1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm liên kết và mạch lạc trong văn bản khoa học (qua các bài báo khoa học xã hội và nhân văn trên tạp chí khoa học – ĐHQGHN)

205 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 685,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do trên, chúng tôi đã nghiên cứu “Đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các văn bản khoa học - qua các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học, ĐHQGHN” nhằm làm rõ hơn về lý thuy

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC C HỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU Đ Ồ, SƠ Đ Ồ 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Đ ối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Câu hỏi và Giả thuyết nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đ óng góp của luận án 8

7 c ấu trúc của luận án 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết và mạch lạc 9

1.1.2 Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới và Việt Nam 21

1.1.3 Những vấn đề còn bỏ ngỏ 25

1.2 Cơ sở lý luận 26

1.2.1 Liên kết và mạch lạc 26

1.2.2 Văn bản - văn bản khoa học và bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 31

C HƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT TRONG CÁC BÀI BÁO KHOA HỌ C XÃ H ộ I VÀ NHÂN VĂN 42

2.1 C ác phép liên kết đặc thù trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 42

2.1.1 Phép liên kết từ vựng 43

2.1.2 Phép nối 51

2.1.3 Phép quy chiếu 66

2.1.4 Phép thế và phép tỉnhlược 73

Trang 2

2.2 Một số đặc trưng liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 75

2.2.1 Sự phối hợp hiệu quả của các phép liên kết trong các bài báo KHXH&NV 75

2.2.2 Phương tiện liên kết đặc trưng trong các bài báo KHXH&NV 76

Trang 3

2.2.3 Liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và liên kết trong các báo

Khoa học Nhân văn 82

2.2.4 Liên kết trong các bài báo khoa học và liên kết trong các văn bản thuộc phong cách chức năng khác 87

C HƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM MẠC H LẠC TRONG CÁC BÀI BÁO KHOA HỌ C XÃ H ộ I VÀ NHÂN VĂN 95

3.1 Mạch lạc trong quan hệ đề tài - chủ đề 95

3.2 Mạch lạc trong quan hệ lập luận 97

3.2.1 Cấu trúc lập luận trong phần Kết quả nghiên cứu và phần Kết luận của bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 98

3.2.2 Quan hệ lập luận trong phần Dần nhập, phần Kết luận của các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 106

3.3 Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và cấu trúc toàn văn bản 112

3.3.1 Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn 112

3.3.2 Mạch lạc trong cấutrúc văn bản 116

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC C ÔN G TRÌNH KHOA HỌ C C ỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN Đ ẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤ C 162

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1: Các phép liên kết theo quan niệm của Halliday 26

Sơ đồ 1.2: Những đặc trưng của văn bản 34

Bảng 2.1: Tần số các phép liên kết được sử dụng trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn 43

Biểu đồ 2.2: Các loại liên kết từ vựng được sử dụng trong các bài báo KHXH&NV44 Biểu đồ 2.3: C ác kiểu quan hệ nghĩa của phép nối được sử dụng trong các bài báo KHXH&NV 52

Biểu đồ 2.4: C ác kiểu loại phép quy chiếu được sử dụng trong các bài báo KHXH&NV 67

Bảng 2.5: Bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn theo các lĩnh vực 82

Biểu đồ 2.6: Tần số các phép liên kết được sử dụng trong 8 ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn 83

Biểu đồ 2.7: Tần số các loại liên kết từ vựng xuất hiện trong các bài báo thuộc tám ngành KHXH&NV 86

Bảng 3.1: Bảng các kiểu lập luận trong 240 bài báo thuộc tám ngành KHXH&NV 97

Sơ đồ 3.2: C ấu trúc lập luận của bài báo 101

Sơ đồ 3.3: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r1) 102

Sơ đồ 3.4: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r3)103 Sơ đồ 3.5: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r4)104 Sơ đồ 3.6: Quan hệ lập luận trong phần kết luận R 105

Sơ đồ 3.7: C ấu trúc của một bài báo KHXH&NV 117

Bảng 3.8: C ác yếu tố thành phần trong hai giai đoạn của bài báo KHXH&NV 119

Sơ đồ 3.9: C ác yếu tố thành phần của bài báo KHXH&NV 121

Bảng 3.10: Các yếu tố thành phần trong các bài báo thuộc 8 ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn 122

Bảng 3.11: Cấu tạo ngữ pháp tiêu đề các bài báo KHXH&NV 123

Bảng 3.12: Vai trò của tiêu đề các bài báo KHXH&NV 124

Bảng 3.13: Mối quan hệ giữa Tóm tắt và Nội dung bài báo 128

Bảng 3.14: Cấu trúc nghĩa phần thảo luận của bài báo “Vấn đề lương tâm trong kịch Sêkhôp” 138

Trang 6

MỞ Đ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thuật ngữ “văn bản” ngay từ khi mới xuất hiện đã nhận đuợc sự quan

tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhiều công trình đã nghiên cứu về liên kếthoặc mạch lạc trong các văn bản (VB) nghệ thuật, VB báo chí, VB hành chính tiếngViệt Điều này cho thấy giá trị cần thiết của hai yếu tố liên kết và mạch lạc trongviệc kết nối các đơn vị ngôn ngữ để tạo nên tính hoàn chỉnh cho VB Tuy nhiên,chua có công trình nào nghiên cứu kỹ về VB khoa học, cũng nhu làm rõ vai tròquan trọng của liên kết bên cạnh phuơng diện mạch lạc khi tạo lập và tiếp nhận các

VB khoa học tiếng Việt

1.2 Khoa học và công nghệ hiện nay đang phát triển nhanh chóng và đạt rất

nhiều thành tựu to lớn, vì thế đòi hỏi VB khoa học cần thiết phải là phuơng tiện hữuích để phổ biến thông tin Theo nhận định của Unesco, hoạt động nghiên cứu khoahọc Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) đang càng ngày càng có giá trị, có tính chấtliên ngành, đóng góp hữu ích trong việc hoạch định các chính sách, giải quyết cácvấn đề xã hội và nâng cao phúc lợi của nhân dân [97] Vì thế, nên có những nghiêncứu chi tiết về loại VB này để đua ra những đề xuất (về việc cần đảm bảo tính liênkết, mạch lạc, sự hoàn chỉnh của cấu trúc hình thức và nội dung) nhằm góp phần nângcao chất luợng các bài báo KHXH&NV, huớng tới đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia

và quốc tế, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

1.3 VB khoa học sử dụng nhiều thuật ngữ mang tính chuyên ngành cao,

thuờng khó khăn hơn đối với nguời tiếp nhận và tạo lập [114, tr.26] Tuy có ý kiếnquan niệm, VB khoa học có tính chính xác và logic nên đòi hỏi sự xuất hiện nhiềucác phép liên kết (phuơng thức liên kết), nhung chua có nghiên cứu nào tìm hiểu cụthể đặc điểm của liên kết và mạch lạc xuất hiện trong loại VB này Mặt khác, trongquá trình tiếp xúc với các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - Đ ại họcQuốc gia Hà Nội (Đ HQGHN), chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số truờng hợp chuađáp ứng đúng yêu cầu của văn phong và cấu trúc bài báo khoa học Và việc đua ra

Trang 7

1.4. những yêu cầu mang tính bắt buộc đối với các sản phẩm khoa học

các nhà ngôn ngữ cũng nhu những nguời làm công việc biên tập

Vì những lý do trên, chúng tôi đã nghiên cứu “Đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các văn bản khoa học - qua các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học, ĐHQGHN” nhằm làm rõ hơn về lý thuyết VB và những yêu cầu thực tiễn trong việc

sử dụng các phép liên kết (PLK), phuơng tiện liên kết, quan hệ đề tài - chủ đề, quan

hệ lập luận, cấu trúc hình thức của các bài báo khoa học tạo giá trị mạch lạc cho loại

VB này

2 Đ ối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đ ối tuợng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm liên kết và mạch lạc trong 586bài báo KHXH&NV đăng trên Tạp chí Khoa học - Đ HQGHN từ năm 1985 đến năm

2013 (thuộc các lĩnh vực: Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học, Lịch sử, Ngônngữ, Triết học, Văn học v.v.)

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Do khuôn khổ thời gian và dung luợng luận án, nên chúng tôi chỉ xem xét sựxuất hiện của các PLK trong các bài báo KHXH&NV, sự mạch lạc trong quan hệ nộichiếu bên trong VB (gồm mã tín hiệu ngôn ngữ, cấu trúc lập luận, kết cấu thể loạiVB) Các yếu tố khác liên quan đến mạch lạc bên ngoài VB (bao gồm: ngữ cảnh, kiếnthức nền, nguời viết/ nguời đọc) hy vọng sẽ đuợc đề cập chi tiết hơn trong nhữngnghiên cứu tiếp theo

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích của luận án là tìm hiểu và chỉ ra các đặc điểm liên kết và mạchlạc xuất hiện phổ biến trong các bài báo KHXH&NV Qua đó, khẳng định vai tròquan trọng của liên kết và mạch lạc trong thể loại VB này Từ kết quả nghiên cứunày, LA hy vọng có thể đua ra một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất luợngcác bài báo khoa học huớng tới đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của bài báo chuẩnquốc gia và quốc tế

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Một là, tìm hiểu và khái quát những vấn đề lý thuyết về VB, liên kết vàmạch lạc trong VB, cấu trúc của một bài báo khoa học

- Hai là, khảo sát, thống kê, phân loại và xác định những PLK cơ bản đuợc

sử dụng để tạo tính logic trong các bài báo KHXH&NV

- Ba là, khảo sát, thống kê và xác định những biểu hiện đặc trung thể hiện sựmạch lạc trong các bài báo KHXH&NV

4 Câu hỏi và Giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Những PLK nào đuợc dùng phổ biến trong các bài báo KHXH&NV? Việc

sử dụng các phuơng tiện liên kết trong VB khoa học có những đặc thù gì?

- Đ ặc trung mạch lạc trong các văn bản KHXHNV là gì?

- Những đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB khoa học đuợc xuất hiệnđộc lập hay có sự ảnh huởng với nhau?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Liên kết và mạch lạc là hai đặc điểm bắt buộc trong VB khoa học nhằmthể hiện các suy luận của tu duy logic, đó không chỉ thể hiện là liên kết hình thức

mà còn góp phần quan trọng đem lại sự tuờng minh ngữ nghĩa nội dung cho VBkhoa học

- c ác bài báo KHXH&NV có cấu trúc riêng và cách thức tổ chức thể hiện

sự kết nối chặt chẽ, mạch lạc và thống nhất cao giữa các phần trong bài báo (tiêu

đề, tóm tắt, đặt vấn đề, phuơng pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, thảo luận,kết luận)

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài cách tiếp cận định tính và định luợng với các thủ pháp đuợc sử dụng

là miêu tả, quy nạp, thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp, so sánh - cải biến,luận án sử dụng hai phuơng pháp nghiên cứu cơ bản là:

- Phuơng pháp phân tích VB: Phuơng pháp này đuợc sử dụng để tìm hiểu,miêu tả, phân tích giá trị ngữ nghĩa của các PLK, những biểu hiện mạch lạc xuất

Trang 9

- hiện đặc trưng và đặc điểm cấu tạo cùng nội dung ngữ nghĩa của các

phần trong các bài báo KHXH&NV

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Dựa trên lý thuyết ngữ vực (register) củaM.A.K Halliday về trường (field), thức (mode) và không khí (tenor) để tìm hiểu vàgiải thích đề tài - chủ đề, phương thức diễn ngôn (viết), chức năng các bài báo khoahọc, mục đích giao tiếp đã chi phối ra sao tới cách lựa chọn các PLK và cách tạo sựmạch lạc trong các bài báo KHXH&NV Đ ồng thời, xem xét phân tích cấu trúc diễnngôn (các đơn vị ngôn ngữ tạo nên bài báo KHXH&NV và các qui luật chi phối tớiviệc tổ chức những đơn vị ngôn ngữ đó)

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy các đặc điểmliên kết (các phép liên kết, các phương tiện liên kết đặc thù) và đặc điểm mạch lạcnổi bật (trong quan hệ đề tài - chủ đề; quan hệ lập luận; quan hệ giữa các câu, đoạn,cấu trúc toàn VB) trong các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học -ĐHQGHN Trong quá trình tạo lập và phân tích các bài báo KHXH&NV cần lưu ýđến cấu trúc hình thức, tính hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện liên kết đểtạo giá trị mạch lạc cho VB Ngoài ra, kết quả của luận án cùng những đề xuất cóthể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và giảngdạy ngôn ngữ trong nhà trường

7 c ấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Đ ặc điểm liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân vănChương 3: Đ ặc điểm mạch lạc trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 10

c HƯƠN G 1 TỔN G QUAN TÌNH HÌNH N GHIÊN c ỨU

VÀ c Ơ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết và mạch lạc

1.1.1.1 Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong văn bản trên thế giới

(i) Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc

Các công trình nghiên cứu về VB ngay từ giai đoạn đầu tiên (những năm

1950 của thế kỷ XX) đã có sự xuất hiện của thuật ngữ liên kết (các phương tiện liênkết hình thức) Và theo Moskalskaja, tính liên kết trong VB được thể hiện dưới

dạng tính hoàn chỉnh về cấu trúc, nghĩa và giao tiếp do đó “những yếu tố này tương ứng với nhau như hình thức, nội dung và chức năng” [66, tr.27].

Hai tác giả Halliday và Hasan trong công trình “Liên kết trong tiếng Anh"

(1976) [112] đã xây dựng hệ thống các PLK trong tiếng Anh, đồng thời khẳng định

ý nghĩa của các mệnh đề, các phát ngôn, đoạn văn sẽ trở nên rõ ràng hơn nhờ việc

sử dụng các phương tiện liên kết Bên cạnh đó, hai tác giả đã quan niệm “một văn bản là một đoạn ngôn ngữ có mạch lạc ở hai mặt: nó mạch lạc đối với ngữ cảnh và

vì vậy mà nó nhất quán trong trường ngữ vực (register) và nó mạch lạc với bản thân nó, vì thế mà nó có tính liên kếf [112, tr.23].

Năm 1977, tác giả Van Dijk đã đề cập đến liên kết, mạch lạc ngữ nghĩa vàlưu ý, sự liên kết về hình thức không đủ để tạo ra sự mạch lạc cho VB, phải dựa trên

cả mặt ngữ nghĩa, sự liên kết chủ đề trong cả đoạn văn, VB cụ thể [130, tr.93]

De Beaugrande và Dressler (1981) đã quan niệm, liên kết và mạch lạc là haiđặc điểm của VB cùng với năm đặc điểm khác là: tính chủ đích, chấp nhận, thôngtin, ngữ cảnh và tương tác [104, tr.3] Ngoài ra, vai trò của liên kết cũng được tác

giả I.Galperin nhấn mạnh là “một phạm trù không thể tách rời của văn bản, chính

sự liên kết làm cho thông tin nội dung sự việc được lý giải nhất quán” [31, tr.249].

Và theo tác giả, các phương tiện thể hiện mạch lạc trong VB, ngoài những phươngtiện ngữ pháp truyền thống (liên kết giữa các câu) còn gồm các phương tiện logic,

Trang 11

liên tưởng (thời gian, không gian, nhân - quả), hình tượng, bố cục - kết

và tiết tấu - cấu tạo [31, tr.157]

Năm 1983, Brown và Yule trong tác phẩm “Phân tích diễn ngôn” cũng đã

khẳng định, liên kết và mạch lạc đóng vai trò quan trọng trong các văn bản/ diễnngôn [8] Đ ồng thời, hai tác giả đồng ý với quan điểm của Halliday và Hasan về cácPLK và đồng ý với quan điểm của De Beaugrande và Dressler về sự mạch lạc khicho rằng, yếu tố mạch lạc phụ thuộc vào khả năng của người nghe/ người đọc đểgiải thích ý định của người nói/ người viết trong việc hiểu nội dung thông tin của

VB [8, tr.348] Tiếp theo, David Nunan (1993) cũng nhất trí với các PLK doHalliday và Hasan đề xuất và quan niệm, mạch lạc là việc người đọc/người nghe sửdụng kiến thức ngôn ngữ của họ để hiểu VB và liên hệ với thế giới bên ngoài [71]

Cụ thể hơn, Martin (2001) đã khẳng định, liên kết là một thuộc tính góp phần vàoviệc tổ chức cấu trúc của diễn ngôn [118]

Nhìn chung, có thể thấy liên kết và mạch lạc đã được các nhà nghiên cứungôn ngữ thống nhất rằng, liên kết là việc sử dụng các phương tiện liên kết hìnhthức, mạch lạc là sự nối kết về mặt ngữ nghĩa giữa các câu, các thành phần trong

VB và phù hợp với tình huống ngoài VB

Quan điểm về liên kết của Halliday và Hasan đã được nhiều nhà nghiên cứungôn ngữ ứng dụng trong các công trình của họ Vì thế, liên kết và mạch lạc đãđược đề cập đến trong nhiều ngôn ngữ khác nhau [131], trong các nghiên cứu vềngôn ngữ học máy tính, ngôn ngữ học khối liệu của các VB khoa học kỹ thuật[125] Bên cạnh đó, tầm quan trọng của liên kết, mạch lạc đã được khẳng định vàđược nhiều tác giả đề cập trong các loại VB khác nhau [118, 127, 138] Nhiều côngtrình khác đã phân tích các ngữ liệu và chỉ ra, sự liên kết thay đổi theo phương thứcdiễn ngôn (nói hay viết) [110, 129] và theo thể loại [128] Ngoài ra, nghiên cứu vềliên kết và mạch lạc là cần thiết để cung cấp những thông tin hữu ích cho ngôn ngữhọc ứng dụng, nghiên cứu dịch thuật [119] Đ ặc biệt là, trong giảng dạy ngôn ngữ[138, tr.16], trong các tài liệu hướng dẫn người học cách sử dụng và tạo lập một VBhoàn chỉnh, thống nhất, đảm bảo tính liên kết và mạch lạc [108, 111, 122]

Trang 12

(ii) Mối quan hệ của liên kết và mạch lạc

c ác nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều đồng ý có sự xuất hiện của yếu tố liên kết

và mạch lạc trong VB, tuy nhiên quan điểm về mối quan hệ của hai thuật ngữ này

có sự khác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng, liên kết và mạch lạc là hai hiện tượng riêngbiệt Một VB có thể có mạch lạc mà không cần sự xuất hiện của các PLK Liên kếtkhông liên quan đến mạch lạc (hai khái niệm này độc lập) Mạch lạc quyết địnhmột chuỗi câu là VB và không cần sử dụng các PLK Đ ó là quan điểm của các tácgiả: Enkvist (1978), Widdowson (1978), Ellis (1992), Hellman (1995), Sanford &Moxey (1995) (theo Tanskanen [129, tr.16]) chi tiết hơn, theo ý kiến của hai tácgiả De Beaugrande và Dressler, liên kết và mạch lạc đại diện cho bảy tiêu chuẩncủa tính VB (textuality) Đồng thời, đó là hai hiện tượng riêng biệt rõ ràng, khôngảnh hưởng đến nhau [104, tr.3] Tác giả Roger T Bell (1991) cũng quan niệm, liênkết và mạch lạc là hai thuộc tính không thể thiếu của VB nhưng chúng có sự phânbiệt nhau [105, tr.163] Tác giả I.Galperin cũng phân biệt mạch lạc và liên kết,nhưng cho rằng chúng qui định lẫn nhau [31, tr.250] John Lyons đã nhấn mạnhhơn, tính liên kết phân biệt với tính mạch lạc, là sự phân biệt giữa hình thức và nộidung [63, tr.274]

Quan điểm thứ hai đề cao vai trò của liên kết và liên kết góp phần tạo ra sựmạch lạc trong các VB ó là quan niệm của các tác giả: Hoey (1991), Parsons(1991), Hoover (1997), Martin (1992), Thompson (1994), Dahl năm 2000 (theoTanskanen [129, tr.20]) Tác giả Péter B Furkó (2013) cũng cho rằng, dù liên kếtchỉ đóng vai trò là yếu tố nhỏ trong diễn ngôn/ văn bản, nhưng nghiên cứu về chúng

có tầm quan trọng lớn nhất, bởi chúng đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra cácmối quan hệ mạch lạc và ý nghĩa VB [134, tr 103]

Quan điểm thứ ba cho rằng, liên kết và mạch lạc có sự hòa quyện vào nhau

Đ ó là ý kiến của hai tác giả Halliday và Hasan, liên kết có nghĩa là sự mạch lạctrong một VB, trong khi mạch lạc là sự mạch lạc của VB với ngữ cảnh tình huốngbên ngoài VB [112, tr.23] Họ khẳng định “texture” (được hiểu là tính kết cấu, chất

Trang 13

VB hay mạng mạch) chính là thuộc tính để một chuỗi câu đuợc gọi là VB[112,

tr.2] Đồng ý với quan niệm này, Wales đã cho rằng: “mạch lạc là liên kết ngữ

nghĩa (semantic cohesion) còn liên kết là mạch lạc văn bản (textual coherence)”

[102, tr.603-604] Tác giả Tanskanen (2006) đã khẳng định, có sự hiện diện

Nhìn chung, các nghiên cứu về liên kết, mạch lạc đã xuất hiện trong cả phântích diễn ngôn lẫn ngôn ngữ học VB nhiều thập kỷ qua Đ ồng thời, hai đặc điểmnày đuợc tìm hiểu cả trên bình diện lý thuyết và ứng dụng trong các thể loại VB cụthể thuộc nhiều phong cách (nghệ thuật, hành chính, chính luận) Tuy nhiên, vẫnchua có sự thống nhất trong việc phân biệt hay không phân biệt đặc điểm liên kết,đặc điểm mạch lạc trong VB và chua có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu các đặcđiểm này trong bài báo khoa học

1.1.1.2 Nghiên cứu liên kết và mạch lạc trong văn bản ở Việt Nam

Liên kết và mạch lạc là hai thuộc tính cơ bản của VB và xuất hiện trongnhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong

VB tiếng Việt cả về lý thuyết và ứng dụng đuợc đề cập nhiều, chúng tôi tạm chia ra

Trang 14

4 huớng nghiên cứu chính là: Lý thuyết về liên kết, mạch lạc và hệ thống các phépliên kết; Nghiên cứu liên kết và mạch lạc ứng dụng trong giảng dạy; Nghiên cứu các

Trang 15

phép liên kết hoặc đặc điểm mạch lạc trong một số VB tiếng Việt; Nghiên

sánh liên kết và mạch lạc trong VB tiếng Việt với các VB thuộc ngôn ngữ khác.

(i) Lý thuyết về liên kết, mạch lạc và hệ thống các phép liên kết

Hiện nay, tại Việt Nam cùng xem xét sự liên kết trong VB tiếng Việt dựatrên yếu tố nghĩa, đang tồn tại hai quan điểm về liên kết và do đó có hai hệ thốngcác PLK Quan điểm thứ nhất, coi liên kết VB thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngônngữ và một chuỗi câu là một VB phải có đầy đủ liên kết hình thức và liên kết nộidung [80] Theo quan điểm này, trong VB tiếng Việt có 12 PLK hình thức (trong đóphép lặp gồm ba kiểu: lặp ngữ âm, cú pháp và từ vựng) [81, tr.25] Quan điểm thứhai, tách liên kết ngữ nghĩa khỏi liên kết hình thức (liên kết ngữ nghĩa thuộc về kháiniệm mạch lạc) Và liên kết không thuộc cấu trúc, điều làm cho chuỗi câu trở thành

VB, là yếu tố mạch lạc Theo quan điểm thứ hai này, hệ thống liên kết trong VBtiếng Việt gồm bốn PLK là: phép quy chiếu, phép nối, phép thế và phép tỉnh luợc,phép liên kết từ vựng [5, tr.351]

Quan điểm thứ nhất về liên kết đã đuợc tác giả Trần Ngọc Thêm đề cập

trong công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việf (1985) và mạch lạc đuợc tác

giả quan niệm là sự liên kết nội dung trong VB [81] ây là đóng góp rất lớn của tácgiả cho lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp VB tiếng Việt Quan điểm này cũng nhận

đuợc sự nhất trí của nhiều nhà nghiên cứu Tác giả Đ ỗ Hữu Châu đã cho rằng “liên kết nội dung trong văn bản còn gọi là mạch lạc” và ông đã đề cập đến tính mạch lạc

của VB trong nhiều công trình nghiên cứu [12, 13] Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh(1999) đã nghiên cứu về đặc điểm liên kết của lời nói tiếng Việt, đồng thời dựa trênphuơng diện ngữ kết, ngữ nghĩa học và ngữ dụng - ngữ nghĩa học để phân chia cácphuơng thức, phuơng tiện đuợc sử dụng Và tác giả cho rằng, ngoài việc sử dụng 12PLK giống nhu liên kết VB, liên kết lời nói còn có thêm 4 phép đặc thù (tiền giảđịnh, hàm ý, cử chỉ và tình huống) thành 16 PLK [76, tr.125]

Quan điểm thứ hai về liên kết đuợc tác giả Diệp Quang Ban đề cập đến trong

công trình “Văn bản và liên kết trong tiếng Việf (1998) và theo ông, mạch lạc trong

VB gồm 3 đặc điểm là: triển khai mệnh đề, chức năng, theo nguyên tắc cộng tác [3]

Trang 16

Trong công trình nghiên cứu năm 2009, tác giả đã bổ sung thêm, mạch

phuơng tiện liên kết gọi là liên kết, những mối quan hệ đuợc kết nối do ngữnghĩa

giữa các câu gọi là mạch lạc Các PLK nhu vậy, đuợc sử dụng để hiển ngôn hóamạch lạc

Đ ồng thời, mạch lạc trong VB đã nhận đuợc sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu ngôn ngữ Tác giả Nguyễn Thị Thìn quan niệm, mạch lạc là logic của sựtrình bày, kết quả chiến luợc giao tiếp của nguời tạo lập VB, lựa chọn thể loại và ápdụng các qui tắc giao tiếp, đặc điểm phong cách, để sắp xếp và trình bày nội dung

VB [83, tr.46] Tuy quan niệm này chua bao quát hết các dấu hiệu của mạch lạc nhutác giả Diệp Quang Ban đã đề cập, nhung kết quả nghiên cứu về đặc điểm mạch lạctrong VB viết là những gợi ý quý báu để tìm hiểu về đặc điểm liên kết và mạch lạc

trong một thể loại VB nhất định Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã phát biểu “một diễn ngôn hoặc một văn bản gồm các câu có quan hệ nghĩa với nhau, cùng hướng vào một chủ đề nhất định là một diễn ngôn hoặc một văn bản có mạch lạc” [36,

tr.253] Ngoài ra, vai trò quan trọng của mạch lạc khi tạo lập VB (chú ý đến nhữngcăn cứ ngoài ngôn ngữ nhu: ngữ cảnh, nguời nghe, nguời viết, ngữ dụng, cấu trúcthông tin, diễn ngôn) đã đuợc ông tiếp tục đề cập đến trong nhiều công trình nghiên

cứu khác [33, 34, 35] Theo ý kiến của tác giả Nguyễn Hòa (2003) “mạch lạc được tạo ra bởi không chỉ trên căn cứ ngôn ngữ mà còn trên cả những căn cứ ngoài ngôn ngữ” [51, tr.51] Những yếu tố ngoài ngôn ngữ gồm: nguời viết, nguời đọc, ngữ

cảnh, tính quan yếu, thông tin nền Đ ây cũng là những phát hiện hữu ích của tác giả

về mạch lạc trong diễn ngôn (một quá trình giao tiếp tuơng tác và có ngoại diênrộng hơn VB)

Cụ thể hơn, vai trò của đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB đuợc tác giảĐinh Văn Đức nhấn mạnh, cùng với liên kết, mạch lạc là tất yếu cho mọi diễn ngôn

Trang 17

[29, tr.501] Và đó là hai phương thức lớn cùng nhau tạo ra VB là liên kết

Ngoài ra, còn nhiều sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu đã đề cập đến

hệ thống liên kết trong VB tiếng Việt [1, 7, 9, 11]

Như vậy, việc nghiên cứu về liên kết, mạch lạc và hệ thống các PLK trongtiếng Việt được rất nhiều người quan tâm và chú ý Điều đó, chứng tỏ tầm quantrọng của vấn đề này và cần được tiếp tục khảo sát kỹ lưỡng trong giai đoạn tới

(ii) Nghiên cứu liên kết và mạch lạc ứng dụng trong giảng dạy

Bắt đầu từ những năm 1980 của thế kỷ XX cho tới nay, liên kết và mạch lạc

đã nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả như: Đỗ Hữu Châu, Hoàng Phê,Nguyễn Đức Dân, Lê Đ ông, C ao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp,Nguyễn Hòa cùng nhiều nhà nghiên cứu khác

Vấn đề cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên cách tạo lập VB đảm bảo tínhliên kết chặt chẽ cũng được đề cập trong hầu hết các sách giáo khoa, giáo trình vềNgữ pháp tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành của nhiều tác giả [1, 7, 54, 89, 92]

Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng, liên kết là điều kiện để chuỗi câu trởthành VB [64, tr.162] Đặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh, trong một VB có thể thiếumột trong hai phương diện của liên kết nội dung, nhưng chắc chắn không thể thiếuliên kết hình thức Vì mọi sự liên kết nội dung đều phải thông qua liên kết hìnhthức, nên nếu không có phương tiện liên kết thể hiện thì mọi giá trị nội dung sẽkhông được hiện thực hóa Tuy chưa đề cập đến những trường hợp không xuất hiệnliên kết hình thức (trong hội thoại, trong VB nghệ thuật) và có mạch lạc, nhưngnhận định này của tác giả sẽ phù hợp với những VB đòi hỏi tính chính xác cao như

VB hành chính, VB khoa học

Theo tác giả Nguyễn hí Hòa, các câu trong VB được liên kết với nhau đểphát triển ngữ nghĩa, ngữ pháp và quan hệ giữa các câu (thể thống nhất trên câu)chủ yếu được thể hiện bằng quan hệ cấu trúc của các câu, gồm một số quan hệ là:

Trang 18

cấu trúc chủ đề, cấu trúc tình huống, cấu trúc hỏi đáp và hai quan hệ cơ

xích và song hành [48]

Trong cuốn “Rèn luyện kỹ năng đọc và soạn thảo văn bản” (2010), tác giả Nguyễn Chí Hòa đã nhấn mạnh: “Các câu được liên kết với nhau trong khổ văn xuôi nhờ quan hệ móc xích, song song hoặc bằng sự kết hợp của hai loại quan hệ này Các phương tiện phản ánh những quan hệ này không chỉ là quan hệ một chiều

mà đồng thời theo nhiều chiều Các quan hệ này bổ sung cho nhau tạo thành mạng quan hệ dày đặc, đan cài vào nhau” [49] C ác quan hệ này không đơn giản để tạo

sự liên kết giữa các câu mà còn tạo ra sự gắn kết về ngữ nghĩa trong VB Và cáccâu, các đoạn trong một VB có mối quan hệ về mặt ngữ nghĩa với nhau để phản ánh

sự chuyển động, sự phát triển của chủ đề

Công trình “Nhập môn ngôn ngữ học”” của các tác giả Mai Ngọc Chừ,

Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đ ỗ Việt Hùng và Bùi Minh Toán không chỉ rõ các PLKtrong VB, nhung nội dung trong cuốn sách đề cập đến các phuơng tiện và biện pháp

tu từ VB [16] Đ ó là việc có thể sắp xếp các đoạn theo những quan hệ nhất định, lặplại các phần trong VB để tạo các vị trí mạnh hoặc sử dụng tựa đề, chú thích để củng

cố quan hệ liên VB Đây cũng là những gợi ý quí báu của các tác giả về một giá trịkhác trong việc sử dụng các phuơng tiện liên kết, nhằm đem lại tính hiệu quả, tínhthông báo tốt nhất cho VB

Tác giả Nguyễn Văn Hiệp với tác phẩm “Cú pháp tiếng Việt”” (2009) đã luu

ý, việc tìm hiểu câu phải gắn với ngữ cảnh giao tiếp, để xem xét cấu trúc, ngữ nghĩa

và chức năng của câu Bởi vì, câu luôn luôn tồn tại trong mạng luới quan hệ với cáccâu khác và tuơng thích với ngữ cảnh, nên trong câu xuất hiện một số yếu tố đuợctác giả gọi là chỉ tố liên kết VB Khác với quan niệm của Halliday, khi phân loại cácPLK văn bản đều dựa trên cơ sở phần đề của câu (đề VB, đề liên nhân và đề kinhnghiệm), tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng, yếu tố tham gia tạo liên kết cho VBbao gồm tất cả các thành phần trong câu và đặc biệt tinh tế ở những vị từ tình tháitính, tiểu từ tình thái cuối câu, những phó từ chỉ thời, thể [47, tr.382] Đ ây là mộtphát hiện mới và lý thú của tác giả Tuy nhiên, vì chú trọng phần nghiên cứu cú

Trang 19

pháp chứ không phải phân tích VB nên tác giả chỉ dừng lại ở việc khảo

Tóm lại, để tạo nên tính hoàn chỉnh cho VB cần có sự liên kết chặt chẽ và có

sự mạch lạc của các đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn, như câu với câu trong đoạn văn vàđoạn văn với đoạn văn trong VB (phát ngôn với phát ngôn hay giữa các hành vi lờinói, các hiệu lực ở lời trong hội thoại) Nghiên cứu tìm hiểu cách thức liên kết, cácmối quan hệ và phương tiện liên kết giữa chúng cũng là đề tài nhận được nhiều sựquan tâm của các nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ khảo sát ngữliệu là VB nghệ thuật, báo chí, hành chính, chính luận, việc tìm hiểu đặc điểm liên kết

và mạch lạc trong các VB khoa học vẫn chưa được công trình nào đề cập đến

Nhìn chung, liên kết và mạch lạc trong VB tiếng Việt đã nhận được sự chú ýcủa nhiều nhà ngôn ngữ học nên được nghiên cứu trên nhiều góc độ (kết học, nghĩa học

và dụng học) Đồng thời, các nghiên cứu đã chú trọng hướng tới miêu tả, phân tích giátrị của các PLK và yêu cầu đảm bảo tính mạch lạc, để rèn luyện kỹ năng soạn thảo vàphân tích VB cho học sinh, sinh viên Việt Nam và sinh viên nước ngoài

(iii) Nghiên cứu các phép liên kết hoặc đặc điểm mạch lạc trong một số văn bản tiếng Việt

Đ ể đảm bảo tính liên kết, tính mạch lạc cho VB cần thiết phải sử dụng cácphương tiện liên kết, vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu khảo sát về tần số,giá trị nội dung sử dụng của một PLK cụ thể (phép tỉnh lược, phép qui chiếu, phép

Trang 20

nối, phép lặp, phép liên kết từ vựng) trong các VB thuộc phong cách nghệ thuật,báo chí và chính luận.

Trang 21

Phép liên kết tỉnh lược được tác giả Phạm Văn Tình đề cập trong công trình

“Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản liên kết tiếng Việt” [91].

Kết quả nghiên cứu công phu, tỉ mỉ và có giá trị cao khi chỉ ra sự có mặt của PLKnày trong hầu hết các phạm vi giao tiếp và đã góp phần làm tăng tính liên kết chocác phát ngôn, đồng thời làm rõ nghĩa hơn cho các phát ngôn đó theo mục đíchthông báo của người tạo lập Tuy nhiên, chưa có ngữ liệu khảo sát các VB khoa họctrong công trình nghiên cứu này

Đ ặc điểm của phép nối và quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn trong VB nghệthuật và chính luận được Lương Đ ình Khánh (2006) tìm hiểu [65] Phép tỉnh lượcđược Hồ Mỹ Huyền (2007) nghiên cứu dựa trên ngữ liệu là VB khẩu ngữ và đã chỉ

ra hiệu quả liên kết chịu sự ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa, xã hội tác động tớicác tình huống sử dụng của PLK này [56] Phép qui chiếu và phép lặp từ vựng được

tác giả Nguyễn Thị Hà (2010) xem xét trong VB hành chính qua nghiên cứu “Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn” [38].

Và đặc điểm liên kết, biểu hiện của mạch lạc đã được tác giả Nguyễn Thị

Hường nghiên cứu gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ trong công trình “Biểu hiện của mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ trình thuộc văn bản hành chính - công vụ ”

[57] Nhiều luận án đã xem xét đặc điểm liên kết của các đơn vị ngôn ngữ trong quátrình sử dụng, ví dụ xem xét đặc điểm liên kết của cặp thoại trong hội thoại, trong

lập luận Phạm Văn Thấu (2000) với “Cấu trúc liên kết của cặp thoại, trên ngữ liệu tiếng Việt” đã cho rằng, liên kết hội thoại là sự liên kết của các hành vi (sự liên kết

của các hiệu lực ở lời) gồm liên kết hướng nội và liên kết hướng ngoại [79] Mai

Xuân Huy (2005) trong công trình “Ngôn ngữ quảng cáo dưới ánh sáng của lý thuyết giao nếp" đã kết luận, sự xuất hiện của hội thoại quảng cáo gồm một cuộc

hội thoại hồi chỉ và đa phần là một số cặp thoại liên kết với nhau [55] Nguyễn Thị

Hồng Ngân (2012) cùng “Cặp thoại trong hội thoại dạy học” đã chỉ ra 8 mô hình

liên kết của tổ chức bước thoại trong hội thoại dạy học trong liên kết hướng nội.Liên kết hướng ngoại là liên kết của các cặp thoại, bằng các mối quan hệ là: liên kết

Trang 22

đối xứng, liên kết lồng và liên kết phẳng [69] Tuy nhiên, chưa có ngữ

là VB khoa học trong các công trình nghiên cứu này

Bên cạnh đó, đề tài về liên kết, mạch lạc trong VB còn nhận được sự quantâm của hơn 60 đề tài luận văn cao học và hơn 50 bài báo của nhiều tác giả từ năm

1985 đến nay, đã khảo sát nghiên cứu về hiệu quả của việc sử dụng PLK trong các

VB tiếng Việt (chiếm 90% là trong các VB nghệ thuật) [18, 21, 23, 41, 44, 46, 58,

61, 62] Đ iều này đã cho thấy sức hấp dẫn của vấn đề liên kết, mạch lạc trong VB

Ngoài ra, không chỉ bốn PLK của Halliday được tìm hiểu trong các VB tiếngViệt (chủ yếu là trong VB nghệ thuật và báo chí), một số phương tiện liên kết kháccũng được quan tâm xem xét gồm: thay đổi trật tự các vế trong câu ghép để tạo giátrị thông báo và liên kết cho VB [40]; phương thức biểu thị quan hệ nghĩa giữa cáccâu [77]; liên kết và liên kết phi hình thức trong VB [88]

Như vậy, song song với nghiên cứu về liên kết là nghiên cứu sự mạch lạctrong VB Liên kết là phương tiện để góp phần tạo nên sự mạch lạc cho VB c ác thểloại VB thuộc phong cách nghệ thuật, hành chính và báo chí được nghiên cứu tìmhiểu, nhưng ngữ liệu là các VB khoa học, cụ thể là bài báo khoa học thì chưa cócông trình nào đề cập đến

(iv) Nghiên cứu so sánh liên kết và mạch lạc trong văn bản tiếng Việt với các văn bản thuộc ngôn ngữ khác

Việc nghiên cứu so sánh, đối chiếu tình hình sử dụng các PLK trong VBtiếng Việt với các ngôn ngữ khác đã góp phần làm sáng rõ những điểm tương đồng

và khác biệt của hai ngôn ngữ, để sử dụng và tạo lập các loại VB đạt hiệu quả hơn

c ó nhiều công trình đề cập đến lĩnh vực này là: “Phép thế trong tiếng Anh (trong sự liên hệ với tiếng Việt) của Hồ Ngọc Trung [93]; “Phương tiện liên kết phát ngôn đối chiếu Ngữ liệu Anh - Việt” của Phan Văn Hòa [53]; “Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt (có so sánh đối chiếu với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch Anh

- Việt) ” của Lê Hùng Tiến [90]; “Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị xã hội (trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Hòa [50]; “So sánh phương thức nối trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh” của Bùi Văn Năm [67];

Trang 23

“Mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt’ của Nguyễn Hương Giang [32].

Tác giả Nguyễn Phú Thọ đã so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng vàkhác biệt trong việc sử dụng các biện pháp liên kết từ vựng trong VB tiếng Anh vàtiếng Việt Kết quả cho thấy, cả hai ngôn ngữ đều sử dụng các PLK từ vựng như tácgiả Halliday đã liệt kê nhưng do khác nhau về đặc điểm loại hình ngôn ngữ nên có

sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và mức độ cũng nhưhiệu quả của việc sử dụng các PLK từ vựng [84]

Tác giả Lê Tấn Thi đã nghiên cứu về “Ngữ trực thuộc nối trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh” và chỉ ra, cấu trúc ngữ trực thuộc nối trong tiếng Anh và

tiếng Việt giống nhau Bởi vì, trên bình diện ngữ pháp VB nói chung, liên kết VBnói riêng, tất cả các PLK áp dụng cho ngữ trực thuộc nối trong tiếng Việt đều có thểtìm thấy trong tiếng Anh và ngược lại Nhưng do sự khác nhau về đặc điểm loạihình ngôn ngữ nên có sự khác nhau về cấu trúc sử dụng của ngữ trực thuộc nốitrong VB [82]

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu và so sánh về việc sử dụng các PLK trong

VB tiếng Việt với tiếng Anh (hoặc các ngôn ngữ khác) đã nêu ra được những néttương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ Điều này rất hữu ích trong việc họctiếng Anh, giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và dịch thuật các loại VB.Tuy nhiên, chưa có công trình nào khảo sát và so sánh việc sử dụng của các PLKtrong một loại VB cụ thể của cả hai ngôn ngữ Do đó, điều này cần được tiếp tụcthực hiện nghiên cứu trong giai đoạn tới

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong các VB cụ thể

đã đem lại nhiều giá trị về lý thuyết cho ngữ pháp tiếng Việt và có tính ứng dụngcao Quan niệm về liên kết của Halliday được nhiều nhà nghiên cứu trong nướcquan tâm và ứng dụng trong việc phân tích các VB nghệ thuật, báo chí, chính luậnnhưng vẫn chưa bao quát hết các loại VB Các nghiên cứu chủ yếu xem xét sự liênkết giữa câu với câu, còn thiếu sự tìm hiểu về liên kết giữa đoạn văn với đoạn vănhay giữa các phần (đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết thúc vấn đề) trong VB Bên

Trang 24

cạnh đó, mới chỉ một PLK được khảo sát và đối chiếu giữa ngôn ngữ tiếngAnh

(hay ngôn ngữ khác) với tiếng Việt mà chưa có nghiên cứu nào đề cập đến tấtcả

các đặc điểm liên kết và mạch lạc trong một thể loại VB cụ thể của phong cáchkhoa học (PCKH)

1.1.2 Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới và Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới

Ngay từ những năm 1960 - 1970, khi nghiên cứu về các đối tượng lớn hơncâu được gọi là “thể thống nhất trên câu”, “đoạn văn”, “văn bản” và bàn luận vềphương hướng giao tiếp của VB, đã xuất hiện sự ra đời của bộ môn “phong cáchhọc văn bản” [28, tr.82] Vai trò quan trọng của VB khoa học đã được nhiều tác giả

đề cập đến nhưng bên cạnh đó là những khó khăn trong quá trình tạo lập và tiếpnhận các VB khoa học Halliday và Martin (1993) cùng nhiều tác giả khác nhưPeacock (1995), Rosenthal (1996), O'Toole (1997) đã đề cập đến vai trò quan trọngcủa ngôn ngữ khoa học và những khó khăn trong quá trình tiếp cận đối với người sửdụng tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ và với người học ngoại ngữ tiếng Anh trong cả 4 cấpđộ: từ, câu, đoạn văn và toàn bộ VB khoa học (theo Monipha Gardner [120, tr.14])

Tác giả A.L Pumpyanski cũng từng khẳng định tầm quan trọng của VB khoahọc khi cho rằng phạm vi sử dụng của ngôn ngữ khoa học và phong cách chức năngcủa nó được mở rộng tỉ lệ với nhịp độ tăng trưởng của tiến bộ khoa học - kĩ thuật

Và “việc mô tả các hệ thống ngôn ngữ hiện đại không còn có ý nghĩa nếu không tính đến ngôn ngữ khoa học và vai trò của nó trong cuộc sống xã hội hiện đại” do

vậy, cần quan tâm xem xét đến những chỉ báo ngôn ngữ đặc trưng nhất của thời đạiphát triển loài người hiện nay, đó chính là ngôn ngữ khoa học và phong cách chứcnăng trong VB khoa học (theo Đ ào Hồng Thu [85, tr.12])

Cụ thể hơn, đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm liên kết của thể loại bài báo khoahọc đã được một số tác giả tìm hiểu: Bhatia (1993) [106], Ashby (2005) [101],Shahrokhi (2013) [124] Cấu trúc bài báo khoa học được xem xét theo cấu trúcIMRD hay IMRaD (giới thiệu, phương pháp, kết quả và thảo luận), trong các

Trang 25

nghiên cứu của Robert Day (1998) [109], Murray (2005) [121] Tác giả

trúc IMRaD đã phổ biến hơn [135]

Tiếp theo, từng yếu tố trong một bài báo khoa học cũng đuợc quan tâm, tìmhiểu [108, 136] Ví dụ, phần giới thiệu trong một bài báo khoa học, theo ý kiến củaSwales (1990), có cấu trúc thuờng gồm ba phân đoạn là: thiết lập một lãnh thổ(Establishing a territory), tạo một khoảng trống (Establishing a niche) và lấp khoảngtrống đó (Occupying the niche) [126]

Mohsen Shahrokhi và một số tác giả khác (2013) đã so sánh cách sử dụngPLK từ vựng trong các bài báo khoa học tự nhiên và khoa học xã hội [124] Kếtquả nghiên cứu trong công trình này góp phần khẳng định rõ hơn nhận định củaHoey (1991) về việc liên kết từ vựng đuợc sử dụng phổ biến trong tất cả các thểloại VB Tuy nhiên, kết quả phát hiện này cần đuợc tiếp tục khảo sát chi tiết hơn

về giá trị của PLK từ vựng trong việc tạo sự thống nhất và hoàn chỉnh cho VB

Năm 2002, các tác giả Alan Gross, Joseph Harmon và Michael Reidy đã xuất

bản cuốn sách mang tên "Communicating Science: the Scientific Article from the 17th Century to the Present" Kết quả của công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ sự

thay đổi, phát triển của các bài báo khoa học bằng tiếng Anh, Đức và Pháp qua cácđặc điểm về phong cách học, cách lập luận và cách thức trình bày VB Đồng thời,

xu huớng phát triển cho thấy, cuối thế kỷ 20 các bài báo khoa học đã ổn định vềhình thức trình bày và giúp cho độc giả có thể tìm kiếm nhanh chóng, hiệu quảnhững thông tin cần thiết c ác tác giả đã đề cập đến hai hình thức của một bài báokhoa học hiện đại, hình thức thứ nhất là: Thử nghiệm, phuơng pháp hoặc quan sát

Trang 26

(gồm các yếu tố: tóm tắt, giới thiệu, phuơng pháp, kết quả, thảo luận, kết luận, lờicảm ơn và tài liệu tham khảo) và hình thức thứ hai là: Lý thuyết (gồm các yếu tố:tóm tắt, giới thiệu, định lý, chứng minh định lý, kết luận, lời cảm ơn và tài liệu thamkhảo) [100].

Trang 27

Liên quan đến phương pháp nghiên cứu trong VB khoa học, tác giả AdrianHolliday (2007) đã nhận xét, phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng phổ biếntrong các nghiên cứu về khoa học xã hội tuy nhiên trong các nghiên cứu định tính sẽluôn luôn có yếu tố định lượng và ngược lại trong các nghiên cứu định lượng cũng cóyếu tố của định tính [115, tr.12] Bên cạnh đó, nhiều tài liệu hữu ích về nghiên cứukhoa học và cách tạo lập các bài báo khoa học đã được xuất bản [107, 108, 111, 137].Nhiều tác giả khác đã khảo sát các bài viết của sinh viên và đề xuất cần chú ý tới yếu tốliên kết, mạch lạc để nâng cao chất lượng các bài viết cho sinh viên [122, 123, 138].

Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng củangôn ngữ khoa học trong trường học nói riêng và trong cuộc sống xã hội nói chung

Đ ồng thời, nhiều tác giả đã tìm hiểu sự phát triển của cấu trúc bài báo khoa học,khảo sát chất lượng các bài viết của người học và sự xuất hiện của một PLK trongbài báo Tuy nhiên, nghiên cứu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các bài báokhoa học trên một tạp chí hoặc một ngành cụ thể thì chưa có công trình nghiên cứunào đề cập đến

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu các văn bản khoa học và bài báo khoa học tại Việt Nam

Vai trò của ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ khoa học nói riêng và việc cầngiữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt từng được chủ tịch Hồ Chí Minh rất quantâm Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng rất lưu tâm tới việc này [42], khi ông

cho rằng “một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi mà càng ngày nó càng

mở rộng và phân biệt các phong cách ngôn ngữ khác nhau (nhưphong cách khoa

học, phong cách chính luận, phong cách hành chính sự vụ, phong cách nghệ thuật)” [68, tr.1132] Nhiều tác giả khác cũng khẳng định tầm quan trọng của

tiếng Việt trên các bình diện khác nhau, từ văn học - nghệ thuật, văn hóa - xã hộiđến khoa học kĩ thuật như: Ngụy Như Kon Tum, Lê Khả Kế, Phạm Đồng Đ iện(theo Đào Hồng Thu [85, tr.12])

Tiếp theo, từ ý kiến của tác giả M N Kozưna về việc “phong cách ngôn ngữ được tạo thành bởi chính hệ thống các phương tiện liên kếf” được sử dụng trong

VB, tác giả ào Hồng Thu đã nghiên cứu và phát hiện, so với các phong cách ngôn

Trang 28

ngữ khác, tính hệ thống được thể hiện rõ nét và nghiêm ngặt nhất trong

về việc cần có những giải pháp để phát triển giáo dục ngôn ngữ khoa học vàtiếng

Việt khoa học trong trường phổ thông, trường đại học

Bên cạnh đó, nhiều tài liệu khác đã đề cập đến phương pháp nghiên cứu khoahọc [6, 94] Tác giả Vũ c ao Đ àm lưu ý, việc soạn thảo một bài báo khoa học (hoặcbáo cáo khoa học) cần đầy đủ các môđun (các yếu tố thành phần trong một bài báo)[24, 25] Đ ây là những tài liệu hữu ích đối với những người làm nghiên cứu khoahọc nói chung và sinh viên trong trường đại học nói riêng

Vai trò quan trọng của VB khoa học tiếp tục được tác giả Võ Lý Hòa (2004)

đề cập đến khi lưu ý việc cần biên soạn ra các tài liệu khoa học thứ cấp có giá trị và

dễ sử dụng đối với người đọc Tác giả đã tìm hiểu các VB tóm tắt và phương pháptóm tắt trên cơ sở dữ liệu là các VB khoa học tiếng Việt [52] c ông trình này đã có

ý nghĩa nhất định trong ứng dụng tóm tắt, tổng thuật các VB khoa học Tuy nhiên,ngữ liệu là các bài báo khoa học chưa được tác giả đề cập đến

Ngoài ra, dựa trên kết quả nghiên cứu của Swales (1990), Weissberg vàBuker (1990) tác giả Nguyễn Phước Vĩnh c ố đã có nhiều bài viết trên trang website

cá nhân về những gợi ý để viết bài báo nghiên cứu khoa học bằng tiếng Anh ây lànhững gợi ý hữu ích cho những người quan tâm tới việc tạo lập các bài báo khoahọc bằng tiếng nh trong quá trình nghiên cứu khoa học, tuy nhiên cần so sánh cácbài báo khoa học trên tạp chí trong nước và nước ngoài để có thể đưa ra nhữngkhuyến nghị cụ thể và chi tiết hơn [98]

Trang 29

Vấn đề nghiên cứu khoa học cũng được tác giả Nguyễn Văn Tuấn đề cập

trong các sách “Đi vào nghiên cứu khoa học” (2011) [94] và “Từ nghiên cứu đến công bố, kỹ năng mềm cho nhà khoa học” (2013) [95] Tuy ngữ liệu được tác giả

đưa ra thuộc lĩnh vực y khoa và sinh học, nhưng kết quả nghiên cứu đó rất có giá trịcho việc soạn thảo các bài báo khoa học để đạt tiêu chuẩn quốc tế thuộc nhiềungành khác nhau và cần được phổ biến rộng rãi hơn

Hơn nữa, nhiều công trình đã nghiên cứu về VB khoa học [19, 20] cách viếtmột bài báo khoa học [6] tìm hiểu về phép liên kết nối và quy chiếu trong VB khoahọc [60], khảo sát các biểu thức cố định như một loại phương tiện liên kết trong VBkhoa học tiếng Anh và so sánh với tiếng Việt [74]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về VB khoa học nói chung và các bàibáo khoa học nói riêng đã nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của ngôn ngữ khoa học

và việc cần sử dụng đúng văn phong của loại hình VB này Đ ó là những kết quảnghiên cứu có giá trị và cần được phổ biến rộng rãi Tuy nhiên, chưa có công trìnhnghiên cứu nào khảo sát các bài báo khoa học trên một tạp chí cụ thể để tìm hiểu vàchỉ ra vai trò quan trọng của tính liên kết và mạch lạc cùng những lưu ý trong quátrình tiếp nhận, tạo lập các VB khoa học nói chung và bài báo khoa học nói riêng

1.1.3 Những vấn đề còn bỏ ngỏ

ác công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và tại Việt Nam đã đề cậpđến PLK, tính mạch lạc, VB khoa học và vai trò quan trọng của ngôn ngữ khoa học.Tuy nhiên, nghiên cứu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các bài báo khoa họctrên một tạp chí hoặc một ngành cụ thể thì chưa có công trình nghiên cứu nào đềcập đến Những vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ là:

Thứ nhất, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu nhưng chưa có sự thốngnhất giữa các nhà nghiên cứu trong quan niệm về các PLK

Thứ hai, chưa có sự thống nhất trong việc phân biệt hay không phân biệt kháiniệm liên kết và mạch lạc

Thứ ba, các bài báo KHXH&NV không phải là một công trình khoa học và

có cấu trúc sắp xếp tùy thuộc từng tác giả, mà đây là một loại VB có những quyđịnh chặt chẽ và khoa học

Trang 30

Những vấn đề trên cần được tìm hiểu để có sự thống nhất khi nghiên cứungôn ngữ Và để giải đáp những vấn đề trên, chúng tôi đã dựa trên những cơ sở lýluận sau để tìm hiểu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB khoa học, qua các bàibáo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ xem xét đặc điểm liên kết trong VB, tìm hiểuđặc điểm liên kết giữa câu với câu, giữa các đoạn văn, giữa các thành phần trong

VB và không đề cập đến hiện tượng liên kết giữa các yếu tố trong một câu Do đó,liên kết trong VB là sự gắn kết và thể hiện các mối quan hệ nghĩa giữa các câu, cácđoạn văn, các yếu tố thành phần để góp phần tạo nên sự hoàn chỉnh cho VB đó

Theo quan niệm của Halliday và Hasan, liên kết câu với câu trong VB đượcthể hiện bằng bốn PLK (phương thức liên kết) là: phép nối, phép quy chiếu, phéptỉnh lược và phép thế, phép liên kết từ vựng [112]

Bảng 1.1: c ác phép liên kết theo quan niệm của Halliday

Phép Quy chiếu Liên kết từ vựng

(Đ ồng nghĩa, quan

hệ bao nghĩa)(Lặp, phối hợp

từ vựng)Trong từ ngữ Phép Tỉnh lược

và phép Thế

Trang 31

c ác tác giả Halliday và Hasan [112, tr.41], Nunan [71, tr.39] đều cho rằng,

có hai cách quy chiếu thể hiện sự liên kết trong VB là quy chiếu hồi chiếu và khứchiếu Hồi chiếu là việc từ câu này huớng nguời đọc tới những gì đuợc đề cập trongcâu truớc đó Khứ chiếu huớng nguời đọc tới phần tiếp theo của VB và kéo nguờiđọc “đi sâu hơn vào văn bản” để nhận dạng các phần tử mà quy chiếu huớng đến

Phép quy chiếu dựa trên các phuơng tiện ngôn ngữ đuợc dùng ở vị trí yếu tố

có nghĩa chua cụ thể đuợc chia thành ba truờng hợp: quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếuchỉ định, quy chiếu so sánh

+ Phép tỉnh lược và phép thế

Phép tỉnh luợc đuợc tác giả Halliday quan niệm “là một sự thay thế bằng zero” [113, tr.142] Phép liên kết tỉnh luợc góp phần vào việc cấu trúc nghĩa của diễn ngôn bằng những quan hệ từ vựng - ngữ pháp “vì nó vừa liên quan đến yếu tố

từ vựng được lược bỏ vừa được phát hiện do vị trí bỏ trống trong cấu trúc cú pháp của câu" [5, tr.105].

Phép thế là cách “sử dụng ở câu này các đại từ thay thế nhu đó, đây, kia v.v thế cho danh từ (cụm danh từ), vậy, thế, đó v.v thế cho động từ (cụm động từ), tính

từ (cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ - vị, hay cú) tuơng ứng có mặt trong câukhác, trên cơ sở đó hai câu đang xét liên kết đuợc với nhau Tất nhiên, các đại từthay thế là những từ có nghĩa không cụ thể và nghĩa cụ thể của chúng có thể tìmđuợc ở những từ, tổ hợp từ mà chúng thay thế” [5, tr.378]

Trang 32

+ Phép liên kết từ vựng

Theo Halliday và Hasan, PLK từ vựng là sự liên kết được thiết lập thông quaviệc sử dụng và lựa chọn những từ ngữ (có tính chất thực từ) có quan hệ với những từngữ trong câu đứng trước nó để tạo sự liên kết giữa hai câu [112, tr.274] Trong côngtrình nghiên cứu của Halliday và Hasan (1991), liên kết từ vựng gồm hai loại: lặp lại(lặp hoàn toàn, đồng nghĩa - gần nghĩa, lặp bao hàm, lặp từ khái quát) và phối hợp từ

vựng [112, tr.288], nhưng trong nghiên cứu về “Ngữ pháp chức năng” (2004),

Halliday chia liên kết từ vựng thành ba loại: lặp - đồng nghĩa, bộ phận chỉnh thể, phốihợp từ vựng [113, tr.570] Tác giả Diệp Quang Ban đã chia PLK từ vựng cho phùhợp với đặc điểm của tiếng Việt thành ba loại nhỏ là: lặp từ ngữ; dùng từ ngữ đồngnghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa; phối hợp từ ngữ [5, tr.381]

Tóm lại, quan niệm về bốn PLK trên đã được chúng tôi lựa chọn tìm hiểutrong các bài báo KHXH&NV Bởi vì, cách phân loại các PLK phi cấu trúc này sẽtránh được một số trường hợp nhầm lẫn cho người sử dụng so với cách phân loạiPLK theo cấu trúc (gồm liên kết hình thức và liên kết nội dung) và điều này sẽ đượcchúng tôi phân tích cụ thể trong chương 2 của luận án (LA)

ì.2.1.2 Mạch lạc

Khái niệm mạch lạc xuất hiện muộn hơn khái niệm liên kết và được cácnhà nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ngoài và trong nước đề cập đến với nhiều cáchhiểu khác nhau

Halliday và Hassan (1976) cho rằng: “Mạch lạc được coi như phần còn lại(sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh của tình huống (context of situation) vớinhững dấu nghĩa tiềm ẩn (registers) Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiếtcho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản” (dẫn theo DiệpQuang Ban [3, tr.82])

Theo tác giả I.Galperin: “Mạch lạc - đó là những hình thức liên kết riêng biệt, đảm bảo thể liên tục, nghĩa là sự liên tục logic (về thời gian hoặc không gian),

sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ thể”” [31,

tr.148] Mạch lạc theo quan niệm của tác giả G.Brown và G.Yule phụ thuộc vào ba

Trang 33

bình diện gồm: giải thuật chức năng giao tiếp (tiếp nhận thông điệp như

Trong sách “Từ điển Tiếng Việf của tác giả Hoàng Phê, mạch lạc là danh từ chỉ “sự tiếp nối theo trật tự hợp lý giữa các ý, các phần trong nội dung diễn đạt” và

là tính từ chỉ sự mạch lạc của sự việc, hiện tượng [72, tr.606]

Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng “mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lý

về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết ), nhằm tạo

ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu” [5, tr.297] Bởi vì,

đặc điểm liên kết về mặt hình thức là đặc điểm dễ nhận ra trong một VB, nhưng

mạch lạc là một khái niệm còn tương đối mơ hồ, nên tác giả đã lưu ý “mạch lạc là sợi dây nối các quan hệ nghĩa trong văn bản, trong đó có những quan hệ được diễn đạt bằng phương tiện từ ngữ thuộc về liên kếf [5, tr.348] Ngoài ra, ông quan niệm,

mạch lạc giúp tạo nên mạng lưới các mối quan hệ nghĩa, quan hệ logic, quan hệchức năng, trên cơ sở đó tạo nên tính thống nhất về đề tài - chủ đề cho VB Như thế,yếu tố mạch lạc là yếu tố quyết định việc hình thành một VB, không phải là yếu tốliên kết [5, tr.276]

Như vậy, có thể hiểu, mạch lạc là sự thống nhất nội dung nghĩa bên trong VB

và phù hợp với những yếu tố ngoài VB Nhưng hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhấtgiữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ về các dấu hiệu mạch lạc này Bởi vì, mạch lạckhông dễ dàng nhận ra trong VB một cách tường minh như liên kết nên các nhànghiên cứu đã đề cập đến với nhiều quan niệm và những dấu hiệu khác nhau

Tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban để tìmhiểu đặc điểm mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV Theo tác giả, biểu hiện củamạch lạc trong VB gồm:

Trang 34

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu.

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trung ở câu có quan hệnghĩa với nhau

- Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lý giữa các câu hay các mệnh đề

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa từ ngữ trong VB với tình huống bênngoài VB

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận [5, tr.298]

ì.2.1.3 Quan điểm của luận án về liên kết và mạch lạc

Theo tác giả Đinh Văn Đức, cùng với liên kết, mạch lạc là tất yếu cho mọidiễn ngôn Mạch lạc đóng vai trò tổ chức ngầm ẩn các sự thể rồi cùng với PLK để

tạo lập diễn ngôn [29, tr.501] Và chúng tôi cho rằng, liên kết trong VB là việc sử dụng các phương tiện liên kết về mặt hình thức để chỉ ra các kiểu quan hệ giữa các câu, các đoạn, các thành phần trong VB (liên kết theo nghĩa đen) Đ ó là

những dấu hiệu hình thức đuợc thể hiện bằng từ, ngữ, câu và đuợc gọi là các PLK

ây chính là những dấu hiệu quan trọng để hiện thực hóa mạch lạc trong VB, gópphần làm cho VB trở nên tuờng minh, chính xác hóa các quan hệ nghĩa (nội dung)

Mạch lạc trong VB là sự liên kết ngầm ẩn (liên kết theo nghĩa bóng) Đó là sự thống nhất nội dung nghĩa bên trong VB (sự kết nối hợp lý về mặt nghĩa và chức năng của những sự kiện, những yếu tố quan yếu trong quá trình triển khai một VB) và có sự kết hợp logic với những yếu tố ngoài VB.

Vì thế, liên kết và mạch lạc là những bình diện khác nhau, những đặc tínhkhác nhau của VB Trong khi tính mạch lạc trong một VB là yếu tố quan trọng nhất,xuất hiện trong tất cả các VB thì tính liên kết có thể không xuất hiện trong tất cả cácloại VB Một số diễn ngôn thuộc phong cách khẩu ngữ tự nhiên đuợc thực hiện bằngphuơng thức nói hay một số loại VB nghệ thuật (thơ, kịch), có thể xuất hiện hoặckhông xuất hiện dấu hiệu liên kết hình thức, nhung liên kết xuất hiện trong tất cả các

VB (phuơng thức viết) Ngoài ra, trong mỗi loại VB thuộc phong cách chức năng

Trang 35

khác nhau, tần số sử dụng các PLK khác nhau, nhung không thể bỏ qua

gồm liên kết nội dung và có nghĩa rộng hơn so với khái niệm liên kết nội dung)đuợc sử dụng nhiều ở giai đoạn nghiên cứu VB theo đuờng huớng của Phân tíchdiễn ngôn - những năm 1980 đến nay (gồm cả liên kết, mạch lạc và các nộidung

chức năng, ngữ cảnh, ngữ vực)

Mặc dù hiện nay, có quan điểm phân biệt liên kết VB (text cohesion) vàmạch lạc diễn ngôn (discourse coherence) nhung chúng tôi cho rằng, đặc tính liênkết và mạch lạc là tất yếu trong mọi VB, là hai tiêu chí rõ ràng để đánh giá chấtluợng các VB viết Hoặc có thể gọi đó là liên kết hình thức (cohesion) và liên kếtmạch lạc (coherence) Mặt liên kết hình thức là những dấu hiệu thuộc về lĩnh vựcvật chất và mặt liên kết mạch lạc là những biểu hiện thuộc về lĩnh vực tinh thần của

VB [45, tr.39] Hai hiện tuợng này tuy có ảnh huởng lẫn nhau nhung độc lập và lànhững hiện tuợng khác nhau trong nghiên cứu

Trang 36

1.2.2 Văn bản - văn bản khoa học và bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

ì.2.2.1 Văn bản

(i) Các quan niệm về văn bản và diễn ngôn

Hiện nay, đang có ba quan niệm khác nhau (phân biệt hay không phân biệt)thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn” Thứ nhất, coi “văn bản” và “diễn ngôn” là sảnphẩm ngôn ngữ (cả nói và viết) có mạch lạc và liên kết Thứ hai, dùng thuật ngữ

“diễn ngôn” để chỉ ngôn ngữ nói, “văn bản” để chỉ ngôn ngữ viết Thứ ba, quanniệm coi “diễn ngôn” và “văn bản” là hai thuật ngữ tuơng đuơng [5, tr.212]

Trang 37

Quan niệm thứ ba đang được nhiều nhà nghiên cứu VB sử dụng, tức là thuậtngữ diễn ngôn để chỉ một sản phẩm ngôn ngữ (nói hoặc viết), dài hay ngắn, tạo nênmột tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn bao hàm VB [34, tr.169].

(ii) Quan niệm của luận án về thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn”

Trong nhiều công trình nghiên cứu hiện nay, hai thuật ngữ “văn bản”, “diễnngôn” được sử dụng song song và có sự tương đồng cơ bản, nhưng trong một sốtrường hợp nhất định, ngoại diên của thuật ngữ “diễn ngôn” có thể rộng hơn so vớithuật ngữ “văn bản” Do đó, chúng tôi lựa chọn cách sử dụng thuật ngữ “ngôn bản”cho các sản phẩm giao tiếp (sự kiện giao tiếp) bằng ngôn ngữ nói và sử dụng thuậtngữ “văn bản” cho các sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết [30, tr.490]

Như vậy, cả hai thuật ngữ này đều nằm chung trong một khái niệm rộng làdiễn ngôn, nên không thể phân tích VB (chỉ chú ý tới mặt hình thức) hay phân tíchngôn bản mà không quan tâm tới phân tích diễn ngôn (chú ý cả mặt hình thức và nội

dung chức năng), vì các sản phẩm ngôn ngữ này có chịu ảnh hưởng bởi các “hoàn cảnh giao tiếp xã hội” [51, tr.34] Và đúng như nhận định của tác giả Đinh Văn Đức

“các nhà văn bản học thường nhắc đến hai phương thức lớn cùng nhau tạo ra văn bản đó là liên kết hình thức (cohesion) và liên kết mạch lạc (coherence)”, dù phân

tích diễn ngôn liên quan đến sản phẩm là ngôn ngữ nói hay viết thì chúng đều phải

có liên kết nhất định và mạch lạc nhất định [30, tr.488-489]

(iii) Đặc trưng của văn bản

Văn bản đã được nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến trong các công trìnhnghiên cứu của họ Theo quan niệm của tác giả Halliday và Hasan, VB là một đơn

vị ngôn ngữ khi sử dụng và là một đơn vị ngữ nghĩa, thuộc về ngữ nghĩa [112,

tr 1-2] Nhà nghiên cứu nữ Loseva (Liên Xô cũ) đã cho rằng: “Văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện

từ vựng - ngữ pháp’” (theo Diệp Quang Ban [5, tr.197]) Năm 1983, G.Brown và G.Yule cũng phát biểu “chúng ta sẽ sử dụng từ văn bản như một thuật ngữ khoa học, để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” [8, tr.22] Nhưng theo tác giả I.Galperin, “văn bản - đó là tác phẩm của quá trình sáng tạo lời, mang tính

Trang 38

chất hoàn chỉnh, ( ) hợp nhất lại bằng những những loại hình liên kết

[80] Theo ý kiến của tác giả Hữu Đ ạt, VB là “một tập hợp các câu (hay các phát ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác”” [27, tr.189].

chúng tôi cho rằng, văn bản là các sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết,

có sự hoàn chỉnh cả cấu trúc hình thức và nội dung (cấu trúc nghĩa), có đề chủ đề, liên kết - mạch lạc và thuộc một phong cách ngôn ngữ nhất định để đảm bảo mục đích giao tiếp Trong khi đó, diễn ngôn là quá trình giao tiếp, bao hàm VB

tài-(sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết) và ngôn bản (sự kiện giao tiếp bằng ngônngữ nói), đồng thời hướng tới các mục tiêu xã hội là chủ yếu

Về quan niệm đặc trưng của VB, theo tác giả De Beaugrande (1980) [103,tr.17], De Beaugrande và Dressler (1981)[104, tr.3], VB gồm 7 đặc trưng là: tínhliên kết (cohesion), tính mạch lạc (coherence), tính chủ đích (intentionality), tínhkhả nhận (acceptability), tính thông tin (informativity), tính ngữ cảnh(contextuallity), tính liên VB (intertextuallity)

Tác giả Diệp Quang Ban (1998) cho rằng, VB có 5 đặc trưng là: có yếu

tố nội dung (có đề tài và chủ đề nhất định - tức là cả đề tài (cái được nói đến) lẫn chủ đề (vấn đề chủ yếu) [5, tr 300]); có yếu tố chức năng (chức năng giao

tiếp); có cấu trúc - hình thức (tính thống nhất của đề tài - chủ đề, tạo thành sựmạch lạc cho VB); có yếu tố chỉ lượng (gồm một số câu, đoạn văn) và có yếu

tố định biên (tính trọn vẹn) [3, tr.22] Sau đó, ông đã bổ sung thêm một đặctrưng của VB là mục đích sử dụng (phong cách chức năng) trong công trìnhnghiên cứu năm 2009 [5, tr.219]

Trang 39

Theo chúng tôi, VB gồm 6 đặc trưng sau: tồn tại ở dạng viết; có thể dài hay ngắn; có một đề tài - chủ đề nhất định; phải thuộc một phong cách (một

kiểu loại) nhất định (thực hiện chức năng ngôn ngữ) và phù hợp với mục đích sử

dụng VB; có cấu trúc hình thức và cấu trúc nghĩa (trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức), phù hợp với phong cách chức năng của nó; phải đảm bảo yếu tố liên kết và mạch lạc.

Sáu đặc trưng của văn bản được diễn tả bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Những đặc trưng của văn bản

(iv) Lập luận trong văn bản

Lập luận trong VB là “đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới”

[14, tr 155] Hay nói theo cách khác, là việc sử dụng lý lẽ để thuyết phục ngườiđọc tin vào một hệ thống xác tín nào đó, rồi rút ra một hay một số kết luận [21],[22, tr.165]

Cụ thể hơn, theo ý kiến của tác giả Nguyễn Đức Dân, lập luận là việc mộthoạt động, một thao tác ngôn ngữ, qua đó người tạo VB đưa ra một số luận cứ,tạo thành một cấu trúc ngôn ngữ và là một chuỗi liên kết để dẫn tới một kết luận[20, tr.34]

Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cho rằng, lập luận xuất hiện trong tất cả các

VB [12, tr.80] và tác giả Bùi Minh Toán đã nhấn mạnh, đặc trưng cơ bản này xuất

hiện trong các VB khoa học “nó thuyết phục người đọc bằng những lập luận,

Trang 40

những luận điểm, luận cứ vững chắc, chính xác, có mạch lạc với những

xác định” [92, tr.29].

I.2.2.2 Văn bản khoa học

Văn bản khoa học là loại VB sử dụng các phương tiện của ngôn ngữ gọtgiũa, ngôn ngữ văn hóa để giao tiếp và truyền tải kiến thức khoa học và được thểhiện trong các loại bài báo, bài nghiên cứu, báo cáo thực tập, khóa luận, luận văn,sách giáo khoa, sách tham khảo v.v

(i) Đặc trưng của văn bản khoa học

Đ ề cập đến chức năng cơ bản của các VB khoa học, tác giả Đinh Trọng Lạc

đã phát biểu “chức năng cơ bản của phong cách khoa học là chức năng giao tiếp lý trí Song ở đây giao tiếp lí trí không chỉ cần thông báo mà còn cần chứng minh tính chân thực của thông báo" [59, tr.82].

Theo quan điểm này của tác giả Đinh Trọng Lạc, trong các VB khoa học, chứcnăng thông báo bằng chứng minh là chức năng quan trọng, các tri thức mới, có giá trịđược cung cấp cho người đọc bằng những lập luận, những phán đoán logic để chứngminh tính qui luật của những cái mới có giá trị đó Tác giả Hữu Đạt đã bổ sung thêmchức năng diễn giải, tác động cho loại VB này, đồng thời ông cho rằng VB khoa học

gồm các đặc điểm: bình đẳng, phi hình tượng, khái quát trừu tượng, logic khoa học

và chính xác khách quan [28, tr 157].

Tóm lại, một VB khoa học có năm đặc trưng cơ bản là: chính xác, khách quan, bình đẳng, trừu tượng - khái quát, lý trí - logic khoa học.

(ii) Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản khoa học

Giao tiếp là một hoạt động diễn ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội

c ó nhiều lĩnh vực giao tiếp như: quản lý hành chính, văn hóa nghệ thuật, báo chí chính luận, sinh hoạt thường ngày, lĩnh vực khoa học Mỗi lĩnh vực hoạt động lại cónhững yêu cầu về mục đích, nội dung, chức năng và đặc điểm ngôn ngữ khác nhau,

-vì thế cần hiểu rõ những yêu cầu, đặc điểm riêng trong từng lĩnh vực để tạo lập vàhiểu rõ VB đang sử dụng [96]

Ngày đăng: 19/12/2020, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w