Đề tài cũng đã khảo cứu các kết quả nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức qua các thời kỳ; đánh giá những chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng, Chính phủ; đánh giá kết quả; chỉ ra những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của đội ngũ trí thức và công tác xây dựng đội ngũ trí thức của tỉnh; đề xuất các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp phát triển đội ngũ trí thức của tỉnh đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới.
Trang 1Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về xây dựng đội ngũ trí thức trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định:Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức
là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Xây dựng đội ngũ tríthức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đấtnước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng và chất lượng hoạt động của hệthống chính trị Ðầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triểnbền vững
Kết luận số 52-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tụcthực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đánh giá: sau 10 năm thực hiệnNghị quyết, đã đạt được kết quả quan trọng Đội ngũ trí thức tăng nhanh về
số lượng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước vàbảo vệ Tổ quốc Sự gắn bó giữa Đảng với trí thức ngày càng được tăngcường Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông -trí tiếp tục được củng cố vững chắc
Tuy nhiên, quá trình thực hiện Nghị quyết còn nhiều hạn chế, bất cập.Nhiều nội dung của Nghị quyết chậm được cụ thể hóa, thể chế hóa việc tổchức thực hiện còn thiếu đồng bộ, ít đột phá Phương thức lãnh đạo, chỉ đạođối với đội ngũ trí thức chậm đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển Đội ngũtrí thức sáng tạo, chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng, đội ngũ kếcận hẫng hụt
Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7khóa X, tôi lựa chọn, nghiên cứu Đề tài “Sự lãnh đạo của Đảng đối với độingũ trí thức và vận dụng ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay” là hếtsức cần thiết
Trang 2"Bọn trí thức, tiểu tư sản, học sinh, v.v là bọn xu hướng quốc gia chủnghĩa, chúng nó đại biểu quyền lợi cho tất cả giai cấp tư bổn bổn xứ, chớkhông phải chỉ bênh vực quyền lợi riêng cho bọn tiểu tư sản mà thôi Trongthời kỳ chống đế quốc chủ nghĩa thì bọn ấy cũng hăng hái tham gia, nhưngchỉ lúc đầu mà thôi; chúng nó không thể binh vực quyền lợi cho dân càyđược, vì chúng nó phần nhiều có dây dướng với bọn địa chủ"1
Sự đánh giá này đối với trí thức Việt Nam là không đúng trên thực tế
Ở đây, chúng ta không bàn về thuật ngữ: "bọn", "chúng nó" để chỉ trí thứcvới thái độ khinh miệt, mà chỉ bàn về nhận định, đánh giá trí thức Việt Nam
Sự thực, trí thức Việt Nam đến thời điểm năm 1930, không hề là đại biểuquyền lợi cho tất cả giai cấp tư bản bản xứ, mà phần lớn họ thuộc tầng lớpnhững người nghèo; "ông đồ nho bán chữ nuôi thân"; "chạy ăn từng bữa toát
mồ hôi", như tú tài Trần Tế Xương (Tú Xương) đã mô tả trong một bài thơcủa Ông Trí thức Việt Nam lúc ấy không phải là tất cả có quan hệ với giaicấp địa chủ Việt Nam và trong thời kỳ chống đế quốc, không phải họ chỉhăng hái tham gia lúc đầu, mà đã gắn bó với dân tộc từ đầu đến cuối đểchống thực dân, đế quốc và phong kiến Những tấm gương của những bậctrí thức lớn như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh (PhanChu Trinh), đã minh chứng cho việc chống thực dân, đế quốc, phong kiếnrất quyết liệt, từ đầu đến cuối trong cuộc đời của các ông Khi Đảng Cộngsản Việt Nam được thành lập vào đầu năm 1930, rất nhiều trí thức hăng háitham gia hoạt động cách mạng như đã nêu ở trên, nhưng trong Luận cươngchánh trị lại không phản ánh đúng tình hình đó
Trong một văn bản của Xứ uỷ Trung Kỳ về vấn đề thanh Đảng ởTrung Kỳ, năm 1930, viết: "Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ"
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 96.
Trang 3Người thảo ra bản chỉ thị này là Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ Nguyễn Phong Sắc,một nhà trí thức, một nhà giáo, đã bỏ nơi quan trường để đi hoạt động cáchmạng, một người rất trung thành với cách mạng, đã bị Pháp bắn chết trongkhi đang hoạt động ở Trung Kỳ Nhưng trong tư tưởng của nhà trí thức nàylại có phần "tả" khuynh Điều này phản ánh mâu thuẫn trong nội bộ giữanhững người trí thức với nhau ở cương vị lãnh đạo Đảng Đây là một sự kỳthị đối với trí thức, đẩy trí thức từ chỗ yêu nước sang chỗ phản quốc Nóphản ánh nhận thức của những người lãnh đạo cách mạng Việt Nam lúc ấy
là chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng "tả" khuynh của Quốc tế Cộng sản Dochịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng "tả" khuynh mà một số trí thức đã bịsát hại
Trước sự đánh giá thiếu khách quan đó, ngày 20-5-1931, Trung ươngĐảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị gửi Xứ uỷ Trung Kỳ về vấn đềthanh Đảng ở Trung Kỳ Chỉ thị viết:
"Xứ uỷ Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư1, ra chỉ thị thanh Đảng viết
rõ từng chữ: thanh trừ trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ, như vậy
thì gốc đâu mà đào, xem rễ ở đâu mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉthị võ đoán và là một lối hành động quàng xiên chí tướng"2
Như vậy, vào thời điểm tháng 5-1931, cái nhìn lệch lạc đối với trí thứccủa một số người lãnh đạo đã được Trung ương Đảng uốn nắn Trung ươngĐảng bắt đầu nhìn thấy vấn đề trí thức và nhìn họ ở góc cạnh tích cực hơn làtiêu cực Tuy đã có sự uốn nắn của Trung ương Đảng trong việc đánh giá tríthức, nhưng vấn đề trí thức vẫn còn rất nặng nề trong tư tưởng những ngườicộng sản Việt Nam giai đoạn 1930-1931, kéo dài đến tận năm 1941, khi cóNghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), do Nguyễn Ái Quốc, đạidiện Quốc tế Cộng sản, chủ trì, thì vấn đề trí thức mới dần dần được gỡ ra.Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941) đặt vấn đề sau khi đánhđuổi Pháp, Nhật, cách mạng Việt Nam "sẽ thành lập một nước Việt Namdân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ Chính quyền cách mạng của nướcdân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà làcủa chung cả toàn thể dân tộc"3 Hội nghị Trung ương 8 đánh giá tầng lớp tríthức Việt Nam, vốn có tinh thần yêu nước và tinh thần dân chủ, luôn luôn
có mặt trong cuộc vận động chống đế quốc Nhiều trí thức hăng hái tham giaphong trào cách mạng, chiến đấu vì lá cờ đại nghĩa của dân tộc Đặt vấn đề
1 Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ lúc này là đồng chí Nguyễn Phong Sắc.
2 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 3, đã dẫn, tr 157.
3 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 7, tr 114.
Trang 4dân chủ đối với trí thức là đáp ứng đúng nguyện vọng của họ, vì chỉ có tinhthần dân chủ, trí thức mới có thể phát huy được khả năng sống và khả năngsáng tạo của mình.
Đại hội I của Đảng (họp từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935, tại Ma Cao)
có 13 đại biểu dự, trong đó, hầu hết là thành phần công, nông Trong Điều lệcủa Đại hội, đặt vấn đề kết nạp trí thức vào Đảng Cộng sản Đông Dương
Đó là một dấu hiệu tốt Tuy nhiên, trong Nghị quyết chính trị của Đại hội,vẫn còn nặng tư tưởng đánh giá sai các loại trí thức, chẳng hạn như gộp cụPhan Bội Châu, một nhà trí thức rất uyên bác, chí sĩ yêu nước, đầy cảmhứng với nước, với dân, căm thù thực dân xâm lược đến nỗi cháy gan, cháyruột vào với "bọn quốc gia cải lương", cùng với "Bùi Quang Chiêu, NguyễnVăn Vĩnh, Huỳnh Thúc Kháng" Sự đánh giá này là không đúng với cụ PhanBội Châu và không công bằng đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng
Đến Đại hội II của Đảng (họp từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951, tại xãVinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang), vấn đề trí thức đã đượcgiải quyết một bước cơ bản Trong "Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ II của Đảng" do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày, đã nêu
rõ quan điểm tư tưởng của Đảng đối với vấn đề trí thức: "Về thành phần,Đảng Lao động Việt Nam sẽ kết nạp những công nhân, nông dân, lao độngtrí óc, thật hăng hái, thật giác ngộ cách mạng"1 Trong Báo cáo "Hoàn thànhgiải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội"
do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội II, có cái nhìn đúng đắn
về trí thức: Tầng lớp này bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột Cách mạngtháng Tám năm 1945 đã mang lại cho họ ít nhiều quyền lợi về vật chất vàtinh thần, nhất là về tinh thần, cho nên họ hăng hái đi theo cách mạng Khitham gia hoạt động, họ "có tinh thần cách mạng và là bạn đồng minh có thểtin cậy của giai cấp công nhân"2 Tuy nhiên, "họ không thể lãnh đạo cáchmạng, vì do địa vị xã hội của họ, họ có thái độ không dứt khoát"3 Đại hội IInhận định trí thức là những người chóng giác ngộ, nhưng họ lại "không cólập trường chính trị độc lập"4 Đại hội II phê phán quan niệm cho rằng, "tiểu
tư sản trí thức Việt Nam lãnh đạo hoặc tham gia lãnh đạo cách mạng là sai"
Về vấn đề này, trong khi nghiên cứu, còn có những ý kiến khác nhau Một
số người cho rằng, trong hàng ngũ lãnh đạo cách mạng, từ trên xuống dưới,hầu hết đều là những trí thức Vì vậy, xét về mặt thực tế ở Việt Nam và các
1 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 12, đã dẫn, tr 37.
2 ,3 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 12, đã dẫn, tr 78.
"Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 12, đã dẫn, tr 78
Trang 5nước, trí thức là người lãnh đạo, quản lý Còn giai cấp công nhân đã đượcC.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tổng kết là giai cấp lãnh đạo cách mạng với
tư cách ý thức hệ, nhưng phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp, chứkhông phải là giai cấp công nhân nói chung Khi nói đến giai cấp công nhânđại công nghiệp là đã hàm chứa những yếu tố trí thức trong đó Vì chưa rạchròi vấn đề này, cho nên vẫn còn có những nhận thức khác nhau về vị trí củatầng lớp trí thức Chính vì những nhận thức khác nhau này mà trong một số
cơ quan, đơn vị, người thủ trưởng và ban lãnh đạo cơ quan, đơn vị vẫn còn
có những định kiến đối với trí thức, nhất là trong công tác cán bộ, vẫn cònmuốn đưa thành phần công, nông vào các cương vị lãnh đạo, còn nhữngngười trí thức thì bố trí cho làm công tác chuyên môn thuần tuý
Mặc dù còn có những ý kiến đánh giá khác nhau về vấn đề trí thức tạiĐại hội II của Đảng, nhưng nhìn chung, giới trí thức đều cho rằng, Đại hội
II là Đại hội biết tập hợp mọi lực lượng, trong đó có lực lượng trí thức, cùngnhau đoàn kết chống kẻ thù xâm lược, để bảo vệ nền độc lập, xây dựng chế
độ dân chủ nhân dân tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa
Quan điểm nhận thức của Đảng đối với trí thức từ sau Đại hội II củaĐảng ngày càng tiến bộ, làm cho giới trí thức ngày càng tin vào sự lãnh đạocủa Đảng Nhiều người trí thức rất muốn được đứng trong hàng ngũ củaĐảng Thí dụ, trong dịp Đảng ta tiến hành đợt kết nạp đảng viên "Lớp 6-1-1960", một số nhân sĩ, trí thức cao cấp có chân trong Chính phủ đã làm đơngửi đến các chi bộ nơi làm việc, yêu cầu được gia nhập Đảng Bộ Chính trịKhoá II, ra Nghị quyết số 100-NQ/TW, ngày 20-1-1960, "cho rằng, đây làmột hiện tượng tốt, chứng tỏ ảnh hưởng và sự tín nhiệm của Đảng ta trongquần chúng nhân dân ngày càng to lớn, đồng thời, cũng chứng tỏ các nhân sĩtrí thức ấy sau thời gian lâu dài hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta,ngày càng hiểu rõ Đảng ta hơn, và ngày nay, họ chẳng những chỉ quyết tâmtheo sự lãnh đạo về chính trị và tư tưởng của Đảng, mà còn sẵn sàng phụctùng sự chỉ đạo về tổ chức của Đảng"1 Tuy nhiên, đối chiếu với tình hìnhchính trị chung của cả nước, Bộ Chính trị cho rằng, hiện tại, không kết nạpcác nhân sĩ, trí thức ấy vào Đảng Lao động Việt Nam là có lợi hơn, vì cácnhân sĩ trí thức ấy hoạt động với danh nghĩa những người không phải đảngviên có lợi hơn với danh nghĩa đảng viên Nhiều người cho rằng, việc đặtvấn đề như Bộ Chính trị là đúng Thực tế, những nhân sĩ trí thức nổi tiếng,
họ dễ hoạt động hơn khi ở ngoài tổ chức đảng, trên trường chính trị quốc tế,
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 43
Trang 6họ cũng dễ hoạt động hơn Điều này đã chứng minh qua hai cuộc khángchiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước, khá nhiều nhân sĩ, trí thức khôngphải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, rất hăng hái tham gia cáchmạng và trở thành những người trí thức nổi tiếng Bộ Chính trị đã chỉ thịcho các chi bộ đảng từ nay càng cần phải gần gũi những nhân sĩ trí thức hơntrong công tác, mạnh dạn giao việc cho họ, chú ý phổ biến để cho họ nghiêncứu các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, và trong các cuộc họp bàn chủ trươngcông tác, mời họ tham gia, phát biểu ý kiến Tuy đã có chỉ thị của Bộ Chínhtrị, nhưng trên thực tế, không ít cơ quan, đơn vị vẫn sử dụng những nhân sĩtrí thức này một cách hời hợt Không ít cơ quan, đơn vị còn thành kiến nặng
nề đối với họ Sử dụng người còn thiên về công, nông Trong ngành y tế, hồimới giải phóng miền Bắc, có bác sĩ khi mổ một ca người bệnh, cũng phảixin ý kiến bí thư chi bộ là y tá
Đại hội III của Đảng (họp từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960, tại Hà Nội)
có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, cộng chung là 576 đạibiểu Trong số 576 đại biểu, chỉ có 30 người có bằng đại học, là bác sĩ, kỹ
sư, luật sư, giáo sư, nhà sử học, gọi chung là trí thức, chiếm tỷ lệ khoảnghơn 5% tổng số đại biểu; chỉ có 40 người có trình độ văn hoá cấp III, 343người có trình độ văn hoá cấp II, 163 người mới học học xong cấp 1
Các văn kiện của Đại hội III đều nhấn mạnh đến việc xây dựng vàphát triển khoa học và kỹ thuật một cách có trọng điểm, theo từng bướcvững chắc; đi sâu nghiên cứu khoa học ứng dụng "Cần có kế hoạch dài hạn
và toàn diện đào tạo và bồi dưỡng một đội ngũ lớn mạnh bao gồm hàng vạncán bộ chuyên môn về các mặt khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật vàkhoa học xã hội Những cán bộ này, không những phải thông thạo nghiệp
vụ, mà còn phải có phẩm chất chính trị tốt, một lòng một dạ phục vụ sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; họ không nhữngphải có năng lực độc lập nghiên cứu, mà còn phải biết kết hợp với đông đảoquần chúng lao động trong công tác khoa học" Tuy nhiên, những vấn đềtrên cũng mới chỉ mang tính định hướng, chứ chưa mang tính giải pháp vàcũng chưa triển khai bằng chính sách của Chính phủ Vì vậy, sau Đại hội III,con đường phấn đấu của giới trí thức vẫn còn mang tính tự phát và tựnguyện, chứ chưa có chính sách cụ thể đối với họ
Đại hội IV của Đảng (họp từ ngày14 đến ngày 20-12-1976, tại HàNội) đánh giá cao những hoạt động của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật
và cán bộ quản lý có trình độ trên đại học, đại học, trung học chuyên nghiệp
Trang 7Đội ngũ này có hơn 43 vạn người, tăng 19 lần so với năm 1960, năm họpĐại hội III Năm 1975, cứ 10 nghìn người lao động, có 1.040 lao động kỹthuật (gồm 660 công nhân kỹ thuật, 260 cán bộ trung cấp, 120 cán bộ đạihọc và trên đại học) Số bác sĩ, y sĩ tăng gấp 13,4 lần, Đội ngũ trí thức đã
có sự trưởng thành nhất định
Đại hội đặt vấn đề sử dụng hết mọi lực lượng lao động xã hội, trong
đó có lực lượng lao động trí thức, gắn kết các lực lượng trí thức trên các lĩnhvực của đời sống xã hội, tạo thành sức mạnh để cùng với công nhân, nôngdân và các lực lượng lao động khác thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinhtế; kết hợp tốt nhà trường, viện nghiên cứu với cơ sở sản xuất; kết hợp tốtviệc giảng dạy, nghiên cứu khoa học với hoạt động sản xuất; đào tạo và sửdụng tốt cán bộ khoa học, kỹ thuật; xây dựng và củng cố các tổ chức khoahọc, kỹ thuật; cải tiến chế độ quản lý và lề lối làm việc nhằm phát huy mọikhả năng sáng tạo của người lao động, trong đó có lao động trí óc; phát triểncác ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội Riêng về khoa học xã hội,văn kiện của Đại hội cho rằng, nhiệm vụ hàng đầu của các ngành khoa học
xã hội, trước hết là triết học, chính trị kinh tế học, chủ nghĩa xã hội khoahọc, là tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lớn trong đường lối, chính sáchcủa cách mạng Việt Nam; mở rộng và nâng cao chất lượng nghiên cứu trêncác lĩnh vực sử học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn học, nghệthuật, ; cải cách mạnh giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và trung họcchuyên nghiệp
Đại hội đánh giá khá cao về "trí thức giữ vai trò ngày càng quan trọngtrong xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học và kỹ thuật"1; đặtvấn đề đoàn kết công nhân, nông dân và trí thức Công nhân, nông dân, tríthức xã hội chủ nghĩa cần có sự gắn kết cùng nhau xây dựng xã hội mới
"Đảng và Nhà nước ta phải đẩy mạnh việc đào tạo một đội ngũ đông đảo tríthức có tài năng trên tất cả các ngành hoạt động xã hội, tuyệt đối trung thànhvới Tổ quốc, với nhân dân, với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, cóquyết tâm và nghị lực lớn, dám chinh phục những đỉnh cao của văn hoá,khoa học, kỹ thuật, đủ sức vận dụng một cách sáng tạo những thành tựukhoa học, kỹ thuật hiện đại để giải quyết những vấn đề cụ thể của đất nước".Đại hội yêu cầu các cơ quan đảng, nhà nước và các đoàn thể nhân dân cầnquan tâm hơn nữa đến đội ngũ trí thức làm việc trong các cơ quan, đoàn thểcủa mình, bố trí, sử dụng anh chị em một cách hợp lý, tạo những điều kiện
1 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 598.
Trang 8vật chất và tinh thần thuận lợi, trước hết là các phương tiện làm việc,phương tiện để nghiên cứu, để trí thức có thể nhanh chóng phát triển tàinăng, phục vụ cho sự nghiệp chấn hưng đất nước Nét riêng của văn kiệnĐại hội IV là đặt vấn đề một cách đứng đắn về việc sử dụng trí thức đã làmviệc dưới chế độ cũ ở miền Nam, "giúp anh chị em chóng trở thành nhữngngười trí thức xã hội chủ nghĩa" "Về phần anh chị em trí thức, cần khắcphục những nhược điểm như chủ quan, tự mãn, xa rời quần chúng, xa rờisản xuất, đánh giá không đúng mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể,v.v "
Có thể nói, Đại hội IV có cái nhìn tương đối toàn diện đối với trí thức.Văn kiện của Đại hội, những đoạn viết về trí thức là khá sâu sắc, có tố chấtkhoa học trong đó Duy chỉ có điều là vẫn bế tắc ở khâu tổ chức thực hiện,
có nghĩa là những chính sách cho từng ngành, nghề mà trí thức hoạt độngvẫn chưa đề ra được, làm cho người trí thức vẫn phải tự xoay xở để làm việc
và mưu sinh
Giữa hai kỳ Đại hội IV và Đại hội V, Bộ Chính trị Khoá IV ra Nghịquyết số 37-NQ/TW, ngày 20-4-1981, về chính sách khoa học và kỹ thuật.Nghị quyết nhận định về công tác khoa học và kỹ thuật của Việt Nam đã cómột bước chuyển biến mới trong quá trình xây dựng đề án, chính sách khoahọc và kỹ thuật; đã xây dựng được một hệ thống 72 chương trình tiến bộkhoa học và kỹ thuật trong điểm cấp nhà nước Đội ngũ cán bộ khoa học và
kỹ thuật, công nhân chuyên nghiệp đã được đào tạo với số lượng đông "Từkhi nước nhà thống nhất, tiềm lực khoa học và kỹ thuật được bổ sung thêmnhững anh chị em trí thức và công nhân kỹ thuật ở các vùng mới giải phóng,
có lòng yêu nước và hăng hái tham gia xây dựng Tổ quốc" Hệ thống nghiêncứu của các viện, các trường đại học đã và đang được hình thành Hệ thốngquản lý khoa học và kỹ thuật từ trung ương đến địa phương đã hình thành vàđang bắt đầu phát huy tác dụng trong việc điều khiển các hoạt động khoahọc và kỹ thuật trên phạm vi cả nước Hệ thống giáo dục đại học và chuyênnghiệp, giáo dục phổ thông đã và đang tiếp tục xây dựng
Nghị quyết cũng đã chỉ ra những nhược điểm và thiếu sót của công táckhoa học và kỹ thuật còn thấp, chưa tương xứng với tiềm lực hiện có, chưađáp ứng được những yêu cầu của thực tế đời sống xã hội "Những kết quảnghiên cứu khoa học và những tiến bộ kỹ thuật có giá trị chưa được ứngdụng rộng rãi vào sản xuất và đời sống, gây ra sự lãng phí sức người, sứccủa" "Đảng và Nhà nước chưa có một quy hoạch thống nhất về công tácđào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật,
Trang 9nên đã gây ra tình trạng tự phát và phân tán" "Cán bộ đầu đàn và nhữngchuyên gia có trình độ cao trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy còn ít,cán bộ có năng lực về tổ chức và quản lý còn thiếu nhiều Đội ngũ cán bộkhoa học xã hội phát triển chậm hơn so với một số ngành khoa học khác".
Hệ thống các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuậtcác cấp chưa được quy hoạch chặt chẽ, tổ chức chưa hợp lý, chức năng vànhiệm vụ chưa rõ ràng, chỉ đạo thiếu tập trung, thống nhất, còn nặng vềhành chính, nhẹ về khoa học Thực ra, trong lúc này, một số lớn cán bộ quản
lý khoa học và kỹ thuật còn thiếu hiểu biết về khoa học và kỹ thuật, mangnhận thức tư tưởng chủ quan áp đặt lên khoa học và kỹ thuật, làm cho hoạtđộng khoa học và kỹ thuật hoạt động khó khăn Những thiếu sót đó "đã làmcản trở đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào thực tiễn sảnxuất và đời sống, đã hạn chế sự phát triển khoa học và kỹ thuật"
Để đáp ứng với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, Nghị quyết đề
ra phương hướng phấn đấu là "phải tạo ra một bước chuyển biến mới trong
hoạt động khoa học và kỹ thuật", cụ thể là tập trung vào việc xây dựngchính sách khoa học và kỹ thuật Đối với Việt Nam, từ một nước nôngnghiệp lạc hậu chuyển sang một nước công nghiệp hiện đại, thì "chính sáchkhoa học và kỹ thuật nước ta cần hướng mọi hoạt động vào nhiệm vụ thiếtthực phục vụ phát triển sản xuất, ổn định và từng bước nâng cao đời sốngcủa nhân dân, củng cố và tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước".Khoa học và kỹ thuật cần tập trung nghiên cứu các quy luật phát triển của tựnhiên, xã hội và con người Việt Nam, các mối quan hệ quốc tế, nhằm pháttriển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất mới, phấn đấuxây dựng thành công nền khoa học và kỹ thuật tiên tiến của nước Việt Nammới Nền khoa học và kỹ thuật nước nhà phải có khả năng tạo ra những giátrị nhận thức mới để chỉ đạo hành động, đủ sức giải quyết những vấn đềkhoa học và kỹ thuật trước mắt và lâu dài, do sản xuất và đời sống xã hộiđặt ra; đón trước và mở ra cho nền kinh tế - xã hội những phương hướngphát triển mới Phát triển khoa học và kỹ thuật phải toàn diện, đồng bộ vàcân đối, tập trung vào những trọng điểm, các ngành khoa học và kỹ thuậtmũi nhọn, các chương trình ưu tiên; kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiện,khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội; chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triểnkhai; quan tâm đầy đủ đến nghiên cứu cơ bản có định hướng Tất cả phải
tìm ra con đường phát triển kinh tế, khoa học và kỹ thuật thích hợp nhất,
Trang 10những bước đi thích hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể của nước ta, phục vụ đắclực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nước.
Nghị quyết nêu khá chi tiết về phương hướng tiến bộ khoa học và kỹthuật, như vấn đề nông nghiệp, cải tạo đất đai, giống cây trồng và vật nuôi,
kỹ thuật trồng rừng, khoa học và kỹ thuật về biển, thuỷ lợi, nghiên cứu về
cơ cấu bữa ăn; công nghiệp cơ khí, luyện kim, công nghiệp nhẹ, côngnghiệp thực phẩm, công nghiệp dược phẩm, công nghệ vi sinh, năng lượng,nhiên liệu, dầu khí, than, hoá chất, nguyên liệu, vật liệu, địa chất, khaikhoáng; giao thông vận tải, thông tin bưu điện, bảo vệ sức khoẻ,
Nghị quyết đã nêu những vấn đề khá cụ thể về phương hướng hoạtđộng của khoa học về điều tra cơ bản, về tổ chức nền kinh tế và đời sống xãhội, cải tiến kinh tế và quản lý xã hội; khoa học tự nhiên; khoa học xã hội
Về khoa học điều tra cơ bản, tổ chức nền kinh tế và đời sống xã hội,cải tiến quản lý kinh tế và xã hội, Nghị quyết nhấn mạnh đến việc điều tra
cơ bản về các vấn đề tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ, khí đốt, bôxít, tàinguyên biển và thềm lục địa Phát triển đồng bộ những phương hướngnghiên cứu phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện công tác quản lý kinh tế và
xã hội; xây dựng những căn cứ khoa học cho việc cải tiến hệ thống tổ chứcquản lý kinh tế và xã hội từ trung ương đến địa phương và cơ sở, cho việc
áp dụng các phương pháp quản lý phù hợp với trình độ phát triển của nềnsản xuất và xã hội
Về khoa học tự nhiên phải nhằm vào việc xây dựng cơ sở khoa họccho việc tìm kiếm, khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiênnhiên và môi trường nước ta, sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lượng,nhiên liệu, nguyên liệu, phục vụ cho việc phát triển các ngành kỹ thuật côngnghiệp, nông nghiệp, ý tế Nghiên cứu những vấn đề về toán học, điều khiểnhọc, vật lý, cơ học, hoá học, sinh học, khoa học về trái đất
Về khoa học xã hội, tập trung nghiên cứu các quy luật của cách mạng
xã hội chủ nghĩa; đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nướcta; xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con ngườimới xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phát triển mạnh các ngành khoa học kinh
tế, chủ nghĩa xã hội khoa học, triết học, xã hội học, luật học, các khoa họclịch sử, khoa học ngữ văn
Trí thức là những người thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹthuật quan trọng này Vì vậy, vấn đề trí thức phải được xem là vấn đề quantrọng hàng đầu trong phát triển khoa học và kỹ thuật
Trang 11Muốn thực hiện được những nhiệm vụ trên, vấn đề đặt ra trong Nghị
quyết là phải ra sức xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật và công
nhân lành nghề theo một quy hoạch thống nhất, có cơ cấu và trình độ phù
hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của cả nước; có kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ cho hợp lý, nhằm phát huy hếtkhả năng của từng người trí thức và tiềm lực của toàn đội ngũ trí thức "Vấn
đề cấp bách hiện nay là phải tổ chức, sử dụng tốt hơn đội ngũ cán bộ khoahọc và kỹ thuật hiện có"1 "Có cán bộ đầu đàn và chuyên gia trình độ caotrong nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất, cán bộ có năng lực về tổ chức vàquản lý trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học
xã hội"2
Nghị quyết đề cập đến vai trò của các cấp uỷ đảng và tăng cường sựquản lý của các cơ quan chức năng nhà nước đối với khoa học và kỹ thuật;đồng thời, nhấn mạnh đến cán bộ khoa học và kỹ thuật phải ra sức phấn đấurèn luyện để trở thành người chiến sĩ trên mặt trận khoa học và kỹ thuật,
"vừa cách mạng, vừa khoa học, có phẩm chất và năng lực, một lòng một dạphục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, trung thực, đoàn kết, hăng say côngtác, bền bỉ học tập, nghiên cứu và qua thực tiễn mà không ngừng sáng tạo,phát minh"3
Nghị quyết viết: "Cần khẳng định rằng, trong điều kiện kinh tế càngkhó khăn, trình độ kỹ thuật của sản xuất càng thấp kém, thì càng phải chútrọng đầu tư cho các hoạt động khoa học và kỹ thuật, cho công tác đào tạocán bộ khoa học và kỹ thuật và công nhân kỹ thuật"4 "Mặt khác, phải tạo racho được một sự chuyển biến lớn trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế củahoạt động khoa học và kỹ thuật làm cho việc đầu tư cho khoa học và kỹthuật trong thực tế trở thành hướng đầu tư có lợi nhất cho nền kinh tế quốcdân"
C.Mác đã nói khoa học là một động lực thúc đẩy lịch sử tiến triển, làmột động lực cách mạng Vì vậy, vấn đề đặt ra trong Nghị quyết này là phảilàm thế nào để đưa khoa học trở thành một động lực thúc đẩy lịch sử vàđộng lực cách mạng
Đại hội V của Đảng (họp từ ngày 27 đến ngày 31-3-1982, tại Hà Nội)tiếp tục tư tưởng của Đại hội IV là đẩy mạnh công tác khoa học, kỹ thuật,
1 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 42, đã dẫn, tr 153, 128.
2 "Văn kiện Đảng Toàn tập", tập 42, tr 128.
3 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 42, đã dẫn, tr 159, 169, 170.
4 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 42, đã dẫn, tr 170.
Trang 12bởi vì, đối với nước ta, những yêu cầu về năng suất, chất lượng và hiệu quảkinh tế, về sản xuất hàng xuất khẩu, sản phẩm cơ khí, luyện kim, hoá chất,nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đang đề ra những đòi hỏi rất lớn
ở khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và những nhà khoahọc, nhà trí thức làm việc trên các lĩnh vực này Tuy độ sắc viết về trí thứctrong văn kiện Đại hội V không bằng văn kiện Đại hội IV, nhưng cũng đãnêu được một số vấn đề về trí thức Theo văn kiện Đại hội V, đội ngũ tríthức nước ta phát triển khá nhanh Trong 5 năm, kể từ Đại hội IV đến Đạihội V, số lượng trí thức tăng thêm 78% Cả nước tính đến thời điểm năm
1982, cả nước hiện có trên 260 nghìn cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học
và trên đại học "Anh chị em trí thức đã tích cực phấn đấu, cống hiến nghịlực và tài năng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Một số côngtrình nghiên cứu và tác phẩm nghệ thuật của ta đã đạt trình độ cao"1
Đại hội VI của Đảng (họp từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, tại HàNội) là Đại hội ghi dấu mốc đổi mới toàn diện, trong đó, đã mở ra cho tríthức một hướng đi mới, thể hiện vấn đề dân chủ đối với trí thức: "Đối với tríthức, điều quan trọng nhất là bảo đảm quyền tự do sáng tạo Đánh giá đúngnăng lực và tạo điều kiện cho năng lực được sử dụng đúng và phát triển Phá
bỏ những quan niệm hẹp hòi, không thấy tằng lớp trí thức ngày nay lànhững người lao động xã hội chủ nghĩa, được Đảng giáo dục và lãnh đạo,ngày càng gắn bó chặt chẽ với công nhân, nông dân"2 Lần đầu tiên, "Cươnglĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (gọi tắt làCương lĩnh năm 1991), được Đại hội VII của Đảng thông qua vào năm
1991, ghi: "Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấpcông nhân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo" Đại hội VI bàn nhiều về vấn đề tư tưởng, có liên quan đến vấn đề tríthức, cho rằng, "đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng cácquy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy ý chí, giảnđơn hoá, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hộitrong điều kiện nước ta mới ở chặng đường đầu tiên Chúng ta đã có nhữngthành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận những quy luậtcủa sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan; do đó, không chú ý vậndụng chúng vào việc chế định các chủ trương, chính sách kinh tế Chưa chú
1 "Văn kiện Đảng Toàn tập", Tập 43, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 121.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 115.
Trang 13ý đầy đủ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của mình và nghiên cứu kinhnghiệm của các nước anh em".
Đại hội VII của Đảng (họp từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991, tại HàNội), có 1.176 đại biểu dự Trong số này, có 19 người đạt trình độ văn hoácấp I, chiếm tỷ lệ 1,62% so với tổng số đại biểu; 188 người đạt trình độ vănhoá cấp II, chiếm tỷ lệ 15,99%; 969 người đạt trình độ văn hoá cấp III,chiếm tỷ lệ 82,4%; 78 người có trình độ trung học chuyên nghiệp, chiếm tỷ
lệ 6,63%; 743 người có trình độ đại học, cao đẳng và trên đại học, chiếm tỷ
lệ 63,18%, trong đó có 158 người là phó tiến sĩ, tiến sĩ, giáo sư cấp I, II.Trình độ lý luận chính trị và quản lý kinh tế: 840 người, chiếm tỷ lệ 71,42%,đạt trình độ lý luận cao cấp; 257 người, chiếm tỷ lệ 21,85%, đạt trình độ lýluận trung cấp; 461 người, chiếm tỷ lệ 39,2%, đã qua đào tạo quản lý kinhtế;152 người, chiếm tỷ lệ 12,93%, đã học quản lý nhà nước Như vậy, thànhphần trí thức trong Đại hội chiếm đa số Điều đó chứng tỏ trình độ trí thức,tri thức trong Đảng đã được nâng lên rất nhiều so với những năm trước đó,phản ánh quá trình nỗ lực học tập của các đảng viên Văn kiện Đại hội đánhgiá cao những đóng góp của giới trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước
Đại hội xác định: "Mục tiêu giáo dục và đào tạo, nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có trithức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo,
có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhàtrường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên mônsâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần"1
Đại hội VIII của Đảng (họp từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996, tại HàNội) phân tích sâu sắc vấn đề phát triển trí tuệ của người Việt Nam thể hiệntrong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Hội nghị Trung ương 2, Khoá VIII, ra Nghị quyết số 02-NQ-HNTW,ngày 24-12-1996: "Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạotrong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000", đặtvấn đề xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, vừa biết kế thừa, tiếp thu tinh hoa truyền thống dântộc, vừa làm chủ tri thức và khoa học công nghệ hiện đại, "thực sự coi giáodục là quốc sách hàng đầu" Quán triệt tinh thần giáo dục - đào tạo là sự
1 "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng", Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 81.
Trang 14nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn dân; phát triển giáo dục gắnvới những nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học vàcông nghệ; thực hiện công bằng trong giáo dục, đào tạo; giữ vững vai trònòng cốt của trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục,đào tạo.
Hội nghị Trung ương 2, Khoá VIII ra Nghị quyết số 02-NQ/HNTW,ngày 24-12-1996: "Về định hướng chiến lược phát triển khoa học và côngnghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá và nhiệm vụ đến năm 2000" đặt ra mụctiêu và những nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực: khoa học xã hội và nhânvăn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ Cùng với giáo dục
và đào tạo, "khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu", là động lực pháttriển kinh tế, xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập và xây dựngchủ nghĩa xã hội Nghị quyết xác định khoa học và công nghệ là nội dungthen chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp; phát triển khoahọc và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn dân; phát huy năng lựcnội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với tiếp thu thành tựu khoa họccông nghệ của thế giới; phát triển khoa học và công nghệ gắn liền với bảo
vệ và cải thiện môi trường sinh thái; bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bềnvững
Đại hội IX của Đảng (họp từ ngày 19 đến ngày 22-4-2001, tại Hà Nội)đặt vấn đề: "Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, đãi ngộ đặc biệtđối với nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc"1
Đại hội X của Đảng (họp từ ngày 18 đến ngày 25-4-2006, tại Hà Nội)đặt vấn đề một cách rõ ràng về sử dụng trí thức, trọng dụng nhân tài: "Thựchiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng côngtrình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có taynghề cao"
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, Khoá X (tháng 7-2008) về xâydựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, đánh giá một cách khách quan, khoa học về đội ngũ trí thức ViệtNam hiện nay, thẳng thắn chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu kém của họ, trên
cơ sở đó mà định ra nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cái mới màchúng tôi cảm nhận được trong Nghị quyết này là Đảng không chỉ đánh giá
về đội ngũ trí thức, mà còn kiểm điểm công tác xây dựng đội ngũ trí thức
"Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 37
Trang 15Đây là lần đầu tiên, Đảng có một nghị quyết riêng về vấn đề trí thức Nhưvậy, phải mất một thời gian dài, kể từ ngày thành lập Đảng, vấn đề trí thứcmới được làm sáng tỏ, mới được đặt ngang hàng với vấn đề công nhân vànông dân Đó là một bước tiến lớn về lý luận và thực tiễn trong việc giảiquyết vấn đề trí thức.
Đại hội XI của Đảng (họp từ ngày 12 đến ngày 19/01/2011, tại thủ đô
Hà Nội) tiếp tục đặt vấn đề xây dựng nền tảng “liên minh giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Namlãnh đạo”; đặt vấn đề: “khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạođiều kiện để người dân được học tập suốt đời” Đặc biệt đối với nhân tài,Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã xác định rõ: “Có chính sách đặc biệt đốivới nhân tài của đất nước”
Đại hội XII của Đảng (họp từ ngày họp từ ngày 20-01-2016 đến ngày28-01-2016, tại Thủ đô Hà Nội), xác định: Xây dựng đội ngũ trí thức ngàycàng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Tôntrọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo.Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quảcống hiến Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ và tôn vinh xứng đángnhững cống hiến của trí thức Có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút nhântài của đất nước Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội củacác cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các dự án pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội
Nói tóm lại, quan điểm nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khithành lập đến nay về vấn đề trí thức là một quá trình từ nhận định, đánh giáchưa đúng, còn chủ quan đến nhận định, đánh giá đúng, khách quan Điềunày phán ánh tư duy của Đảng trong việc nhìn nhận trí thức đã có những đổimới; trí tuệ của Đảng trong việc định đường lối, chính sách đối với trí thức
đã được nâng lên cùng với quá trình đổi mới đất nước
II THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC CỦA TỈNH BẮC GIANG
1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm đến xâydựng và phát triển đội ngũ trí thức; ban hành nhiều văn bản quan trọng đốivới trí thức và tổ chức tập hợp trí thức; cụ thể: