1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp luận mác xít trong nghiên cứu và phê bình văn học việt nam giai đoạn 1945 1975

365 158 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 365
Dung lượng 196,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có một hiện tượng phổ iến ở Việt Nam hiện nay trong việcđánh gi á về phương pháp luận mác xít, đó là, hoặc phê phán một c ách cựcđoan tất cả những gì thuộc về phê ình nghiên cứu văn học

Trang 1

HÀ NỘI, 2019

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄ N HỮU TIỆ p

PHƯƠNG PHÁP LUẶN MÁ c XÍT TRONG NGHIÊN c ỨU VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM

GIAI Đ OẠN 1945-1975LUẶN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Trang 2

HÀ NỘI, 2019

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄ N HỮU TIỆ p

PHƯƠNG PHÁP LUẬN MÁ c XÍT TRONG NGHIÊ N CỨU VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌ c VIỆ T NAM

GIAI Đ OẠN 1945-1975

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62.22.01.21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Thành

Trang 3

LỜI CAM Đ OAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong nghiên cứu hoàn toàn trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm truớc những kết quả đã nghiên cứu - điều tra trong Luận án này.

TÁ C GIẢ L UẬN ÁN

Ng u yễ n H ữu Ti ệ p

Trang 4

viên, gia đình, đồng nghiệp, b ạn b è đã trực tiếp và gi án tiếp giúp đỡ một cách hào hiệp vô tu để tôi có thể hoàn thành Luận án của mình Nếu không có những sự giúp

đỡ chân thành, cao đẹp nhu vậy thật khó để tôi có thể hoàn thành công trình này Vì vậy, công trình này hoàn thành chính là sự tri ân của tôi đến tất cả sự giúp đỡ trân quý ấy.

Nhân dịp này, tôi chân thành gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn B á Thành, cùng tập thể cán bộ, giáo viên và nhân viên khoa Văn học truờng Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn- ĐHQGHN, nhân viên thu viện Truờng, Viện Văn học, Thu viện Quốc gia đã huớng dẫn, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này một cách thuận lợi nhất.

Công trình nghiên cứu này hoàn thành là tất cả tâm huyết và niềm đam mê khoa học của tác giả luận án Tuy nhiên do những điều kiện chủ quan và khách quan khác nhau, việc nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Do đó, tôi mong mỏi nhận đuợc sự chia sẻ, góp ý của quý thầy (cô) cùng toàn thể bạn đọc.

Xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày t háng năm 2019

TÁC GIẢ LUẬ N ÁN

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 15

1.1.1 Giai đoạn 1975-1985 15

1.1.2 Giai đoạn sau 1986 - đến nay 18

1.2 Các khái niệm cơ bản 30

1.2.1 Khái niệm phương pháp luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học 30

1.2.2 Khái niệm phương pháp luận mác xít trong văn học 33

1.2.3 C ác trường phái phương pháp luận mác xít trên thế giới và phương pháp luận mác xít ở Việt Nam 36

1.3 X ác định các thuật ngữ trong Đối tượng nghiên cứu 40

1.3.1 Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 40

1.3.2 Nghiên cứu văn học và phê bình văn học 40

1.4 Những cặp khái niệm lý luận cơ bản của phương pháp luận mác xít trong văn học 44

1.4.1 Văn học và đời sống xã hội 45

1.4.2 Văn học và chính trị 45

1.4.3 Thế giới quan và phương pháp s ángtác 46

1.4.4 Nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật 47

1.4.5 Cá nhân và tập thể 47

1.5 Các thuộc tính của văn học theo phương pháp luận mác xít 48

1.5.1 Tính dân tộc 48

1.5.2 Tính giai cấp 48

1.5.3 Tính nhân dân 49

Trang 6

1.5.4 T inh Đảng cộng sản 49

Tiểu kết 51

Chương 2: QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN VÀ KHẲNG ĐỊNH CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN MÁC XÍT TRONG VĂN NGHỆ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975 53

2.1 Cơ sở lý luận và thực ti ễ n 53

2.1.1 Cơ sở lý luận 53

2.1.2 Cơ sở thực tiễn 54

2.2 Sự tiếp nhận phương pháp luận mác xít ở Việt Nam 55

2.2.1 Thời kì trước Cách mạng tháng Tám 55

2.2.2 Giai đoạn 1945-1954 58

2.2.3 Giai đoạn 1955-1975 62

2.3 Xây dựng hệ thống lãnh đạo và quản lý văn nghệ từ trung ương đến địa phương 68

2.3.1 Thể chế hóa hoạt động văn nghệ theo mô hình cơ chế nhà nước 68 2.3.2 Lãnh đạo Đảng và Nhà nước với công t ác văn nghệ 72

2.3.3 Đội ngũ quản l i văn học nghệ thuật 74

2.3.4 Đội ngũ nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp 77

2.3.5 Nhóm sáng tác viết phê bình tiểu luận 86

2.4 Đề cao văn học và chức năng xã hội của nhà văn 88

2.4.1 Văn học được quan niệm là một thứ “vũ khi sắc b én” của thời đại cách mạng 88

2.4.2 Nhà văn được coi như những “kĩ sư tâm hồn” kiến tạo những chuẩn mực thẩm mĩ cho xã hội 91

Tiểu kết 93

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP LUẬN MÁC XÍT TRONG PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975 95

Trang 7

3.1 Phê phán tư tưởng văn nghệ tư sản phương Tây 95

3.1.1 Ngăn chặn và phê phán tư tưởng văn nghệ tư sản phương Tây hiện đại 95

3.1.2 Phê phán Chủ nghĩa Xét lại trong văn học thế giới 102

3.2 Đấu tranh tư tưởng trong văn học 111

3.2.1 Tranh luận Việt Bắc và cuộc “nhận đường” lần thứ nhất trong văn học 111

3.2.2 Đấu tranh chống “Nhân văn- Giai phẩm” và cuộc “nhận đường” lần thứ hai trong văn học 115

3.3 Đấu tranh chống khuynh hướng suy đồ i và nô dịch trong Văn học miền Nam (1954-1975) 122

3.4 Phê phán các tác phẩm Văn học Cách mạng lệch lạc tư tưởng và thiếu vốn sống 129

Tiểu kết 138

Chương 4: PHƯƠNG PHÁP LUẬN MÁC XÍT TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆTNAM GIAI ĐOẠN 1945-1975 140

4.1 Nghiên cứu và giới thiệu văn học nước ngoài theo quan điểm ý thức hệ 140

4.2 Yêu nước là một tiêu chí lựa chọn và đánh gi á Văn học Trung đại 149 4.3 Phản ánh hiện thực trực tiếp là tiêu chí đánh giá văn học 158

4.4 Ca ngợi lý tưởng cộng sản là đỉnh cao của văn học 169

Tiểu kết 179

KẾT LUẬN 181

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 185

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186

Trang 8

Danh mục các từ viết tắt

CNXH : Chủ nghĩa Xã hội

ĐCSVN : Đảng Cộng sản Việt NamHTXHCN : Hiện thực Xã hội Chủ

nghĩaLATS : Luận án Tiến sĩ

NCVH : Nghiên cứu Văn học

TCVH : Tạp chí Văn học

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý d 0 chọ n đề tài

1.1 Phương pháp luận mác Xỉt là một phương pháp nhận thức và tư duy được xây dựng trên cơ sở học thuyết duy vật b iện chứng và duy vật lị ch sử

của chủ nghĩa Mác Nó không chỉ là sản phẩm riêng biệt của nền văn học

c ách mạng Việt Nam mà là của cả nền văn học thế giới nói chung, đặc biệt lànhững nền văn học theo quan điểm triết - mĩ học mác xít, văn học vô sản doĐảng cộng sản lãnh đạo như: Liên Xô, Trung Quốc, c ác nước Đông Âu

XHCN, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam Cuốn sách “Sozialistischer

Realismus: Eine einfuhrung- Positionen, Problem, Perspektiv” 1 của hai họcgiả nổi tiếng Erwint Pracht, Werner Neubert viết tại Cộng hòa Dân chủ Đứcvào những năm đầu bảy mươi- thời kì hưng thịnh của khối XHCN đã phầnnào cho thấy tính chất quan trọng của nó trong đời sống văn nghệ không chỉcủa nước Cộng hòa Dân chủ Đức mà còn cả nền văn nghệ c c nước trong

cộng đồng XHCN: “Phương pháp ấy fphương pháp luận mác xít- NHT nhấn mạnh; thể hiện sự ưu v iệt của khoa học, giá trị định hướng và sức tác động

to lớn của nó là vĩnh cửu trong sự hòa điệu của nền văn nghệ Xã hội chủ nghĩa thế giới hiện nay”1 2 [289; 48]

Tuy nhiên, phương ph p luận m c x t là một sản phẩm được ph t triển

và hoàn thiện sau hi C M c qua đời ởi vậy, ản thân những người tự nhận

là mác xít cũng có nhiều kiến giải khác nhau về những vấn đề liên quan đếnnội hàm của nó Hệ quả dẫn tới việc cùng xuất hiện nhiều “phiên b ản” khácnhau trong một thực thể thống nhất Các lí thuyết văn học mác xít có thể được

chia thành hai nhóm chính: nhóm chính thống (Marxism) và nhóm bàng

thống (Para-Marxism) Nhìn chung, Liên Xô và c ác nước Xã hội Chủ nghĩa

1 1Tạm dịch: Hiện thực Xã hội chủ ngh ĩa, Gi ới thiệ u - Vị trí, Vấn đề và Quan đi ểm

2Trích dẫn từ sách “Sozialistischer Realismus: Eine einfuhrung- Positionen, Problem, Perspektiv”

Trang 10

hình thành sau năm 1945, trong đó có Việt Nam đều tự nhận mình

những năm 90 của thế kỉ XX Cũng chính trong bối cảnh đỗ vỡ dây

Trong bối cảnh quốc tế và trong nuớc xuất hiện nhiều tiếng nói phêphán nặng nề những nguyên l cơ ản của M c, trong đó có phuơng ph p luậnmác xít, nhân kỉ niệm 200 năm ngày sinh nhật C Mác (5/5/1818 - 5/5/ 2018)tại Hà Nội (Việt Nam), Hội đ ng lý luận Trung uơng cùng một số truờng Đại

học trong nuớc đã tổ chức Hội thảo Quốc tế “ Di sản tư tưởng Các Mác và ý

nghĩa thời đại” nhằm tôn vinh cuộc đời và những tu tuởng của C Mác Nhân

dịp này, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh kiêm Chủ tịch

Trang 11

Hội đồng Lý luận Trung uơng, Nguyễn Xuân Thắng khẳng định:

triết thuyết khoa học có sức ảnh hưởng nhất thế kỉ XX.

1.2 “ Văn học- nghệ thuật là một hInh thái ỷ thức xã hội” là một luận

đề

hạt nhân của phương ph p luận mác xít Dòng chữ đầu tiên mở đầu bản Tuyên

ngôn Cộng sản(1848), C Mác và P Ăng-ghen viết: “Lịch sử của xã hội loài người từ kh i có giai cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp ” Điều đó cho thấy

nhận

thức của nhà khai sáng chủ nghĩa M c coi động lực xã hội là đấu tranh giaicấp Các hình thái ý thức xã hội phải phản nh được cuộc đấu tranh giai cấp

Trang 12

xã hội Văn học - nghệ thuật là một hình thái thuộc ý thức xã hội, vì vậy, văn

1 Xem thêm bài tham luận của Nguyễn Xuân Thắng tại Hội thảo, mac-va-y-nghia-thoi-dai/c/25904286.epi

Trang 13

https://baomoi.com/di-san-tu-tuong-cac-học phải là tấm gương phản chiếu cuộc đấu tranh giai cấp Văn https://baomoi.com/di-san-tu-tuong-cac-học nghi ễmnhiên trở thành một thứ khí giới đắc lực phục vụ mục tiêu của

phần cải tạo và thay đổi xã hội

Phương pháp luận mác xít với quan điểm về tư duy và nhận thức như vậy

đã chi phối lớn đến nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam giai đoạn1945-1975 Bản chất “công cụ” ấy lại được đặt trong hoàn cảnh bạo lực cáchmạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện tuyệt đối nên phương pháp luậnmác xít giai đoạn này không chỉ là một phương pháp tư duy nhận thức thẩm

mĩ mới mà nó còn trở thành một phương tiện thực thi những mục tiêu chínhtrị và văn hóa quan trọng Sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng Cộng sản

và coi chủ nghĩa Mác là “vô địch” khiến cho phương pháp luận mác xít trongmột thời gian dài ba mươi năm c ách mạng đã trở thành một phương phápnghiên cứu phê bình tối ưu và tuyệt đối trong đời sống học thuật Chính điều

đó đã tạo nên những thành tựu t nh ưu việt của một nền văn nghệ cách mạng,nhưng cũng không phủ nhận được những giới hạn của một nền văn nghệ cóthiên hướng chính trị hóa

1.3 Từ sau Đổi mới cho đến hiện nay, đánh gi á những vấn đề văn học

cách mạng giai đoạn 1945-1975 có nhiều quan điểm trái chiều, không đồngnhất, thậm chí mâu thuẫn Một trong những vấn đề không tìm được tiếng nóinhất quán nhiều nhất hiện nay là vai tr phương ph p luận mác xít trongnghiên cứu phê ình văn học a mươi năm Trong hông h dân chủ đaphương hiện nay, việc đ nh gi lại “vấn đề cũ” trở nên cần thiết và thời sựhơn ao giờ hết Có một hiện tượng phổ iến ở Việt Nam hiện nay trong việcđánh gi á về phương pháp luận mác xít, đó là, hoặc phê phán một c ách cựcđoan tất cả những gì thuộc về phê ình nghiên cứu văn học m c x t nói riêng

và phê bình nghiên cứu văn học theo hướng xã hội học nói chung, hoặc là nétránh không bàn đến, cho nó là đã lỗi thời và do đó đã bỏ qua những mặt được

Trang 14

1.4coi là khả thủ của một phương pháp luận từng được chú ý quan

1.5 Trong không khí dân chủ hướng tới tương lai, chúng ta cần đánh

giá lại những vấn đề thuộc quá khứ ? Chỉ có thể hiểu mình đang thiếu gì và

cần gì thì chúng ta mới có thể tránh được những cực đoan, ngộ nhận về mặt

nhận thức và tiếp nhận hữu ích từ c ái mới Phương pháp luận mác xít mặc dùkhông c òn giữ vị thế độc tôn nhưng vẫn còn tồn tại trong thực tiễn nghiên cứunhư một “thiết chế ” đối với nghiên cứu và phê bình văn học hiện nay Vì vậy,việc nghiên cứu thấu đ o về sự ảnh hưởng của phương ph p luận m c x ttrong nghiên cứu phê bình văn học giai đoạn 1945-1975 không chỉ có ý nghĩahoàn tất đ nh gi về một thực thể đã đi qua mà có ý nghĩa mở ra những c nhcửa mới trong tiếp nhận Với một độ lùi thời gian cần thiết và được soi sángbởi những cách nhìn mới sẽ giúp nhìn nhận một cách khách quan và thỏađáng một phương pháp luận được coi là “tốt nhất” của ba mươi năm c áchmạng Trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu đầy đủ toàn diện ảnh hưởngcủa phương ph p luận m c x t trong nghiên cứu l luận phê ình văn học amươi năm có ý nghĩa thời sự cấp thiết khi đang có những c ái nhìn “s ám hối”cực đoan “nguyền rủa” về quan điểm mác xít trong ba mươi năm văn học nóichung và nghiên cứu phê bình lí luận văn học nói riêng

1.6 Từ những tiền đề trên, chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu phương

ph p luận m c x t và ảnh hưởng của nó đến nghiên cứu phê ình l luận vănhọc Việt Nam 1945-1975 để thấy được những thành tựu, những ưu điểm cũng

Trang 15

1.7 như những giới hạn của giai đoạn này là một việc làm cần

Chúng tôi chọn vấn đề Phương pháp luận mác Xỉt trong nghiên cứu và

phê

bình văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 là đối tượng nghiên cứu cho

mình Cho tới thời điểm hiện nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu

đề tài này, mặc dù thi thoảng đó đây, nơi này nơi kia trên một số cuốn s ách

nghiên cứu, giáo trình, tạp chí có các phần, chương, mục đề cập tới

đề liên quan đến c ác khía cạnh vấn đề nghiên cứu của Luận án.

1.8 Chọn mốc thời điểm 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975)làm đối tượng và giới hạn trong công trình này, theo chúng tôi là hợp lí nhất.Bởi, đây là thời kì toàn dân tộc tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân Chính trong hoàn cảnh thời chiến, phương pháp luận mác xít đãphát huy được đầy đủ phẩm tính của một nền văn nghệ cách mạng Mặc dù,tính chất độc tôn của phương pháp luận mác xít vẫn còn tồn tại cho đến thờiđiểm đêm trước Đổi mới (1986) Tuy nhiên sau 1975, những thay đổi căn bản

về hoàn cảnh xã hội trong nước và thế giới, phương ph p luận mác xít bộc lộnhiều hạn chế hơn là ưu điểm, khiến nó trở nên xơ cứng gi o điều Ch nh điều

đó ít nhiều cản trở sự phát triển của văn học nói chung và nghiên cứu phê

bình lí luận nói riêng Theo chúng tôi, chọn lựa thời điểm ba mươi năm văn

học phát triển trong thời kì đất nước có chiến tranh làm đổi tượng và giới hạn trong công trình nghiên cứu là phù hợp nhất để dựng một bức tranh tổng quan chân thực về những ảnh hưởng của phương pháp luận mác xít trong nghiên cứu phê bình lí luận văn học Việt Nam.

1.9 Nghiên cứu đề tài này, Luận án nhằm mục đích tìm hiểu sự hìnhthành vận động của phương ph p luận m c x t và ảnh hưởng t c động của nóđến nghiên cứu phê bình lí luận văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 Mặt1.10 h c, thông qua việc đi sâu vào tìm hiểu một số t c giả, t c phẩm tiêu iểutrong nghiên cứu l luận phê ình giai đoạn này nhằm h i qu t thành những

Trang 16

1.11 đặc điểm cơ b ản về thành tựu và giới hạn của nghiên cứu

2.4 -Về mặt phươngpháp luận, Luận án sẽ góp phần rút ra những

thủ hợp lí và giới hạn của phương ph p luận mác xít trong nghiên cứu phêbình văn học ba mươi năm (1945-1975) Trong bối cảnh hiện nay, với nhiềucách tiếp nhận mới do quá cực đoan hi đ nh gi lại văn học nói chung vànghiên cứu phê bình văn học nói riêng trong chặng đường này, Luận án hivọng sẽ đưa ra những kết luận khoa học hữu ích và cần thiết hi đ nh gi lạinghiên cứu phê bình văn học ba mươi năm

2.2 Nhiệm vụ n ghiên cứu

2.5 -Trình b ày khái niệm phương pháp luận, phương pháp luận mác

Trang 17

2.7 -Khẳng định những giá trị hạt nhân bền vững của phương ph pluận

mác xít trong hiện tại và tương lai

2.8 -Chỉ ra những yếu tố bất cập, giới hạn của phương pháp luận mácxít

trong nghiên cứu phê bình văn học giai đoạn 1945-1975

Trang 18

3 Đố i tượng tượng và p hạm vi n ghiên cứu

3.1 3 1 Đ ố i tượng n ghiên cứu

3.2 -Luận án tập trung phân tích những ảnh hưởng của phương phápluận

mác xít trong nghiên cứu và phê bình văn học giai đoạn 1945-1975 Khôngđặt vấn đề nghiên cứu phương pháp luận mác xít như một học thuyết mangtính phổ quát trên phạm vi thế giới, tác giả Luận án phân tích c ác b iểu hiện,những tác động của nó đến đời sống nghiên cứu phê bình văn học của ViệtNam giai đoạn này

mác xít trong nghiên cứu và phê bình văn học giai đoạn 1945-1975 một cách

có hiệu quả, con đường đi tốt nhất và ngắn nhất về mặt phương pháp là sử

dụng các phương pháp nghỉên cứu liên ngành Bản thân văn học là một sản

phẩm liên ngành, chịu sự chi phối tác động của nhiều lĩnh vực đời sống xãhội Bởi vậy, chỉ có thể hiểu tượng một hiện tượng văn học khi đặt nó trongmối liên hệ với nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội như xã hội học, vănhóa học, chính trị học v.v

3.6 -Phương pháp nghỉên cứu lịch sử - xã hội cũng là một phương

pháp

được chúng tôi sử dụng như một phương pháp tối ưu cho một vấn đề nghiên

Trang 19

cứu mang tính lịch sử thời đại.

3.7 -Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng những phương pháp, lý thuyếtmới

trong nghiên cứu văn học gần đây để cắt nghĩa l í giải như: Lý thuyết tiếp nhận

Trang 20

3.8 văn học và Lý thuyết diên ngôn Tuy nhiên, chúng tôi không

thống khái niệm, thuật ngữ của lí thuyết tiếp nhận Chúng tôi chỉ vận

thực trạng nghiên cứu lí luận phê bình văn học giai đoạn 1945-1975 từ góc độ

sự ảnh huởng của phuơng pháp luận mác xít với những thành tựu uu thế vànhững giới hạn của phuơng pháp luận mác xít trong hoàn cảnh đất nuớc cóchiến tranh

3.10 -Qua Luận án của mình, chúng tôi hẳng định những thành tựu củanghiên cứu phê bình văn học Việt Nam theo phuơng pháp luận mác x ít (1945-1975) với vai trò gạch nối hiện đại hóa nền lí luận nghiên cứu phê bình văn

Trang 21

tài luận án và thư mục tham khảo Riêng phần nội dung gồm bốn chuơng:

3.12 c hưon g 1 : Tổ ng q u a n vấ n đề nghiê n cứu.

3.13 c hưong 2: Quá trình tiếp nh ậ n và khẳ ng định củ a p hưong

lu ận m á c xít tro ng văn học Việt Nam.

Trang 22

3.14 c hương 3 : Phươn g p h á p lu ậ n m á c x ít t ro ng p hê b ì nh

Trang 23

3.16 c hương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấ n đề

3.17Phương pháp luận mác Xỉt trong ngh iên cứu và phê b ình văn

Nam 1945-1975 chưa là đề tài của bất kì công trình nghiên cứu văn học

chuyên b iệt nào Tuy nhiên, từ thời điểm sau năm 1975 cho đến hiện nay,nhiều vấn đề về phương pháp luận mác xít và sự ảnh hưởng của nó trongnghiên cứu và phê bình văn học ba mươi năm đã trở thành một đối tượngđược quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học Trong phạm vi nghiêncứu của Luận án, lần theo thời gian, chúng tôi xin đi vào điểm qua một sốcông trình bài viết từ sau 1975 đến nay để làm rõ những vấn đề liên quan đếnđối tượng được nghiên cứu trong Luận n của mình

1.1.1 Giai đoạn 1975-1985

3.18 Thực tế nghiên cứu và phê ình văn học t thời điểm sau 1975 đếntrước Đổi mới (1986), nhìn chung vẫn là sự duy trì sự độc tôn và tuyệt đốiphương pháp luận mác-x ít B ởi vậy khi nghiên cứu về giai đoạn 1945-1975,

c ác nhà nghiên cứu, lý luận và phê bình giai đoạn này vẫn tập trung vào việckhẳng định những thành tựu của phương pháp luận mác-xít trong nghiên cứuphê ình văn học a mươi năm Tham gia vào qu trình này là những ài viết,công trình nghiên cứu và hảo cứu công phu của c c nhà nghiên cứu về nhữngthành tựu trên c c phương diện l luận, nghiên cứu và phê ình văn học

3.19 Từ góc độ của phương pháp luận mác xít, Như Phong

l í luận mác xít tiêu biểu của giai đoạn này trong tuyển tập Bình luận văn học

được viết vào đầu năm 1975 đã nhận định một cách khái quát về nhiệm vụchính trị của phê bình và nghiên cứu văn học theo quan điểm mác xít trong

Trang 24

một chặng đường mới Tác giả viết:

Trang 25

3.20 “Phải luôn giương cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác- Lê và nêu rõ

văn hóa văn nghệ của Đảng, đi vào giải quyết những vấn đề cụ thể nhấtcủa l í luận cũng như thực ti ễn công tác văn nghệ, là không mệt mỏi đấutranh chống những quan điểm sai lầm văn nghệ bất cứ từ đâu tới, để gạt

bỏ những vướng víu lệch lạc cho sự nghiệp văn nghệ của c ách mạng ( )

là phải xây dựng các cơ quan công tác vững mạnh về mặt tư

ba mươi năm vẫn là những “lời khen ngợi không ngớt” của một phương pháp

“tối ưu nhất”, “tốt nhất” lúc ấy giờ

3.22 Sau 1975 trong hoàn cảnh đất nước thống nhất, yêu cầu với nhữngnhà

nghiên cứu phải tổng kết những chặng đường đã qua trong công tác nghiêncứu phê ình văn học a mươi năm theo quan điểm mác xít Phan Cự Đệ làmột trong những nhà nghiên cứu mác xít nhiệt thành nhất và tiêu biểu nhất

Trong bài viết về một độ ị ngũ l ỉ luận, ph ê b ình, ngh iên cứu văn h ọc theo

quan

điểm mác Xỉt ba mươỉ năm qua (1984), tác giả Phan Cự Đệ khẳng định “sự

Trang 26

trưởng thành”, những “ ước tiến đ ng ể” góp phần hoàn thành nhiệm vụ của

“người l nh xung ch ảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng” trên “mặt trận” lluận phê ình văn học theo quan điểm m c x t a mươi năm:

Trang 27

3.23 “Lý luận phê bình {theo phương pháp luận mác xít - NHT

nhấn

mạnh) đã góp phần xứng đáng vào việc xây dựng nền móng chomột nền văn học dân tộc dân chủ và xã hội chủ nghĩa Phê bình l íluận không những đã nâng cao tư tưởng, nhận thức và năngkhiếu thẩm mỹ của quần chúng nhân dân, mà góp phần hướngdẫn cho s áng tác đi đúng đường lối văn nghệ của Đảng.” [63; 2 2 ]Tinh thần của Phan Cự Đệ đã mở đường cho một công trình khảo cứucông phu của đội ngũ nhiều nhà nghiên cứu của Viện Văn học hoàn thành vào

thời điểm “đêm trước” Đổi mới, Tác gia lỷ luận phê bình nghtên cứu văn học

Việt Nam 1945-1975, xuất bản năm 1986, gồ m 2 tập, tập I chủ yếu giới thiệu

c ác tác gia lỉ luận và phê b ình (Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Như Phong, Hà

Xuân Trường, Hồng Chương, Nam Mộc, Vũ Đức Phúc, Vũ Khiêu, Hoàng

Xuân Nhị, Nhị Ca v.v ), tập II chủ yếu giới thiệu c ác tác gia nghiên cứu văn

học (Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Đỗ Đức Hiểu, B ùi Văn Nguyên, Lê

Đình Kỵ, Hoàng Trinh v.v ) Ngay trong lời mở đầu, nhóm tác giả đã khẳngđịnh những thành tựu về c c công t c l luận, nghiên cứu và phê ình văn họctheo quan điểm mác xít trong giai đoạn này:

3.24 “Về phê bình văn học (theo quan điểm mác xít- NHT nhấn

mạnh thì đã nâng cao t ng ước t nh chiến đấu, trình độ phân

t ch hài h a t nh tư tưởng và t nh nghệ thuật trong việc iểudương ịp thời những t c phẩm “miêu tả cho hay, chân thật và

h ng h n” hiện thực c ch mạng ì vĩ của dân tộc, đ ng thời phê

ph n quyết liệt những “t c phẩm” ộc lộ những tư tưởng phản

động của bọn thù địch ( ) Về nghiên cứu văn học ( theo quan

điểm mác xít - NHT nhấn mạnh), nổi bật lên là việc sưu tầm công

phu và có chọn lọc di sản văn học dân gian và văn học thành văn

Trang 28

3.25 - một nhiệm vụ cấp bách và nặng nề do hậu quả lịch sử để

tư tưởng mác xít và quan điểm “bế quan tỏa cảng” c ác tư tưởng khác nên việcđánh gi á nhìn nhận những thành tựu và hạn chế của giai đoạn 1945-1975 vẫn

là đ nh gi cao những thành tựu, triển vọng to lớn của phương ph p luận mácxít mà gần như không có những tiếng nói phản tư ở giai đoạn này

1.1.2 Giai đoạn sau 1986 - đến nay

3.27 Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra bướcngoặt

mới cho sự phát triển văn nghệ ở Việt Nam Tại Đại hội này, Nguyễn VănLinh với cương vị người đứng đầu Đảng tuyên bố “cởi trói”, “đổi mới tưduy” Đổi mới đã thực sự tạo ra một luồng gió mới trong lí luận nghiên cứu

và phê bình văn học Trên tinh thần “đối thoại và dân chủ”, có sự chấp nhận

“chung sống h a ình” của nhiều học thuyết tư tưởng h c nhau xuất hiệnngày càng nhiều tiếng nói h ch quan hơn về những thành tựu và hạn chế củanghiên cứu l luận phê ình văn học theo quan điểm mác xít ba mươi năm(1945-1975) Nhiều vấn đề được coi là “vùng cấm” trước đây được đưa raxem xét, bàn bạc và mổ xẻ một cách công khai

3.28 Để cổ vũ cho quá trình “cởi trói” giai đoạn này, nhiều bài viết cổvũ

Trang 29

công cuộc “cải tổ” ở Liên Xô cũng được dịch và giới thiệu ở Việt Nam ngay

thời điểm Đổi mới Ngay đầu năm 1987, tạp chí Văn học cho dịch và in bài viết của M.I Gooc-ba-chốp “Học tập, tư duy và hanh động theo cái mới”.

Trang 30

3.29 Trong bài viết này, t ác giả đã chỉ ra những hạn chế về mặt

tuyên bố cần phải “cải tổ” trong tư duy nhận thức và hành động Sang

giai đoạn này phải kể tới: Đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong nghệ thuật của Nguy ễ n Văn Hạnh [TCVH, số 2/1987]; Suy nghĩ về đổi mới nghiên cứu

thơ ca của B ùi Công Hùng [TCVH, số 2/1987]; Văn học và đờ sống hôm qua

và hôm nay của Phong Lê [TCVH, số 2/1988]; Nghiên cứu văn học so sánh trước nhu cầu đổi mới của Nguyễn Văn Dân [ TCVH, số 3+4/1988]; Nhin vào việc đánh giá Vũ Trọng Phụng, suy nghĩ về vấn đề đổi mới tư duy trong nghiên cứu văn học của Lê Thị Đức Hạnh [TCVH, số 1/1989]; Chung quanh vấn đề đổi mới trong văn hóa văn nghệ của Vũ Khiêu [TCVH, số 3+4/1989];

Trang 31

Đổi mới nhận thức lịch sử trong nghiên cứu khoa học xã hội nói chung nghiên cứu văn học nói riêng của Nguyễn Huệ Chi [TCVH, số 11+12/1990]

Trang 32

3.31 v.v Đổi mới gần như ngay lập tức trở thành vấn đề cốt lõi

lúc bấy giờ Đổi mới giống như một cuộc canh tân toàn diện, một cuộc cách

mạng tân tiến đem đến sự lột xác của một nền văn nghệ vốn bị vây bủa trong

sự độc tôn quá lâu của phương pháp luận mác xít Nhìn vào nhan đề bài viết

lúc này thế hiện phần nào cái khí thế sống còn ấy của buổi đầu đổi mới.

3.32 Đồng thời với việc lật lại một giai đoạn s áng tác, nhiều vấn đề

luận nghiên cứu phê b ình văn học theo phương pháp luận mác xít cũng được

xem xét lại Sớm nhất theo tinh thần ấy phải kể tới bài viết Mấy ỷ kiến về phê

bình văn học[8] của Lại Nguyên Ân và Phê bình văn học trong tình hình mới

của Nguyễn Đăng Mạnh [159] v.v Trong bài viết Mấy ỷ kiến về phê bình

văn học, Lại Nguyên Ân tìm nguyên nhân từ hoàn cảnh đặc b iệt làm hạn chế

phê ình văn học giai đoạn a mươi năm T c giả viết:

3.33 “Đó là sự thống trị quá ư tuyệt đối của giọng phê bình

của tư duy quyền uy trong phê bình ( ) B ên cạnh những ý kiếnquyền uy lại nảy sinh những ý kiến phê bình xu phụ, nó nghengóng xem ý kiến của cấp trên ra sao để lựa lời viết tâng cônghoặc lập công ( ) Quy kết trở thành thủ đoạn chủ yếu của phêình xu phụ iểu này, và phê ình xu phụ v a là đầy tớ v a làbạn đường của phê bình quyền uy” [8]

Ân lập tức gây lên một cuộc tranh luậntrên văn đàn Gần như ngay lập tức khi bài b áo của Lại Nguyên Ân ra đời đã

có nhiều tiếng nói tán dương ủng hộ Trong đó đáng chú ý nhất phải kể tới ýkiến của Nguy n Đăng Mạnh trong bài n v n ọ tron t n n mớ

3.35 [b áo Văn nghệ số 35 ngày 29/8/1987] đã thẳng thắn chỉ ra những hạn

Trang 33

phê bình văn học ba mươi năm, sau khi đã c ắt nghĩa bằng hoàn cảnh lịch sử

và tâm l xã hội đặc iệt của thời ì chiến tranh và yêu cầu của c ch mạng, t cgiả nêu lên một số biểu hiện trong những sai lầm và hạn chế của một nền phêbình theo quan điểm mác xít như:

Trang 34

3.36 “Những quan điểm giản đơn thô thiển về văn học như coi

nhẹđặc trưng của văn học nghệ thuật, hạ thấp vai trò c á tính s áng tạocủa người cầm bút, đề cao loại truyện ghi chép đơn giản ngườithật việc thật, chủ trương tác phẩm chỉ nên có một bình diệnnghĩa và nghĩa phải thật rõ ràng, quan niệm thời đại mới không

có bi kịch, quy chụp nặng nề những tác phẩm nói về mặt tiêu cựccủa xã hội hoặc đề cập tới chuyện đời tư, đời thường hay nội tâm

ít nhiều phức tạp của con người” [159; 412]

3.37 Cũng theo tác giả bài viết, tình trạng ấy kéo dài dẫn tới sự mất dânchủ

trong đời sống văn học, trong đó có nghiên cứu lí luận phê bình văn học

“Khuynh hướng ấy tất nhiên dẫn tới cái logic này, thẩm quyền cao hay thẩm quyền thấp của nhà phê bình tùy thuộc vào cấp độ chỉnh trị cao hay thấp của ông ta Cái gọi là khoa học, là chuyên môn, là năng khiếu phê bình văn học bị

co i rẻ - ch ưa nó i còn dê b ị quy kết là chủ nghĩa h ình th ức, chủ nghĩa duy mĩ”

[159; 412]

3.38 Trong bối cảnh sôi động của quá trình “ phản tư” ấy, Vương TríNhàn

là một trong số hiếm người tỉnh táo thoát ra khỏi vòng xoáy tranh luận “tiền

hô hậu ủng” ấy Nhà nghiên cứu lại lưu tâm tới một thực trạng khác cũng

đ ng o động của nghiên cứu phê ình theo quan điểm m c x t trong amươi năm Đó là lối phê bình khen ngợi dễ dãi, hời hợt, xuất phát từ một cáichuẩn rất thấp T c động tiêu cực của lối phê ình d dãi, theo t c giả cũng

không hề “kém cạnh” so với phê b ình quy chụp “Trong cả hai vai trò sợi dây

trói và người ngợi khen một cách dê dãi, phê bình đều hiện ra như một nhân

tổ cản trở sự phát triển lành mạnh của văn học Khó lòng nói kh i nào có tội

Trang 35

hơn, khi nào đáng thể tất hơn” [172 ].

3.39 Bên cạnh những tiếng nói phản tư nhận được nhiều sự đ ng thuận,thì

những tiếng nói của những nhà nghiên cứu nhiệt thành với phương ph p luận

Trang 36

3.40 mác xít nhằm bảo vệ những giá trị hạt nhân cốt lõi của

đăng đàn, cho đăng liền một lúc hai b ài Mấy ỷ kiến về đổi mới tư duy

văn học theo phương pháp luận mác xít nói riêng:

3.41 “Sức mạnh của nền văn học mới của chúng ta ( ) là sự

rungđộng chân thành và nhiệt tình yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hộicủa c ác nhà văn chiến sĩ, không phải là triết học duy vật “dại

dột” mà là thế giới quan mác-xít (NHT nhấn mạnh) và phương pháp s áng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa” [15; 296].

3.42 Gần như ngay sau những bài báo của Phan Cự Đệ xuất hiện, lậptức

một loạt các bài viết nhằm trực tiếp vào tác giả bài viết Không khí căng thẳngngày đầu Đổi mới vốn đã nóng thì nay lại càng sôi sục hơn khi trái b óng được

đá từ đổi mới văn nghệ nói chung sang đổi mới tư tưởng lập trường cá nhânngười viết nói riêng Đối thoại với Phan Cự Đệ, Lại Nguyên Ân đưa ra b ảy lời

bình trong bài Đã nghĩ lối mới hay vẫn nghĩ lối cũ ? [9], phê phán thái độ

“bảo thủ”, “thiếu tinh thần xây dựng” của tác giả bài viết khi vẫn “giữ nguyênlối nghĩ cũ”, nhất là vẫn giữ nguyên c ách “quy chụp về quan điểm, tư tưởng

ch nh trị” Sau “đ n phủ đầu hóc hiểm” ấy, sức nóng của cuộc đối thoại tiếp

Trang 37

tục được đẩy lên cao và trở thành một cuộc công kích thực sự nhắm vào “thái

độ bảo hoàng” trong văn nghệ nói chung Chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, tiếp

Trang 38

3.43ngay sau đó là một loạt bài công kích quan điểm của Phan Cự

thể kể tới: Xin hỏi có thật lòng muốn đổi mới không của Tôn Gia C ác [21]

v.v Cuộc tranh luận mở màn ấy đã mở màn cho một cuộc tranh luận công

khai kéo dài với sự góp mặt của nhiều cây bút nhung với thái độ ôn hòa

cơ ch ế tự th ỏa mãn của đời sống văn h ọ c [TCVH, số 3/1991] của Vuơng

lật lại những vấn đề cơ bản của lý luận nghiên cứu phê bình văn học mác xít

ba muơi năm cũng nhận đuợc quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu gần đây.Trong số đó phải kể tới vai trò đi đầu của hai nhà lí luận Trần Đình Sử và La

Kh c H a Lã Nguyên Với một phông kiến thức lý luận vững vàng, hai câybút gạo cội của “làng văn” đã xuất phát từ những vấn đề lý luận cơ bản của lýluận mác xít để chỉ ra những “khuyết tật” của một nền “văn nghệ thời chiến”

Năm 2 016, Trần Đình Sử cho công bố cuốn chuyên luận Trên đường biên của

lỉ luận văn học (2016) Nhà nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận những “bất cập”

trong “vai trò, vị trí độc tôn duy nhất” của phuơng pháp luận mác xít trong

nghiên cứu và phê bình văn đã làm “nghèo nàn và nhợt nhạt nền phê bình,

nghiên cứu văn học một thời” Xuất phát từ lí luận “phiên bản gốc” trong c ái

nhìn so s ánh đối chiếu, Trần Đình Sử đã chỉ ra chỗ yếu vốn có của phuơng

pháp luận mác xít Nga Xô viết, Trung Quốc đại lục và Việt Nam là “mang

nặng t ỉnh ch ất xã h ộ i h ọ c nh i ều kh i dung tụ c giáo điều” T ác giả cũng

vạch ra

Trang 39

3.45 những “khiếm khuyết” của phương pháp luận mác xít trong

ra khuynh hướng chỉnh trị đúng đắn và chỉnh trị sai lầm", sự bất hợp lí khi

nhìn nhận sai tính đặc thù của văn nghệ dẫn tới việc coi trọng nội dung tư

tưởng, coi nhẹ hình thức Từ quan điểm đó, tác giả đã chỉ ra ba hạn chế lớn

nhất của phê bình “Phê phán nhiều, sáng tạo ỉt; Công kỉch nhiều, ỉt thừa

nhận; Thù hận nhiều, khoan dung ỉt” [229].

3.46 La Khắc Hò a (Lã Nguyên) cũng là cây bút lý luận với nhiều bàiviết

s ắc sảo giàu tính đối thoại trong những năm gần đây Trong bài viết đáng chú

ý Lỷ luận văn nghệ mác-xỉt Việt Nam nhìn từ bản gốc, tác giả tập trung vào làm rõ những “bất cập” của “nền lỉ luận văn nghệ mác Xỉt của Việt Nam là

một phiên bản của mĩ học Liên Xô" trên hai trụ cột chính hạt nhân kiến tạo lí

luận mác xít đó là: phản ánh luận và hệ tư tưởng Theo tác giả, có một sự

phân định rõ rệt giữa những nhà m c x t “ch nh thống” và “phi ch nh thống”,

nếu c ác nhà mác xít “chính thống” tập trung vào chính trị hóa văn nghệ, thì các nhà mác xít phi chính thống tập trung vào văn hóa hóa nghệ thuật Điều

đó theo nhà nghiên cứu dẫn tới một thực trạng trong phê bình nghiên cứu vănhọc ở Liên Xô, Trung Quốc, trong đó có “phiên ản Việt Nam” là nặng nề vềchính trị, nên nhìn chung nghiên cứu phê bình chỉ là một “c i loa” ph t ngôncủa chính trị, làm cho tác phẩm được đánh giá chủ yếu dựa vào lập trường tưtưởng, hiến tư duy của nhà nghiên cứu phê ình d rơi vào tình trạng gi ođiều, dung tục, công thức Đó là một phát hiện đ ng suy ngẫm của tác giả

một b ài viết khác Tổng quan về sự tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào

Việt Nam từ sau 1986 đến nay[177], tác giả cho rằng yếu tố làm cho nền phê

Trang 40

3.47 bình nghiên cứu mác xít trong giai đoạn này ít thành tựu vì

thẳng thừmg tuyên bố không e dè quan điểm văn nghệ mác xít (1945-1975) đã

“hết thời của nó” và cần thiết phải thiết lập ngay một cơ chế l í luận mới trongvăn nghệ Một bài viết đáng chú ý theo xu hướng ấy gần đây được đăng trên

báo Nhân dân có nhan đề Từ lỉ luận đến yêu cầu xây dựng hệ thống lỉ luận

văn nghệ Việt Nam ”(2014 ), Phan Trọng Thưởng đã nhìn nhận một c ách khái

quát những hạn chế cơ b ản của một nền tảng mĩ học và triết học mác xít “sựbất hợp lí” trong bối cảnh xã hội đất nước đã thay đổi Tác giả cho rằng

“Dường như nó (Phương pháp luận mác xít- NHT nhấn mạnh) đã hoàn tất sứ mệnh lị ch sử của m ình để nh ường ch 0 ch o nh ững quá tr ình văn h ọ c kh á c

đang nhen nhóm và thay thế”[249].

3.49 Xu hướng đối chiếu l í luận trước và sau Đổi mới để khẳng định

thành

tựu của l í luận văn học sau Đổi mới (1986) và “chú mục” trọng tâm vào việc

chỉ ra hạn ch ế của nền l í luận phê bình cũ theo quan điểm mác xít là một

hướng đi có tính thời sự và thời thượng ở c ác nhà nghiên cứu gần đây Điểm

qua tư duy tiếp cận này phải kể tới một số c ác công trình, bài viết: Một số vấn

đề lỉ luận văn nghệ cơ bản đang được tranh luận qua công cuộc đổi mới (1987-1992) (1994) do Lê B á Hán chủ biên; Lỷ luận phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1986-2000 (2004) của Trần Đình Sử; Hai mươi năm lỷ luận, phê bình, nghiên cứu văn học - Thành tựu và suy ngâm (2006) của Trần Đình

Sử, Một số vấn đề lỷ luận văn học - nghệ thuật nhìn từ sự nghiệp đổi mới (2006); Sơ lược về tình hình và thành tựu của lỉ luận, phê bình văn học từ sai

Ngày đăng: 19/12/2020, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w