Đề tài đã đưa cơ sở lý luận về quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước, phân tích vai trò, đặc điểm, nội dung, hình thức, các bộ phận hợp thành của thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta. Đồng thời, tập trung mô tả thực trạng thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay; liên hệ với kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương. Từ đó, đánh giá những kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước.
Trang 13 Thực tiễn áp dụng thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước
ta hiện nay và những vấn đề đặt ra 7 III THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 8
1 Tình hình thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương 8
2 Thực trạng về cơ chế pháp lý kiểm soát việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương 17
IV YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ CHẾ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA 23
1 Những yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước 23
2 Giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước trong giai đoạn hiện nay 24 KẾT LUẬN 29
Trang 2MỞ ĐẦUKiểm soát quyền lực nhà nước là nhu cầu tất yếu trong quá trình tổchức thực thi quyền lực nhà nước, là yếu tố trung tâm của nhà nước phápquyền Kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ có thể có hiệu lực và hiệu quả khihoạt động này được thể chế hoá bằng pháp luật, có thể chế pháp lý bảo đảm.Hoàn thiện thể chế, trong đó có thể chế pháp lý, là một trong những khâu độtphá của nước ta đã được xác định từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm2011), tuy nhiên sau nhiều năm thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế
Trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013, nguyên tắc tổ chức quyền lựcnhà nước đã được hiến định và bổ sung thêm cơ chế kiểm soát quyền lực nhànước, Khoản 3 Điều 2 Hiếp pháp 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước làthống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nướctrong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Qua đó đã tạonền tảng pháp lý cho cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nướcdựa trên việc phân công mạch lạc nhiệm vụ, quyền hạn của các quyền để tạo
cơ sở cho cơ chế kiểm soát quyền lực Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, cơchế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp chưađược chế định rõ Trên thực tế, tổ chức bộ máy nhà nước và cơ chế hoạt độngcủa các thiết chế cơ bản trong bộ máy pháp quyền xã hội chủ nghĩa, như Quốchội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp còn những điểm chưa thực
sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả
Với các quy định của Hiến pháp năm 2013, cơ sở hiến định về kiểmsoát quyền lực nhà nước đã được ghi nhận nhưng thể chế pháp lý về kiểmsoát quyền lực nhà nước ở nước ta nhìn chung chưa hoàn thiện Do đó, tác giả
chọn đề tài: “Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam và liên hệ thực tiễn với địa phương” làm tiểu luận hết môn Nhà nước và Pháp
luật
Trang 3NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ PHÁP LÝKIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm của thể chế pháp lý về kiểm soát quyềnlực nhà nước
1.1 Khái niệm thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước
Tham khảo các quan niệm về kiểm soát quyền lực nhà nước và cơ chếkiểm soát quyền lực nhà nước của những nhà khoa học đã nghiên cứu trước,trong đó cho rằng: cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng thể của cácyếu tố thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo đảm để xây dựng, hoàn thiện vàvận hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; cơ chế kiểm soát quyền lựcnhà nước gồm chủ thể, đối tượng và thể chế kiểm soát quyền lực nhà nước;thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước là một bộ phận cấu thành cơchế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước, có thể đưa ra khái niệm chungnhất, đó là:
Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng thể những quyđịnh trong Hiến pháp và pháp luật do nhà nước ban hành, bao gồm những quyđịnh về nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, quy trình, thủ tục,các biện pháp, hậu quả pháp lý, được áp dụng trong quá trình to chức, vậnhành, giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát và thực hiện các hình thức khácnhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực nhà nước đượcthực hiện đúng mục đích, có hiệu lực và hiệu quả
1.2 Vai trò của thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước
Ngày nay, nhiều nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã chỉ ra có các công
cụ, biện pháp khác nhau để kiểm soát quyền lực nhà nước nhưng không công
cụ nào có hiệu lực, hiệu quả bằng thể chế pháp lý Kiểm soát quyền lực bằng thể chế là một tất yếu khách quan Vai trò quan trọng của thể chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước cụ thể như sau:
Thứ nhất, thể chế pháp lý là yếu tố cấu thành nền tảng của cơ chế pháp
lý kiểm soát quyền lực nhà nước
Thứ hai, thể chế pháp lý là công cụ, phương tiện có hiệu lực và hiệu quả nhất trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước
Thứ ba, thể chế pháp lý biểu hiện mối quan hệ hai chiều, một mặt giữa nhà nước với nhân dân, và mặt khác giữa các cơ quan nhà nước với nhau
Thứ tư, thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước góp phần làm
Trang 4cho quyền lực nhà nước được tổ chức và vận hành ổn định, chính đáng, mạnh
mẽ và hiệu quả hơn, hạn chế lạm dụng kiểm soát trong vận hành quyền lực nhà nước
Thứ năm, thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước là yếu tố thể hiện bản chất và tính ưu việt của chế độ chính trị của mỗi quốc gia.
1.3 Đặc điểm của thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
Do đặc điểm của hệ thống chính trị, mô hình tổ chức quyền lực nhà nước, quá trình xây dựng Hiến pháp và pháp luật mà thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta có những đặc điểm nổi bật như sau:
(1)- Là thể chế kiểm soát quyền lực của “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
(2)- Là thể chế kiểm soát quyền lực của một nhà nước đơn nhất, nhiều yếu tố tập quyền, được xây dựng trên nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
(3)- Thiết lập trong cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”
(4)- Là một thể chế đang trong quá trình hoàn thiện và tiếp tục phát triển.
2 Nội dung, hình thức, các bộ phận hợp thành thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước
2.1 Nội dung thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước
Thể chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước có những nội dung chínhlà:
(1)- Quy định các nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước;
(2)- Quy định về chủ thể và đối tượng trong quan hệ kiểm soát quyềnlực nhà nước;
(3)- Quy định nội dung kiểm soát quyền lực nhà nước;
(4)- Quy định hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước;
(5)- Quy định trình tự, thủ tục kiểm soát quyền lực nhà nước;
(6)- Quy định về các biện pháp, hậu quả pháp lý của hoạt động kiểm
Trang 5soát quyền lực nhà nước.
2.2 Hình thức thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước
Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước thể hiện dưới hìnhthức văn bản quy phạm pháp luật, gồm: Hiến pháp, các luật, nghị quyết (do
cơ quan thực hiện quyền lập pháp là Quốc hội thông qua) và các văn bản dướiluật (pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, thông tư, thông tư liên tịch, ) do các
cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước (một số văn bản liên tịch vớiTrung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) ban hành, liên quan đến việc kiểmsoát quyền lực nhà nước Trong số đó, các quy định của Hiến pháp là thể chếgốc, thể chế căn bản, then chốt có vai trò định khung, định hướng và tạo lậpnguyên tắc cơ bản làm căn cứ cho toàn bộ hệ thống thể chế pháp lý về kiểmsoát quyền lực nhà nước
2.3 Các bộ phận hợp thành thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước
Có nhiều cách phân chia bộ phận hợp thành thể chế pháp lý về kiểmsoát quyền lực nhà nước theo những cơ sở và mục tiêu nghiên cứu khác nhau.Với cách tiếp cận ở mức độ tổng thể, khái quát nhất, có thể trình bày hệ thốngthể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước gồm 02 bộ phận:
(1)- Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhànước
(2)- Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài bộmáy nhà nước
II THỰC TRẠNG THỂ CHẾ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT QUYỀNLỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển thể chế pháp lý về kiểmsoát quyền lực nhà nước ở nước ta từ sau cách mạng tháng tám năm 1945
- Giai đoạn 1945 - 1959: Với những tư tưởng dân chủ và pháp quyền,
Hiến pháp năm 1946 đã có những quy định khá cụ thể và khá rõ ràng trên tinhthần kiểm soát quyền lực nhà nước, có giá trị tích cực khẳng định phươnghướng xây dựng nền dân chủ nhân dân Tuy nhiên, Hiến pháp này mới đượcthông qua chưa kịp công bố thì chiến tranh bùng nổ, đất nước trải qua 9 nămkháng chiến chống Pháp nên nhiều quy định chưa được thể chế hoá chi tiết vàthực hiện
- Giai đoạn 1959 - 1980: Nhà nước ta đã chuyển sang hướng mô hình
tập quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Sự kiểm soát được thể hiện mộtchiều theo cơ chế tập trung quyền lực vào Quốc hội Kiểm soát của các chủ
Trang 6thể bên ngoài nhà nước đã bước đầu được ghi nhận.
- Giai đoạn 1980 - 1992: Trên phương diện tổ chức quyền lực nhà
nước, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa được tiếp tục thể hiện cao độhơn Kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước được tập trung cao vào Quốc hội
và Hội đồng Nhà nước Kiểm soát từ bên ngoài bộ máy nhà nước đã được ghinhận bao gồm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các tổ chức chính trị- xã hội
- Giai đoạn 1992 - 2013: Đây là giai đoạn chúng ta khẳng định xây
dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, có sự “phân công, phối hợp”trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Bổ sung và làm rõ hơn các quyđịnh về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên trong đại diện,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho hội viên, giám sát và phảnbiện xã hội; quy định đầy đủ hơn về quyền công dân, trong đó có các quyền
cơ bản như: tham gia quản lý nhà nước và xã hội
- Giai đoạn hình thành thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhànước hiện nay trên nền tảng Hiến pháp năm 2013:
Bên cạnh việc “phân công”, “phối hợp”, thì lần đầu tiên “kiểm soát” đãđược đưa vào nguyên tắc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước; những tưtưởng về chủ quyền nhân dân được đề cao và thể hiện xuyên suốt, nhất quán;tinh thần thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền côngdân được chú ý, đã tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành cơ chế kiểmsoát quyền lực nhà nước một cách toàn diện Từ sau khi Hiến pháp 2013 đượcban hành đến nay, công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế pháp lýđược diễn ra rất sôi động Việc ban hành các luật về tổ chức các cơ quan trong
bộ máy nhà nước và cụ thể hoá các quyền của công dân trong lĩnh vực thamgia quản lý nhà nước đã góp phần quan trọng bổ sung, hoàn thiện cơ sở pháp
lý về kiểm soát quyền lực nhà nước
2 Thực trạng thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở ViệtNam hiện nay
2.1 Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước
Về nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; trên cơ sở đó, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp thế hiện ở đối tượng chịu
sự kiểm soát chủ yếu là Quốc hội và những cơ quan khác như Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân địa phương trong trường hợp
Trang 7được uỷ quyền lập pháp để ban hành pháp lệnh, nghị định, nghị quyết.
Về chủ thể kiểm soát quyền lập pháp ở nước ta chủ yếu là Quốc hội tự kiếm soát hoạt động lập pháp dựa trên các quy định của thế chế Nội dung quan trọng nhất là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật Phương thức
kiểm soát chủ yếu là quy định rõ phạm vi, quy trình, thủ tục thực hiện quyềnlập pháp
Kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền hành pháp thể hiện ở đối tượng của sự kiểm soát là tổ chức và hoạt động của hệ
thống hành chính nhà nước, các quyết định và hành vi pháp luật được thực
hiện để thực thi quyền hành pháp Nội dung kiếm soát quyền hành pháp bao
gồm hai phương diện chủ yếu là tính hợp pháp và tính hợp lý trong tổ chức và
hoạt động của cơ quan hành pháp Chủ thể kiểm soát quyền hành pháp trước
hết là các cơ quan thuộc hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội và
Hội đồng nhân dân) và các cơ quan khác; hình thức kiểm soát thường là giám
sát, xét xử của Toà án, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát,
Kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền tư pháp là kiểm soát hoạt động xét xử của các toà án thực hiện bởi nội bộ ngành
tòa án hoặc bởi các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan trong hệ thốnghành pháp, nhất là viện kiểm sát nhân dân Ngoài các phương diện trên, thế
chế pháp lý còn quy định về kiểm soát quyền lực nhà nước đối với chính quyền địa phương và kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua vai trò của Hội đồng bầu cử quốc gia, kiểm toán nhà nước.
2.2 Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài
bộ máy nhà nước
Với việc ban hành Hiến pháp năm 2013, thể chế pháp lý kiểm soátquyền lực nhà nước từ bên ngoài bộ máy nhà nước có bước thay đổi quantrọng Những phương thức nhân dân thực hiện dân chủ trực tiếp được đề cao.Vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước được làm rõ hơn Giám sát và phảnbiện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đượcghi nhận, đã tạo khung khổ để tiếp tục xây dựng thể chế pháp lý về kiểmsoát của nhân dân đối với quyền lực nhà nước Theo đó, các luật, văn bảndưới luật đã, đang và sẽ được ban hành nhằm cụ thể hoá các quy định về tổchức, chủ thể, phạm vi, nội dung, phương thức, trình tự, thủ tục, để nhândân kiểm soát quyền lực nhà nước
3 Thực tiễn áp dụng thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ởnước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra
3.1 Thực tiễn áp dụng thể chế pháp lý kiểm soát quyền lực bên trong
Trang 8Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân đối với tòa án còn rất hìnhthức Tòa án nhân dân nói chung, cụ thể là Toà án nhân dân cấp cao và Toà ánnhân dân tối cao vẫn chưa có thẩm quyền giải thích pháp luật, làm hạn chếkhả năng kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của các tòa án nhân dân cấpdưới; vai trò của Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước trong kiểmsoát quyền lực nhà nước còn chưa rõ nét
3.2 Đối với thể chế pháp lý kiếm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài bộ máy nhà nước
Những năm qua, vai trò kiểm soát của các cấp uỷ Đảng và Nhân dânđối với Nhà nước được chú trọng, nhất là giám sát và phản biện xã hội quakênh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có một số bước tiến Tuy nhiên, ngoài cơ sởhiến định ở Điều 4 Hiến pháp 2013 thì thể chế pháp lý về kiểm soát của Đảngđối với quyền lực nhà nước chưa được xây dựng thành luật hoặc văn bản dướiluật Trong thực tiễn, nhiều nơi chưa phân định được rõ giữa lãnh đạo củaĐảng và quản lý, điều hành của Nhà nước Việc ban hành các luật để cụ thểhoá các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lậphội, biểu tình, vẫn còn chậm Các quy định về trách nhiệm công khai, minhbạch chưa đầy đủ Các quy định về trình tự, thủ tục, hậu quả pháp lý của cơchế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước còn thiếu tính đồng bộ, một sốquy định chưa cụ thể hoặc không thuận tiện nên hiệu lực, hiệu quả không cao
3.3 Đánh giá chung
Thành tựu lớn nhất là nâng cao nhận thức về kiểm soát quyền lực nhànước, ghi nhận thành một nguyên tắc trong Cương lĩnh và Hiến pháp Tuynhiên, bất cập của thể chế ở tầm vĩ mô bắt nguồn từ nhận thức lý luận vềquyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước còn chưa mạch lạc.Chưa dứt khoát trao quyền lập hiến cho Nhân dân vì vậy chủ thể của quyềnlập hiến và quyền lập pháp chưa được phân định rõ ràng; chưa có cơ chế đủmạnh để bảo vệ Hiến pháp; chưa xây dựng các luật để thể chế hoá sự kiểmsoát của Đảng đối với Nhà nước Bất cập của thể chế pháp lý ở tầm vi mô là
Trang 9nhiều nội dung chậm được cụ thể hoá, có luật rồi còn phải chờ hướng dẫn củanghị định, thông tư, nhiều khi quy định cụ thể trở nên chồng chéo, mâu thuẫnnhau, gây khó khăn cho việc thực hiện Những khuyết điểm, yếu kém trongthực hiện thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước có cả về chủ quan
và khách quan, bên trong và bên ngoài bộ máy nhà nước Vai trò giám sát,phản biện xã hội; cơ chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân đốivới hoạt động của Nhà nước chưa mạnh mẽ, triển khai thực hiện chậm, ít hiệuquả
III THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
1 Tình hình thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương
1.1 Hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, trong kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương
Đoàn đại biểu Quốc hội khu vực tỉnh Bắc Giang đã thực hiện tốt chứcnăng giám sát theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhândân Tập trung giám sát chuyên đề việc thi hành pháp luật ở địa phương;Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểuQuốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết; Cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốchội tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hộiđồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu Đoàn đạibiểu Quốc hội tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hộithực hiện giám sát tại địa phương
Hằng năm, xây dựng Chương trình giám sát của đại biểu Quốc hội,Đoàn đại biểu Quốc hội Đại biểu Quốc hội lập chương trình giám sát hằngnăm của mình và gửi đến Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hộicăn cứ vào chương trình giám sát của từng đại biểu Quốc hội, chương trìnhgiám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủyban của Quốc hội, tình hình thực tế của địa phương, đề nghị của Ủy ban Mặttrận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và ý kiến, kiến nghị của cử tri tại địa phươnglập chương trình giám sát hằng năm của Đoàn đại biểu Quốc hội và báo cáo
Ủy ban thường vụ Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức thực hiện cáchoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và tổ chức để đại biểu Quốchội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện chương trình giám sát của mình.Hằng năm, Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Ủy ban thường vụ
Trang 10Quốc hội về việc thực hiện chương trình giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội
và của các đại biểu Quốc hội trong Đoàn
Về hoạt động giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước của chínhquyền địa phương; căn cứ chương trình giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốchội, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang đã bám sát nội dung xây dựngchương trình giám sát của Đoàn phù hợp với tình hình thực tiễn tại địaphương Trong năm 2019, Đoàn đã tổ chức 04 cuộc giám sát Kết thúc cáccuộc giám sát Đoàn đã chuyển 27 kiến nghị gửi tới Chính phủ và các bộngành; 41 kiến nghị gửi tới Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Uỷ ban nhân dântỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố Các đại biểu trong đoàn đã tíchcực tham gia các cuộc giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Ủy ban Tàichính – Ngân sách của Quốc hội; Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội
và Hội đồng Dân tộc của Quốc hội tại một số tỉnh thành trong cả nước
Về hoạt động tiếp xúc cử tri: Đoàn tiếp tục đổi mới, tăng cường tiếp xúc
cử tri theo chuyên đề gắn với nội dung kỳ họp và những vấn đề thực tế nổi lên
ở địa phương; đã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, huyện tổ chứctiếp xúc cử tri thường kỳ cho đại biểu Quốc hội trước và sau kỳ họp thứ 7, thứ
8, Quốc hội khóa XIV với 08 cuộc tiếp xúc cử tri chuyên đề, theo ngành, lĩnhvực và 18 cuộc tiếp xúc cử tri ở các huyện, xã, phường, thị trấn trong tỉnhtổng cộng là 26 điểm với 3.882 cử tri tham dự, tiếp thu 266 lượt ý kiến của cửtri Sau tiếp xúc đã tổng hợp đầy đủ kiến nghị của cử tri gửi tới Ủy banThường vụ Quốc hội và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam vàchuyển ý kiến cử tri đến các cơ quan có thẩm quyền trong tỉnh
Qua tiếp nhận phản ảnh ý kiến của cử tri Đoàn chủ động lựa chọnnhững vấn đề bức xúc của cử tri để tiến hành khảo sát; đi trực tiếp kiểm tratình hình, kết quả giải quyết các công việc cụ thể liên quan mà cử tri tiếp tục
có ý kiến phản ảnh nhất là những lĩnh vực nóng, bức xúc như: đất đai, tàinguyên khoáng sản, giao thông, ô nhiễm môi trường và nắm bắt những khókhăn của doanh nghiệp
Về công tác tiếp công dân: Trong năm 2019, Đoàn đại biểu Quốc hộitỉnh Bắc Giang đã phối hợp với thường trực Hội đồng nhân dân và Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp dân định kỳ tại trụ sở tiếp công dân 10 buổi với 86lượt công dân đến phản ánh kiến nghị giải quyết 35 vụ việc; tiếp tại trụ sởĐoàn đại biểu Quốc hội tỉnh 52 lượt công dân đến phản ánh, kiến nghị giảiquyết 37 vụ việc Tổng số đơn năm 2019 Đoàn đã tiếp nhận là 291 đơn(Trong đó có 65 đơn khiếu nại, 47 đơn tố cáo và 137 đơn phản ánh đề nghị).Trong năm Đoàn tổ chức khảo sát 07 vụ việc Các đơn thư gửi đến Đoàn đãđược xử lý theo đúng quy định của pháp luật, không có tồn đọng
Trang 11Tuy nhiên, hằng năm đa số nội dung, lĩnh vực các cuộc giám sát doĐoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang tổ chức được thực hiện theo Chươngtrình giám sát chung của Quốc hội; việc tổ chức các cuộc giám sát riêng, tậptrung vào những lĩnh vực nổi cộm ở địa phương còn ít; năng lực đề xuất cácchương trình giám sát của đại biểu Quốc hội khu vực tỉnh Bắc Giang của một
số ít đại biểu chưa cao Việc theo dõi các cơ quan nhà nước ở địa phươngtrong triển khai thực hiện các kiến nghị của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh cómặt còn hạn chế
1.2 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở tỉnh Bắc Giang trong kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương
Thực tiễn thực hiện chức năng, thẩm quyền giám sát việc thực hiệnpháp luật của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở tỉnhBắc Giang thời gian qua đã đi vào nền nếp và hiệu quả Ngay từ đầu nhiệm kỳ2016-2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quy chế hoạtđộng của Đảng Đoàn, của Thường trực, các ban, tổ đại biểu và Văn phòngHội đồng nhân dân Việc ban hành Quy chế hoạt động của Đảng Đoàn, củaThường trực, các ban và tổ đại biểu, Văn phòng của Hội đồng nhân dân đã tạo
cơ sở pháp lý giúp cho Hội đồng nhân dân khắc phục tình trạng hoạt độngthiếu đồng bộ, mỗi nơi làm một cách như trước đây Đặc biệt, cùng với cácluật tổ chức và các văn bản pháp luật có liên quan, quy chế đã tạo điều kiệnthống nhất các hoạt động giám sát của ba cấp Hội đồng nhân dân, làm cho hệthống cơ quan dân cử ở Bắc Giang đi vào nền nếp Qua đó, hoạt động giámsát của Hội đồng nhân dân đối với ủy ban nhân dân các cấp trở nên rõ rànghơn, trách nhiệm hơn Luật và quy chế đã giúp hoạt động của giám sát trở lênsinh động, hiệu quả và thiết thực, nhận được sự quan tâm và ủng hộ của dưluận và đông đảo cử tri Hoạt động giám sát đang là điểm nhấn quan trọngtrong hoạt động của Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân các cấp của tỉnh Bắc Giang luôn bám sát Quy chếhoạt động của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các banHội đồng nhân dân chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát chotừng năm Sau khi xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát, Hội đồng nhândân tỉnh Bắc Giang đã giành thời gian xứng đáng cho việc chuẩn bị giám sát
và coi đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến kết quả giámsát Việc triển khai hoạt động giám sát đối với các cơ quan hành chính nhànước ở địa phương luôn được chú trọng tới việc mở rộng thành phần giám sátđối với các cơ quan hữu quan Việc mở rộng thành phần giám sát, mời cácchuyên gia chuyên sâu trên từng lĩnh vực, giúp cho hoạt động giám sát đối
Trang 12với cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có chiều sâu, kết quả giám sátcũng khách quan hơn và quá trình thực hiện kiến nghị sau giám sát cũng đồng
bộ hơn Bên cạnh đó, để các kết luận giám sát được thực hiện nghiêm túc,tinh thần của các Đoàn giám sát là "theo đến cùng", nếu các đối tượng chịu sựgiám sát không thực hiện hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn thì ngoàiviệc đôn đốc, Hội đồng nhân dân còn báo cáo kết quả giám sát đó trước Hộiđồng nhân dân
Năm 2019, Thường trực HĐND tỉnh đã trình HĐND tỉnh thông quanghị quyết thành lập 02 Đoàn giám sát chuyên đề của HĐND tỉnh và chỉ đạotriển khai đạt hiệu quả các cuộc giám sát, gồm: Giám sát việc chấp hành Luật
Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bẳc Giang; giámsát việc chấp hành pháp luật trong thực hiện thu hút đầu tư các dự án theohình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) trên địa bàn tỉnh BắcGiang giai đoạn 2015-2019 Trong năm 2019, Thường trực HĐND tỉnh đãtriển khai 02 cuộc giám sát chuyên đề của Thường trực HĐND tỉnh, gồm:Giám sát việc chấp hành Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh, giai đoạn từ2016-2018 và giám sát việc chấp hành pháp luật trong đầu tư xây dựng các
dự án hạ tầng kỹ thuật tạo quỹ đất ở trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015-2019,tăng 01 cuộc giám sát chuyên đề theo Chương trình giám sát của Thường trựcHĐND tỉnh năm 2019 Bên cạnh đó, Thường trực HĐND tỉnh đã thực hiện 02cuộc giám sát việc giải quyết các kiến nghị của cử tri trước và sau kỳ họp thứ
6, thứ 7 HĐND tỉnh Đồng thời, Thường trực HĐND tỉnh đã chỉ đạo các Bancủa HĐND tỉnh tổ chức 03 cuộc giám sát chuyên đề như: Giám sát việc chấphành pháp luật trong đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp và duy tu bảo dưỡngcông trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015-2018; giám sát việc chấphành các quy định của pháp luật về hoạt động quảng cáo ngoài trời trên địabàn tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2017- 2019; giám sát việc chấp hành Luật Xử
lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Bẳc Giang giai đoạn 2018-2019
Hoạt động giám sát chuyên đề năm 2019 bảo đảm đúng tiến độ thờigian, theo đúng quy định của pháp luật Qua giám sát, Thường trực HĐNDtỉnh, các Ban của HĐND tỉnh đã xem xét, đánh giá những mặt tích cực, đồngthời cũng chỉ ra các hạn chế, thiếu sót trong công tác chấp hành các quy địnhcủa pháp luật ở các địa phương, đơn vị chịu sự giám sát; phân tích nguyênnhân của những hạn chế, thiếu sót, từ đó kiến nghị với các cơ quan, đơn vị,địa phương thực hiện những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng hoạtđộng của bộ máy chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh Các kiến nghị saugiám sát được theo dõi, đôn đốc thực hiện, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quảcủa hoạt động giám sát
Trang 13Tuy nhiên, Việc triển khai kế hoạch giám sát có lúc chưa đảm bảo theo
dự kiến, còn chồng chéo; trách nhiệm tham gia đoàn giám sát của một sốthành viên các Ban của HĐND tỉnh chưa cao Hình thức, nội dung, chất lượngtiếp xúc cử tri còn hạn chế, chưa phong phú Việc tổ chức triển khai giám sáttập trung chủ yếu ở Thường trực, Trưởng, Phó các Ban Hội đồng nhân dân vàmột số thành viên hoạt động tích cực Hoạt động giám sát của các đại biểuHội đồng nhân dân tỉnh còn ít; khi tiến hành giám sát, một số đại biểu có biểuhiện né tránh, nể nang Việc thu thập thông tin để chuẩn bị nội dung giám sátchưa sâu nên hiệu quả giám sát chưa cao Phạm vi và yêu cầu giám sát củaHội đồng nhân dân tỉnh rất rộng nhưng lực lượng triển khai còn mỏng, một sốnội dung trong chương trình giám sát chưa được triển khai thực hiện đầy đủ,
do điều kiện thời gian, lực lượng giám sát, có nội dung cần được điều chỉnhcho phù hợp với tình hình thực hiện ở địa phương Có đơn vị chịu sự giám sátviệc chuẩn bị báo cáo chưa đầy đủ, hoặc nội dung báo cáo không phản ánhđúng theo yêu cầu của đoàn giám sát Việc thực hiện các kiến nghị sau giámsát còn chậm
1.3 Hoạt động kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp trong kiểm soát quyền lực nhà nước
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, được quy định cụ thể trong Điều
lệ Đảng; không chỉ là những chức năng lãnh đạo của Đảng mà còn là công cụđắc lực góp phần quan trọng, có hiệu quả vào cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩylùi suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tựdiễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, đấu tranh phòng, chống thamnhũng, lãng phí, lợi ích nhóm Pháp luật xác định địa vị pháp lý của Đảngcầm quyền trong thực hiện nhiệm vụ kiểm soát quyền lực nhà nước đối vớiviệc thực hiện quyền lực nhà nước của chính quyền với các hình thức phù hợpthể hiện thông qua việc các quy định về phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp
ủy đảng, thực hiện tốt chức năng của ủy ban kiểm tra các cấp ủy đảng ở cácđịa phương
Năm 2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số63-KH/TU ngày 05/01/2019 về lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, kiểmtra, giám sát năm 2019; trong đó, yêu cầu các huyện ủy, thành ủy, đảng ủytrực thuộc Tỉnh ủy đã xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các chi, đảng bộ cơ sởđưa nội dung kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 làmột trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm tra, giám sát Trongnăm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã kiểm tra chuyên đề đối với 02 cá nhân cán
bộ thuộc diện BTV Tỉnh ủy quản lý; kiểm tra chấp hành đối với 01 tập thểlãnh đạo, 06 cá nhân thuộc diện BTV Tỉnh ủy quản lý; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh
Trang 14ủy kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 01 tổ chức đảng, 03 đảng viên; hoànthành 02 cuộc giải quyết tố cáo đối với 02 đồng chí; cấp ủy cấp huyện và cơ
sở kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 114 tổ chức đảng, 284 đảng viên,qua kiểm tra có 03 tổ chức đảng và 43 đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý
kỷ luật
Việc thanh tra, kiểm tra các vụ việc tham nhũng, lãng phí tiêu cực gâythất thoát tài sản của nhà nước được quan tâm chỉ đạo: Các cấp ủy, tố chứcđảng đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thựchiện nghiêm túc các văn bản của Đảng, Nhà nước về phòng chống thamnhũng, lãng phí; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện công tác nội chính,phòng chống tham nhũng, tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạmnhư quản lý tài chính, đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sử dụng tàisản công Công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, xử lý hành vi tham nhũngtrên địa bàn tỉnh được đẩy mạnh Trong năm, các cơ quan chức năng đã pháthiện sai phạm về kinh tế với tổng số tiền 27.378 triệu đồng, 30.307m2 đất cácloại, xử lý hành chính đối 06 tập thể, 214 cá nhân theo quy định, chuyển cơquan điều tra 05 vụ việc với 10 đối tượng Việc kê khai tài sản, thu nhập từngbước đi vào nền nếp; sau kê khai đã chỉ đạo công khai việc kê khai tài sản, thunhập theo quy định
Viêc xây dựng kế hoạch của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền định
kỳ đi cơ sở nắm bắt tình hình, kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề khókhăn, phức tạp ở cơ sở Năm 2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục quan tâmchỉ đạo thực hiện Quy định số 307-QĐ/TW ngày 19/7/2017 về chế độ tiếpxúc, đối thoại của các đồng chí Tỉnh ủy viên đối với Nhân dân Ban Thường
vụ Tỉnh ủy thường xuyên chỉ đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị củatỉnh tích cực đối mới phương thức, phong cách, lề lối làm việc theo hướng sâusát, cụ thể, quyết liệt, trọng tâm, trọng điểm; trong mỗi công việc đều phân rõngười, rõ việc, rõ quy trình, rõ trách nhiệm và rõ hiệu quả; các đồng chí ủyviên Ban Thường vụ Tỉnh ủy dành thời gian kiểm tra công việc, nắm tình hình
từ cơ sở, tiếp xúc với nhân dân, kịp thời phát hiện, uốn nắn những lệch lạc,thiếu sót trong tổ chức thực hiện; đôn đốc những vỉệc chậm giải quyết, đồngthời lựa chọn đúng một số vấn đề nổi cộm của địa phương và yêu cầu đánhgiá sâu để có chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các huyện, thành phố thực hiệnnghiêm định kỳ đi cơ sở theo Quyết định số 1158-QĐ/TU ngày 09/7/2015 củaBan Thường vụ Tỉnh ủy; duy trì giao ban giữa thường trực cấp ủy cấp huyệnvới bí thư chi bộ thôn, tổ dân phố; kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc,kéo dài, khó khăn, vướng mắc phát sinh; ban hành nhiều nghị quyết chuyên
Trang 15đề để giải quyết các vấn đề trọng điểm như: Giải phóng mặt bằng, quản lý đấtđai, khoáng sản, bảo vệ môi trường, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo.
Tuy nhiên, chất lượng một số cuộc kiểm tra, giám sát còn hạn chế, chưakịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên.Việc kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm có mặt hiệuquả chưa cao; xử lý vi phạm sau kiểm tra chưa kiên quyết Công tác phòng,chống tham nhũng, lãng phí chưa thực sự đi vào chiều sâu; việc phát hiện, xử
lý tội phạm tham nhũng chưa phản ánh hết thực trạng tình hình tham nhũng,tiêu cực xảy ra Việc tự phát hiện tham nhũng qua kiểm tra, thanh tra nội bộvẫn là khâu yếu Tình trạng nhũng nhiễu trong thực hiện nhiệm vụ và lãng phívẫn xảy ra trên nhiều lĩnh vực Việc thực hiện các quyết định, kết luận sauthanh tra, kiểm tra ở một số nơi chưa nghiêm túc
1.4 Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh Bắc Giang trong kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương
Ngày 12/12/2013 Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW
về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoànthể chính trị - xã hội, trong đó, quy định rõ đối tượng và nội dung giám sát;phạm vi giám sát; phương pháp giám sát; quyền và trách nhiệm các chủ thể,đối tượng giám sát, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để MTTQ và các đoàn thểchính trị - xã hội nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, góp phần kiểm soátviệc thực thi pháp luật tại địa phương
Năm 2019, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh đăng
ký nội dung giám sát với Thường trực Tỉnh ủy, xây dựng kế hoạch, tổ chứcgiám sát với 08 nội dung, trong đó MTTQ tỉnh giám sát 02 nội dung, các đoànthể chính trị-xã hội tỉnh giám sát 06 nội dung MTTQ và các đoàn thể chínhtrị - xã hội cấp huyện chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát phùhợp với nhiệm vụ chính trị địa phương; thường xuyên thực hiện phối hợpgiám sát; hướng dẫn MTTQ cấp cơ sở phát huy vai trò giám sát của nhân dânthông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư củacộng đồng; giám sát cán bộ chủ chốt, đảng viên ở khu dân cư theo Quy định
số 124-QĐ/TW ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Giámsát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối vớiviệc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủchốt và cán bộ, đảng viên" và việc thực hiện quy định số 08-QĐ/TW ngày25/10/2018 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên
- Ủy ban MTTQ tỉnh xây dựng Kế hoạch số 03/KH-MTTQ-BTT ngày