Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu- Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về đổi mới tư duy chính trị,phân tích những nội dung chủ yếu trong tư duy chính trị mới của Đản
Trang 1Vũ Thị Thu Hương
QUÁ TRÌNH ĐÔI MỚI TƯ DUY CHÍNH TRỊ
Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 Đ ẾN NAY
LUẶN ÁN TIẾN s ĩ TRIẾT HỌ c
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌ c XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2018
Trang 2Vũ Thị Thu Hương
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY CHÍNH TRỊ
Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 Đ ẾN NAY
c huy ên ngành: CNDVBC & CNDVLS
LUẶN ÁN TIẾN s ĩ TRIẾT HỌ c
NGƯỜ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÀ
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI Đ ỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn
ĐẠI HỌ c QUÔC GIA HÀ N ỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌ c XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác.Những kết luận khoa học của luận án là mới và chưa công bố trong bất cứcông trình khoa học nào
Tác giả luận án
Vũ Thị Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
4
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có một hệ thống tư tưởng nhằmđịnh hướng cho quá trình phát triển của mình Hệ thống tư tưởng định hướngnày được cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương, chính sách, chiến lược, sáchlược Những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược đóluôn luôn được bổ sung, hoàn thiện và làm mới để đầy đủ, toàn diện hơn
Trên thế giới, chủ nghĩa xã hội đã tan rã ở nhiều nơi Trước tình hình đó,Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội
và thực hiện đường lối Đổi mới Đó là một trong những quyết sách chiến lược
để hướng tới đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh” Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy Vì chỉ có đổi mới tư duy,
thay đổi nhận thức cho phù hợp với tình hình và những biến đổi của thực tiễnmới tạo ra những bước phát triển lý luận, định hướng đúng đắn con đườngphát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới Hơn nữa, đó còn là tiền đề nhận
thức lý luận dẫn tới đổi mới hành động Bởi, “cần đổi mới cách nghĩ (tư duy
và phương thức tư duy) mới có thể đổi mới cách làm (trong tổ chức, quản lý,
trong lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trong hoạt động của quầnchúng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức, đoàn thể của nhândân, kể cả hoạt động tham chính với phương thức dân chủ đại diện kết hợpvới dân chủ trực tiếp và tự quản cộng đồng ở cơ sở)” [118, tr.21] Đổi mới tưduy của Đảng Cộng sản Việt Nam là quá trình hình thành tư duy lý luận mới
về chủ nghĩa xã hội và con đường phát triển của Việt Nam thời kỳ đương đại
Đó là lý do đầu tiên khiến chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “quá trình đổi
mới tư duy chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay”.
Trang 6Chặng đường đổi mới ở nước ta đã diễn ra được hơn ba mươi năm.Chặng đường này, như Đảng ta đánh giá tại Đại hội XII, thực sự là “mộtgiaiđoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sựtrưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta” [47, tr.68] Đổimới được đánh giá là mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cảibiến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng,toàn dân ta Nhờ quá trình đó, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, nước ta cũng vẫn còn nhiều vấn đề lớn,phức tạp, còn nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục
mà còn là vấn đề thường xuyên, liên tục, luôn cần phải được triển khai mạnh
mẽ, toàn diện, rộng rãi hơn nữa trong tương lai Để tiếp tục thực hiện côngcuộc đổi mới trong những giai đoạn sau này một cách hiệu quả và bền vữnghơn nữa, việc tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận mới là một hướng đi hếtsức cần thiết và quan trọng Đó là lý do thứ hai khiến chúng tôi lựa chọn
nghiên cứu đề tài đổi mới tư duy chính trị từ năm 1986 đến nay
Hiện nay, ở nước ta, trong công tác nghiên cứu và giảng dạy tư duy lýluận về chủ nghĩa xã hội được quan tâm Đảng ta đã có sự đổi mới về tư duychính trị, kế thừa, bổ sung và hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin trong điềukiện hoàn cảnh cụ thể chứ không vận dụng máy móc, cứng nhắc chủ nghĩaMác - Lênin Tuy nhiên, những phát triển sáng tạo của Đảng ta chưa đượcluận giải một cách thấu đáo trước hết trong các công trình nghiên cứu về triết
Trang 7học Đó là lý do thứ ba khiến chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài quá trình
đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
Trang 82 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về đổi mới tư duy chính trị,phân tích những nội dung chủ yếu trong tư duy chính trị mới của Đảng Cộngsản Việt Nam từ năm 1986 đến nay, luận án chỉ rõ một số thành tựu và cácvấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về đổi mới tư duy chính trị ởViệt Nam từ năm 1986 đến nay
+ Phân tích một số nội dung và những thành tựu của quá trình đổi mới
tư duy chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
+ Phân tích và chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tưduy chính trị ở Việt Nam hiện nay, nhằm tiếp tục đẩy mạnh đổi mới tư duychính trị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận án là đổi mới tư
duy chính trị của Đảng ở tầm chiến lược về các vấn đề phát triển kinh tế
Tư duy chính trị gồm nhiều nội dung Trong luận án chỉ nghiên cứumột số nội dung cơ bản trong tư duy chính trị mới của Đảng Cộng sản ViệtNam Đó là tư duy chính trị về mô hình chủ nghĩa xã hội, mô hình kinh tế và
mô hình nhà nước
Trang 94 Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủtrương,
đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước
- Luận án vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin như mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, quan hệbiện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, quan hệ biện chứng giữa kinh
tế và chính trị, quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng của luận án là: thốngnhất lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh,hệ
thống hóa, khái quát hóa
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã phân tích và làm rõ thêm nội hàm của khái niệm tư duychính trị, đổi mới tư duy chính trị; chỉ rõ những nhân tố tác động đến đổimới
tư duy chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
- Luận án đã làm rõ thêm một số nội dung cơ bản và những thành tựucủa quá trình đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam
- Luận án đã chỉ rõ được một số vấn đề đặt ra nhằm tiếp tục đổi mới tưduy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Luận án đã làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu trong
quá trình đổi mới tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986đến
nay, từ đó góp thêm căn cứ cho những nghiên cứu sâu hơn về các vấn đềcủa
triết học chính trị, chính trị học
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
Trang 10những ai quan tâm đến các vấn đề đổi mới tư duy, đặc biệt là cho nhữngngười làm công tác tư tưởng, tuyên giáo, chính trị.
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, kết luận, danh mục các côngtrình nghiên cứu của tác giả, tài liệu tham khảo
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến tư duy chính trị
mới tư duy chính trị
1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến tư duy chính trị
Trong nghiên cứu về quá trình đổi mới tư duy ở nước ta thì đổi mới tưduy kinh tế được đề cập đến rộng rãi, phổ biến và đầy đủ, chi tiết hơn cả Cácnghiên cứu về tư duy chính trị không nhiều, những nghiên cứu này thườngđược gắn liền với một chủ thể nhất định Trong đó, phần nhiều là các nghiên
cứu về tư duy chính trị của các danh nhân lịch sử như Ngô Thị Nhậm [139],
Hồ Chí Minh [17], Nguyễn Văn Cừ [13], [54],
Đáng chú ý trong số các công trình nghiên cứu này phải kể đến tác
phẩm Tư duy chính trị Hồ Chí Minh [27] của Nguyễn Thị Thanh Dung
(2016) Công trình này đã giúp chúng tôi có cái nhìn tương đối toàn diện về
tư duy chính trị nói chung và tư duy chính trị Hồ Chí Minh nói riêng (côngtrình này được xuất bản từ Luận án tiến sĩ chính trị học đã bảo vệ thành công
của tác giả năm 2014 về “Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - những đặc điểm
chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận’”) Từ sự phân tích khái niệm tư duy
chính trị Hồ Chí Minh, tác giả đã chỉ ra và phân tích những nội dung chủyếu của tư duy chính trị Hồ Chí Minh (gồm tư duy về sự lựa chọn mục tiêucủa cách mạng Việt Nam, tư duy về con đường và cách thức đạt được mụctiêu cách mạng, tư duy về xây dựng một thể chế nhà nước dân chủ cho nhândân Việt Nam)
Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng, đặc điểm về tư duy chính trị HồChí Minh là tính hệ thống, đề cao tính thực tiễn, chống chủ nghĩa giáo điều,tính dân tộc lấy lợi ích dân tộc là ưu tiên hàng đầu, tính linh hoạt ứng biến,tính dự báo, tính nhân văn, văn hóa
Trang 12Tác giả đã đưa ra một định nghĩa tương đối khái quát về tư duy chínhtrị Theo đó: “Tư duy chính trị là hoạt động của bộ não người nhằm thu nhận,
xử lý và tạo ra những tri thức về giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị,quyền lực nhà nước; giúp con người nhận thức, hoạch định và thực thi cácquyết sách chính trị” [27, tr.22] Tác giả nhận định rằng, tư duy chính trị và tưtưởng chính trị có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại, tư duy chính trịchính là quá trình trăn trở, suy nghĩ về những vấn đề chính trị, còn tư tưởng làkết quả của quá trình ấy Tác giả cho rằng việc tìm hiểu tư duy chính trị củamột người phải thông qua tư tưởng, quan điểm, lời nói, bài viết và những hoạtđộng thực tiễn của người đó Với khái niệm tư duy chính trị đã được thao táchóa của tác giả cùng một số nội dung lý luận cũng như phương pháp nghiêncứu của công trình, dù không thật nhiều nhưng công trình này cũng đã gópphần giúp cho chúng tôi định hình rõ hơn khái niệm tư duy chính trị trong quátrình nghiên cứu
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về tư duy chính trị của những nhân
vật lịch sử tiêu biểu, cũng có một số công trình nghiên cứu về tư duy chính trị
của các đối tượng chung như cán bộ, đảng viên Đó là bài viết về “Nâng cao
năng lực tư duy chính trị cho cán bộ, Đảng viên” [14] của tác giả Nguyễn ĐứcBình (2017) Bài viết “Về lôgic của tư duy chính trị trong cán bộ ta hiện nay”[158] của Nguyễn Văn Vĩnh Với việc xác định chủ thể của tư duy chính trịtrong Luận án này là Đảng Cộng Sản Việt Nam, và cách tiếp cận khác củaNCS
thì hai bài viết này ít có tác dụng tham khảo đối với người thực hiện luận án
Trang 13Liên quan trực tiếp hơn đến đối tượng tiếp cận của luận án phải kể đếnbài viết của Nguyễn Trọng Phúc (2006) “Đổi mới tư duy chính trị của Đảng
trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới” [106] Tác giả khẳng định rằng “đường lối
đổi mới do Đại hội VI khởi xướng và sau này được các Đại hội Đảng và Hộinghị Trung ương tiếp theo bổ sung, phát triển là sự thể hiện tư duy chính trịkhông ngừng đổi mới” [106, tr.13] Phân tích những thành tựu đạt được ởlĩnhvực kinh tế trong 20 năm đổi mới, tác giả nhận định rằng sẽ không cóthành
tựu to lớn về kinh tế nếu không bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị
Bên cạnh những công trình đề cập trực tiếp đến tư duy chính trị như đã
đề cập trên đây thì khái niệm tư duy chính trị còn được một số học giả giớithiệu trong các công trình chuyên khảo của mình với các cách tiếp cận khác
nhau Trong đó, đáng chú ý là công trình Giải phóng, đổi mới, phát triển vì
chủ nghĩa xã hội [67] của tác giả Nguyễn Văn Huyên (2012) Trong cuốn
sách này khi đề cập đến khái niệm tư duy chính trị, tác giả cho rằng: “Nói đến
tư duy kinh tế có nghĩa là nói đến tư tưởng tiếp cận kinh tế, tư tưởng làm kinh
tế, tư tưởng về phát triển nền kinh tế thực hiện mục tiêu chính trị là phát triểnđất nước Như vậy, tư duy kinh tế thực chất lại chính là tư duy chính trị vềkinh tế Rõ ràng, nói đến cùng, đổi mới trước hết là đổi mới lĩnh vực chính trị
- đổi mới về tư duy chính trị Đổi mới tư duy chính trị của Đảng có được lànhờ Đảng ta tự giải phóng tầm nhìn, tầm nhận thức, tầm tư duy chính trị củamình Từ tầm nhìn, tầm nhận thức, tầm tư duy mới về chính trị, chúng ta mới
có tầm tu duy mới về kinh tế; từ tư duy mới về kinh tế, chúng ta được giảiphóng về tư duy trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội” [67, tr.199].Đây là những gợi mở hết sức quan trọng cho tác giả luận án trong quá trìnhtiếp cận khái niệm tư duy chính trị
Trong công trình Tư duy lý luận đối với sự nghiệp đổi mới [94], tác giả
Trần Nhâm (2004) đã phân tích, đánh giá những tác động của tình hình thếgiới mới đến Việt Nam Đó là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
Trang 14đại, toàn cầu hóa, khủng bố và chống khủng bố, khủng hoảng sinh thái toàncầu Từ bối cảnh chung của thế giới, tác giả khẳng định rằng: để phát triển đấtnước thì cần phải tiếp tục đổi mới và chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ ChíMinh luôn là nền tảng tư tưởng của công cuộc đổi mới Dù không trực tiếp đềcập đến tư duy chính trị nhưng cách thức triển khai của tác giả trong việc luậngiải về tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới có tác dụng tham khảo nhiềucho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án.
Trang 15Từ góc độ tiếp cận triết học chính trị về quyền con người [159], tác giả
Nguyễn Văn Vĩnh (2005) đã bước đầu chỉ ra khái niệm tư duy chính trị vềquyền con người nhìn từ góc độ triết học và những quan niệm khác nhau củacác nước Phương Đông, phương Tây, của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyềncon người Theo tác giả, khi giai cấp xuất hiện, (cùng với nó là xuất hiện nhànước và quan hệ chính trị giữa các giai cấp và giữa những con người), conngười dần dần ý thức ra, suy nghĩ tới vai trò, vị trí của mình trong cộng đồng
xã hội Tác giả viết: “suy nghĩ đó của con người ở giai tầng này hay giai tầngkia đều là suy tư chính trị, đều dẫn đến hình thành những hệ thống quan điểm
lý thuyết chính trị Những suy nghĩ đó chính là tư duy chính trị và sản phẩmcủa các suy tư này là các hệ thống lý thuyết, các quan niệm khác nhau về đờisống chính trị của xã hội” [159, tr.12] Đứng ở góc độ tiếp cận nghiên cứu tưduy chính trị trong mỗi quan hệ với quyền con người, tác giả cho rằng, tư duychính trị chính là suy nghĩ của mỗi con người về vấn đề chính trị; những suy
tư đó đều dẫn đến hình thành những hệ thống quan điểm lý thuyết chính trị
Như vậy, qua khảo sát tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy với cáchtiếp cận triết học về tư duy chính trị trong đó xác định chủ thể của tư duychính trị ở tầm chiến lược là Đảng Cộng sản Việt Nam thì không có nhiềucông trình nghiên cứu đề cập đến một cách trực tiếp về nội hàm cũng nhưcách tiếp cận đối với khái niệm tư duy chính trị Vì thế, Luận án sẽ làm rõcách tiếp cận triết học đối với khái niệm tư duy chính trị từ đó luận giải rõ vềnội hàm, đặc điểm của khái niệm này và đây chính là một trong những điểmmới của Luận án mà ở nhiều công trình trước đây chưa thực hiện được
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đổi mới tư duy chính trị
Trang 16Về mặt lịch sử, ngay từ khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, cácnghiên cứu về đổi mới nói chung, đổi mới tư duy nói riêng đã được tiến hànhđồng thời Các công trình nghiên cứu về quá trình đổi mới, đổi mới tư duy rất
nhiều và phong phú Tuy nhiên, đổi mới tư duy chính trị thường không đượcđề
cập đến một cách trực tiếp Vì thế, số lượng công trình về đổi mới tư duychính trị không nhiều và thường được đề cập xen kẽ trong các nghiên cứu vềđổi mới tư duy, về sự thay đổi trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Namđối với những vấn đề cụ thể
Do đó, trong phần tổng quan này, chúng tôi thực hiện việc khảo sát và
hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về đổi mới, đổi mới tư duy nói chung
từ đó bóc tách ra những công trình với những ý tưởng có liên quan ít nhiềuđến đổi mới tư duy chính trị
Trực tiếp phân tích về bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế, vềnhững nội dung của đổi mới, về những chiến lược, sách lược và chủ trươngđường lối của Đảng (trong quá trình lãnh đạo đất nước, tổng kết quá trìnhĐổi mới từ phương diện lý luận và thực tiễn), trước hết phải kể đến các vănkiện, nghị quyết, báo cáo tổng kết của Đảng qua từng mốc thời gian cụ thể:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI [29], Nghị quyết Hội nghịlần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa VI [30], Văn kiện Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII [31], Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữanhiệm kỳ khóa VII [34], Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII[36], Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX [38], Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ X [43], Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI [45], Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII [47], Báo cáotổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006)[41], Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới(1986 - 2016) [46]
Trang 17Trên cơ sở các văn kiện này, tiếp cận nghiên cứu đổi mới với tư cách là
một đường lối của Đảng (chính là đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận của
môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam), do Đảng vạch ra,bắt đầu từ Đại hội VI, những nghiên cứu thường tập trung vào các khía cạnh
về sự phát triển nhận thức của chủ thể là Đảng, phân tích các văn kiện,nghịquyết của Đảng qua các Đại hội, các Hội nghị Trung ương, từ khóa VI đếnkhóa XI và Văn kiện Đại hội XII gần đây Theo đó, đổi mới được nhìn nhận
và đánh giá từ phương diện đường lối và thực hiện đường lối do Đảng khởixướng và lãnh đạo Qua mỗi kỳ Đại hội đường lối đổi mới của Đảng ta khôngngừng được bổ sung, phát triển, thể hiện những bước tiến và chuyển biếntrong nhận thức của Đảng
Bên cạnh hướng tiếp cận này, nghiên cứu và tổng kết đổi mới với tư
cách là một phong trào vận động xã hội, một cuộc chuyển đổi rộng lớn và sâu
sắc, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân vào hoạt động đổi mới, là mộtquá trình cải biến cách mạng và có thể nói, thực sự là một cuộc cách mạng, đãđược các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhận thức và triển khai trong
quá trình điều hành đất nước Các công trình Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của
đất nước và của thời đại [19] của đồng chí Trường Chinh; Đổi mới để tiến lên[77]của đồng chí Nguyễn Văn Linh; Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội [87]của Đỗ Mười; Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước [144] (2002), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam[145] của Tổng
bí thư Nguyễn Phú Trọng(2006) đã thể hiện điều đó Bên cạnh các công
trình của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước tiếp cận đổimới từ khía cạnh này, còn phải kể đến các công trình của các nhà nghiên cứu
kỳ cựu, có uy tín, các chuyên gia trong nghiên cứu về đổi mới như các tác giảHoàng Chí Bảo [7, 8, 10]; Dương Phú Hiệp [60], Tạ Ngọc Tấn [124], PhùngHữu Phú, Lê Hữu Nghĩa [89, 160], Lê Hữu Tầng [126], Nguyễn Duy Quý[114, 116]
Trang 18Theo hướng tiếp cận này, những nội dung nghiên cứu sẽ không chỉ làđường lối đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng mà là một tổng hợp những tácđộng, những mối liên hệ, những nội dung Những tác động và những mối liên
hệ đó từ trong nước không tách rời khỏi những nhân tố quốc tế và thời cuộctác động vào đổi mới ở nước ta Kết quả, thành tựu của đổi mới, những biếnđổi
và phát triển của xã hội ta được xem xét như một phức hợp các vấn đềkinh tế và chính trị, văn hóa và xã hội, con người và tổ chức, thiết chế vớinhững hoạt động và biến đổi của cá nhân - cộng đồng dân tộc và xã hội, đặcbiệt là mối quan hệ giữa Đảng với dân, Nhà nước với dân trong tiến trình đổimới, mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với dân trong cuộc vận động dânchủ hóa và thực hiện dân chủ ở nước ta
Chúng tôi đi theo hướng tiếp cận này để có thể nhìn nhận và đánh giáhơn 30 năm đổi mới từ nhiều chiều cạnh, nhiều lớp quan hệ, nhiều chủ thểcùng tham gia thực hiện công cuộc đổi mới hướng tới mục tiêu đổi mới đểphát triển
Các công trình nghiên cứu về công cuộc đổi mới nói chung từ nhiềucách tiếp cận khác nhau đã cho thấy rõ vai trò của Đảng với tư cách là lựclượng lãnh đạo đối với tiến trình phát triển nước ta Bên cạnh những công trìnhnghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nước, cũng có nhiều học giả nướcngoài nghiên cứu về đổi mới ở nước ta Trong đó phải kể đến tác giả Borje
Ljunggren với công trình Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông
Dương [70] Cuốn sách ra đời trong bối cảnh những năm 1990 - 1991, lúc đó
công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã bước qua giai đoạn đầu đổi mới, ở phươngTây còn ít người biết đến công cuộc đổi mới này Với tấm lòng thiện chí muốngiới thiệu công cuộc đổi mới ở Việt Nam với bạn bè quốc tế, tác giả đã dànhhơn một nửa số trang và các chương mục để nói về công cuộc đổi mới chínhsách và cơ chế kinh tế ở Việt Nam từ cuối những năm 70 đến đầu những năm
90 Qua cuốn sách này, tác giả đã cung cấp cho chúng ta một cách nhìn của
Trang 19một nhà quan sát phương Tây đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Trang 20Dwight H Perkins, David Dapice, Jonathan H Haughton (1995) có
công trình Việt Nam cải cách theo hướng rồng bay [157] Đây là công trình thứ hai (sau công trình Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông
Dương nghiên cứu về thời kỳ đổi mới của Việt Nam Cuốn thứ nhất ra
đờitrong bối cảnh đầu thời kỳ đổi mới (khi mà nhiều sự việc rất mới còn chưađịnh hình rõ nét) nên nội dung có tính gợi mở và dự báo, chưa đủ căn cứ để
có những phán đoán khẳng định Cuốn sách thứ hai này có cái nhìn khẳngđịnh và lạc quan hơn về chiều hướng phát triển của Việt Nam
Trong tác phẩm Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới [86] của
Furata Motoo (1997), tác giả đã thông qua việc trình bày hoạt động của HồChí Minh để làm nổi bật chân dung của Người trong đấu tranh giải phóng dântộc và đặt cơ sở cho quá trình thực hiện công cuộc đổi mới ở Việt Nam.Furuta Motoo đã nêu một vấn đề (mà ngày nay là nhiệm vụ trọng tâm củanước ta) đó là: đấu tranh giải phóng dân tộc để xây dựng xã hội văn minh, tiến
bộ bằng công cuộc đổi mới đất nước
Trang 21Trong nghiên cứu về công cuộc đổi mới, đổi mới tư duy cũng đã được
các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý Có rất nhiều công trình gián tiếp hoặc trựctiếp đề cập đến đổi mới tư duy Nhấn mạnh đổi mới tư duy là yêu cầu bứcthiết, là mệnh lệnh của cuộc sống, là vấn đề có ý nghĩa sống còn, là nhiệm vụ
quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước; công trình Bàn về đổi mới tư
duy [147] của tác giả Đào Duy Tùng (1987), mặc dù chỉ gồm hơn 50 trang
nhưng đã chỉ rõ những phương hướng; nội dung của đổi mới tư duy, điều kiện
để đổi mới tư duy Theo tác giả, một số việc cần làm là: Thứ nhất, chúng ta
cần coi trọng việc quán triệt Nghị quyết Đại hội, gắn liền nó với việc đổi mới
tư duy trong Đảng Vì quá trình quán triệt Nghị quyết Đại hội chính là quátrình đổi mới tư duy Nhưng như thế chưa đủ Chúng ta phải đẩy mạnh côngtác lý luận, công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội để làm cơ sở vững chắc cho việc phê phán tưduy cũ, xây dựng tư duy mới Để có thể phát huy vai trò của công tác lý luận,chúng ta phải nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênintheo tinh thần sáng tạo; tiếp thu có phê phán kinh nghiệm và thành tựu lý luậncủa các nước anh em; tiếp thu các thành tựu hoa học, kỹ thuật hiện đại;vậndụng chúng một cách đúng đắn vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta và tổngkết
những bài học kinh nghiệm của bản thân Thứ hai, chúng ta phải làm công
việc “kiểm kê” lại hệ thống tri thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và về
thời kỳ quá độ tiền lên chủ nghĩa xã hội Thứ ba, cần đẩy mạnh nghiên cứu lịch sử phát triển tư duy của dân tộc Đổi mới công tác thông tin cũng là điều
kiện rất quan trọng để đổi mới tư duy Đổi mới tư duy không chỉ phụ thuộcvào trình độ nhận thức lý luận mà còn phụ thuộc vào động cơ
Cùng thời điểm đó, đáng chú ý là công trình (1987) Đổi mới tư duy lý
luận và công tác xây dựng Đảng [149] Đây là cuốn sách tập hợp các bài viết
của tác giả Hoàng Tùng đăng trên báo Nhân dân từ ngay sau đại hội VI của
Trang 22Đảng đến tháng 5 năm 1987 Trong công trình này tác giả đã luận giải, làmsáng tỏ vai trò của đổi mới tư duy Theo tác giả, đổi mới tư duy là tiền đềkhắc phục sự chậm trễ về lý luận và sự cần thiết đổi mới công tác xây dựngĐảng; Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và triệt để nền kinh tế -
xã hội của đất nước; để thực hiện thành công nhiệm vụ trọng đại đó, trước hếtchúng ta cần phải đổi mới tư duy và đổi mới công tác xây dựng Đảng
Trang 23Dù không trực tiếp bàn về đổi mới tư duy nhưng trong công trình Triết
học với sự nghiệp đổi mới [127] của tập thể tác giả Phạm Thành, Lê Hữu
Tầng, Hồ Văn Thông (1990), các tác giả đã khẳng định vai trò của tư duy triếthọc mác xít đối với việc nhận thức những vấn đề mới của cách mạng ViệtNam và trong việc khắc phục sự lạc hậu về lý luận ở nước ta lúc bấy giờ Cáctác giả viết: “Muốn có tư duy đúng để có lý luận đúng thì phải có phươngpháp tư duy đúng”, “Nguồn gốc sâu xa khiến chúng ta lạc hậu về nhận thức lýluận và hiện vẫn còn chậm khắc phục được sự lạc hậu này là ở chỗ chúng tachưa nắm vững và vận dụng đúng chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách là kimchỉ nam cho hành động cách mạng, là phương pháp khoa học để nghiên cứuthực tiễn và giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra” [127, tr.7] Đặc biệt,
theo các tác giả, đổi mới tư duy gồm hai mặt Một là, phải nhận thức lại
chođúng những luận điểm mác xít về cách mạng xã hội chủ nghĩa và về chủ
nghĩa xã hội Hai là, phải vận dụng những luận điểm ấy thật sát vào hoàn
cảnh nước ta; sáng tạo ra lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam(như trước đây chúng ta đã sáng tạo ra được lý luận về cách mạng dân tộc dânchủ ở nước ta)
Công trình Có một Việt Nam như thế đổi mới và phát triển [93] do tác
giả Trần Nhâm chủ biên (1997) đã làm sáng tỏ các luận cứ khoa học và thựctiễn của đường lối, chủ trương chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta;khẳng định những thành tựu to lớn của 10 năm qua; trình bày các định hướngphát triển cho thời kỳ mới
Phân tích bối cảnh kinh tế của đất nước tất yếu đòi hỏi phải đổi mới tư
duy, công trình Đổi mới - bước phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam [71] của tác giả Nguyễn Khánh (1999) tuy chỉ có dung lượng 56
trang, nhưng đã làm rõ những nội dung cơ bản nhất, căn cốt nhất liên quanđến công cuộc đổi mới ở nước ta Theo tác giả, từ đổi mới được Đảng ta sửdụng “để chỉ cuộc cải cách lớn về đường lối, chính sách, về cách nghĩ, cách
Trang 24làm của Đảng lãnh đạo và của nhân dân, để đưa đất nước vượt qua khó khăn,tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội” [71, tr.8] Bằng những tư liệu thực tế từ tìnhtrạng nền kinh tế nước ta những năm trước đổi mới (thường được diễn tả bằngthuật ngữ “khủng hoảng”), tác giả đã luận chứng khá toàn diện cho tính tấtyếu của việc đổi mới ở nước ta những năm giữa thập niên 80 của thế kỷ trước,nhất là đổi mới tư duy Cuốn sách không đi sâu vào từng lĩnh vực, từng vấn
đề trong nội dung đổi mới nhưng đã cung cấp những gợi mở quan trọng chonghiên cứu đổi mới tư duy của Đảng
Trang 25Nhằm tổng kết quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986
- 2005, các tác giả Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo đã chủ biên công trình Nhìn
lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005 [120]nhằm phân
tích về quá trình đổi mới từ duy của Đảng ởnhững vấn đề chính trị - xã hội,trong đó có nhận thức của Đảng về bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính
dân tộc, về vấn đề dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy dân chủ trong điềukiện xây dựng nhà nước pháp quyền, một đảng cầm quyền, về văn hoá và xâydựng con người trong điều kiện mới, về giáo dục và đào tạo, khoa học vàcông nghệ, và những vấn đề thế giới và đối ngoại, về thời đại, chủ nghĩa xãhội hiện thực, về chủ nghĩa tư bản, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,hoà bình và chiến tranh, về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô vàTrung- Đông Âu
Công trình “Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986
đến nay” [121] của tập thể tác giả thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh (2006) đã phân tích tác động của tình hình thế giới và trong nước tớicông cuộc đổi mới; làm rõ thời cơ, thách thức và những đặc điểm chủ yếu củađổi mới ở Việt Nam Công trình đã đề cập một cách hệ thống về vai trò của lýluận và tư duy lý luận đối với công cuộc đổi mới; phân tích tư duy lý luận củaĐảng về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳtrước đổi mới, nhất là trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay Kết quả nghiêncứu này là cơ sở quan trọng để tác giả luận án xem xét, đánh giá những tácđộng ảnh hưởng của các điều kiện hoàn cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa-xãhội, cũng như sự chi phối của các nhân tố khác đến quá trình đổi mới tư duychính trị của Đảng ta
Trang 26Trong công trình Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới ở Việt Nam
[116], tác giả Nguyễn Duy Quý đã làm rõ khái niệm tư duy và đổi mới tư duy.Tác giả chủ yếu tập trung phân tích khái niệm tư duy với tư cách là giai đoạncao của quá trình nhận thức; phân tích vai trò của tư duy, lịch sử hình thành,phát triển tư duy nhân loại, cấu trúc của tư duy, vai trò của đổi mới tư duy.Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích đổi mới tư duy về kinh tế, đổi mới tư duy
về hệ thống chính trị, đổi mới tư duy về văn hóa xã hội, đổi mới tư duy trongnghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Theo tác giả, đổi mới tư duykhôngchỉ đổi mới về nội dung, mà quan trọng hơn là phải đổi mới cả về trình
duy Đây là một trong số ít các công trình bàn một cách trực diện về vấn đềđổi mới tư duy và đổi mới tư duy trên một số lĩnh vực cụ thể, là tài liệu thamkhảo trực tiếp cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án, tuy nhiên vớicách tiếp cận và cách hiểu khác về đổi mới tư duy chính trị nên chúng tôi sẽlựa chọn các nội dung phân tích đổi mới tư duy chính trị ở các lát cắt khác vớicách hiểu của tác giả công trình này
Trang 27Bên cạnh các công trình trên đây, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí
cũng đã đề cập đến vấn đề đổi mới tư duy Trong bài viết “Một số vấn đề về
tư duy và đổi mới tư duy hiện nay ở nước ta"” [135], tác giả Hồ Văn Thông đã
khái quát một số nét cơ bản của tư duy trong mối quan hệ với hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn Trong bài viết “Quan hệ giữa đổi mới nội dung
tư duy và đổi mới phương pháp tư duy” [109] tác giả Nguyễn Đăng Quang
cho rằng, muốn đổi mới tư duy phải bắt đầu từ việc đổi mới phương pháp tư
duy Tác giả Nguyễn Quang Thông trong bài “Những đặc trưng cơ bản của
phương pháp tư duy khoa học” [136] đã phân tích mối quan hệ giữa phương
pháp tư duy biện chứng duy vật với phương pháp tư duy của các khoa học cụ
thể Tác giả Tô Duy Hợp trong bài viết “Phươngpháp tư duy - vấn đề kế thừa
và đổi mới [69] đã làm rõ một số khái niệm như phương pháp, phương pháp
tư duy, phương pháp nhận thức, phương pháp hành động; chỉ ra sự thống nhất
và khác biệt giữa phương pháp tư duy khoa học với phương pháp tư duy lýluận và phương pháp tư duy biện chứng Tác giả Trần Hữu Tiến trong bài
“Đổi mới tư duy lý luận - vấn đề cấp bách hiện nay” [137] đã chỉ ra những
"căn bệnh" trong tư duy lý luận của chúng ta, nguyên nhân và các biện pháp
và phương hướng khắc phục Trong bài “Đổi mới tư duy lý luận Tư duy lý
luận trong sự nghiệp đổi mới” [140], tác giả Lại Văn Toàn đã chỉ ra phương
hướng và biện pháp đổi mới tư duy lý luận ở nước ta hiện nay Gần đây nhất
có các bài viết: “Đổi mới tư duy lý luận phục vụ sự nghiệp phát triển
đấtnước’’ [119] củaTô Huy Rứa, “Đổi mới tư duy lý luận-Thành tựu và một số
vấn đề đặt ra" [115] (Nguyễn Duy Quý)
Trên đây là những công trình nghiên cứu chủ yếu về đổi mới, đổi mới tưduy và tư duy lý luận Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu từng lĩnhvực, từng ngành, có công trình nghiên cứu theo vấn đề hoặc những chủ đềkhác nhau của đổi mới Có công trình nghiên cứu về đổi mới, những biến đổi
về kinh tế - xã hội ở nước ta ở thời kỳ trước và trong đổi mới Có công trình
Trang 28nghiên cứu không chỉ phân tích thực trạng, đánh giá tình hình đổi mới, màcòn đưa ra những dự báo, cách nhìn, cách lý giải về khả năng phát triển tiếptheo của Việt Nam Với những khác biệt trong tiếp cận và nghiên cứu sẽ đemlại những kết quả nghiên cứu, nhận xét, đánh giá, bình luận khác nhau, khônghoàn toàn giống nhau Chúng tôi trên cơ sở tiếp cận đổi mới tư duy chính trị
là quá trình chuyển biến nhận thức mang tính chất định hướng chính trị củaĐảng Cộng sản Việt Nam về một số nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vậtlịch sử sẽ có những tổng quan cụ thể hơn về những đổi mới ở các nội dung cụthể ở các phần sau này
1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung của quá trình
đổi mới tư duy chính trị từ năm 1986 đến nay ở Việt Nam
1.2.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy
về xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong đổi mới tư duy chính trị có đổi mới tư duy chính trị về xác địnhmục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất Vì thế, vấn đềnày đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu
Trang 29Tiếp cận chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo chiều lịch đại, cuốn sách
Quá trình hình thành và phát triển Quan điểm lý luận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội [56]do tác giả Trần Hậu chủ biên (1997) phân
tích những giai đoạn phát triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con đườngđi
lên chủ nghĩa xã hội theo các thời kỳ lịch sử Giai đoạn 1945-1954 là giai
đoạn tiếp tục hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, bước đầu chuẩn bị lýluận cho chủ nghĩa xã hội Đặc điểm giai đoạn này là mới đặt ra về mặt lý
luận vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội Giai đoạn từ sau năm 1954 là giai
đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc đã được giải phóng, tiếp tụchoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc trong cả nước Ở mỗi chặng đường,nhận thức của Đảng ta về con đường đi lên CNXH đều gắn liền với thực tiễntrong nước và thế giới và với những yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Nhìnlại quá trình nhận thức lý luận trong mối quan hệ hữu cơ với thực tiễn cáchmạng giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn thực chất nội dung trong quan điểmđường lối của Đảng ta Từ sự phân tích đó, tác giả đã chỉ ra những đặc điểmcủa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời làm sáng tỏ quá trình hìnhthành, phát triển đường lối đổi mới theo định hướng XHCN và rút ra nhữngbài học kinh nghiệm từ góc độ lịch sử
Phân tích những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam [97], các tác giả Nguyễn Quốc Phẩm và Đỗ Thị
Thạch (2012) đã tổng kết và khái quát lại những vấn đề cơ bản trong nhậnthức về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong 25năm đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 (có so sánh với thời
kỳ trước đổi mới); bước đầu dự báo những xu hướng và triển vọng của chủnghĩa xã hội Việt Nam trong vài thập niên tiếp theo, đưa ra những giải phápgóp phần nhận thức đúng về chủ nghĩa xã hội nhằm tạo lập sự thống nhấtnhận thức và hành động, khẳng định niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trongcông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Bên cạnh các công trình này, không thể không nhắc đến công trình 3 tập
Trang 30của tác giả Hoàng Chí Bảo về chủ nghĩa xã hội xuất bản năm 2012 Mỗi tập
đều hướng tới chủ đề về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong
tiến tình đổi mới,, đều xoay quanh hai câu hỏi lớn là chủ nghĩa xã hội là gì và
xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào
Trang 31Tập đầu (2012) của bộ sách này hướng đến việc làm rõ giá trị bền
vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học
[8] Trong tập này, tác giả trình bày tư tưởng về phát triển xã hội của Mác Ăngghen và Lênin, quan niệm của các nhà kinh điển về chế độ xã hội, quyềncon người và quyền công dân Tác giả cũng phân tích giá trị, sức sống và ýnghĩa tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (tác phẩm đánh dấu sựthành thục của chủ nghĩa Mác, sự phê phán của Mác - Ăngghen đối với cáctrào lưu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa ở thế kỷ XIX) Trong tập
-2(2012), với tựa đề “Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam” [9], tác giả phân tích lịch sử, lý luận, hiện trạng và triển vọng
của CNXH hiện thực Đáng chú ý trong tập sách này là những phân tích củatác giả về đổi mới ở Việt Nam đã dẫn đến sự hình thành nhận thức mới vềCNXH, về những đặc trưng của CNXH và xác định được con đường, bước đi,phương hướng xây dựng CHXH phù hợp với thực tiễn Việt Nam Tác giả chorằng, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là khả năng, là xuhướng phát triển tất yếu của các nước lạc hậu, tiền tư bản trong thời đại ngàynay Lựa chọn con đường phát triển này, là giác ngộ cái tất yếu, là kết quảnhận thức tự giác, khoa học của chủ thể Theo tác giả, bước vào thời kỳ đổimới, Đảng ta xác định đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Khái niệm
“định hướng xã hội chủ nghĩa”, về mặt lý luận, ở cấp độ khái quát và địnhtính có thể được xem là tương đương, đồng nghĩa với khái niệm quá độ lênCNXH Tác giả cũng khẳng định rằng, từ định hướng tới định hình, đó là thờigian lịch sử của thời kỳ quá độ với nhiệm vụ cụ thể, với những khác nhau vềtrọng điểm ở mỗi giai đoạn, về nội dung và cả bước đi Ý nghĩa của việc xácđịnh đó là ở chỗ, việc hoạnh định và áp dụng các giải pháp, biện pháp phảiphù hợp với yêu cầu và tính chất của mỗi giai đoạn, mỗi bước đi của thời kỳquá độ
Trang 32Trong tập 3 (2012) “Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1986-2011)” [10], tác giả phân tích về những
đặc điểm của đổi mới, về triết lý giải phóng, sáng tạo và phát triển, luận giải
quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, những nhận thức lýluận mới về chủ nghĩa xã hội của Đảng trong 25 năm (1986-2011), sự vậndụng và phát triển sáng tạo của Đảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh, những đặc điểm, xu thế phát triển của thời đại và thế giới đươngđại Tác giả đã khẳng định: “thực tiễn đổi mới chẳng những nâng cao trình độ
lý luận và tư duy lý luận của Đảng, thử thách và rèn luyện bản lĩnh chính trịcủa Đảng mà còn mở rộng và phát triển mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân,phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong công cuộc xây dựng kinh
tế, phát triển văn hóa, xây dựng Đảng, Nhà nước và chế độ thực sự là của
mình Có một Đảng cách mạng chân chính như Bác Hồ từng nói, có một Nhà
nước thực sự là của dân, do dân và vì dân, có một hệ thống chính trị dân chủ,năng động, đổi mới để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lại có sức mạnh
đại đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội, đó là những nhân tố
đảm bảo đầy tin cậy cho thắng lợi của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước !a" [10, tr.356-357].
Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị về cách tiếp cận cũng nhưnhững nội dung chi tiết của cuốn sách này đều là những tri thức mà chúng tôi
kế thừa khá nhiều trong luận án Tác giả đã phân tích rất cụ thể và chi tiết vềthời cơ, thách thức và những đặc điểm chủ yếu của Đổi mới ở Việt Nam trướcbối cảnh thế giới và trong nước Đặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh và khẳng địnhvai trò của lý luận và tư duy lý luận đối với công cuộc đổi mới, so sánh sựphát triển tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam theo hai thời kỳ trước và trong đổi mới (1986-2011)
Trang 33Mặc dù tư duy lý luận và tư duy chính trị được hiểu khác nhau nhưngcách triển khai của tác giả về tư duy lý luận, về chủ nghĩa xã hội cũng đượcchúng tôi kế thừa trong luận án của mình khi tìm hiểu về quá trình đổi mới tưduy chính trị ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Hơn nữa, theo cách chúng tôihiểu về tư duy chính trị thì những nội dung đổi mới tư duy lý luận về chủnghĩa xã hội trong công trình này của tác giả cũng chỉ là một trong những nộidung của đổi mới tư duy chính trị mà chúng tôi sẽ phân tích trong luận án củamình Không những thế, về thời điểm, công trình này được xuất bản cách đâyhơn 5 năm, khi đó công cuộc đổi mới mới được khảo sát dừng lại ở Đại hội
XI, những nội dung mới trong Đại hội XII sẽ được chúng tôi bổ sung cập nhật
và hoàn thiện trong luận án của mình
Khác với những công trình trên đây thường tiếp cận mọi khía cạnh của
chủ nghĩa xã hội, công trình Một số vấn đề lý luận mới về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay [126] của tác giả Lê
Hữu Tầng (2014) lại tập trung vào 2 cách tiếp cận chủ nghĩa xã hội, đó là tiếpcận theo các đặc trưng được dự báo của chủ nghĩa xã hội (tiếp cận cũ) và tiếpcận mới từ góc độ bản chất của chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở phân tích nhượcđiểm của cách tiếp cận cũ và sự cần thiết phải có cách tiếp cận mới, tác giả đãvận dụng cách tiếp cận mới để phân tích sâu một số thành tố trong “mục đíchcuối cùng” hay “mục tiêu chung của toàn dân tộc” trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội (đó là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh)
kết hợp với việc xem xét về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từsau Đại hội X đến nay
Trang 34Dù không đề cập trực tiếp đến sự thay đổi về mặt nhận thức của Đảng
ta trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà thông qua phân tích Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới [74], tác giả Nhị Lê (2015) đã tập
trung luận giải những vấn đề mang tính quy luật về sự cầm quyền của Đảngta; phân tích một số vấn đề về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạocủaĐảng; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết địnhthành
công của công cuộc đổi mới Đồng thời, tác giả cũng phân tích yếu tố “trụcột” của công cuộc đổi mới và đặc điểm lý thuyết cùng những bài học kinhnghiệm rút ra từ thực tiễn 30 năm đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta hiện nay Đặc biệt, trong phần thứ hai “Lý luận về chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay”, tác giả đã cho rằng 30 nămđổi mới có sáu nhiệm kỳ đại hội Đảng, mỗi kỳ đại hội đánh dấu một bước tiến
rõ rệt trong nhận thức lý luận của Đảng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,quốc phòng, an ninh, đối ngoại Những thành tựu lý luận về chủ nghĩa xãhội, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được thể hiện tập trung trongCương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá đội lên chủ nghĩa xã hội.Đây là quyết định chính trị trọng đại, là một trong những văn kiện quan trọngcủa Đảng để lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong
30 năm đổi mới, Đảng ta đã xây dựng cho mình một lý thuyết đổi mới khoahọc, cách mạng và phù hợp
Trang 35Công trình 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam [69] do tập thể tác
giả Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, NguyễnViết Thông đồng chủ biên (2015) đã đánh giá một cách khái quát và toàn diệnbối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến quá trình hình thành, phát triểnđường lối đổi mới của Đảng; phân tích quá trình đổi mới và phát triển trên một
số lĩnh vực chủ yếu (như nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển văn hóa, xây dựng con người, quản lýphát triển xã hội; bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đường lối và chính sách đốingoại, hội nhập quốc tế; phát huy dân chủ, đổi mới hệ thống chính trị, xâydựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng) Trên cơ sở đó, các tácgiả đã dự báo một số nhân tố tác động, ảnh hưởng đến công cuộc đổi mới; đưa
ra định hướng mục tiêu, quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh côngcuộc đổi mới đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Cuốn sách là một trongnhữngcông trình nghiên cứu tương đối toàn diện về công cuộc đổi mới của
trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, là công trình hữu ích gợi mở nhiềuvấn đề để tác giả tham khảo và kế thừa trong luận án của mình
Trang 36Một công trình tiêu biểu khác trong nghiên cứu về những vấn đề đang
đặt ra của chủ nghĩa xã hội là cuốn sách Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - những
vấn đề lý luận từ công cuộc đổi mới [124] do tác giả Tạ Ngọc Tấn chủ biên
(2015) Cuốn sách này khái quát quá trình nhận thức của Đảng về chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới và bước đầu có sự phân tích, đánhgiá liên hệ với thực tiễn đổi mới Theo các tác giả, trong điều kiện mới hiện
nay, việc tiếp tục phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội là một đòi hỏi tất yếu,
cấp bách [124, tr.479] Tiếp tục nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội hiện
nay không chỉ để bổ sung, phát triển, mà còn để thống nhất nhận thức (lý
luận) Các tác giả phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hình
thành, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong công cuộc đổimới, phân tích những thành tựu và hạn chế trong nhận thức lý luận của Đảng
về chủ nghĩa xã hội Từ đó, theo các tác giả, hiện nay vẫn còn một số vấn đề
lý luận cần tiếp tục nghiên cứu Một là, lý luận chung về chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, đặc biệt là về thời kỳ quá độ, mô hình, con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội Hai là, nhận thức lý luận trong lĩnh vực chính trị (trong đó bao gồm
vấn đề dân chủ, lý luận về xây dựng Đảng; lý luận về xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc) Ba là
nhận thức lý luận trong lĩnh vực kinh tế (trong đó bao gồm nhận thức về nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lý luận về đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông
thôn Bốn là, nhận thức lý luận trong lĩnh vực văn hóa - xã hội) Năm là nhận
thức lý luận trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại [124, tr.485-494].
Cũng theo các tác giả, công tác nghiên cứu lý luận thực sự là một hoạt độngkhoa học lớn lao, phong phú và rất khó khăn, nhưng- như tác giả nhậnđịnh,Nghị quyết số 37-NQ-TW của Bộ Chính trị đã đưa ra một hệ giải phápchỉ
đạo rất cơ bản, toàn diện để đẩy mạnh công tác lý luận từ nay đến năm 2030
Trang 37Mặc dù những nội dung được đề cập đến trong công trình này không phảihoàn toàn là những nội dung của đổi mới tư duy chính trị, song do xác địnhnhất quán mục tiêu của đổi mới tư duy chính trị là xây dựng chủ nghĩa xã hộinên công trình này cũng giúp chúng tôi định hướng những nội dung cơ bảntrong quá trình thực hiện luận án.
Cũng do GS TS Tạ Ngọc Tấn chỉ đạo biên soạn và xuất bản, công
trình Những tranh luận mới về chủ nghĩa xã hội [138] gồm 2 tập do các tác
giả Lê Văn Toan, Phương Sơn đồng chủ biên (2016) đã tập hợp khoảng 70công trình của gần 100 học giả trên thế giới thảo luận xoay quanh các vấn đềcủa chủ nghĩa xã hội Bộ sách đã tuyển chọn các công trình nghiên cứu củacác học giả nổi tiếng trên thế giới từ nhiều nước khác nhau (Nga, Anh, Pháp,
Đức, Trung Quốc) Trong đó, tập 1 (với tựa đề là “Chủ nghĩa xã hội từ lý luận
đến thực tiễn”) cung cấp 2 nội dung chính của cuộc tranh luận (gồm phần 1:
“Những tranh luận về vấn đề cơ bản của chủ nghĩa xã hội” và phần 2: “Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XX: Những tranh luận về nội dung và cách thức tiến hành”) Ở phần 1, tập 1 đã giới thiệu 15 công trình nghiên cứu của các học
giả, các nhà khoa học trên thế giới luận bàn sâu về chủ nghĩa xã hội trong tưtưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, những cống hiến của cácông trên mặt trận lý luận về chủ nghĩa xã hội và tổ chức xây dựng chủ nghĩa
xã hội Phần 2 của tập 1 giới thiệu 15 công trình nghiên cứu của các học giảtrên thế giới bàn sâu về chủ nghĩa xã hội thế kỷ XX: nội dung và cách thứctiến hành
Trang 38Tập 2 có tựa đề “Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXT (gồm 2 phần: Phần 1:
“Trào lưu tư tưởng mới về chủ nghĩa xã hội” và phần 2: “Chủ nghĩa xã hội mới: Sự thống nhất trong đa dạng”) Trong đó, phần 1của tập này tuyển
chọn 14 công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới có quan điểmchínhtrị không đồng nhất và cách tiếp cận khác nhau khi luận giải về chủnghĩa xã hội Phần 2 của tập 2 tuyển chọn giới thiệu 16 công trình nghiêncứu khoa học của các học giả trên thế giới bàn về sự thống nhất trong đadạng của chủ nghĩa xã hội
Dù không liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của Luận án,nhưng qua bộ sách này chúng tôi được tiếp cận với nhiều tư tưởng, nhiềuquan điểm và sự luận giải về chủ nghĩa xã hội của nhiều nhà khoa học ở nhiềulĩnh vực khác nhau (như: triết học, kinh tế, chính trị học, lịch sử, chủ nghĩa xãhội khoa học, văn học, nhân học, dân tộc học, địa chính trị học ) Điều nàygiúp chúng tôi có cái nhìn đầy đủ, khách quan và toàn diện hơn về mục tiêuxây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn
Nhìn chung, các nghiên cứu về các nội dung của mục tiêu xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vô cùng phong phú Về cơ bản, các công trìnhđều đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn mô hình
xã hội chủ nghĩa ở nước ta và phân tích các nội dung để thực hiện xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong suốt các thời kỳ lịch sử Đây đều là nhữngtri thức rất có giá trị để chúng tôi kế thừa làm chất liệu phân tích trong luận áncủa mình nhằm làm sáng tỏ những bước tiến, những đổi mới về tư duy chínhtrị của Đảng ta trong việc lựa chọn mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đilên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.2.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy
về mô hình kinh tế ở Việt Nam
Từ áp dụng cơ chế thị trường đến phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị
Trang 39trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một bước tiến trong tư duy lý luận củaĐảng ta Việc lựa chọn mô hình kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế theo lý luậnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nội dung cốt lõi về kinh tếtrong nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã hội, thể hiện những đổi mới khá
rõ nét về đổi mới tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 40Trong nghiên cứu về những chuyển biến, những đổi mới trong tư duycủa Đảng ta trong việc lựa chọn mô hình kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế,các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc qua các kỳ đại hội, các Báo cáo tổngkết 20 năm, 30 năm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh, chiếnlược kinh tế - xã hội của Đảng là những công trình mang tính định hướng rõnhất thể hiện toàn diện và đầy đủ nhất những biến chuyển, những thay đổi vềmặt tư duy của Đảng ta trong việc lựa chọn nền tảng kinh tế của đất nước đểthực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến nhà nghiên cứu Đặng Phongmột chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử kinh tế Việt Nam Với bộ
Lịch sử Kinh tế Việt Nam [99] từ 1945-2000 gồm 3 tập công phu, tác giả đã
tái hiện lại toàn bộ nền kinh tế Việt Nam qua từng giai đoạn (từ 1945-1954,
1955 - 1975 và từ 1975 đến 2000) Bộ sách này mặc dù có cách tiếp cận củakinh tế học nhưng sự mô tả chặng đường đã đi qua trong lịch sử của kinh tếViệt Nam đã cho thấy bức tranh lịch sử một cách trung thực và sống động vềgiai đoạn lịch sử đầy thăng trầm và gian nan
Đặc biệt đáng chú ý đối với nghiên cứu của Đặng Phong là những đổimới, đột phá, “phá rào” thể hiện của tư duy kinh tế (từ năm 1986 trở đi) đã
được tác giả dành riêng để xuất bản trong nhiều công trình như “Phá rào
trong kinh tế vào đêm trước đổi mới” [101], “Tư duy kinh tế Việt Nam Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989” [100] Những phân tích
-của tác giả ở những tác phẩm này là những tài liệu tham khảo thực sự có giátrị, cung cấp một cái nhìn khách quan, sâu sắc, toàn diện, cụ thể về công cuộcđổi mới ở nước ta, về những biến chuyển trong nhận thức của những ngườilãnh đạo đất nước, về những thay đổi trong tư duy kinh tế - nền tảng của quátrình đổi mới tư duy chính trị sau này Các công trình của Đặng Phong đãphân tích khá chi tiết về những người thực, việc thực đánh dấu những bướcchuyển trong mô hình quản lý kinh tế, những “hàng rào” của thể chế kinh tế