lệ nội địa hóa trung bình trên 20%; xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng đạt

tỷ lệ 45-55% Riêng đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi, tỷ lệ nội địa hóa bình quân mới đạt 7-10% (trừ dòng xe Innova của Toyota đạt 37%) Nếu so với các nước trong khu vực, tỷ lệ nội địa hóa ngành ô tô của Việt Nam hiện quá thấp Tỷ lệ trung bình của các nước trong khu vực đã đạt 55-60%, riêng Thái Lan đạt tới 80% Theo Toyota Việt Nam, tỷ lệ nội địa hóa thấp khiến cho giá thành sản xuất của ngành ô tô Việt Nam cao hơn 10% so với các nước khác trong khu vực

2.4 Tình hình cung cầu

Theo số liệu thống kê, lượng cung ô tô trên thị trường bao gồm nhập khẩu

và lắp ráp trong giai đoạn 2016 – nửa năm 2019 liên tục vượt cầu, cụ thể năm

2016 ở mức 92.440 xe, năm 2017 ở mức 51.950 xe, năm 2018 ở mức 58.417 xe,

và 6T/2019 ở mức 80.345 xe

Dự báo nguồn cung ôtô năm 2020 sẽ tiếp tục dồi dào do lượng nhập khẩu

có xu hướng tăng trở lại nhờ hiệp định ATIGA

Trang 10

Nguyễn Trần Phương Thủy 10

2.4.1 Cung cầu thị trường ô tô Việt Nam

a Cung ô tô nhập khẩu

Nghị định 116 khiến lượng ô tô nhập khẩu sụt giảm trong năm 2018

Năm 2018, lượng ô tô nhập khẩu giảm hơn 6% so với năm 2017, chủ yếu

là do tác động của nghị định 116/2017/NĐ-CP, quy định về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu linh kiện và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô Nghị định này đã “vô tình” trở thành một rào cản đối với các doanh nghiệp kinh doanh và phân phối xe nhập khẩu

Ô tô nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia tăng mạnh nhờ hiệp định ATIGA

Sáu tháng đầu năm 2019, Việt Nam nhập khẩu tới 75.437 chiếc ô tô nguyên chiếc các loại, gấp hơn 6 lần so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống là 54.927 chiếc, gấp 6 lần; ô tô vận tải là 17.879 chiếc, gấp hơn 6 lần

so với 6 tháng năm 2018 Kim ngạch nhập khẩu ô tô 6 tháng đầu năm đạt 1,68 tỷ USD, tăng 5 lần so với cùng kỳ năm trước

Trang 11

Nguyễn Trần Phương Thủy 11

Trong đó, lượng ô tô nhập khẩu chủ yếu có xuất xừ từ Thái Lan và Indonesia, do hai nước này được hưởng mức thuế nhập khẩu 0% theo Hiệp định ATIGA có hiệu lực từ ngày 01/01/2018

b Cung ô tô lắp ráp

Lượng xe lắp ráp đáp ứng hơn 70% nhu cầu

Việt Nam hiện có hơn 350 doanh nghiệp sản xuất liên quan đến ô tô, với tổng công suất lắp ráp thiết kế khoảng 680.000 xe/năm Trong đó hơn 40 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô; 45 doanh nghiệp sản xuất khung gầm, thân xe, thùng xe; 214 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng ôtô… với sản lượng sản xuất, lắp ráp trong nước đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xe dưới 9 chỗ

Thaco dẫn đầu thị trường ô tô Việt Nam

Thaco dẫn đầu thị trường ôtô Việt 2018 với doanh số 96.127 xe, chiếm 34,7% thị phần Đứng thứ 2 là Toyota Việt Nam với 65.856 xe (chưa kể Lexus), chiếm 23,8% thị phần Các vị trí tiếp theo thuộc về Honda Việt Nam; Ford Việt Nam và GM Việt Nam

Trang 12

Nguyễn Trần Phương Thủy 12

2.4.2 Cầu thị trường ô tô Việt Nam

a Cầu ô tô nhập khẩu

Cầu xe nhập khẩu tăng mạnh Tính đến hết tháng 6/2019, doanh số bán hàng của xe nhập khẩu đạt 62.543 xe, tăng 203% so với cùng kỳ năm ngoái Tuy nhiên vẫn chưa là gì so với mức tăng gấp hơn 6 lần so với cùng kỳ của cung xe nhập khẩu, đạt mức 75.400 xe, như vậy là dư thừa gần 13.000 xe

b Cầu ô tô lắp ráp

Cầu ô tô lắp ráp sụt giảm khá Tính đến hết tháng 6/2019, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước đạt 91.731 xe, giảm 14% so với cùng kỳ năm

Trang 13

Nguyễn Trần Phương Thủy 13

trước Trong khi sản lượng xe lắp ráp 6 tháng đầu năm 2019 ở mức, 159.218 xe, như vậy dư vừa hơn 67.000 xe

2.5 Chuỗi giá trị trong ngành ô tô Việt Nam

Năng lực sản xuất của ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam còn thấp Hiện nay, trong nước mới chỉ một vài nhà cung cấp có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam So với Thái Lan, số lượng nhà cung cấp của Việt Nam trong ngành công nghiệp ô tô vẫn còn rất ít Thái Lan có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, nhưng Việt Nam chỉ có chưa đến con số

100 Thái Lan có khoảng 1.700 nhà cung cấp cấp 2, 3, trong khi Việt Nam chỉ có chưa đến 150 Phụ tùng linh kiện ô tô hiện đang sản xuất tại Việt Nam chủ yếu là các phụ tùng thâm dụng lao động, công nghệ giản đơn, như kính, săm,…

Việt Nam hưởng lợi rất ít trong chuỗi cung ứng và sản xuất của các hãng ôtô trong khu vực 2018 là năm đầu tiên theo lộ trình, ôtô nhập khẩu có xuất xứ ASEAN có thuế suất nhập khẩu 0%, tuy nhiên với năng lực sản xuất của ngành ô

Trang 14

Nguyễn Trần Phương Thủy 14

tô Việt Nam, có thể thấy rằng Việt Nam được hưởng lợi rất ít trong chuỗi cung ứng và sản xuất của các hãng ôtô trong khu vực Trong đó, các hãng đang có xu hướng thu hẹp sản xuất CKD (100% linh kiện được nhập khẩu) và chuyển sang 100% nhập khẩu xe nguyên chiếc từ nước khác Hy vọng chỉ dừng ở hai hãng trưởng thành muộn là Kia và Huyndai của Hàn Quốc Các hãng này cũng chỉ mới sản xuất và tiêu thụ ở thị trường Việt Nam

Theo World Bank, mức độ tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu là khâu lắp ráp cuối cùng, và là khâu có phần giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị Không những thế, khi chuỗi giá trị toàn cầu tiến lên chuỗi giá trị 4.0 thì phần giá trị gia tăng trong khâu lắp ráp lại càng thu hẹp Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp lắp ráp ô tô trong nước, Hyundai Thành Công, Trường Hải và VinFast được kỳ vọng sẽ tạo tam giác cho sự phát triển của ngành sản xuất ôtô Việt Nam

Trang 15

Nguyễn Trần Phương Thủy 15

II Phân tích môi trường bên ngoài

1 Yếu tố kinh tế

Nền kinh tế không những đạt mức tăng trưởng cao, mà cơ cấu kinh tế còn tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tỉ trọng trong GDP của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ mức 17% của năm 2015 xuống 13,96% vào năm 2019, trong khi đó, tỉ trọng của khu vực dịch vụ tăng từ mức 39,73% của năm 2015 lên 41,17% vào năm 2018 và 41,64 % trong năm 2019; tỉ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng duy trì ổn định ở mức 33-34,5%

từ năm 2015 đến năm 2019

Tăng trưởng kinh tế dần chuyển dịch theo chiều sâu, tỉ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 46,11%, bình quân giai đoạn 2016- 2019 đạt 44,46%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,6% của giai đoạn 2011- 2015 Năng suất lao động của toàn nền kinh

Trang 16

Nguyễn Trần Phương Thủy 16

tế theo giá hiện hành năm 2019 ước đạt 110,4 triệu đồng/lao động (tương đương

4791 USD/lao động), tăng 6,2% so với năm trước theo giá so sánh

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực Năm 2019, đầu tư phát triển tăng 10,2%, nâng tổng mức đầu tư lên mức 33,9% GDP so với 32,6% trong năm 2015 Trong đó, đầu tư khu vực nhà nước chiếm 31% tổng vốn và tăng trưởng 2,6% so với năm trước; mặc dù có tăng trưởng nhưng tỉ trọng vốn đầu tư khu vực nhà nước tiếp tục xu hướng giảm từ mức 38% năm 2015 xuống 31% năm 2019

Đầu tư khu vực nhà nước giảm về tỉ trọng trong thời gian qua được bù đắp còn nhiều hơn bởi đầu tư của khu vực tư nhân nhờ chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đưa tốc độ tăng trưởng và tỉ trọng vốn đầu tư của khu vực này lần lượt lên mức 17,3% và 46% vào năm 2019 so với mức 13% và 38,7% năm 2015 Đầu tư khu vực FDI vẫn duy trì mức tăng trưởng khá trong thời gian qua; năm 2019, tổng vốn FDI đạt 38,02 tỉ USD, tăng 7,2% so với cùng kì; duy trì tỉ trọng ổn định ở mức 23,3 – 23,8% trong giai đoạn 2015 – 2019

Về ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, NHNN đã điều hành chính sách tiền

tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; thanh khoản của tổ chức tín dụng được đảm bảo và có dư thừa, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, thông suốt Lạm phát được kiểm soát nhờ thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tín dụng và tài khóa cũng như

cơ chế phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Chỉ số CPI bình quân năm giảm từ 4,74% năm 2016 xuống 3,54% năm 2018; năm 2019, giảm còn 2,79% Mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định và giảm dần, phù hợp với bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước

Trong giai đoạn 2016- 2018, trong bối cảnh lãi suất quốc tế gia tăng (Fed 9 lần tăng lãi suất từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2018, từ mức gần 0% lên mức

Trang 17

Nguyễn Trần Phương Thủy 17

2,25-2,5%), NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp chính sách tiền tệ nhằm

ổn định mặt bằng lãi suất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng hợp lý Điểm khá đặc biệt trong cách thức điều hành tỉ giá của NHNN so với trước đây, đó là, đã sử dụng những công cụ mang tính thị trường hơn là các công cụ mang tính áp đặt hành chính Điều này thể hiện quyết tâm theo đuổi cơ chế tỉ giá trung tâm linh hoạt và định hướng thị trường của ngành NH Nhờ đó, tỉ giá được duy trì ổn định, thanh khoản thị trường được đảm bảo, các giao dịch ngoại tệ diễn

ra thông suốt, dự trữ ngoại hối được tăng cường

Thu NSNN trong giai đoạn 2016- 2019 đều vượt dự toán; chi NSNN chuyển biến tích cực, bội chi được kiểm soát tốt, nợ công nằm trong giới hạn an toàn cho phép Bội chi NSNN so với GDP giảm mạnh từ mức 5,52% năm 2016 xuống 3,46% năm 2018 và dự toán bội chi năm 2016 là 3,6%; năm 2020 là 3,44% Như vậy, bình quân cả giai đoạn 2016- 2020, bội chi NSNN khoảng 3,6 – 3,7%, hoàn thành mục tiêu Quốc hội đề ra ở mức 4% đến năm 2020 Nhờ kiểm soát bội chi, các khoản vay bảo lãnh của Chính phủ nên tốc độ tăng của nợ công đã giảm hơn một nửa và tăng thấp hơn tốc độ tăng GDP danh nghĩa Nếu như giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng nợ công là 18,1%/năm trong khi GDP danh nghĩa tăng 14,5%/năm thì giai đoạn 2016 – 2018, tốc độ tăng nợ công là 8,2%/năm trong khi GDP danh nghĩa tăng 9,7%/năm Nhờ vậy, ước tính nợ công đến cuối năm 2020, chỉ còn 54,3% từ mức 64,3% năm 2016

Vị thế kinh tế đối ngoại của Việt Nam được tăng cường trên cơ sở thặng dư cán cân vãng lai và dòng vốn FDI đổ vào mạnh mẽ Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam đạt kỉ lục thặng dư 9,9 tỉ USD trong năm 2019, vượt đỉnh gần nhất

là 9 tỉ USD vào năm 2017

Môi trường kinh tế tại Việt Nam hỗ trợ tăng trưởng nhu cầu xe hơi Thu

nhập bình quân đầu người tăng trưởng tốt, trong khi lạm phát và tỷ giá được điều hành kịp thời và hợp lý, tạo điều kiện cho người dân có cơ hội tiếp cận các tài sản vốn trước đây bị coi là xa xỉ như xe hơi

Ngày đăng: 19/12/2020, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w