Quyền kháng nghị là một quyền năng pháp lý quan trọng của VKSND trong việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng dân sự, tố tụng phá sản nói riêng. Quyền năng này của VKSND đã được quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng, tại khoản 1 Điều 21 BLTTDS 2015 khẳng định: “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Hay trong pháp luật về phá sản, Tại khoản 1 Điều 21 Luật phá sản 2014 cũng khẳng định rằng: “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết phá sản thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của luật này”.Một cách tổng quát nhất, có thể định nghĩa Quyền kháng nghị của VKSND trong tố tụng dân sự và tố tụng phá sản là quyền năng pháp lý được pháp luật quy định cho VKSND, nhằm yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định của TAND mà VKSND cho rằng có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới để khắc phục nhứng sai lầm trong các bản án, quyết định bị kháng cáo kháng nghị, đảm bảo cho vụ việc dân sự được xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời.Trong nội dung bài viết này, quyền kháng nghị của VKSND sẽ được xem xét dưới 2 phần: quyền kháng nghị của VKSND trong giải quyết vụ việc dân sự và quyền kháng nghị của VKSND trong giải quyết việc phá sản. Cụ thể như sau:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
Trang 21. Trình bày nội dung quyền kháng nghị của viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ việc dân sự và việc phá sản?
2. Tình huống:
Ngày 21/01/2015, anh Nguyễn Văn Cường cùng vợ là chị Trần Thị Hoađều có hộ khẩu thường trú tại phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố HàNội (Bên A) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 60m2 đất và tài sản gắn liềntrên đất là ngôi nhà cấp 4 tại số 21 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quậnThanh Xuân, thành phố Hà Nội của vợ chông anh Trần Thanh Hải và Lê Thị Lanđều có hộ khẩu thường trú tại phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố
Hà Nội (Bên B) Diện tích đất trên, vợ chồng anh Hải, chị Lan đã được Ủy bannhân dân quận Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang sốhiệu A23407886 năm 2009 Giá chuyển nhượng được hai bên thống nhất là2.100.000.000 VND Việc chuyển nhượng đã được hai bên lập thành hợp đồng
và có chứng nhận của Công chứng viên Văn phòng Công chứng Phương Đông.Trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà gắn liền với quyền sử dụng đất trên, tại
Điều 6 có ghi: “Trong thời hạn một năm kể từ ngày Hợp đồng này được công chứng, Bên B có quyền chuộc lại ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất quy định tại Điều 1 của hợp đồng này với giá chuộc lại là 2.600.000.000 VND”.
Thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất nêu trên, các bên đã tiếnhành làm thủ tục đăng ký sang tên nhà đất theo đúng quy định của pháp luật vàBên A đã được Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên
Ngày 16/8/2015, do cần tiền để hùn vốn làm ăn nên vợ chồng anh NguyễnVăn Cường, chị Trần Thị Hoa đã chuyển nhượng ngôi nhà gắn liền với 60m2 đấttại số 21 phố Khương Hạ, phương Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố
Hà Nội cho vợ chồng anh Trần Văn Quang, chị Nguyễn Thị Hồng với giá là2.500.000.000 VND Việc chuyển nhượng nhà đất giữa hai bên thực hiện theođúng quy định của pháp luật và anh Quang, chị Hồng đã được Ủy ban nhân dânquận Thanh Xuân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Ngày 19/01/2016, vợ chồng anh Hải, chị Lan đến gặp vợ chồng anhCường, chị Hoa yêu cầu được chuộc lại ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất
Trang 3tại số 2 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố
Hà Nội theo đúng thỏa thuận thì mới biết anh Cường, chị Hoa đã chuyểnnhượng nhà đất trên cho người khác Do không thống nhất được với nhau vềcách giải quyết Vì vậy, anh Hải, chị Lan đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân quậnThanh Xuân yêu cầu vợ chồng anh Cường, chị Hoa thực hiện đúng thỏa thuậntrong Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa hai bên Ngày 1/7/2016 Tòa ánnhân dân quận Thanh Xuân đã thụ lý vụ án trên để giải quyết và thông báo bằngvăn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp Ngày 20/10/2016 Tòa án quận Thanh Xuân
đã mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm dân sự
Trang 5M C L C Ụ Ụ
Trang 6Câu 1: Trình bày nội dung quyền kháng nghị của viện kiểm sát trong việc
giải quyết vụ việc dân sự và việc phá sản?
I – KHÁI NIỆM QUYỀN KHÁNG NGHỊ CỦA VKSND
Quyền kháng nghị là một quyền năng pháp lý quan trọng của VKSNDtrong việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong
tố tụng dân sự, tố tụng phá sản nói riêng Quyền năng này của VKSND đãđược quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng, tại khoản 1 Điều 21 BLTTDS
2015 khẳng định: “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật” Hay trong pháp luật về phá sản, Tại khoản 1 Điều 21 Luật phá sản 2014 cũng khẳng định rằng: “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết phá sản thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của luật này”.
Một cách tổng quát nhất, có thể định nghĩa Quyền kháng nghị của VKSNDtrong tố tụng dân sự và tố tụng phá sản là quyền năng pháp lý được pháp luậtquy định cho VKSND, nhằm yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản
án, quyết định của TAND mà VKSND cho rằng có vi phạm pháp luật hoặc cótình tiết mới để khắc phục nhứng sai lầm trong các bản án, quyết định bịkháng cáo kháng nghị, đảm bảo cho vụ việc dân sự được xét xử đúng phápluật, nghiêm minh và kịp thời
Trong nội dung bài viết này, quyền kháng nghị của VKSND sẽ được xemxét dưới 2 phần: quyền kháng nghị của VKSND trong giải quyết vụ việc dân
sự và quyền kháng nghị của VKSND trong giải quyết việc phá sản Cụ thểnhư sau:
II – QUYỀN KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Đối với việc giải quyết vụ việc dân sự, Luật phân biệt quyền kháng nghịthành hai hình thức đó là: kháng nghị bản án, quyết định chưa có hiệu lực
Trang 7pháp luật theo thủ tục phúc thẩm và kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệulực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
2.1. Kháng nghị bản án, quyết định của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật
theo thủ tục phúc thẩm
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là kháng nghị đối với bản án, quyếtđịnh về vụ việc dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm Cụthể tại Điều 278 BLTTDS 2015 quy định về quyền kháng nghị của VKS:
“Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.” Kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm của VKS là văn bản pháp lý làm phát sinh một thủ tục tố tụngmới mà ở đó Tòa án phải xem xét lại toàn bộ hoặc một phần bản án, quyếtđịnh bị kháng nghị nhằm bảo đảm cho việc xét xử vụ án công minh và đúngpháp luật, đồng thời khắc phục những sai lầm trong bản án, quyết định đó.Nội dung quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm gồm các nội dung sau:
Đối với vụ án dân sự, Căn cứ vào điều 278 BLTTDS 2015 thì đối tượngkháng nghị phúc thẩm của VKS bao gồm: Bản án sơ thẩm và các quyết địnhdân sự Tuy nhiên trong đó không phải mọi quyết định dân sự của Tòa án đều
là đối tượng của quyền kháng nghị phúc thẩm mà chỉ có quyết định tạm đìnhchỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chưa có hiệu lực pháp luật có
vi phạm pháp luật nghiêm trọng mới là đối tượng của quyền kháng nghị phúcthẩm
Đối với việc dân sự, Đối tượng của quyền kháng nghị phúc thẩm là tất cảcác quyết định giải quyết việc dân sự, trừ quyết định giải quyết các yêu cầu:Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án (khoản 7 Điều 27BLTTDS); Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tàisản khi ly hôn (khoản 2 Điều 29 BLTTDS); Yêu cầu công nhận thỏa thuậncủa cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công
Trang 8nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổchức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình (khoản 3Điều 29 BLTTDS); Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài (khoản 10 Điều 71 Luậttrọng tài thương mại 2010)
Theo Điều 5 Luật tổ chức VKSND 2014 thì căn cứ để VKS kháng nghịbản án, quyết định của Tòa án là khi bản án, quyết định đó có vi phạm phápluật nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền còn người, quyền công dân, lợi íchcủa Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Tuy nhiên,trong lĩnh vực dân sự, hiện nay vẫn chưa có một văn bản cụ thể nào quy địnhthế nào là vi phạm nghiêm trọng pháp luật hay quy định về căn cứ kháng nghịphúc thẩm vụ án dân sự Song trên cơ sở thực tiễn kiểm sát việc tuân theopháp luật trong lĩnh vực dân sự thì có thể đưa ra một số vi phạm thường được
sử dụng làm căn cứ để kháng nghị phúc thẩm như sau:
- Không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ tham gia trong tố tụng dân sự hoặckhông triệu tập người làm chứng đến phiên tòa để đảm bảo khách quan trongviệc đánh giá chứng cứ;
- Việc thu thập, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, không khách quan;
- Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng không giải quyết hậu quả của hợp đồng
vô hiệu, gây thiệt hại cho đương sự;
- Vi phạm trong việc giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, quyền yêu cầu củađương sự;
- Vi phạm trong việc xác định thời hiệu khởi kiện;
- Việc tính lãi suất, án phí không đúng quy định của pháp luật;
- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Đây là trường hợp tòa
án áp dụng sai các quy định về luật nội dung để giải quyết vụ án như áp dụngsai điều luật, áp dụng các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực, xác định sai quan
Trang 9và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Trong trường hợp này, nếu bản ántrước đây đã xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bản án đã đượcthi hành xong, nguyên đơn đã được thụ hưởng quyền lợi nhưng sau đó bản án
sơ thẩm, phúc thẩm bị cấp giám đốc thẩm hủy án thì trường hợp này cần thiếtphải hỏi ý kiến của bị đơn (và người liên quan nếu có) để xác định họ có đồng
ý với việc rút đơn của nguyên đơn không Bởi nguyên nhân khi đã nhận đượctài sản thi hành án nên thông thường khi Tòa án thụ lý lại, họ sẽ rút đơn khởikiện Việc đình chỉ giải quyết vụ án lúc này có thể gây thiệt hại cho quyền lợicủa bị đơn do đó nếu bị đơn không đồng ý với việc rút đơn của nguyên đơnthì Thẩm phán không được chấp nhận việc rút đơn và không được ra quyếtđịnh đình chỉ KSV cần chú ý xem xét kháng nghị hủy quyết định đình chỉ tráivới yêu cầu của bị đơn hoặc của người liên quan để đảm bảo quyền lợi củacác đương sự trong trường hợp này
Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 57, Điều 278, Điều 372 thì Việntrưởng VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyếtđịnh tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định giải quyết việcdân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyếtlại vụ việc theo thủ tục phúc thẩm
Đối với quyết định tạm đình chỉ và đình giải quyết vụ án dân sự của Tòa
án cấp sơ thẩm thì thời hạn kháng nghị ngắn hơn, cụ thể: “Thời hạn kháng
Trang 10nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định” (theo khoản 2 Điều 280 BLTTDS 2015).
Trong việc giải quyết viêc dân sự, Theo khoản 2 Điều 372 BLTTDS 2015thì VKS cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sựtrong thời hạn 10 ngày, VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thờihạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định
Tóm lại, có thể kết luân thời hạn kháng nghị phúc thẩm của VKS cấp trêntrực tiếp dài hơn VKS cùng cấp và thời hạn kháng nghị của VKS từng cấp đốivới các bản án dài hơn so với thời hạn kháng nghị các quyết định (tạm đìnhchỉ, đình chỉ) giải quyết vụ án dân sự Việc quy định là phù hợp với từng loạiđối tượng bị kháng nghị và phù hợp với việc nghiên cứu hồ sơ, bổ sung chứng
cứ cho hoạt động kháng nghị của VKS và nhằm khắc phục tình trạng kéo dàithời hạn giải quyết vụ án
Quyết định kháng nghị của VKS dựa theo Điều 279 BLTTDS 2015 thìphải đảm bảo hình thức bằng văn bản và có các nội dung chính sau:
- Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
- Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
- Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩmchưa có hiệu lực pháp luật;
- Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
- Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát raquyết định kháng nghị
Ngoài ra, Quyết định kháng nghị còn phải đảm bảo tuân thủ Mẫu số 15ban hành kèm theo Quyết định số 204/QĐ-VKSTC ngày 01/6/2017 của Việntrưởng VKSND tối cao về việc ban hành 185 mẫu văn bản tố tụng, nghiệp vụtạm thời trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp
f) Gửi, thông báo quyết định kháng nghị và hồ sơ vụ án
- Về việc gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án, khoản 2 Điều 279 BLTTDShiện hành quy định sau khi ban hành văn bản kháng nghị phúc thẩm, Quyết
Trang 11định kháng nghị phải được VKS gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủtục quy định tại Điều 283 BLTTDS
- Về việc thông báo về việc kháng nghị, Điều 281 BLTTDS hiện hành quy địnhVKS ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị chođương sự có liên quan đến kháng nghị Bên cạnh đó, người được thông báo vềviệc kháng nghị cũng có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dungkháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm Văn bản nêu ý kiến này của họ đượcđưa vào hồ sơ vụ án (nếu có)
Như vậy, VKS không chỉ có trách nhiệm gửi quyết định kháng nghị choTòa án cấp sơ thẩm mà còn phải gửi quyết định kháng nghị cho các đương sự
- Về việc gửi hồ sơ vụ án và kháng nghị, theo quy định tại Điều 283 BLTTDShiện hành thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, quyết định kháng nghị
và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩmtrong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị
g) Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
- Chủ thể bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị: chỉ có người ban hành kháng nghị
(Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS đã kháng nghị) mới có quyền thayđổi, bổ sung kháng nghị Việc rút kháng nghị chỉ được thực hiện bởi Việntrưởng (hoặc Phó Viên trưởng) VKS đã ban hành kháng nghị hoặc Việntrưởng (Phó Viên trưởng) VKS cấp trên trực tiếp (đối vơi trường hợp PhóViện trưởng thì chỉ khi được Viện trưởng ủy quyền để Phó Viện trưởng ủyquyền để Phó Viện trưởng ký quyết định kháng nghị phúc thẩm)
- Phạm vi thay đổi, bổ sung kháng nghị: khi thời hạn kháng nghị đã hết thì nội
dung thay đổi, bổ sung kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng nghịban đầu Trong trường hợp thời hạn kháng nghị chưa hết thì việc thay đổi, bổsung kháng nghị có thể vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu;
- Thời điểm thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị: Trước hoặc tại phiên tòa phúc
thẩm, Viện trưởng VKS đã ban hành kháng nghị hoặc Viện trưởng VKS cấptrên trực tiếp có thể thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị;
- Hình thức thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị: Trước phiên tòa phúc thẩm việc
thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phải làm thành văn bản và gửi cho Tòa án
Trang 12cấp phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho đương sự biết vềviệc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị Tại phiên tòa phúc thẩm việc thay đổi,
bổ sung, rút kháng nghị do VKS tham gia phiên tòa trực tiếp thực hiện theo sựchỉ đạo của Viện trưởng VKS cấp mình trên cơ sở Quy chế nghiệp vụ củaNgành Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm khôngnhất thiết phải được làm thành văn bản nhưng phải được ghi vào biên bảnphiên tòa phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản về việc thay đổi, bổsung, rút kháng nghị đó cho các đương sự biết, đồng thời tiến hành các côngviệc theo quy định của BLTTDS hiện hành để mở phiên tòa xét xử phúc thẩm
vụ án dân sự theo thủ tục chung đối với kháng nghị đã được thay đổi, bổ sung
- Hậu quả pháp lý của việc rút kháng nghị: Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét
xử vụ án đối với những phần của vụ án mà VKS đã rút kháng nghị Việc đìnhchỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòaquyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định
Tóm lại, quy định bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị tạo điều kiện để chủthể ra quyết định kháng nghị thực hiện đầy đủ thẩm quyền để đạt được yêucầu của mình, cũng như kịp thời thay đổi những nội dung kháng nghị mà theo
họ chưa thỏa đáng, giúp cho Tòa án cấp phúc thẩm có cơ sở xét xử vụ ánđược toàn diện, đầy đủ Bên cạnh đó cũng giúp làm giảm bớt số lượng án màcấp phúc thẩm phải xét xử và hạn chế chi phí tố tụng, giúp cho bản án, quyếtđịnh của Tòa án cấp sơ thẩm nhanh chóng được thi hành
2.2. Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm là kháng nghị đốivới bản án, quyết định về vụ việc dân sự hoặc đối với một số quyết định giảiquyết thủ tục phá sản đã có hiệu lực của Tòa án khi phát hiện có vi phạm phápluật trong quá trình xét xử, giải quyết vụ việc hoặc khi có tình tiết mới theoquy định của pháp luật VKSND là một trong các chủ thể có thẩm quyềnkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Việc thực hiện quyền khángnghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cũng chính là thực hiện chức năngkiểm sát việc tuân theo pháp luật của TAND Ở đó chỉ rõ những vi phạm
Trang 13trong quyết định, bản án của TAND để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xemxét lại nhằm khắc phục vi phạm, bảo đảm cho vụ việc dân sự được xét xửnghiêm minh, đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
Theo Điều 326 BLTTDS 2015 thì Bản án, quyết định của Tòa án đã cóhiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trongnhững căn cứ sau đây:
- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết kháchquan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiệnđược quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của
họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
- Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết địnhkhông đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâmphạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp phápcủa người thứ ba
b) Điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Bên cạnh các căn cứ kháng nghị trên, BLTTDS 2015 còn quy định điềukiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, theo đó, Người có thẩmquyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi
có đủ các điều kiện sau:
- Thứ nhất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có một trong những căn
cứ kháng nghị như trên đã phân tích;
- Thứ hai, có đơn đề nghị xem xét; hoặc có thông báo, kiến nghị của Tòa án,VKS hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hay kiến nghị của Chánh án TAND(Chánh án TAND cấp tỉnh kiến nghị Chánh án TAND cấp cao hoặc Chánh ánTAND cấp cao kiến nghị Chánh án TAND tối cao) bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm khi phát hiện có vi phạm phápluật… Song riêng đối với trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã cóhiệu lực pháp luật xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghịhay thông báo, kiến nghị; người có thẩm quyền vẫn kháng nghị
Trang 14c) Căn cứ ban hành kháng nghị tái thẩm
Theo Điều 352 BLTTDS 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệulực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn
Theo Điều 331 và 354 BLTTDS 2015 thì người có thẩm quyền kháng nghịtheo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong VKSND gồm có:
- Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩmhoặc tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của VKSND cấpcao, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cầnthiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC
- Viên trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốcthẩm hoặc tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấptỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
Theo Điều 334 BLTTDS 2015, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 3năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Tuynhiên, trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị nhưng nếu các điều kiện sau thìthời hạn kháng nghị sẽ được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạnkháng nghị, cụ thể:
- Thứ nhất, đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 củaBLTTDS 2015 và sau khi hết thời hạn kháng nghị 3 năm quy định tại khoản 1Điều 334 đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;
Trang 15- Thứ hai, Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạmpháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của BLTTDS 2015, xâm phạmnghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba,xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị đểkhắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.
Đối với tái thẩm, Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 1 năm, kể từngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theothủ tục tái thẩm quy định tại Điều 352 của BLTTDS 2015
f) Hình thức, nội dung kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tiến hànhkháng nghị bằng văn bản Nội dung và hình thức của Quyết định kháng nghịphải ghi đầy đủ các vấn đề quy định tại Điều 333 BLTTDS 2015 và Mẫu số
31 (kháng nghị giám đốc thẩm) và mẫu số 33 (kháng nghị tái thẩm) ban hànhkèm theo Quyết định số 204/2017/QĐ-VKSTC
g) Gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phải được gửi ngay choTòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, cácđương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người khác có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị
Trường hợp Chánh án TAND tối cao hoặc Chánh án TAND cấp cao khángnghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho VKScùng cấp VKS nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậnđược hồ sơ vụ án; hết thời hạn này, VKSphải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án
có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
Trường hợp Viện trưởng VKSND tối cao hoặc Viện trưởng VKSND cấpcao kháng nghị thì quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cóthẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
h) Thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
- Về thẩm quyền: thẩm quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị đều thuộc thẩm
quyền của người đã kháng nghị
Trang 16- Về hình thức: Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phải được thực hiện
bằng quyết định Quyết định thay đổi, bổ sung kháng nghị được gửi tương tựnhư quy định gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm Việc gửi quyết địnhrút kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo Điều 17 Thông tư02/2016, theo đó thì quyết định rút kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm củaViện trưởng VKS được gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm,tái thẩm
- Về điều kiện thay đổi, bổ sung kháng nghị: Người đã kháng nghị giám đốc
thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạnkháng nghị quy định tại Điều 334 BLTTDS 2015
- Vê thời điểm rút kháng nghị: Người đã kháng nghị có quyền rút một phần
hoặc toàn bộ quyết định kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòagiám đốc thẩm
- Về hậu quả của rút kháng nghị: Khi nhận được quyết định rút toàn bộ kháng
nghị, Tòa án giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm
III – QUYỀN KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC PHÁ SẢN
Luật Phá sản năm 2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ
7 ngày 19/6/2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 Trong đó quy địnhnhiều nội dung mới liên quan đến việc thực hiện công tác kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong giải quyết phá sản như:
Căn cứ pháp luật về Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giảiquyết phá sản, cụ thể theo Khoản 9 Điều 4 Luật 2014 quy định vị trí pháp lýcủa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình giảiquyết phá sản là “Người tiến hành thủ tục phá sản” Hay theo Điều 21 LuậtPhá sản quy định quyền hạn của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trìnhgiải quyết phá sản
Về phương thức thực hiện công tác kiểm sát, Điều 21 Luật Phá sản 2014quy định cụ thể Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong quá trình tiến hành thủ tục phá sản, thực hiện các quyền yêu cầu, kiếnnghị, kháng nghị theo quy định của luật này; Tham gia các phiên họp xem xét
Trang 17kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát quyết định giảiquyết phá sản sản của Tòa án nhân dân Cụ thể nội dung quyền kháng nghịcủa VKS trong việc giải quyết việc phá sản theo Luật phá sản 2014 gồmnhững nội dung chính sau:
Đối tượng của quyền kháng nghị trong quá tình giải quyết phá sản gồm có
3 quyết định, đó là: quyết định mở thủ tục phá sản, quyết định không mở thủtục phá sản (khoản 1 Điều 44 Luật phá sản 2014) và quyết định tuyên bố phásản doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều 111 Luật phá sản 2014)
Đối với quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, sau khi nhận đượcquyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, Viện trưởng VKS phân côngKSV nghiên cứu và kiểm tra căn cứ ra quyết định mở hoặc không mở thủ tụcphá sản theo quy định tại khoản 2, 5 Điều 42 Luật phá sản 2014; theo đó, căn
cứ ban hành quyết định mở thủ tục phá sản là khi doanh nghiệp, hợp tác xãmất khả năng thanh toán và căn cứ ban hành quyết định không mở thủ tục phásản nếu xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán.Đối với quyết định tuyên bố phá sản, sau khi nhận được quyết định tuyên
bố phá sản, KSV nghiên cứu và kiểm tra căn cứ ra quyết định tuyên bố phásản theo các trường hợp sau:
- Trường hợp tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn, Điều 105 Luật phá sản
2014 quy định TAND giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn đối với cáctrường hợp sau:
+ Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại khoản 3,khoản 4 Điều 5 của Luật phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạmứng chi phí phá sản;
+ Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán không còn tài sản để thanh toán chi phí phásản