Tác giả chia làm 2 chặng đường nghiên cứu -nhận thức về Hoàng Thành Thăng Long thông qua thời điểm phát lộ Hoàng ThànhThăng Long năm 2002 của giới Khảo cổ học đồng thời cũng trình bày về
Trang 1Hà Nội:
2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Quang Hà
CÁC NGUỒN SỬ LIỆU VỀ QUY MÔ VÀ CẤU TRÚC HOÀNG THÀNH THĂNG LONG THỜI LÝ- TRẦN - LÊ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướngdẫn khoa học của GS TS Nguyễn Quang Ngọc và TS Nguyễn Văn Sơn, các số liệu,kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưatừng được bảo vệ ở bất cứ học vị nào Tôi cũng xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ choviệc thực hiện Luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều rõràng về nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10/12/2018
Tác giả luận án
Nguyễn Quang Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trịnh thực hiện Luận án, tôi đã được GS.TS NGND NguyễnQuang Ngọc và TS Nguyễn Văn Sơn hỗ trợ và tạo điều kiện cho công tác nghiêncứu tại Khu di sản Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội cũng như những chỉ dẫnquý báu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô, các nhà khoa học: PGS.TSHoàng Hồng, PGS.TS Trần Kim Đỉnh, PGS.TS Phan Phương Thảo và nhiều thầy,
cô thuộc Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại họcQuốc gia Hà Nội - nơi tôi được vinh dự làm nghiên cứu sinh
Tôi xin được tri ân đến các thầy PGS.TS Tống Trung Tín, PGS TS Bùi VănLiêm (Viện Khảo cổ học), PGS.TS Trần Thị Vinh, PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ,PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi (Viện Sử học), thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xãhội Việt Nam; PGS TS Vũ Văn Quân, TS Đỗ Thuỳ Lan, TS Đinh Thị Thuỳ Hiên(Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, ĐHQGHN); PGS TS Đào
Tố Uyên (Đại học Sư Phạm Hà Nội) và nhiều thầy, cô khác đã đóng góp cho tôinhiều ý kiến quý báu Để hoàn thành luận án này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâusắc đến lãnh đạo Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội - đơn vị nơi tôiđược gắn bó suốt hơn mười năm qua đã tạo điều kiện cho tôi công tác nghiên cứu
và học tập
Đặc biệt, từ đáy lòng, tôi xin được cảm ơn đến Bố, Mẹ, anh, em ruột cùng
vợ, con - những người thân yêu nhất trong gia đình luôn động viên tinh thần to lớncho tôi trong cuộc sống và công tác, học tập
Hà Nội, ngày 10/9/2019
Nguyễn Quang Hà
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ANCN An Nam chí nguyên
CMCB Cương mục chính biên tiết yếu
ĐHKHXHVN
ĐHQGHN
ĐNTLCB Đại Nam thực lục chính biên
ĐVSKTB Đại Việt sử kí tiền biên
ĐVSKTT Đại Việt sử kí toàn thư
HTTL- HN Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội
KĐVSTGCM Khâm định Việt sử thông giám cương mục
LTHCLC Lịch triều hiến chương loại chí
VSCB Việt sử chính biên
Trang 6Việt sử lược
VSL
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 3
MỤC LỤC 5
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
2.1 Mục đích nghiên cứu 10
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
3.1 Đối tượng nghiên cứu 10
3.2 Phạm vi nghiên cứu 10
4 Nguồn tài liệu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp của luận án 14
7 Bố cục của luận án 15
Chương 1 17
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 17
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 17
1.1.1 Các nghiên cứu trước năm 2002 18
1.1.2 Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay 20
1.2 Khát quát kết quả của các công trình nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 35
1.2.1 Kết quả của các công trình nghiên cứu trước 35
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu 37
Tiểu kết 37
Chương 2 40
Trang 8PHÂN LOẠI CÁC NGUỒN SỬ LIỆU VỀ QUY MÔ VÀ CẤU TRÚC HOÀNG
THÀNH THĂNG LONG THỜI LÝ - TRẦN - LÊ 40
2.1 Một số thuật ngữ, khái niệm 40
2.1.1 Khái niệm sử liệu 40
2.1.2 La Thành , thành Đại La , Kinh phủ , Đô hộ phủ , Cựu kinh 46 2.1 3 Đại Nội 47 2.1.4 Thăng Long thành (Long thành) 48 2.1.5 Long trì 49 2.1.6 Long thành và Phượng Thành 51
2.1.7 Cấm đình: 53 2.1.8 Cấm Thành , Cấm Nội , Cung Cấm 54
2.2 Nguồn sử liệu chữ viết 56
2.2.1 Nguồn sử liệu tử sử cũ 63
2.2.2 Nguồn sử liệu từ các nguồn thư tịch cổ khác 2.2.3 Nguồn sử liệu văn bia 70
2.2.4 Sử liệu địa chí 79
2.3 Nguồn sử liệu bản đồ 82
2.3.1 Bản đồ thời Lê 82
2.3.2 Bản đồ thời Nguyễn 84
2.4 Sử liệu vật thực 88
2.5 Nguồn sử liệu dân gian 103
Tiểu kết 109
Chương 3 112
Trang 9QUY MÔ VÀ CẤU TRÚC CỦA HOÀNG THÀNH THĂNG LONG THỜI LÝ
- TRẦN - LÊ QUA CÁC NGUỒN SỬ LIỆU 112
3.1 Vài nét về thành Đại La thuộc thời Đường 112
3.2 Quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý 113
3.2.1 Quy hoạch Kinh thành Thăng Long buổi đầu mới dời đô (1010) 114
3.2.2 Quy hoạch Hoàng thành Thăng Long vào thế kỷ XI, XII 117
3.2.3 Quy hoạch “Tân cung” năm 1203 - 1216 121
3.2.4 Chức năng của các điện thời Lý, “Điện” gắn với các nghi lễ, lễ hội tôn giáo 122
3.2.5 Thảo điện triều Lý 127
3.2.6 Chế độ Đông Cung Thái Tử và Đông Cung Thái Tử thời Lý 129
3.2.7 Chức năng của các công trình trong Cấm thành Thăng Long 130
3.2.8 Thiên tai và nguyên nhân của sự bị phá hủy các công trình kiến trúc trong Hoàng thành Thăng Long 135
3.2.9 Số lượng, loại hình các công trình khác trong Cấm thành và Hoàng thành Thăng Long 137
3.2.10 Sân Long Trì và việc thiết kế khônggian 145
3.2.11 Các công trình phục vụ tínngưỡng, tôngiáo và văn hóa tinh thần 148
3.2.12 Không gian sinh thái và cảnh quan thời Lý 150
3.3 Quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Trần (1225 - 1400).158 3.3.1 Quy mô Hoàng thành Thăng Long thời Trần qua các lần trùng tu,xây dựng 158
3.3.2 Đông Cung Thái Tử thời Trần 161
3.3.3 Điện thời Trần 164
3.3.4 “Cung” thời Trần 166
3.3.5 Các “Cửa” thời Trần 170
3.3.6 Không gian sinh thái: Ao, hồ, cầu, vườn trong Cấm Thành thờiTrần 171 3.4 Quy mô và cấu trúc của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê 172
3.4.1 Khu vực chính điện của Hoàng thành Thăng Long 173
Trang 103.4.2 Khu vực trong Cấm thành 175
3.4.3 Các điện thời Lê 177
3.4.4 Các “cung” thời Lê 181
3.4.5 “Cửa” trong Hoàng thành Thăng Long thời Lê 183
3.4.6 Các công trình kiến trúc, xây dựng trước sự tàn phá của chiến tranh và thiên tai 184
4.7.7 Khu vực phía Tây Hoàng thành 186
Tiểu kết 189
KẾT LUẬN 194
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 198
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 198
TÀI LIỆU THAM KHẢO 199
PHẦN PHỤ LỤC 237
Phụ lục I: Hệ thống bảng thống kê số liệu các công trình thời Lý -Trần - Lê 241
Phụ lục II: Sơ đồ về quy mô, cấu trúc thời Lý - Trần - Lê 284
Phụ lục III: Sử liệu thư tịch Hán nôm cổ 298
Phụ lục 4: Sử liệu ảnh 307
Phụ lục V: Sử liệu ảnh di tích, di vật Khảo cổ học 312
Phụ lục VI: Sử liệu thư tịch cổ ghi về điển chế trong HTTL 316
Phụ lục VII: Văn bia đề cập đến Tứ trấn, Kinh thành và Hoàngthành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê 322
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoàng Thành Thăng Long (HTTL) có giá trị nổi bật toàn cầu bởi chính nơiđây là sự hiện diện của sự hài hòa các phong cách kiến trúc châu Á, các kỹ thuậtxây dựng, quy hoạch đô thị, của sự kết nối, giao lưu văn hóa của nhiều nước trongkhu vực Đông Nam Á, của sự giao lưu giữa phương Đông và phương Tây Trải quahơn 1.300 năm lịch sử, kinh đô Thăng Long giữ vai trò gần như liên tục của mộttrung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa kể từ thời thuộc Đường với tên gọi Đại La -thuộc An Nam đô hộ phủ cho đến suốt thời Lý - Trần - Lê kể cả thời thuộc Pháp vàthời đại Hồ Chí Minh HTTL từ nhiều thập kỷ nay đã được giới nghiên cứu quantâm, lý giải dưới nhiều giác độ khác nhau: như nghiên cứu về quy mô, giới hạn, vậtliệu kiến trúc, về các di tích thời thuộc Pháp, về mỹ thuật Lý, Trần, Lê
Tuy nhiên với mỗi một vấn đề nghiên cứu, các tác giả chưa có điều kiệnquan tâm, nghiên cứu và đánh giá toàn diện về nguồn sử liệu, đặc biệt là tiến hànhnghiên cứu một cách toàn diện, liên ngành qua các nguồn sử liệu như: Nguồn sửliệu khảo cổ, nguồn sử liệu thư tịch Hán Nôm cổ, nguồn tư liệu bản đồ cổ, nguồn tưliệu thực địa gắn liền với các di tích hiện còn trên mặt đất Nghiên cứu về HTTL tuy
đã có nhiều đề tài đề cập, nhưng tiến hành tìm hiểu một cách quy mô, trên nhiềugiác độ thì ít có công trình nào nghiên cứu toàn diện Như vậy, HTTL cần đượcnghiên cứu nhiều hơn, công phu hơn nhằm làm sáng tỏ nhiều vấn đề khoa học vàphát huy giá trị của di sản Đề tài của chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục những vấn đề
mà những người đi trước chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu, phê phán, phân tích,đánh giá nguồn sử liệu về HTTL một cách đầy đủ, chính xác Đặc biệt, chúng tôiđặt các nguồn sử liệu bên cạnh nhau để tiến hành đối chiếu, so sánh, trực tiếp khaithác những tư liệu gốc là tư liệu thư tịch cổ, bản đồ cổ, bi ký và đặc biệt là đối chiếuvới nguồn sử liệu vật thực thu thập được trong quá trình khai quật khảo cổ để đi đếnnhững nhận xét khoa học, khách quan về những vấn đề sử liệu liên quan đến Hoàngthành Thăng Long - Hà Nội (HTTL - HN)
Trang 122 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Khảo sát toàn bộ các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL đượcsản sinh trong các triều đại Lý - Trần - Lê và các thời kỳ sau có liên quan
- Phân loại các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL Phân tích cácđặc điểm bên ngoài của sử liệu, chỉ rõ: niên đại, địa điểm hình thành, tác giả và vậtmang tin, qua đó xác định về tính xác thực của nguồn sử liệu
- Khái quát các thông tin lịch sử về quy mô, cấu trúc HTTL thời Lý, Trần,Lê
trong các nguồn sử liệu
- Nhận xét, đánh giá các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL, từ đóđưa ra các kiến nghị và giải pháp để phát huy giá trị nguồn sử liệu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTLthời Lý - Trần - Lê gồm:Tư liệu thư tịch cổ, bản đồ cổ, tư liệu Khảo cổ học, các tưliệu điền dã dân gian, thực địa Các sử liệu được sản sinh trong thời kỳ Lý - Trần -
Lê là đối tượng nghiên cứu chính Ngoài ra, một số sử liệu ra đời ở giai đoạn saunhưng quan tọng trong việc nghiên cứu quy mô, cấu trúc HTTL thời Lý - Trần - Lêthì cũng được luận án tiếp cận
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn thời gian nghiên cứu
Trang 13Luận án tiếp cận chủ yếu đến các nguồn sử liệu sản sinh trogn thời gian tồntại của các triều đại Lý- Trần- Lê (Thế kỷ XI - XVIII) Ngoài ra, trong một sốtrường hợp để làm rõ nội dung nghiên cứu, luận án sẽ mở rộng nghiên cứu của một
số sử liệu xuất hiện đến thời kỳ Cận đại Việt Nam
Giới hạn không gian nghiên cứu
Không gian nghiên cứu chính của luận án là khu vực HTTL, nơi phát lộnhiều sử liệu quan trọng góp phần quyết định nhận diện cấu trúc Hoàng thànhThăng Long thời kỳ Lý- Trần- Lê
Ngoài ra, một số sử liệu phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp quy mô, cấu trúcHoàng thành Thăng Long nằm rải rác trong các địa điểm khác nhau trên đất nướcViệt Nam được đề cập đến
Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài “Các nguồn sử liệu về quy mô cấu trúc của Hoàng thành Thăng Long”thời Lý - Trần - Lê bao gồm các nguồn sử liệu: Nguồn sử liệu chữ viết (bao gồm sửliệu thư tịch, sử liệu bi kí (kim thạch học); sử liệu bản đồ, sử liệu dân gian và nguồn
sử liệu vật thực Trong nguồn sử liệu vật thực cũng bao gồm rất nhiều loại khác
nhau như: nghiên cứu về nguồn sử liệu chữ viết (bao gồm sử liệu sử cũ, nguồn sử
liệu thác bản, văn khắc);
Trong nghiên cứu về nguồn sử liệu chữ viết, chúng tôi chú trọng đến nguồnthư tịch cổ, nguồn sử liệu văn bia cũng là một trong những nguồn sử liệu chữ viếttin cậy để so sánh, đối chiếu và bổ sung cho nguồn sử liệu chữ viết trong thư tịch cổcòn thiếu sót hoặc chưa có điều kiện đề cập
Nghiên cứu nguồn sử liệu vật thực: di tích, di vật (vật liệu kiến trúc, đồ sinh
hoạt như đồ ngự dụng (mang tính chất hoàng cung), và vật dụng dân gian, nghiêncứu di cốt người, di cốt động vật, nghiên cứu cổ sinh vật, môi trường, nghiên cứunguồn sử liệu bản đồ và các nguồn sử liệu dân gian
Tất nhiên, thao tác phân chia nguồn sử liệu chữ viết và nguồn sử liệu vậtthực chỉ có ý nghĩa tương đối Có những sử liệu vừa là chữ viết vừa là vật thực nhưnhững bài văn được khắc trên bia đá hay những thông tin về tên của các cung điện
Trang 14được ghi trên đồ gốm sứ thời Lý, thời Lê sơ hay tên của các phiên
ghi trên gạch vồ thời Lê Trung hưng đều là nguồn sử liệu chữ viết đồng
sử liệu vật thực
4 Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung vào hai nguồn sử liệu chính là:nguồn sử liệu chữ viết và nguồn sử liệu vật thực
về nguồn sử liệu chữ viết, chúng tôi tập trung vào các tác phẩm cổ sử do các
nhà sử học thời Trần và thời Lê biên soạn như: Việt sử lược (khuyết danh đời Trần),
Đại Việt sử kí toàn thư (của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê), Đại Việt sử kí tiền biên và các tác phẩm khác của các nhà sử học thời Lê và thời Nguyễn như: Lê Quý
Đôn, Phan Huy Chú
Trong nguồn sử liệu chữ viết nguồn sử liệu văn bia cũng được coi là mộttrong những nguồn sử liệu quan trọng trong nghiên cứu về quy mô và cấu trúc vềHTTL Nguồn sử liệu này tuy không trực tiếp đề cập đến quy mô, cấu trúc củaHTTL nhưng đã gián tiếp đề cập đến 2 phương diện: Phương diện thứ nhất là xácđịnh vị trí của Hoàng thành (trong tương quan với các di tích xung quanh) và têncủa một số cung điện trong Cấm thành Thăng Long từng là nơi diễn ra các cuộc thiĐiện thí, Đình thí thời Lê (ghi trên bia Đề danh tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc TửGiám Hà Nội)
Nguồn tài liệu nghiên cứu về HTTL là những vật thực rất đa dạng, phongphú: hiện vật gạch, ngói, đất nung, gốm sứ, gỗ, di cốt người, xương động vật, các tàiliệu về địa chất, môi trường được tác giả sử dụng từ kết quả khai quật KCH từHTTL Đây là những tài liệu không thể thiếu được để nghiên cứu về HTTL mộtcách toàn diện Các nguồn sử liệu này có vai trò dùng để so sánh và kiểm chứng lẫnnhau, bổ sung cho nhau
Bên cạnh nguồn sử liệu chữ viết và nguồn sử liệu vật thực, nguồn sử liệu bản
đồ và nguồn sử liệu dân gian cũng góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu vềquy mô và cấu trúc của HTTL Nếu như các nguồn sử liệu chữ viết miêu tả về quy
mô, cấu trúc HTTL một cách trừu tượng, khó hiểu thì sử liệu bản đồ lại hiện hữu
Trang 15với những hình khối, đường nét cụ thể Người đọc có thể căn cứ
nghiên cứu một cách khách quan và khoa học
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả tiến hành phương pháp nghiên cứu sử liệu học, nghiên cứu tổng hợp,kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp phân tích, đối chiếu,phương pháp nghiên cứu văn bản học, phương pháp thống kê, định lượng, phươngpháp nghiên cứu liên ngành, liên văn bản và phương pháp nghiên cứu khu vực học
Phương pháp sử liệu học chữ viết được tác giả quan tâm đặc biệt Trongnguồn sử liệu chữ viết, tác giả luận án chú trọng đến nguồn sử liệu thư tịch cổ, đây
là nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu về quy mô, cấu trúc của HTTL thời Lý Trần- Lê Bên cạnh đó, nguồn sử liệu vật thực (có chữ viết) như các thác bản vănbia và các chữ viết trên các vật thực như gạch, ngói, sành, sứ, gỗ cũng là những sửliệu quan trọng Do đó, phương pháp khảo cứu, đối chiếu, giám định văn bản khôngthể thiếu được Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi phải đặt hiện vật trong bốicảnh không gian và thời gian cụ thể, trong đó chú ý đến những đặc điểm hình thứcnhư: các thông tin về niên đại, tác giả, địa điểm lưu giữ và nội dung phản ánh củanguồn sử liệu (chương 1 và chương 2) từ đó xác định về quy mô, cấu trúc củaHTTL qua các thời kỳ lịch sử Lý - Trần - Lê (Chương 3)
-Phương pháp nghiên cứu văn bản cũng là một phương pháp quan trọngkhông thể thiếu trong luận án như so sánh tư liệu văn bia với tư liệu trong sử cũ; sosánh giữa các tài liệu sử cũ với nhau và thậm chí so sánh giữa nguyên bản với bản
Trang 16dịch tiếng Việt để thấy được sự tương đồng hay độ chênh giữa nguyên bản chữ Hán
Trang 17với bản dịch tiếng Việt Phương pháp so sánh giữa các nguồn sử
được áp dụng như: nghiên cứu bản đồ với sử liệu thư tịch, nghiên cứu sử
tịch với nghiên cứu so sánh sử liệu vật thực
Phương pháp thống kê cũng là một phương pháp tối ưu để nghiên cứu nhữngtài liệu số đông như: Tên các cung, điện, lầu, gác, vườn, ao, cửa của HTTL Đặcbiệt những công trình này thường xuyên được trùng tu, xây dựng với số lượng lênđến hàng trăm công trình, trải dài suốt mấy thế kỷ, lại ghi chép rất tản mát, rời rạctrong các bộ chính sử nên rất khó theo dõi Vì thế, việc thống kê thành các biểubảng như: Tên gọi, năm xây dựng, trùng tu, xuất xứ nguồn, sự kiện, bối cảnh, nguồntrích dẫn không thể thiếu được Qua bảng thống kê, có thể nắm bắt được quá trình,diễn biến của việc xây dựng trùng tu các công trình trong HTTL
Những phương pháp trên đều phải tuân thủ theo phương pháp thực chứng(Positivisme), tiệm cận chân lý khách quan Tất cả các phương pháp này được xâydựng trên cơ sở lý thuyết chung của phương pháp duy vật biện chứng và phươngpháp duy vật lịch sử, tức là đặt đối tượng trong một bối cảnh cụ thể, trong một sựvận động và phát triển cụ thể của Lịch sử Việt Nam, của HTTL trong suốt chiều dàilịch sử từ thời Lý - Trần - Lê
6 Đóng góp của luận án
Luận án có những đóng góp sau đây:
+ Góp phần nhận diện một cách hệ thống, toàn diện các nguồn sử liệu hóa vềquy mô, cấu trúc của HTTL một cách tương đối đầy đủ trên nhiều giác độ: Sử liệuchữ viết, sử liệu vật thực, bản đồ, địa chất, văn hóa dân gian (Folklore)
+ Phân loại, chỉ rõ giá trị của từng nguồn sử liệu trong nghiên cứu về quy
mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần - Lê
+ Phân tích các nguồn sử liệu gốc, xác định độ tin cậy của các nguồn, đánhgiá vai trò của chúng trong việc nghiên cứu quy mô, cấu trúc của HTTL dưới thờiđại Lý - Trần - Lê;
+ Luận án cung cấp những thông tin đa chiều từ nhiều nguồn cho việc nghiêncứu, đánh giá về HTTL nói chung và việc nghiên cứu về quy mô và cấu trúc của
Trang 18HTTL nói riêng Các tư liệu của luận án góp phần trực tiếp cho việc
tìm hiểu, thuyết minh trong di tích HTTL cũng như việc quảng bá di sản
+ Từ việc nghiên cứu, đánh giá các nguồn sử liệu, đưa ra nhận xét về nhữngnguồn sử liệu liên quan đến quy mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần - Lê Từnhững nghiên cứu về sử liệu HTTL, luận án góp phần nhận diện về quy mô, cấutrúc của HTTL thời Lý - Trần- Lê
7 Bố cục của luận án
Luận án ngoài phần Mở đầu và Kết luận gồm có 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này, tác giả tập trung phân tích những quan điểm chính nhận thức vềHoàng Thành, Cấm Thành Thăng Long qua các giai đoạn lịch sử của các nhà khoahọc trong nước cũng như ngoài nước Tác giả chia làm 2 chặng đường nghiên cứu -nhận thức về Hoàng Thành Thăng Long thông qua thời điểm phát lộ Hoàng ThànhThăng Long năm 2002 của giới Khảo cổ học đồng thời cũng trình bày về các hướngnghiên cứu Hoàng Thành Thăng Long của một số nhà sử học, khảo cổhọc Chương này cũng đã trình bày về các phương pháp nghiên cứu, phạm vinghiên cứu một cách rành mạch, rõ ràng được thể hiện trong luận án
Chương 2: Phân loại các nguồn sử liệu về quy mô và cấu trúc Hoàng ThànhThăng Long thời Lý - Trần - Lê;
Trong chương này, luận án sẽ đi vào việc phân tích khái niệm sử liệu, cáchphân chia các nguồn sử liệu cụ thể đối với các nguồn sử liệu ở HTTL: Sử liệu vậtthực, sử liệu chữ viết, sử liệu dân gian Do HTTL là di tích đặc biệt, từng là trungtâm quyền lực, kinh tế, chính trị của nhiều triều đại nên tại đây đã tập trung cácnguồn sử liệu chữ viết trong đó có nguồn sử liệu trong chính sử, thư tịch cổ HánNôm, bản đồ; nguồn sử liệu vật thực được phân chia thành nhiều chủng loại: nguồn
sử liệu vật thực có chữ viết, nguồn sử liệu vật thực không có chữ viết, vật thực cóvăn tự, vật thực có hoa văn, biểu tượng; hiện vật lại được phân chia theo chất liệu:
gỗ, di cốt người, xương động vật, địa chất, môi trường, cảnh quan và cuối cùng lànguồn sử liệu dân gian với truyền thuyết, thơ văn, câu đối
Trang 19Chương 3: Quy mô và cấu trúc Hoàng Thành Thăng Long thời Lý Trần
-Lê qua các nguồn sử liệu
Trong chương này, luận án tập trung trình bày về quá trình xây dựng, trùng
tu của Hoàng thành và Cấm Thành Thăng Long từ thời Lý qua thời Trần và đến thời
Lê Phần này đã tập hợp, phân tích về số lượng, sự phân bố vị trí, công năng sửdụng của hầu hết các công trình trong Cấm Thành và Hoàng Thành như: Các Cung,điện, lầu, gác, cổng, cửa, vườn, ao, hồ Các công trình tâm linh như: Đền, đài,chùa, quán Đạo Việc nghiên cứu về quy mô, cấu trúc cũng không thể không trìnhbày về việc xây dựng khu vực “Tân cung” gắn liền với nhiều biến cố lịch sử Bêncạnh đó, luận án cũng phân tích, chứng minh về sự hiện diện của các cung “QuanTriều”, cung “Thánh Từ”, “Đông Cung Thái Tử” mang đặc trưng độc đáo thờiTrần Điểm nổi bật và ấn tượng là các công trình trong Hoàng Thành và Cấm thànhphần lớn đều gắn với môi trường thiên nhiên, ao, hồ, vườn tược rất hài hòa mangphong cách kinh thành phương Đông cổ truyền
Thời Lê với nhiều điện lớn được xây dựng trong khoảng từ thời Lê NhânTông đến thời Lê Thánh Tông Tác giả cũng đã trình bày về sự tàn phá của một
số cung điện vào thời Lê Trung hưng và khu vực phía Tây của Hoàng T hànhThăng Long Qua việc nghiên cứu các nguồn sử liệu Hoàng Thành Thăng Longthời Lý - Trần - Lê cho thấy, HTTL trải qua nhiều biến cố với biết bao thăngthầm và có sự đổi thay nhiều về quy mô, cấu trúc với những đặc điểm riêng củamỗi thời kỳ lịch sử
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ lâu, HTTL đã được giới nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Việc nghiên cứu
về HTTL đã được đặt ra từ rất sớm Ngay từ những thập kỷ 60 - 70 của Tk XX,nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài đã đặt vấn đề về vị trí, quy mô, giớihạn của HTTL, nghiên cứu về vị trí của núi Nùng, núi Sưa ở đâu đã được nhiềunhà nghiên cứu quan tâm lý giải Cuối thập kỷ 90 của Tk XX, các nhà khảo cổ học
đã tiến hành khai quật với quy mô nhỏ ở các vị trí Đoan Môn, Hậu Lâu bước đầutìm thấy di tích kiến trúc cổ thời Lý - Trần - Lê Di tích khai quật với diện tích nhỏnày hiện nay vẫn được bảo tồn để trưng bày ngoài trời phục vụ khách tham quan vàcác nhà nghiên cứu Kể từ cuối thập kỷ 90 của Tk XX, di tích Thành cổ bắt đầuđược giới khoa học và dư luận quan tâm Nhưng phải đến khi thực sự phát lộ khu ditích 18 Hoàng Diệu (2002), thì vấn đề nghiên cứu về HTTL mới trở thành một đềtài thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà sử học nói riêng và các nhà văn hóahọc, khoa học xã hội nói chung
Cho đến nay, số lượng các công trình khoa học nghiên cứu về HTTL lên đếnhàng trăm bài, liên quan đến nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: Khảo cổ học, HánNôm học, Sử học, Văn hóa học, Môi trường học, Sử liệu học, Kiến trúc, Điêu khắc.Tuy nhiên, những lĩnh vực nghiên cứu trên hầu hết được tiến hành theo phươngpháp của một chuyên ngành chuyên biệt nhất định mà chưa có những nghiên cứu về
sử liệu học về quy mô cấu trúc HTTL
HTTL nằm trong một vùng đất cổ của vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng
có lịch sử định cư, khai phá của con người cách đây mấy ngàn năm Tại khu vựcĐàn Xã Tắc, gần HTTL đã từng phát hiện dấu tích cư trú của cư dân văn hóa PhùngNguyên Theo GS Phan Huy Lê: “Khu di tích nằm trong địa bàn trung tâm lịch sử
và văn hóa thủ đô Hà Nội Trong khu vực này, khảo cổ học đã phát hiện dấu tích cưtrú sớm nhất của con người qua di tích văn hóa Phùng Nguyên tại lớp dưới của ditích đàn Xã Tắc (Đống Đa, Hà Nội) có niên địa khoảng giữa thiên niên kỳ II BC,
Trang 21trên một gò đất cao” [111 ; 11] Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử,
vị trí Nam, Bắc, Đông, Tây, tiện thế rồng cuộn hổ ngồi
Quá trình sử dụng các nguồn sử liệu để nghiên cứu về quy mô kiến trúcHTTL có thể chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn trước khi phát lộ lớn về khu khai quật
18 Hoàng Diệu (trước 2002) và giai đoạn 2 sau khi phát hiện khu vực 18 HoàngDiệu (từ 2002 đến nay)
- Các nghiên cứu từ đầu cho đến trước 2002
- Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay
1.1.1 Các nghiên cứu trước năm 2002
Các nghiên cứu về quy mô, cấu trúc của HTTL có thể kể đến những nghiêncứu tương đối sớm thuộc về các học giả người Pháp Như chúng ta đã biết, thành
Hà Nội bị phá hủy để xây dựng các khu phố xung quanh như đường Hoàng Diệu(Khi đó là đường VictoHuygo), đường Phan Đình Phùng (khi đó là đường Casno),
để rồi các dấu tích của thành Hà Nội vĩnh viễn không còn nữa ngoài một vài điểm
di tích như Cột cờ (phía Nam) và dấu tích thành Cửa Bắc đường Phan Đình Phùng(phía Bắc) Trong thời gian nửa đầu Tk XX có các nghiên cứu của Barbonneau, L
Bezacier trong cuốn sách nổi tiếng Le Art Vietnamien - Nghệ thuật Việt Nam, xuất
bản năm 1955, tác giả đã so sánh những di vật tìm thấy trong Nội thành Hà Nội vàkhu vực Quần Ngựa với những hiện vật thời Lý được tìm thấy tại một số địa điểm ởtỉnh Bắc Ninh Song, tác giả có một nhầm lẫn về mặt thuật ngữ và niên đại, các sảnphẩm thời Lý - Trần tìm thấy ở khu vực thành Hà Nội nhưng L Bezacier đã gọibằng thuật ngữ chung là “Nghệ thuật Đại La” (Tk IX - XI) Riêng về vị trí cungđiện của triều Lý và triều Trần, các ý kiến của Parmentier và Mercier cho rằng các
Trang 22cung điện thời Lê được làm chồng lên trên các di tích cung điện thời
khu vực phía Tây HTTL là khu vực Quần Ngựa có thể là các cung (Hí cung)(Palais
de Plaisance) của Hoàng đế
Tiếp sau các nhà nghiên cứu người Pháp, GS Trần Quốc Vượng trogn bàiviết: “Địa lý lịch sử miền Hà Nội (trước thế kỷ XI) [216] đăng trên tạp chí NCLS đãnghiên cứu một loạt các thành Long Biên, Tống Bình, Đại La của Cao Biền Riêng
về quy mô thành Đại La, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Chu vi của thành khoảng
6 km2, vậy nó chiếm một diện tích vào khoảng trên dưới 2 km2, trung tâm đại để cóthể là miền Quần Ngựa, mặt Tây giáp sông Tô Lịch, mặt Bắc giáp sông Hồng, phíaĐông có thể tới gần vườn Bách Thảo ngày nay, phía Nam có thể tới đường Đội Cấnngày nay [216; 47- 57] Như vậy, vào thời điểm năm 1959, GS Trần Quốc Vượngcho rằng trung tâm của thành Đại La có thể là khu vực Quần Ngựa chứ không phải
là khu vực HTTL hiện nay Về vị trí của trung tâm thành Lũy thời thuộc Đường, GSTrần Quốc Vượng viết: “Trong tình hình hiện nay, chưa có thể xác định một cáchchắc chắn các thành lũy nói trên của đời thuộc Đường” Cuối bài viết, GS TrầnQuốc Vượng cho rằng: Để việc giao thông cho thuận tiện, đặc biệt sau khi sông TôLịch bị cạn “Cuối cùng đến đời Lê người ta đã phải dời thành về phía Đông thànhĐại La (Thăng Long) cũ, tức là thành ngày nay, góc Đông Bắc của thành cắt vớicon đê cũ của Hà Nội Như vậy, để cho Kinh thành ở ngay cạnh sông, giao thôngcho dễ dàng” [216; 47- 57 ]
Trong những năm đầu thập kỷ 60 của Tk XX, nhiều nhà nghiên cứu như:Biệt Lam Trần Huy Bá, Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán đã để tâm nghiên cứu
về vị trí Thành Hà Nội và các di tích núi Cung, núi Nùng, Núi Sưa tạo cho khôngkhí học thuật khá sôi nổi
Các cuộc khai quật khảo cổ học tại các địa điểm khác thuộc khu vựcngoài HTTL (hiện nay) đã được các nhà khảo cổ học tiến hành ở nhiều nơi như ởTây Nam núi Cung (1970- 1971); Đồng Gạch - Đồng Giếng (1972); khu vựcLăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1973), thám sát khu vực chùa Chân Giáo (1978),khai quật chữa cháy ở khu vực Ngọc Khánh Đặc biệt là khai quật thăm dò với
Trang 23diện tích nhỏ khu vực Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn đã tìm thấy
chưa được nghiên cứu nhiều
1.1.2 Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay
Ngay từ khi phát lộ khu di tích HTTL, các cơ quan chức năng đã tổ chứcnhiều cuộc Tọa đàm, Hội thảo tập trung đông đảo các nhà Khoa học của cả nướcđầu tư công sức, trí tuệ nghiên cứu Các cuộc hội thảo do Viện Khoa học xã hộiViệt Nam, Bộ Văn hóa Thông tin và Bộ Xây dựng tổ chức Đặc biệt là Hội nghịKhoa học Toàn quốc do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức ngày 19 -20/8/2004, Hội thảo Tư vấn Quốc tế do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phốihợp với Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại HàNội tổ chức ngày 10 - 11/8/2004 và Hội nghị ngày 18/2/2006 do Bộ Văn hóaThông tin tổ chức
Tuy phát hiện từ 2002 nhưng để có được nhận định khoa học thì phải đợithêm một thời gian sau khi đã phát lộ khai quật được một không gian rộng, đồngthời cần phải có thời gian chỉnh lý, nghiên cứu tư liệu Vì vậy, phải đến khoảng năm
2007 trở đi những nghiên cứu bước đầu về quy mô, cấu trúc HTTL mới được công
bố, đánh giá, nhận định Thậm chí, những nghiên cứu công bố mới chỉ là những tiếpcận ban đầu, đúng như lời mở của Tòa soạn Tc KCH đặt lời dẫn cho bài viết:
"Bước đầu nghiên cứu trang trí trên ngói ở Hoàng thành Thăng Long qua tư liệu hố D4- D5- D6 (khu D) ở 18 Hoàng Diệu- Hà Nội”: "Nghiên cứu chỉnh lý khu di tích
HTTL tại 18 Hoàng Diệu do viện Khảo cổ học chủ trì là một công trình tiến hànhlâu dài trong nhiều năm tới ( ) Đây chỉ là một diện tích nhỏ đối với một khối tưliệu khổng lồ mà cuộc khai quật đạt được Cho nên, kết quả này chắc chắn sẽ thayđổi khi toàn bộ công tác chỉnh lý được hoàn tất [101; 88] Trong kết luận, các tácgiả viết: "Kết quả khai quật ở các hố D4, D5, D6 đã tìm thấy ngói và các bộ phậntrang trí trên ngói số lượng nhiều, loại hình khá phong phú ( ) Trang trí trên ngói ở
ba hố D4 - D5 - D6 góp phần tìm hiểu kiến trúc Thăng Long, mỹ thuật Thăng Long
Trang 24và góp phần định vị vị trí của địa điểm khảo cổ học 18 Hoàng Diệu
tổng thể của Kinh Thành Thăng Long xưa” [101; 107]
Nghiên cứu trực tiếp nhận định về quy mô, cấu trúc HTTL trong suốt cáctriều đại, Lý - Trần - Lê sơ - Mạc và Lê Trung Hưng GS Phan Huy Lê trong bài: “Càng nghiên cứu, càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị khu di tích Hoàng thành ThăngLong tại 18 Hoàng Diệu” đăng trên tạp chí Khảo cổ học, cho rằng quy mô La Thành
và HTTL suốt các thời kỳ từ Lý đến Trần và Lê có sự thay đổi nhưng về Cấm thànhhầu như không có sự thay đổi: “Khu di tích ngay từ khi mới phát hiện được xácđịnh nằm trong HTTL thì dần dần được xác định cụ thể hơn là nằm trong Cấmthành tức trung tâm của Hoàng thành, Kinh thành Thăng Long gồm ba vòng thành:Đại La, Hoàng thành (tên dùng từ thời Lê sơ) và Cấm thành Thành Đại La vàHoàng Thành có những thay đổi từ thời Lý, Trần sang Lê sơ, từ thời Lê sơ sang thờiMạc và Lê Trung hưng nhưng vị trí và quy mô của Cấm thành thì hầu như khôngthay đổi, chỉ có các cung điện thì trải qua nhiều lần xây dựng, tu sửa, phá dỡ, hủyhoại Cấm thành là nơi tập trung những cung điện tiêu biểu nhất của các vươngtriều, những sản phẩm cao cấp nhất của nền kinh tế, văn hóa của đất nước qua cácthời kỳ lịch sử” [106; 56] Qua nghiên cứu nguồn sử liệu khảo cổ (di tích và di vật),thông qua các nghiên cứu về số đo của kiến trúc và mặt bằng kiến trúc, các nhànghiên cứu Nhật Bản và Việt Nam cho biết, quy mô của các cung, điện thời Lý,Trần trong Cấm thành khá bề thế: “Kết quả nghiên cứu các di tích kiến trúc tại hiệntrường cho phép các chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam đưa ra những nhận xét kiếntrúc và lập bản vẽ mặt bằng một số kiến trúc thời Lý, Trần với những số liệu đo đạc
cụ thể Thông tin này càng cho thấy quy mô khá to lớn của các cung điện trong Cấmthành xưa” [106; 56] Khi nghiên cứu về quy mô, cấu trúc HTTL, PGS TS TốngTrung Tín, PGS TS Bùi Minh Trí cho rằng: Hai khó khăn trong nghiên cứu quy
mô, cấu trúc HTTL về mặt sử liệu, đặc biệt là về mặt sử liệu bản đồ cổ và nghiêncứu trên mặt bằng di tích do các di tích bị cắt phá hoặc khai quật còn nhỏ lẻ nên khó
có thể có được nhận định chính xác: “Thứ nhất, hiện nay không có một nguồn tư
Trang 25liệu lịch sử và bản vẽ cổ nào mô tả về hình dáng, quy mô, kích
trình kiến trúc trong HTTL và Cấm thành Thăng Long xưa
Thứ hai, các dấu tích kiến trúc còn lại chủ yếu là phần nền móng, lại rấtphức tạp bởi có rất nhiều loại hình kiến trúc của nhiều thời kỳ nằm chồng xếphoặc cắt phá lên nhau Mặt khác, quy mô mặt bằng của các kiến trúc thường rấtlớn nhưng phạm vi khai quật còn nhỏ, nên nhiều dấu tích chưa xuất lộ hết, vì thếchưa thể đưa ra được nhận thức chung về mặt bằng của các di tích kiến trúc đangxuất lộ” [177; 59]
Các nhà Khảo cổ học cũng đã quan tâm nhiều đến nguồn sử liệu trong sử cũ
để nghiên cứu, đối sánh nhưng đã chỉ ra những miêu tả trong sử cũ với những kiếntrúc thật tìm được qua kết quả Khảo cổ rất khó hình dung vì trong sử cũ đề cập đếncác lầu, gác, cung, điện miêu tả tráng lệ đó không thể tìm thấy nhiều trong các ditích Khảo cổ học mà chỉ có thể tìm thấy qua một bộ phận nào đó như nền móngkiến trúc Tuy nhiên, chỉ cần qua nguồn sử liệu vật thật là nền móng kiến trúc cũng
có thể hình dung được phần nào về quy mô kiến trúc HTTL Các tác giả viết: “ Nhưng nếu nghiên cứu kỹ hệ thống nền móng đó ta có thể hiểu được mặt bằng củatừng loại đơn nguyên kiến trúc cũng như diện mạo tổng thể chung của các kiến trúctrong khu vực Lý do đơn giản là các kiến trúc cung điện trong HTTL và Cấm thànhThăng Long xưa, cũng như di tích kinh đô của nhiều nước châu Á như Trung Quốc,Nhật Bản, Hàn Quốc trong cùng bối cảnh, thường là khu nhà bằng gỗ chịu lực vàthành phần chịu lực chủ yếu là các cột nhà Vì vậy, các chân cột thường được chú ý
kê đỡ và gia cố với hai thành phần chính là chân tảng và móng trụ” [177; 59]
Nghiên cứu về quy mô kiến trúc của HTTL cũng như của các công trình kiếntrúc, các nhà KCH không thể bỏ qua những nguồn sử liệu vật thực có giá trị đưa lạithông tin sát thực được tìm thấy trong các hố khai quật như kỹ thuật gia cố, hệthống cột trụ và hệ thống khung gỗ Đặc biệt những kiến trúc này được xây dựngtrên một môi trường đồng bằng châu thổ có nhiều hồ ao dày đặc và khí hậu nóng,
ẩm, lụt, bão thường xuyên xảy ra nhiều thì việc gia cố lại rất quan trọng: “Tại nhiềukhu vực trong khu di tích HTTL đã tìm thấy nhiều cột gỗ đang còn nguyên ở vị trí
Trang 26ban đầu Ví dự như ở khu B16 đã tìm thấy hệ thống cột gỗ thời Tiền
gỗ này có thể thuộc niên đại Trần” [177; 59]
Tại khu A, B, C, D các nhà KCH đã phát hiện được hàng chục dấu tích kiếntrúc gỗ có quy mô lớn thời Lý - Trần - Lê với mặt bằng 5 đơn nguyên kiến trúc Căn
cứ vào các trụ móng sỏi có kích thước lớn 1,3m x 1,3 m xuất lộ ở các hố A11, đượcxếp thành 11 hàng, mỗi hàng có 4 móng trụ, chạy theo chiều Bắc - Nam Chiều rộngcủa công trình này là 17,65m, khoảng cách giữa các cột là 3,0 m, khoảng cách giữacác cột Cái trong lòng nhà là 6,0 m, chiều rộng của các bước gian cũng rất lớn từ5,8 - 6,0 m Theo các nhà KCH, công trình này có 11 gian (9 gian và 2 chái), độ dàikhoảng 70 m, rộng gần 18 m (diện tích khoảng 1.200m2), mặt hướng về phía Đông.Hai bên phía Đông và phía Tây của dãy nhà có hai đường thoát nước lớn được xâybằng gạch Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các công trình dinh thự với hệ thốngthoát nước và các nguồn thông tin về sử liệu khác mới có thể góp phần phục dựngđược phần nào diện mạo quy mô và cấu trúc HTTL Cũng trong khu A - B, các nhànghiên cứu đã tìm thấy mặt bằng kiến trúc lớn nhiều gian ở khu A (A20 + 5), khu Bvới một số kiến trúc nhỏ và một số kiến trúc lớn thậm chí rất lớn mà các nhà nghiêncứu gọi là: Kiến trúc “nhà dài” 13 gian ở giữa khu B; Mặt bằng kiến trúc 5 gian ởkhu D (D4 + 5) và có cả kiến trúc lục giác Tại khu (A1 + 11) cũng phát hiện thấy
di tích lục giác Các nhà Khảo cổ học cũng đã gắn kết, liên hệ giữa các nguồn sửliệu khảo cổ với nguồn sử liệu sử cũ đồng thời nghiên cứu độ kiên cố của di tíchkiến trúc và đã đưa ra giả thuyết: Có thể đây là lầu được dùng để Thưởng Trà
hay còn gọi là “điện Hô Trà” trong chính sử “Căn cứ vào sự kiên cố củamóng trụ, các nhà KCH Nhật Bản suy đoán rằng, kiến trúc lầu lục giác này có thểđược làm nhiều tầng mái và có hình dáng rất đẹp Những kiến trúc lầu này có niênđại vào khoảng thời Lý, cùng thời với kiến trúc nhiều gian A1 + 11, được xây dựng
Trang 27nhằm phục vụ cho nhu cầu thưởng ngoạn trong Hoàng cung khi đó Trong VSLcũng ghi chép về loại hình kiến trúc này gọi là Trà Đình (nhà/lầu để thưởngtrà) [177; 59] Qua kết quả khai quật KCH các năm 2005, 2006 ở khu A,B,C,D,PGS TS Tống Trung Tín và PGS TS Bùi Minh Trí cho rằng: Tại vị trí này thuộckhu vực Cấm Thành Thăng Long, ở đây tồn tại một số cung điện thuộc khu vực
“Tân cung” xây dựng cuối thời Lý (1203)
Tác giả bài viết: “Về một số dấu tích kiến trúc trong Cấm thành Thăng Longthời Lý - Trần qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học năm 2005 - 2006” tại khu vựckhảo cổ khu A, B, C, D cho rằng: với nguồn sử liệu vật thật đặc biệt là hệ thốngchân tảng, gia cố trụ móng cho biết nơi đây chủ yếu là các kiến trúc có niên đại thời
Lý - Trần, các di tích thời Lê và Nguyễn còn lại ít hơn và bị phá hủy khi nhàNguyễn xây dựng thành Hà Nội Các kiến trúc có trụ móng lớn chứng tỏ công trìnhquy mô lớn, kiên cố và khu vực 18 Hoàng Diệu có một hệ thống các cung điệnthuộc Cấm Thành Thăng Long [177; 70 - 71]
Nghiên cứu nguồn sử liệu vật thật ở HTTL không thể không đề cập đếnvật liệu gạch xây dựng Điều độc đáo là, có một số loại gạch có khắc chữ Hán.Gạch thời Lý - Trần thường có thông điệp niên hiệu vua hay tên của một bộ phận
giúp việc của triều đình hoặc có một số tên địa danh như: Vĩnh Ninh trường
, Thu Vật huyện, Thu Vật hương , Tuy nhiên, vật thực có khắcchữ mang tên địa danh không nhiều như đã phát hiện được trong thành nhà Hồ(Thanh Hóa) Ở HTTL cũng như ở Thành nhà Hồ (Thanh Hóa) đều phát hiệnđược hiện vật gạch khắc chữ “Vĩnh Ninh trường” , đối chiếu với nguồn sửliệu thư tịch cho biết, cuối thời Trần (1397), Hồ Quý Ly cho dời đô từ Ly Cungvào thành mới và làm lễ khánh thành ngày 15 tháng 3 năm 1398) (Xem
ĐVSKTT) PGS TS Đặng Hồng Sơn cho rằng: “Việc nghiên cứu vật liệu xây
dựng thành nhà Hồ vừa có giá trị nghiên cứu nghệ thuật và lịch sử thời Hồ Quý
Ly vừa có thể hiểu được một phần nào vật liệu xây dựng thời Trần ở Thăng
Trang 28Long” [154; 53] Như thế, việc nghiên cứu các nguồn không chỉ dừng lại ởcông
tác so sánh giữa các nguồn sử liệu vật thật và thư tịch mà cần phải
sánh trên phạm vi rộng ở các di tích khác nhau có xuất hiện vật thật có
loại hình hoặc cùng chứa đựng một nội dung thông tin
Là một chuyên gia nghiên cứu về các kiến trúc cổ, GS Kazuto Inoue lại chú
ý đến việc thiết lập hệ tọa độ và nghiên cứu thước đo được dùng để thiết kế HoàngThành Thăng Long trước khi đi vào việc nghiên cứu cụ thể Về việc thiết lập hệ lướitọa độ chung cho cả khu vực HTTL, GS Kazuto Inoue đã chọn điểm Điện KínhThiên làm vật chuẩn và khi nghiên cứu tìm thước đo cho HTTL, GS Kazuto Inoue
đã liên hệ, gắn kết giữa thực địa với nguồn sử liệu thư tịch Trung Hoa ghi về thước
đo thời Tống: “Hơn nữa, về thước đo chuẩn xây dựng (chiều dài của đơn vị kíchthước thực tế) có nhiều tính khả năng, nhưng vì trong các thư tịch cổ có nhắc đếnmột đơn vị là “thước” và qua thời kỳ suy đoán thước của Trung Quốc (nhà Tống)
mà thời kỳ đầu tiên đưa vào sử dụng (ở Việt Nam) là nhà Lý, thường có kích thước
là 30,0 cm nên trước tiên, chúng tôi sẽ lấy chiều dài này làm chuẩn và thử kiểm tratheo chiều dài này [82; 45]
Để nghiên cứu quy mô công trình và các bước gian, các nhà KCH đã dựa vàohiện trạng các hàng chân cột được phát hiện trong quá trình khai quật rồi quy đổi số
đo được ghi trong thư tịch cổ để tính ra đơn vị “thước” cổ; GS Kazuto Inoue viết:
“Chỉ có thể lấy vị trí của chân tảng hiện còn làm điểm mốc và từ đó xác địnhkhoảng cách tương đối giữa các trụ móng sỏi gia cố khác bằng phương pháp đổikích thước giữa các cột đó ra thước với tỷ lệ 1 thước = 29,9 cm và làm trong số”[82;49] Cũng nhờ có sự quy đổi thước cổ được ghi chép trong thư tịch, sau đó sosánh và ứng đổi với mặt bằng khai quật, tác giả tính toán được chiều Đông - Tâycủa thiết kế cung điện thời Lý của dãy kiến trúc lục giác là 209,4m tương ứng vớikhoảng 700 thước “ ( ) Nếu chúng ta sử dụng phương vị đã nêu ở trên để tínhkhoảng cách giữa kiến trúc SB 04 - 8 và SB 008 - 2, tức là khoảng cách từ Đôngsang Tây theo thiết kế cung điện thời Lý của dãy kiến trúc lục giác ở hai phía Đông
- Tây thì có được con số 209,4m, bằng đúng khoảng cách tính trên trục tọa độ
Trang 29HTTL (số tính chính xác là 209,38 m) Nếu lấy một thước chuẩn khi
thống cung điện nằm theo hướng Đông - Tây
Về quy mô kiến trúc ở khu A và B, tính đến năm 2010, chỉ tính các kiến trúcthời Lý, có đến 20 đơn vị kiến trúc (bao gồm 11 kiến trúc chân tảng xếp thành hìnhlục giác có nhiều tầng), 2 con đường và 2 bức tường Theo nhận định, đánh giá của
GS Kazuto Inoue thì đây là một kiến trúc được xây dựng theo một quy hoạch khánghiêm ngặt: “ Nhưng trên thực tế phải hiểu rằng toàn bộ bước gian khu di tíchnày đã khai quật như những đường rãnh nước men theo kiến trúc và con đường, haynhững bước gian có (mặt ?) lát gạch giữa các tòa nhà đều là vết tích nào đó Nhữngvết tích kiến trúc này như chúng tôi đã nhắc đến được xây dựng theo một quy hoạchkhá nghiêm ngặt” [82; 49] Từ việc phân tích, nghiên cứu khu A - B, GS KazutoInoue đã phán đoán kiến trúc phía Nam khu A - B (kí hiệu SB020): “Phía sau kiếntrúc này, ở phía Bắc có hành lang SC020 và có thể phỏng đoán hành lang này được
bố trí để bao quanh kiến trúc SB022 và ở phía Tây lại bẻ ngoặt về phía sau Quy môcủa toàn bộ khu nam chưa rõ ràng, nhưng có thể nghĩ rằng, kiến trúc SB022 là cóchức năng quan trọng như kiến trúc trung tâm khu vực này, và nằm ở mép phíaBắc” [82; 62]
Bằng việc quy đổi đơn vị số đo với thực địa của khu SB004 với nền móngtháp lục giác, GS Kazuto Inoue cho rằng: hiện trạng của những trụ móng sỏi dùng
để đặt chân tảng lên trên, khả năng đó là những ngôi tháp nhiều tầng nhỏ, mặt bằnghình lục giác (lầu nhiều tầng) Và từ những hiện vật tháp (mô hình) nhiều tầng đượckhắc trên những viên gạch tìm thấy trong HTTL, theo tác giả có thể phục nguyênnhư hình lục giác với 9 tầng
Về những hiện vật chân tảng gắn với kiến trúc lục giác ở khu vực SB001theo hướng Bắc - Nam của khu A, nhà khảo cổ học cho rằng, có thể nó liên quanđến kiến trúc Phật giáo: “Nếu đặt một tiền đề giả sử những kiến trúc với chân tảng
Trang 30xếp thành hình lục giác có nhiều tầng đó ít nhiều mang sắc thái của
thể phán đoán kiến trúc SB001 là nơi tiến hành các nghi lễ tôn giáo Hơn
với điều đó, nếu chúng ta cho rằng lối đi SF026 chạy xuyên qua tòa nhà là
chức năng hơn những lối đi bình thường, mà là lối đi mang tính nghi lễ thìviệc
đánh giá quần thể các kiến trúc SF026, SB001, SB004 - 1- 11 có những
có duy nhất từ nguồn sử liệu khảo cổ thì thông tin rất hạn chế, cần phải có sự tích tụcủa các nguồn sử liệu khác: “ Như vậy, ở đây chúng ta có thể chỉ ra khả năng ở ditích HTTL phương vị của các kiến trúc khác nhau tùy thuộc vào thời kỳ mà chúngđược xây dựng Tuy nhiên, những dấu vết kiến trúc mà chúng ta có thể lấy làm đốitượng phân tích rất hạn chế, nên đòi hỏi phải nghiên cứu sâu hơn nữa nhờ vào sự
Trang 31tích tụ thông tin trong các cuộc khai quật từ nay về sau” [82; 69].
Trang 32Tuy không trực tiếp nghiên cứu về quy mô, cấu trúc HTTL, nhưng qua việcnghiên cứu về vật liệu kiến trúc cũng có thể biết được quy mô của công trình Quy
mô của dấu vết kiến trúc có sự liên hệ mật thiết giữa các bộ phận mái che, tườngchịu lực hoặc cột trụ và móng trụ Đây cũng được coi là một trong những nguồn
sử liệu vật thật trong nghiên cứu lịch sử “Một trong những di tích kiến trúc tiêubiểu ở HTTL là hệ thống các trụ móng cột, các trụ móng này được gia cố chốngsụt lún cho kiến trúc, quy mô của các trụ móng phần nào phản ảnh quy mô củakiến trúc Từ việc nghiên cứu các vật liệu kiến trúc cũng góp phần lý giải về cácmóng trụ này Chúng tôi cho rằng, móng trụ phải được gia cố chắc chắn xuấtphát từ yêu cầu trọng lượng bên trên của kiến trúc, tức là móng trụ là một giảipháp kỹ thuật nhằm tăng cường độ cứng của nền đất phía dưới giúp nó gánhđược khối kiến trúc ở bên trên mà trọng lượng chính của kiến trúc cung điện ởThăng Long là trọng lượng của bộ mái” [3;78] Để chứng minh trọng lượng đồ
sộ của một bộ mái, các nhà khảo cổ học đã dùng phương pháp toán học tínhtrọng lượng của một viên ngói lợp còn nguyên vẹn phát hiện ngay trên dấu tíchcủa công trình rồi (x) với m2 cần phải lợp sau đó tiếp tục (x) với số m2 được chephủ của công trình (Tất nhiên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thiết về độ dốccủa mái) từ đó tính được trọng lượng mái của công trình lên đến hàng trăm tấn.Đây là trường hợp tiêu biểu ở hố khai quật ở khu A, có 1 tầng được các nhànghiên cứu khảo cổ học tính như sau: “Giả sử kiến trúc A1 có 1 tầng và được lợpbằng loại ngói cánh sen có kích thước (40 x 25 x 2,5) cm, trọng lượng trung bìnhmỗi viên là 6 kg Kiến trúc A1 có kích thước mặt bằng là 60,3m x 12m, về lýthuyết mái có thể đua ra khỏi mặt bằng không quá 1,2 m (ở đây, chúng tôi tính1,2m) tức là chiều rộng của khu vực có mái che phủ là 14,4m; độ dốc mái khôngquá 450 (chúng tôi tạm tính là 300), như vậy, chiều cao từ giọt ngói đến đỉnh mái(c) là 4,14 m; chiều rộng của 1 mái là cạnh huyền của tam giác (a) là 8,314 Vớicác thông số như trên, chúng ta có diện tích mỗi mái là 501,334 m2; Tổng diệntích 2 mái là 1002.668 m2 Nếu lợp ngói cánh sen cỡ (40 x 25 x 2,5) cm với cáchthức lợp viên trên lệch viên dưới 25 cm thì 1m2 hết 16 viên, trọng lượng trung
Trang 33bình mỗi viên là 6 kg Như vậy 1m2 có trọng lượng khoảng 96 kg.
Với cách tính trên đã có thể phác họa, giúp hình dung được phần nào về sự
đồ sộ của một công trình kiến trúc trong Hoàng Cung Thăng Long Tuy nhiên, đây
là một giả thiết về một kiến trúc công trình đơn giản chỉ có 1 tầng, 2 mái, chưa tínhđến công trình được thiết kế theo kiểu từ 2 tầng trở lên với kiểu chồng diêm 4 máivẫn thường thấy ở các công trình kiến trúc cổ Ngoài ra cũng cần phải tính đến phầncác vật liệu dùng làm giá đỡ như: rui, mè, xà, đấu trụ thuộc kết cấu phần trên.Như thế, có thể hình dung trọng lượng của một cung điện ở hố khai quật khu A vớidiện tích khoảng 1000 m2 thì rất đồ sộ
Nếu như nhiều nghiên cứu đi sâu về các lĩnh vực như địa tầng kiến trúc, quy
mô của một công trình kiến trúc hay từ quy mô của hố khai quật của một nền côngtrình cung điện với những hiện vật khảo cổ có thể hình dung được quy mô côngtrình thì GS TS Nguyễn Quang Ngọc đã trực tiếp nghiên cứu về không gian “LongTrì - Đan Trì trong cấu trúc khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Đông Kinh”[140; 87] Nội dung bài viết đã đi sâu nghiên cứu về chức năng của Long Trì - ĐanTrì trong sử cũ (chính sử) đồng thời gắn kết không gian này với không gian củaĐiện Kính Thiên tới khu vực Đoan Môn Từ đó, tác giả khẳng định: Nghi lễ quantrọng của triều đình ở sân Long Trì - Đan Trì đồng thời khẳng định di tích điện CànNguyên (thời Lý), điện Thiên An (thời Trần) và di tích điện Kính Thiên (thời Lê)cùng với không gian sân Long Trì - Đan Trì, sân Đoan Môn từ thời Lý - Trần - Lê
là không hề thay đổi, vẫn ở một vị trí
Nghiên cứu quy mô, cấu trúc của HTTL, bằng việc căn cứ vào các nguồn sử
liệu chữ viết như Đại Việt sử kí toàn thư (ĐVSKTT), Quốc triều hình luật, GS.
Nguyễn Quang Ngọc so sánh quy mô, cấu trúc Hoàng thành thời Lý - Trần với thời
Lê, đặc biệt là đến thời Lê Thánh Tông có sự tu sửa bề thế, chia làm nhiều khunhưng tính đến trước thời Lê Thánh Tông, tòa Hoàng thành hầu như không có sựthay đổi Hay nói cách khác, phải đến thời Lê Thánh Tông trở đi, quy mô Hoàng
Trang 34thành mới thay đổi, được mở rộng hơn: “Quy mô và cấu trúc thành
lại trên quy mô tòa Cấm thành Thăng Long xưa, nhưng có nhiều lớp,
thành nhiều ô ngăn cách hơn, gọi là Cung thành, với quy chế bảo vệ hết
ngặt” [140; 91]
Trong nghiên cứu về không gian Long Trì - Đan Trì và điện Kính Thiên của
GS TS Nguyễn Quang Ngọc đề cập đến những hạng mục công trình quan trọngtrong khu vực Cấm Thành Thăng Long thuộc không gian điện Kính Thiên bao gồm:Cổng Chu Tước, Đoan Môn, đường “Ngự đạo” chạy thẳng vào khu vực chính điệnKính Thiên, Điện Thị Triều, Đông Tràng An, Tây Tràng An.Cổng Chu Tước,cùng với điện Càn Nguyên (thời Lý), Thiên An (thời Trần) và Kính Thiên (thời Lê)được so sánh với Đại Cực Điện và cổng Chu Tước của Nhật Bản, nhưng theo tácgiả, sự khác biệt của các công trình này ở trong Cấm thành Thăng Long không hềthay đổi vị trí còn ở Nhật Bản nó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi bị chuyểndời sang vị trí bên cạnh: “Cổng chính Nam của Nara cũng là cổng Chu Tước”
Về cấu trúc bên trong khu vực sân Đoan Môn, trước điện Kính Thiên trướcthời Lê Thánh Tông chỉ có hai dãy hành lang dài thì đến giờ có thêm điện Thị Triều
để cho các quần thần vào chầu vv
GS Phan Huy Lê trong bài viết: Càng Nghiên cứu càng nhận thức sâu sắc
hơn giá trị khu di tích Hoàng Thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu) nhận xét: “.
nhận thức chung tương đối đồng thuận về giá trị của Khu di tích Hoàng thànhThăng Long 18 Hoàng Diệu có thể tóm lược như sau: Khu di tích ngay khi mới pháthiện được xác định nằm trong HTTL thì dần dần được xác định cụ thể hơn là nằm
Trang 35trong Cấm thành tức Trung tâm của Hoàng thành Kinh thành Thăng Long gồm ba
Trang 36vòng thành: Đại La, Hoàng thành (tên dùng từ thời Lê sơ) và Cấm thành Thành Đại
La và Hoàng thành có những thay đổi từ thời Lý, Trần sang Lê sơ, từ thời Lê sơsang Mạc và Lê Trung hưng, nhưng vị trí và quy mô của Cấm thành thì hầu nhưkhông thay đổi, chỉ có các cung điện thì trải qua nhiều lần xây dựng, tu sửa, phá dỡ,hủy hoại Cấm thành là nơi tập trung những cung điện tiêu biểu nhất của cácvương triều, những sản phẩm cao cấp nhất của nền kinh tế, văn hóa của đất nướcqua các thời kỳ lịch sử (106; 54 - 55)
Nghiên cứu trực tiếp các di tích trong HTTL phải kể đến LATS của Phạm
Văn Triệu, Bảo vệ tại Trường ĐHKHXHNV, ĐHQGHN: “Di tích kiến trúc thời Lý
tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội ” Luận án đã nghiên cứu hàng loạt các di tích
thời Lý phát hiện trong Hoàng thành Thăng Long kể từ khi phát lộ năm 2002 chođến 2015 trên các khu vực khai quật 62 - 64 Trần Phú, khu vực khảo cổ học 18Hoàng Diệu và khu vực không gian điện Kính Thiên - Đoan Môn (1998 - 2015).Trong luận án Phạm Văn Triệu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thuần túy các ditích đã được khai quật ở khu vực 18 Hoàng Diệu và 62 - 64 Trần Phú, chưa tập hợpmột số di tích thời Lý ở khu vực nhà Quốc Hội đồng thời cũng chưa tập hợp hết các
di tích đã phát hiện trong khu vực số 9 Hoàng Diệu (giai đoạn 2011 - 2017) Quanghiên cứu các di tích khảo cổ học thời Lý, tác giả đã cho người đọc hình dungđược mật độ di tích thời Lý dày đặc với quy mô đồ sộ gồm 54 di tích, kiến trúcphức tạp Tuy nhiên, việc xác định vị trí công năng, tên gọi của nhiều di tích thời Lýtrong khu vực Hoàng thành Thăng Long vẫn là một vấn đề cần phải được nghiêncứu tiếp tục trong tương lai
Vấn đề đặt ra là di tích thời Lý - Trần có được xây dựng trên chính nền cũcủa di tích thời Đại La - Trị sở của An Nam Đô Hộ Phủ thời thuộc Đường haykhông và nếu có thì di tích thời Lý - Trần được xây dựng lên di tích thời Đại La với
vị trí và quy mô có trùng lên nhau không (?) Đây là một vấn đề được nhiều nhànghiên cứu hết sức quan tâm Nhưng có lẽ, trong tất cả các nguồn sử liệu chứngminh về sự tồn tại của tòa Thành Đại La thì nguồn sử liệu vật thực có ý nghĩa quantrọng bậc nhất Kết quả chứng minh qua vật thực như: nền móng kiến trúc, cột âm
Trang 37bằng gỗ có niên đại thời Đại La và nhiều hiện vật gạch, ngói nung có khắc chữ đặctrưng thời Đại La Tại khu B, khu D khai quật khảo cổ học Hoàng Thành Thăng
Long đã tìm thấy các viên gạch có chữ như Giang Tây quân , Giang Tây chuyên , những mảnh bình gốm Islam vùng Tây Á, những di vật gốm menxanh thời Đường, những viên gạch màu xám tro xuất hiện trong những chiếc giếngthời Lý - Trần (tái sử dụng lại) Các di tích thời Đại La nằm dưới tầng văn hóa thời
Lý - Trần nên nhiều khi rất khó nghiêm cứu Theo PGS TS Bùi Minh Trí, trongtoàn bộ 4 khu A, B, C, D: Do phát hiện kiến trúc Đại La còn quá đơn lẻ của từng bộphận kiến trúc lại nằm ở tầng dưới của văn hóa thời Lý nên rất khó khăn trong việcnhận diện về quy mô, cấu trúc Hơn nữa, những di tích kiến trúc thời Lý rất quantrọng cần phải được bảo tồn nên khó có điều kiện đào sâu xuống dưới được Vì vậy,
cơ hội để tìm kiếm các di tích thời Đại La khó thực hiện được Đây cũng là lý do vìsao trong toàn bộ 4 khu khai quật A, B, C D, chưa có nơi nào tìm được trọn vẹnmặt bằng một đơn nguyên kiến trúc thời Đại La, ngoại trừ một số đoạn nền nhà haymột số móng trụ cột gỗ là những bộ phận của công trình kiến trúc đã nêu ở trên Vềmặt kiến trúc, tác giả đã đi đến nhận định: “Phát hiện về kỹ thuật có tính chất quantrọng hơn, đó là thời kỳ này các công trình kiến trúc chủ yếu được xây dựng bằngcách chôn cột xuống lòng đất, tạo ra sự vững chắc cho công trình Để phân biệt với
kỹ thuật xây dựng cột đặt trên nền nhà (cột dương), chúng tôi tự đưa ra khái niệmgọi là “cột âm”
Sau khi khai quật khu vực xây dựng nhà Quốc hội (Tháng 3 năm 2008 - đếntháng 7 năm 2009), các nhà khai quật khảo cổ học đã phát hiện được một quần thểkiến trúc gồm 17 công trình kiến trúc thời Đại La cung cấp những tư liệu hoàn toànchính xác để khẳng định điều nhận xét trên, nghĩa là phần lớn các công trình kiếntrức thời Đại La được xây dựng bằng “cột âm”, tức là chôn cột xuống lòng đất Kỹthuật làm móng trụ của thời kỳ này chủ yếu là dùng ngói vỡ và gỗ để kê chân cột
Kỹ thuật dùng sỏi để gia cố móng cũng đã bắt đầu xuất hiện nhưng chủ yếu là loạisỏi nhỏ pha cát và dùng để lót đáy móng chứ không đầm nén như kỹ thuật gia cố trụ
Trang 38sỏi thời Lý Từ những kết quả nghiên cứu về di tích thời Đại La và
trình khai quật di tích Đại La trong khu vực khu B, D và khu vực nhà Quốc
giả đi đến 2 nhận xét:
+ Việc tìm thấy các di tích kiến trúc thời Đại La nằm dưới tầng văn hóa thời
Lý đã góp phần xác định rõ, vị trí của tòa thành Đại La không có ở nơi nào khác màchính ở ngay trong khu trung tâm của Cấm Thành - Hoàng Thành Nói cách khácCấm Thành Thăng Long được xây dựng đúng vị trí của tòa thành Đại La cũ, trên cơtầng của lị sở An Nam Đô Hộ Phủ
+ Sự sầm uất, trù phú và địa thế thuận lợi của vùng đất An Nam Đô Hộ Phủkhi đó là lý do quan trọng thôi thúc vua Lý Công Uẩn chọn làm nơi định đô, biếnvùng đất đồn trú của người Hoa trở thành trung tâm chính trị, văn hóa lớn của nướcĐại Việt, mở ra kỷ nguyên mới cho nền Văn minh Đại Việt, đặt nền móng cho sựphát triển của kinh đô Thăng Long dưới các triều đại tiếp theo
Tập sách chuyên khảo và cập nhật những thành tựu nghiên cứu của toàn bộgiới khoa học lịch sử, khảo cổ trong những năm gần đây và được coi là một bướctiến vượt bậc trong nghiên cứu, nhận thức về quy mô, cấu trúc HTTL phải kể đến
công trình Không gian khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long tư liệu và nhận thức
do GS Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) Tập sách đã tập hợp 16 bài nghiên cứu của
15 tác giả chia làm 4 chủ đề nghiên cứu chính:
+ Chủ đề nghiên cứu về vị trí Cấm thành của HTTL có các bài viết: Cấm
thành Thăng Long qua các thời kỳ lịch sử (GS Phan Huy Lê); Góp phần nhận diện không gian khu trung tâm Cấm thành Thăng Long (GS Nguyễn Quang Ngọc); Cung Thánh Từ, chế độ Thượng Hoàng và khu cung cấm của Thăng Long thời Trần (GS.
Momoki Shiro); Những trục chính tâm của đô thị Thăng Long - Hà Nội T.ÌS TS Yumio Sakurai); Hoàng thành Thăng Long triều Lê Thánh Tông (1460- 1497) của
TS Đỗ Thùy Lan;
+ Nghiên cứu tư liệu Khảo cổ học: Tổng quan về Khảo cổ học Thăng Long
từ cuối thế kỷ XIXđến nay của PGS TS Tống Trung Tín; Kiến trúc thời Lý ở khu
A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long: Những thành tựu sau 10 năm nghiên cứu
Trang 39của PGS TS Bùi Minh Trí; Những nét chính trong đợt khai quật
thành Thăng Long 2011- 2013 của TS Hà Văn Cẩn;
+ Nghiên cứu tư liệu thư tịch và bản đồ: Khảo sát Hồng Đức bản đồ của GS Ueno Kunikazu; Thành Thăng Long đầu thế kỷ XX của Ths Tống Văn Lợi; Dấu
tích Hoàng thành thăng Long và thành Hà Nội qua khảo sát địa bạn hai huyện Thọ Xương, Vĩnh thuận (Ths Vũ Đường Luân);
+ Nghiên cứu so sánh: Ảnh hưởng mô hình Lạc Dương và Khai Phong đến
quy hoạch Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần (TS Phạm Lê Huy);
Nghiên cứu di tích văn hóa có: Di tích tâm linh đặc biệt thời Lý phát hiện tại
Lô E - Khu di sản Hoàng thành Thăng Long GS TS Bùi Văn Liêm) Bên cạnh đó,
có bài viết về sự biến đổi của Hoàng thành Thăng Long thời Nguyễn và Pháp thuộc
của TS Olivier Tassier: “Từ lúc chiếm thành Hà Nội (1873) cho đến khi phá bỏ
thành 1897: Phá hủy và biến đổi không gian đô thị”
Ngoài các sách chuyên khảo, các bài báo khoa học ít nhiều đề cập trực tiếphoặc gián tiếp đến các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL như đã đề cậpđến ở trên còn có một số luân án tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ đề cập đến quy mô, cấutrúc của Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội như một số công trình sau:
Sau khi phát lộ khu vực khảo cổ học HTTL - HN, nhiều luận văn Ths đã
quan tâm nghiên cứu Chẳng hạn: Ngô Thị Lan (2006), Trang trí trên ngói ở Hoàng
Thành Thăng Long qua tư liệu hố D4 - D5 - D6 (Khu D) ở 18 Hoàng Diệu - Hà Nội (ĐHKHXH và NV, ĐHQGHN); Bùi Văn Hiếu (2011), Móng kiến trúc thời Lý - Trần - Hồ qua tư liệu khảo cổ học, Luận văn Ths Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà
Nội; Phạm Văn Triệu (2011), Di tích kiến trúc Hoàng thành Thăng Long hố
D4-D5- D6 (18 Hoàng Diệu, Hà Nội), Luận văn Ths Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà
Nội; Vũ Đường Luân (Khoa Lịch sử, ĐHKHXH và NV, ĐHQGHN): Nghiên cứu
về Kinh Thành Thăng Long thời Lý - Trần; Tống Văn Lợi (Viện Việt Nam học và
Khoa học Phát triển, ĐHQGHN): Nghiên cứu về hệ thống bản đồ Thăng Long từ
thế kỷ XV đến thế kỷ thứ XIX; Chu Thị Hiền (HVKHXH, VHLKHXHVN): “Di tích kiến trúc Cột Cờ, Bắc Môn, Đoan Môn và nền điện Kính Thiên tại Khu di sản trung
Trang 40tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội (2017); Đỗ Đức Tuệ
ĐHQGHN): Dấu tích kiến trúc thời Lê ở khu vực chính điện Kính Thiên thời Lê
(Qua các đợt khai quật 2011- 2013), (2017)
Có thể nói rằng, khi nghiên cứu về HTTL, các luận văn Ths chủ yếu nghiêncứu từ một vài di tích cụ thể được khai quật trong thời gian qua hoặc nghiên cứu vềlĩnh vực bản đồ ở một giai đoạn lịch sử nhất định chứ chưa phải là về mô mô, cấutrúc của HTTL trong lịch sử nói chung và nghiên cứu về các nguồn sử liệu về quy
mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần - Lê nói riêng
1.2 Khát quát kết quả của các công trình nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
1.2.1 Kết quả của các công trình nghiên cứu trước
Có thể thấy rằng sử liệu về HTTL rất đồ sộ và thành tựu nghiên cứu của giớinghiên cứu Lịch sử nói riêng và Khoa học xã hội nói chung về HTTL cũng rất lớnđược thể hiện dưới nhiều hình thức như: Luận án tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, các sáchchuyên khảo, sách tham khảo, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí chuyênngành, kỷ yếu hội thảo quốc gia, quốc tế; Các tập san khoa học Lĩnh vực nghiêncứu cũng khá đa dạng như: Nghiên cứu di tích, nghiên cứu di vật, văn hóa vật thể,phi vật thể, vật liệu kiến trúc, nghiên cứu sử liệu bản đồ, thư tịch, văn bia trên cáclĩnh vực: Khảo cổ, lịch sử, Hán Nôm, địa chất, môi trường được nhiều nhànghiên cứu quan tâm, lý giải Có thể nói một cách chính xác, những công trìnhnghiên cứu đó được đề cập đến ở trên thực chất là lịch sử vấn đề nghiên cứu HTTLchứ chưa phải hoàn toàn là lịch sử nghiên cứu về Các nguồn sử liệu về quy mô, cấutrúc HTTL thời Lý - Trần - Lê Có thể khẳng định rằng, cho đến hiện nay dườngnhư rất ít công trình sử học nghiên cứu về các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúccủa HTTL thời Lý - Trần - Lê Mặc dù các nhà nghiên cứu từ trước đến nay khôngđặt vấn đề nghiên cứu các nguồn sử liệu về quy mô và cấu trúc của HTTL qua cácthời kỳ Lý - Trần - Lê nhưng trên thực tế đã có nhiều nhà nghiên cứu đặt các giảthuyết và tiến hành nghiên cứu, nhận định về vị trí và quy mô của Hoàng thành vàCấm thành Thăng Long Chung quy lại có thể chia giai đoạn nghiên cứu thành hai