1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020

25 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 188 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÒA BÌNH

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

˜˜˜ -Đặng Trọng Nghĩa (chủ trì)

Đinh Thị Thảo Nguyễn Thị Bích Ngọc

Đỗ Thị Tiến Thành

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“Một số giải pháp thực hiện công tác tự đánh giá hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020”,

HÒA BÌNH - 2020

Trang 2

MỤC LỤC

Chương I TỔNG QUAN 1

1 Cơ sở lý luận 1

2 Cơ sở pháp lý 7

3 Cơ sở thực tiễn 7

4 Phương pháp tiếp cận 8

5 Mục tiêu cần đạt được 9

Chương II MÔ TẢ SÁNG KIẾN 10

1 Thực trạng về công tác TĐG của trường CĐSP Hòa Bình 10

2 Một số giải pháp thực hiện công tác TĐG chất lượng giáo dục của trường, hướng tới KĐCLGD và công nhận chất lượng 17

3 Khả năng áp dụng, nhân rộng sáng kiến 18

Chương III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19

1 Kết luận 19

2 Đề xuất, kiến nghị 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

PHẦN PHỤ LỤC 23

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ GD&ĐT

19 Thanh tra-Khảo thí và Đảm bảo chất lượng TTr-KT&ĐBCL

20 Sáng kiến kinh nghiệm SKKN

Trang 4

Chương I.TỔNG QUAN

1 Cơ sở lý luận

1.1 Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm

TĐG là khâu đầu tiên trong quy trình KĐCLGD của trường Cao đẳng Đây

là quá trình nhà trường tự xem xét, kiểm tra, đánh giá trên cơ sở các tiêu chuẩnđánh giá chất lượng giáo dục của Bộ GD&ĐT Việc tự xem xét, kiểm tra, đánhgiá chất lượng giáo dục là xem xét tổng thể về tình trạng chất lượng, hiệu quảcủa toàn bộ quá trình đào tạo, nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất … cũng như cácvấn đề liên quan khác, từ đó có những biện pháp điều chỉnh các nguồn lực mộtcách phù hợp nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đã được xácđịnh Do đó SKKN được thực hiện trên cơ sở các lý do sau:

1.1.1 Tự đánh giá giúp nhà trường định hướng và xác định chuẩn chấtlượng cho từng hoạt động theo Chuẩn chất lượng đã được Bộ GD&ĐT công bố(gồm 10 tiêu chuẩn và 54 tiêu chí), trong đó yêu cầu rõ các chỉ số cụ thể mà cáctrường cần đạt được để đảm ĐBCL toàn diện Việc phân tích, mô tả hiện trạng,chỉ ra điểm mạnh, tồn tại, đồng thời lập kế hoạch hành động và đề ra giải phápnhằm giải quyết các tồn tại này chính là những định hướng phát triển cho giaiđoạn tiếp theo đáp ứng yêu cầu về sứ mệnh, mục tiêu đã công bố

1.1.2 Công tác tự đánh giá chất lượng giúp chúng ta xem xét lại toàn bộhoạt động của mình một cách có hệ thống, từ đó điều chỉnh các hoạt động theomột chuẩn mực nhất định Để đánh giá chính xác chất lượng của một trườngchuyên nghiệp cần có cái nhìn tổng thể về toàn bộ hoạt động của nhà trường.Bản thân công tác TĐG chất lượng sẽ không tạo ra chất lượng ngay cho nhàtrường, mà nó chính là hoạt động phản ánh toàn bộ thực trạng của nhà trường,giúp cho các nhà quản lý nhìn nhận những mặt mạnh, mặt yếu của đơn vị mình

để từ đó có bước hành động phù hợp

1.1.3 Việc thường xuyên TĐG nhằm xác định xem chúng ta đang đứng ởđâu trong thang bậc chất lượng giáo dục và cũng là điều kiện, nền tảng hìnhthành nên văn hoá chất lượng cho Nhà trường Như vậy, hoạt động tự đánh giá

là quy trình xem xét khách quan công việc của tất cả các hoạt động của trườngtrên cơ sở so sánh, đối chiếu với các chỉ số, các chuẩn mực, các minh chứng cụthể, do đó, các thông tin này sẽ giúp cho tất cả các nhà quản lý, CBGV, NV,HSSV hiểu rõ hơn công việc của mình, giúp họ chủ động hơn, không ngừngnâng cao chất lượng công việc của mình và hành động theo chất lượng, khi đóvăn hóa chất lượng sẽ hình thành

1.1.4 Kết quả của việc đánh giá sẽ là lời tuyên bố chắc chắn với các bênliên quan, các cơ quan sử dụng lao động về hiện trạng chất lượng của

Trang 5

trường Việc đăng ký KĐCLGD được xem là lời cam kết về chất lượng đào tạo

mà nhà trường mang lại cho người học và xã hội

1.1.5 Để có những kinh nghiệm trong công tác TĐG chất lượng thực tế củatrường CĐSP Hòa Bình, đồng thời hướng đến đăng ký KĐCLGD và công nhận

chất lượng đối với trường CĐSP Hòa Bình, chúng tôi thực hiện sáng kiến “Một

số giải pháp thực hiện công tác TĐG hướng đến kiểm định chất lượng của trường CĐSP Hòa Bình năm học 2019-2020”, đồng thời đưa ra một số biện

pháp nhằm góp phần hoàn thành công tác TĐG và công tác KĐCLGD củaTrường

1.2 Một số quan niệm về chất lượng trong giáo dục:

Về bản chất, khái niệm chất lượng giáo dục là một khái niệm mang tínhtương đối Với mỗi người, quan niệm về chất lượng giáo dục khác nhau và vì ởmỗi một vị trí, lĩnh vực người ta nhìn nhận về chất lượng giao dục ở những khíacạnh khác nhau Các sinh viên, các nhà tuyển dụng, đội ngũ tham gia giảng dạyhoặc không giảng dạy, chính phủ và các cơ quan tài trợ, các cơ quan kiểm duyệt,kiểm định, các nhà chuyên môn đánh giá đều có định nghĩa riêng của họ chokhái niệm chất lượng giáo dục

Trong thực tế, có rất nhiều cách định nghĩa chất lượng, nhưng có thể đượctập hợp thành các nhóm quan niệm về chất lượng như sau:

- Nhóm Chất lượng là sự vượt trội: Khái niệm coi chất lượng là sự vượt trội

là một khái niệm truyền thống, coi chất lượng là sự nổi trội, có chất lượng xuấtsắc (vượt tiêu chuẩn rất cao) và sự đạt được một số tiêu chuẩn đặt trước Tuynhiên quan điểm này đi kèm với tính phân biệt trong đó chất lượng được coi làmột cái gì đó đặc biệt, dành cho những người ưu tú Như vậy, chất lượngkhông được định nghĩa thông qua việc đánh giá những gì được cung cấp mà dựatrên cơ sở cho rằng chính bản thân nó luôn mang tính nổi trội Đó không phải làchất lượng được đo đếm qua các tiêu chuẩn mà là chất lượng riêng biệt và khôngthể tiếp cận cho hầu hết mọi người Theo quan điểm này, chất lượng là cái sẵn

có nằm trong nhà trường, và do vậy không cần có cơ quan nào bên trong haybên ngoài nhà trường để làm nhiệm vụ ĐBCL mà công việc đó được thực hiệnbởi chính đội ngũ và nhà trường đó làm ra Vì thế cách tiếp cận này chưa hẳn đãhoàn toàn khách quan trong các khâu đánh giá và công nhận chất lượng của mộtnhà trường khi mà sản phẩm của họ được họ coi là chất lượng mà không cần sựđánh giá từ bên ngoài

- Nhóm Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu: Cách tiếp cận này cho rằngchất lượng chỉ có ý nghĩa trong mối liên hệ với mục tiêu Do vậy nó được đánhgiá về mức độ phù hợp với mục tiêu đến đâu Khái niệm này rất xa lạ với ýtưởng chất lượng là cái gì đó đặc biệt, nổi trội, dành cho những sinh viên ưu tú

Trang 6

hay khó đạt được Nó là một định nghĩa mang tính chức năng hơn là mang tínhloại trừ Một sản phẩm được coi là đạt chất lượng nếu nó thực hiện mục tiêu mà

nó đề ra Thay vì mang tính loại trừ, quan niệm này mang tính bao hàm trong đómỗi sản phẩm hay dịch vụ có khả năng đạt được mục tiêu đều được coi là chấtlượng

Mặc dù khái niệm có vẻ rõ ràng, “phù hợp với mục tiêu” rất dễ đánh lừangười khác vì nó đặt ra câu hỏi “mục tiêu của ai” và “sự phù hợp được đánh giáthế nào?” Quan niệm phù hợp với mục tiêu đưa ra hai ưu tiên cho việc xác địnhmục tiêu: thứ nhất là khách hàng, thứ hai là người cung cấp

Thứ nhất: Phù hợp với mục tiêu 1 - Xác định theo Khách hàng: Quan niệmnày xác định chất lượng theo mức độ một sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng cácyêu cầu của khách hàng Do vậy nó mang tính phát triển vì mục tiêu thay đổitheo thời gian, đòi hỏi liên tục có đánh giá lại mức độ phù hợp của mỗi đặc tính

cụ thể

Tuy nhiên, định nghĩa chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu theo nghĩađáp ứng yêu cầu khách hàng đã đặt ra một vài vấn đề Thứ nhất khái niệm

“khách hàng” là một khái niệm gây tranh cãi trong giáo dục đại học Khách hàng

có phải là người sử dụng dịch vụ (sinh viên) hay những người trả tiền cho dịch

vụ (chính phủ, các nhà tuyển dụng)? Các cổ đông khác như đội ngũ giảng viên

có được bao gồm trong khái niệm khách hàng? Sinh viên có phải là khách hàng?Hay là sản phẩm đầu ra? Hay cả hai? Cho dù sinh viên có được coi là kháchhàng trực tiếp, cũng không thể phủ nhận những khách hàng gián tiếp khác nhưchính phủ và nhà tuyển dụng Thứ hai, khách hàng, ví dụ như sinh viên, không

có khả năng và không nhất thiết phải là người quyết định các yêu cầu Làm thếnào để sinh viên quyết định các yêu cầu của mình? Thông thường sinh viên chấpnhận những cái có sẵn cho họ và có thể thiếu những hiểu biết về khóa học Họ

có thể có ảnh hưởng trong việc quyết định sản phẩm đầu ra khi họ đã tham giavào hệ thống Và chúng biến đổi theo các lựa chọn khác nhau, thông qua sức épphát triển các lĩnh vực mới hay ứng dụng những lĩnh vực mới trong đó sinh viên

là nhân tố chủ yếu trong việc quyết định bản chất của việc học

Thứ hai: phù hợp với mục tiêu, sứ mệnh: Thay vì tìm hiểu khách hàng củagiáo dục là ai và yêu cầu của họ là gì, quan điểm này đặt nhiệm vụ đề ra mụctiêu cho chính cơ sở giáo dục, và do vậy chất lượng đối với họ là sự hoàn thành

sứ mạng và mục tiêu mà họ đặt ra Tuy nhiên khi đặt trách nhiệm xác định vàhoàn thành sứ mạng lên vai cơ sở giáo dục chúng ta mới giải quyết được mộtphần câu hỏi đặc tính do khách hàng quyết định là gì? Vấn đề đặt ra ở đây làliệu cơ sở giáo dục đó vẫn còn đạt được mục tiêu nó đặt ra trong tuyên bố sứmệnh? Và ở đây cần có vai trò của đảm bảo chất lượng.ĐBCL không phải là để

Trang 7

cụ thể hoá các tiêu chuẩn để đo lường chất lượng ĐBCL là nhằm bảo đảm rằng

có các cơ chế, quy trình và quá trình được sắp xếp để bảo đảm đạt được chấtlượng Chất lượng do vậy có nguy cơ trở nên được xác định bằng sự tồn tại các

cơ chế thích hợp của đảm bảo chất lượng

Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng ĐBCL là nói về công tác quản lý tốt, nó làmột cách tiếp cận có hệ thống về việc làm những việc đúng với phương phápđúng và khiến cho chúng trở nên đúng đắn

- Nhóm Chất lượng được xem như là ngưỡng:Theo cách hiểu này, mộttrường có chất lượng cao là trường tuyên bố rõ ràng sứ mạng (mục đích) củamình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả và hiệu suất nhất Cách tiếpcận này cho phép các trường tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mụctiêu đào tạo của trường mình Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng các tổchức hữu quan sẽ xem xét, đánh giá hệ thống ĐBCL của trường đó có khả nănggiúp nhà trường hoàn thành sứ mạng một cách hiệu quả và hiệu suất cao nhấtkhông? Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các trường có nguồn lực hạnchế, giúp các nhà quản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, an toàn những nguồnlực của mình để đạt tới mục tiêu đã định từ trước một cách hiệu quả nhất

- Nhóm Chất lượng là sự hài lòng của người sử dụng lao động: Trongnhững năm gần đây người ta không chỉ nói tới việc sản phẩm phải phù hợp vớicác thông số kỹ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn nói tới sự đáp ứng nhucầu của người sử dụng sản phẩm đó Vì vậy khi thiết kế một sản phẩm hay dịch

vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của khách hàng, để sản phẩm có đượcnhững đặc tính mà khách hàng mong muốn

Trong giáo dục, định nghĩa này gây ra một số khó khăn trong việc xác địnhkhái niệm khách hàng Ai là khách hàng trong giáo dục? Đó là sinh viên (người

sử dụng dịch vụ như thư viện, ký túc xá, phòng thí nghiệm .) hay là chính phủ,các doanh nghiệp (người trả tiền cho các dịch vụ đó) hay đó là cán bộ giảng dạy,cha mẹ sinh viên v.v Hơn nữa khi xác định sinh viên là khách hàng tronggiáo dục đại học, lại nảy sinh thêm khó khăn mới là liệu sinh viên có khả năngxác định được nhu cầu đích thực, dài hạn của họ hay không? Liệu các nhà quản

lý có phân biệt được đâu là nhu cầu còn đâu là ý thích nhất thời của họ?

Như vậy, mặc dù khó có thể đưa ra được một định nghĩa về chất lượngtrong giáo dục mà tất cả mọi người đều thừa nhận, song các nhà nghiên cứucũng cố gắng tìm ra những cách tiếp cận phổ biến nhất Cơ sở của các cách tiếpcận này xem chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều

và với những người ở các cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khácnhau khi xem xét nó Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì ưu tiên củakhái niệm chất lượng phải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ thuật phục

Trang 8

vụ cho quá trình giảng dạy và học tập Còn đối với những người sử dụng laođộng, ưu tiên về chất lượng của họ lại ở đầu ra, tức là ở trình độ, năng lực vàkiến thức của sinh viên khi ra trường v.v Do vậy không thể nói tới chất lượngnhư một khái niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo với mụctiêu hay ý nghĩa của nó, và ở khía cạnh này, một trường có thể có chất lượng cao

ở một lĩnh vực này nhưng ở một lĩnh vực khác lại có thể có chất lượng thấp Như vậy có thể coi Chất lượng giáo dục là một hệ thống rõ ràng, mạch lạccác tiêu chí với những chỉ số được lượng hoá, nêu rõ các phương thức ĐBCL vàquản lý chất lượng sẽ được sử dụng trong giáo dụcvới xu hướng tiếp cận dần vớichuẩn của khu vực và thế giới

1.3.Đánh giá chất lượng giáo dục

- Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”: Một số nước phương Tây có

quan điểm cho rằng “Chất lượng một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng

hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này được gọi là “quan điểm

nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = chất lượng.Theo quan điểm này, mộttrường tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồntài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốtnhất được xem là trường có chất lượng cao

Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đadạng và liên tục trong một thời gian dài của một khóa học Thực tế, theo cáchđánh giá này, quá trình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánhgiá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra” Sẽ khó giải thích trường hợpmột trường có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đàotạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng

đã cung cấp cho sinh viên một chương trình đào tạo hiệu quả

- Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”: Là một quan điểm khác về chấtlượng giáo dục, quan điểm này cho rằng “đầu ra” của giáo dục đại học có tầmquan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo “Đầu ra” chính làsản phẩm của giáo dục được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc củasinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó

Có 2 vấn đề cơ bản có liên quan đến cách tiếp cận này Một là, mối liên hệgiữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét đúng mức Trong thực tế mốiliên hệ này là có thực, cho dù đó không phải là quan hệ nhân quả Một trường cókhả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc, không có nghĩa là sinh viên của họ sẽtốt nghiệp loại xuất sắc Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khácnhau

Trang 9

- Chất lượng được đánh giá bằng “Chất lượng đội ngũ”: Đây là quan điểmtruyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giácủa các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trongtừng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học.Điều này có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông, có uytín khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao

Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thểđược đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộccạnh tranh của các trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứutrong môi trường bị chính trị hoá Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lựcchất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi xu hướng chuyênngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng

- Chất lượng được đánh giá bằng“Văn hoá tổ chức riêng”: Quan điểm nàydựa trên nguyên tắc các trường phải tạo ra được “Văn hoá tổ chức riêng” hỗ trợcho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy một trường được đánh giá là cóchất lượng khi nó có được “Văn hoá tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng

là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giảthiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức

KĐCLGD là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu,chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác ViệcKĐCLGD được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sởgiáo dục

Như vậy, KĐCLGD là hoạt động đánh giá của một cơ quan, tổ chức kiểmđịnh được Bộ GD&ĐT cấp phép nhằm xem xét, đánh giá và công nhận các hoạtđộng giáo dục theo những tiêu chuẩn do Bộ GD&ĐT công bố

2 Cơ sở pháp lý

- Luật Giáo dục năm 2005

Trang 10

- Thông tư số 62/2012/TT-BGD&ĐT ngày 28/12/2012 của Bộ trưởng BộGD&ĐT Quy định về quy trình và chu kỳ KĐCLGD trường Đại học, cao đẳng

- Hướng dẫn số 462/KTKĐCLGD -KDĐH ngày 09/5/2013 của Cục Khảothí và KĐCLGD về việc hướng dẫn TĐG trường đại học, cao đẳng và trung cấpchuyên nghiệp

3 Cơ sở thực tiễn

- Yêu cầu của Bộ GD&ĐT về Kiểm định chất lượng giáo dục:

Căn cứ Kế hoạch số 118/KH-BGDĐT, ngày 23/02/2017 về việc Triển khaicông tác KĐCLGD đối với cơ sở giáo dục, trường cao đẳng sư phạm, trung cấp

sư phạm năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Theo đó, đến hết 31/12/2020tất cả các trường cao đẳng sư phạm, trung cấp sư phạm phải thực hiện kiểm địnhchất lượng và công bố kết quả kiểm định chất lượng giáo dục

Như vậy, thực tế cho thấy nếu Nhà trường không tiến hành TĐG để có thểđăng ký kiểm định và kiểm định chất lượng, đồng nghĩa với việc nhà trường sẽkhông được giao chỉ tiêu tuyển sinh Không được phép tuyển sinh (dù là ít), cónghĩa là Nhà trường sẽ khó mà duy trì sự tồn tại của một nhà trường đã cótruyền thống trên 60 năm phát triển

-Nhận thức về hoạt động ĐBCL nói chung và công tác TĐG nói riêng: Công tác TĐG chất lượng giúp chúng ta xem xét lại toàn bộ hoạt động củamình một cách có hệ thống, từ đó điều chỉnh các hoạt động theo một chuẩn mựcnhất định Tuy nhiên, để đánh giá chính xác chất lượng của một trường chuyênnghiệp cần có cái nhìn tổng thể về toàn bộ hoạt động của nhà trường Bản thâncông tác TĐG chất lượng sẽ không tạo ra chất lượng ngay cho nhà trường, mà

nó chính là hoạt động phản ánh toàn bộ thực trạng của nhà trường, giúp cho cácnhà quản lý nhìn nhận những mặt mạnh, mặt yếu của đơn vị mình để từ đó cóbước hành động phù hợp

Kết quả của việc đánh giá sẽ là lời tuyên bố chắc chắn với các bên liênquan, các cơ quan sử dụng lao động về hiện trạng chất lượng của trường Việcđăng ký KĐCL được xem là lời cam kết về chất lượng đào tạo mà nhà trườngmang lại cho người học và xã hội

Trang 11

Việc thường xuyên TĐG nhằm xác định xem chúng ta đang đứng ở đâutrong thang bậc chất lượng giáo dục và cũng là điều kiện, nền tảng xây dựng nênvăn hoá chất lượng cho nhà trường Như vậy, hoạt động TĐG là quy trình xemxét khách quan công việc của tất cả các hoạt động của trường trên cơ sở so sánh,đối chiếu với các chỉ số, các chuẩn mực, các minh chứng cụ thể, do đó, cácthông tin này sẽ giúp cho tất cả CBGV, NV, HSSV hiểu rõ hơn công việc củamình, giúp họ chủ động hơn, không ngừng nâng cao chất lượng công việc củamình và hành động theo chất lượng, khi đó văn hóa chất lượng sẽ được hìnhthành.

4 Phương pháp tiếp cận

Sáng kiến được thực hiện trên cơ sở sử dụng các cách tiếp cận sau:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Hệ thống các trường cao đẳng sư phạmnằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Do đó công tác TĐG là một yêu cầu bắtbuộc đối với các nhà trường có đào tạo giáo viên theo bộ tiêu chuẩn đánh giáchất lượng các trường cao đẳng của Bộ GD&ĐT

- Phương pháp tiếp cận theo mục tiêu: Quản lý chất lượng là nhằm duytrì,

ổn định và nâng cao chất lượng, nhờ đó để thực hiện mục tiêu giáo dục củatrường Cụ thể, thực hiện quản lý chất lượng thông qua hoạt động TĐG cầnđảmbảo: Hoạt động TĐG phù hợp với các quy định hiện hành (tính pháp lý;hoạtđộng TĐG được chỉ đạo, tổ chức, điều khiển bởi chủ thể quản lý chính thứclàNhà trường với sự phân công nhiệm vụ cụ thể và được thực hiện bởi những nhân

sự nòng cốt để thực hiện; hoạt động TĐG phải đượcđảm bảo các điều kiện đểthực hiện và được thực hiện trong môi trường thuận lợi

- Phương pháp tiếp cận lý thuyết: Tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa, kháiquát hóa các tài liệu lý luận, các côngtrình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề

… nhằm xác định nội hàm của các khái niệmcơ bản, xây dựng những nguyêntắc, xác định đường lối và phương tiện nghiên cứu,hình thành giả thuyết khoahọc, xây dựng khung lý luận của đề tài nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận từ thực tiễn: Sử dụng các kết quả thực tế trong đợtTĐG và triển khai các hoạt động phục vụ công tác Khảo sát đánh ngoài củaTrung tâm Kiểm định chất lượng thuộc Đại học quốc gia Hà Nội

- Các phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê toán học đểphân tích về định lượng và định tínhcủa kết quả nghiên cứu Sử dụng bảng tínhExcel để xử lý, tính toán số liệu thu được

5 Mục tiêu cần đạt được

- Đánh giá hiện trạng của nhà trường đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra theo sứmạng, mục tiêu đã được công bố Xác định chất lượng thực tế và hiệu quả hoạt

Trang 12

động tổng thể của Nhà trường trong chu kỳ 5 năm

- Đánh giá được hiện trạng những điểm mạnh, hạn chế so với các tiêuchuẩn đề ra, trên cơ sở đó định ra kế hoạch để phát huy những điểm mạnh, khắcphục những hạn chế để phát triển, từng bước hình thành văn hoá chất lượngtrong nhà trường

- Đăng ký và triển khai KĐCLGD và Công nhận chất lượng giáo dục củatrường giai đoạn 2015-2020

Chương II MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Thực trạng về công tác TĐG của trường CĐSP Hòa Bình

1.1 Khái quát quá trình thực hiện TĐG của trường CĐSP Hòa Bình

Quá trình TĐG chất lượng tổng thể của trường CĐSP đã được thực hiện từnăm 2008, khi Trường thành lập Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng(KT&ĐBCL), đây cũng là đơn vị chuyên trách đầu tiên của Trường về công tácĐBCL (Tuy nhiên, do yêu cầu thực tế của nhà trường, trong khoảng 10 năm trở

Ngày đăng: 18/12/2020, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w