1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án công nghệ ADSL2+ và ứng dụng luận văn, đồ án, đề tài tốt nghiệp

83 462 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đồ án công nghệ ADSL2+ và ứng dụng
Trường học Hanoi University of Science and Technology
Chuyên ngành Technology
Thể loại Graduation project
Năm xuất bản Not specified
Thành phố Hanoi
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 15,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồ án công nghệ ADSL2+ và ứng dụng

Trang 1

CHUONG I TONG QUAN VE MANG VIEN THONG

VA MANG TRUY NHAP

1.1 Mạng viễn thông hiện tại

1.1.1 Khái niệm về mạng viễn thông

Mạng viễn thông là phương tiện truyền đưa thông tin từ đầu phát tới đầu thu Mạng có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng

Mạng viễn thông bao gồm các thành phần chính: thiết bị chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn, môi trường truyền dẫn và thiết bị đầu cuối

" Thiết bị chuyển mạch gồm có tổng đài nội hạt và tổng đài quá giang Các

thuê bao được nối vào tổng đài nội hạt và tông đài nội hạt được nối vào tổng đài quá

giang Nhờ các thiết bị chuyên mạch mà đường truyền dẫn được dùng chung và mạng

là cáp quang đôi khi dùng cáp đồng trục, cáp xoán đôi hay viba

Trang 2

= MOi trudng truyén din bao gém truyền dẫn vô tuyến và truyền dẫn hữu tuyến Truyền dẫn hữu tuyến bao gồm dùng các cáp kim loại, cáp quang để truyền

tín hiệu Truyền dẫn vô tuyến bao gồm viba và vệ tinh

"Thiết bị đầu cuối cho mạng truyền thông gồm máy điện thoại, máy Fax,

máy tính, tổng đài PABX

Một cách khác có thể định nghĩa mạng viễn thông là một hệ thống gồm các nút

chuyển mạch được nối với nhau bằng các đường truyền dẫn Nút được phân thành nhiều cấp và kết hợp với các đường truyền dẫn tạo thành các cấp mạng khác nhau

Sub Sub a Sul

GW : Gateway - Tổng đài quốc tế

TE : Transit Exchange - Tổng đài chuyển tiếp quốc gia HLE : Host Local Exchange - Tổng đài nội hạt

RLE : Remote Local Exchange - Téng dai xa ( Téng dai vệ tỉnh) Sub : Subcriber - Thuê bao

Các mạng viễn thông hiện tại có đặc điểm chung là tồn tại một cách riêng lẻ, ứng với mỗi loại dịch vụ thông tin lại có ít nhất một loại mạng viễn thông riêng biệt dé phục vụ dịch vụ đó

Trang 3

Hiện tại có một số mạng truyền thống đang được khai thác như: mạng Telex, mạng điện thoại công cộng POTS (plane old telephone service), mạng truyền hình, mạng truyền số liệu, trong phạm vi cơ quan tổ chức hay văn phòng thì có mạng cục

bộ LAN Mỗi mạng được thiết kế cho các dịch vụ riêng biệt và không thé str dung cho các mục đích khác

Một số mạng điển hình đang khai thác :

" PSTN (Publish Switching Telephone Network) là mạng chuyển mạch thoại công cộng PSTN phục vụ thoại bao gồm các tổng đài tương ứng với từng cấp Hiện mạng này đang được nâng cấp ở các tổng đài trung tâm cũng như phía đầu cuối khách hàng để có thể khai thác thêm một số dịch vụ gia tri gia tăng trên mạng này Đây

là một mạng rất phức tạp, rất cũ và rất rộng nhưng đóng vai trò rất lớn trong viễn thông

" ISDN (Intergrated Service Digital Network) là mạng số tích hợp dịch vụ ISDN cung cấp nhiều loại ứng dụng thoại và phi thoại trong cùng một mạng Nó có nhiều cấu hình khác nhau tuỳ thuộc vào hiện trạng mạng viễn thông từng nơi ISDN

cung cấp nhiều kiểu kết nói với các tốc độ đáp ứng khác nhau do vậy có thể triển khai

thêm một số dịch vụ mới so với PSTN tuy nhiên mạng này cũng không đủ khả năng thích ứng với sự phát triển của các loại hình dịch vụ ngày nay

" Mạng di động GSM (Glabol System For Mobile Telecom) là mạng cung cấp dịch vụ thoại như PSTN nhưng thông qua đường truy nhập vô tuyến Mạng này chuyển mạch dựa trên công nghệ ghép kênh theo thời gian và công nghệ ghép kênh phân chia theo tần só

Hiện nay các nhà cung cấp dịch vụ thu được lợi nhuận phần lớn từ các dịch vụ như Leased Line, Frame relay, ATM và các dịch vụ kết nối cơ bản Tuy nhiên trong tương lai sẽ khác, lợi nhuận từ các dịch vụ trên sẽ giảm và đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ phải tìm ra các dịch vụ mới đề khai thác và đảm bảo lợi nhuận Trên con đường đó thì việc khai thác các dịch vụ dựa trên IP là một hướng đi đúng đắn và đã chứng tỏ rõ sự phù hợp qua một số dịch vụ mới được khai thác như dịch vụ mạng riêng ảo VPN

Trang 4

1.1.3 Mạng viễn thông Việt Nam

Nước ta hiện nay ngoài mạng chuyển mạch công cộng còn có các mạng của một số địch vụ khác Riêng mạng Telex là không kết nối vào mạng thoại của VNPT, các mạng khác đều kết nói vào mạng thoại của VNPT thông qua các đường trung kế

các bộ tập chung các kênh thuê bao thông thường Xét về khía cạnh hệ thống, mạng viễn thông Việt Nam gồm: mạng chuyển mạch, mạng truyền dẫn, mạng truy

nhập và các mạng chức năng

a Hệ thông chuyển mạch

Với cấu trúc mạng hiện nay thì mạng chuyền mạch của VNPT chia làm 4 cấp dựa trên các tổng đài chuyền tiếp quốc tế, chuyền tiếp quốc gia, nội tỉnh và nội hạt

Các tổng đài chuyền tiếp quốc tế được đặt tại ba trung tâm là Hà Nội, Tp HCM và Đà

Nẵng, các tỉnh thành khác nhau có các cấu trúc mạng khác nhau với nhiều tổng đài Host Các tổng đài hiện có phổ biến trên mạng viễn thông Việt Nam là: các tổng đài VKX liên doanh giữa Việt Nam và Hàn Quốc, A1000E cua Alcatel, NEAX61> ctia NEC, AXEI10 của Ericsson, EWSD của Siemens Các công nghệ chuyên mach dang

sử dụng là chuyển mạch kênh cho mạng PSTN, X.25 cho mạng Frame relay và ATM cho truyền số liệu

Nhìn chung mạng chuyền mạch hiện nay còn nhiều cấp và việc điều khiển bị phân tán trong mạng (điều khiển nằm tại các tổng đài)

b Hệ thống truyền dẫn

Mạng truyền dẫn của Việt Nam hiện nay sử dụng cả vô tuyến và hữu tuyến

Về vô tuyến có các hệ thống viba sử dụng công nghệ PDH bên cạnh đó còn có các đường truyền qua vệ tỉnh đi quốc tế Trong truyền dẫn hữu tuyến thì phố biến là cáp quang tuy vậy vẫn có những đoạn dùng các loại cáp khác Về truyền dẫn quang thì Việt Nam đang khai thác các thiết bị của nhiều hãng khác nhau cho từng hệ thống Các hệ thống truyền dẫn quang chủ yếu sử dụng công nghệ SDH với các cấp độ ghép các nhau nhu STM-4, STM-16 hay STM — 64 cho cac tuyén liên tỉnh còn trong tỉnh

có thể là STM-I hay STM-4 tùy vào nhu cầu dung lượng thực tế và tương lai Vừa qua VNPT đã đưa vào khai thác hệ thống truyền dẫn Backbone Bắc — Nam 20Gbit/s dựa trên công nghệ ghép kênh phân chia theo bước sóng DWDM sử dung thiết bị của Nortel

Trang 5

c Hệ thống báo hiệu

Hiện tại mạng viễn thông Việt Nam sử dụng cả hai loại báo hiệu là R2 và SS7 Mạng báo hiệu SS7 đã và đang thay thế dần báo hiệu R2 trong từng công đoạn báo hiệu, tuy vậy với mạng thoại thì báo hiệu R2MFC vẫn được sử dụng phổ biến Hệ thống SS7 đã được triển khai với một cấp STP (Signalling Transfer Point) tại ba

trung tâm Hà Nội,Tp HCM và Đà Nẵng

nhiều công nghệ khác nhau như MMDS, LMDS, GPRS, CDMA, FDAM Gần đây

còn có thêm truy nhập WLAN cũng được triển khai tại một số địa điểm Về truy nhập hữu tuyến ta có truy nhập bằng thoại truyền thống, ADSL, truy nhập qua đường cáp truyền hình đường điện lực và công nghệ mong đợi sẽ là truy nhập quang tới từng

đồng hồ chính (Ceecium) và một đồng hồ dự phòng (GSP) Các đồng hồ được đặt tại trung tâm của 3 vùng và được điều khiển theo nguyên tắc chủ tớ Các tổng đài quốc tế

Trang 6

và tổng đài Toll trong mỗi vùng được điều khiển bởi đồng hồ chủ theo phương thức chủ tớ Các tổng đài Tandem và Host tại các tỉnh hoạt động bám theo các tổng đài

Toll và các tổng đài RSS đồng bộ theo tổng đài Host mà nó đâu tới, tất cả đều theo

phương thức chủ tớ

1.1.4 Xu hướng phát triển ở Việt Nam

Những năm gần đây, mạng lưới viễn thông Việt Nam đã có bước phát triển vượt

bậc 100% tỉnh, thành phố đã có tong đài điện tử kỹ thuật số; 88,1% xã đã có điện thoại với trên 7 triệu thuê bao điện thoại, đạt mức độ 7 máy/100 dân

Về mạng truyền dẫn, ngoài mạng liên tỉnh và nội tỉnh, còn có mạng đường trục Bắc — Nam sử dụng cáp quang và vi ba số Mạng viễn thông quốc tế có 8 trạm mặt đất thông tin vé tinh Intersputnik, Intersat va 3 tong dai quéc tế đặt tại Hà Nội, thành phô Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Hiện nay, mạng này kết nối với mạng cáp quang biển quốc tế TVH (Thái Lan - Việt Nam - Hồng Kông) và mạng cáp quang SCS (Trung Quốc — Việt Nam — Lao — Thai Lan — Malaysia - Singapore) Đồng thời, Việt Nam cũng được tham gia khai thác tuyến cáp quang biển SEA-ME-WE3 nối từ Châu Âu sang Châu Á

Về thông tin di động, ba mạng VinaPhone, viettel và Mobifone phủ sóng 64/64 tỉnh, thành phố với tông số hơn 3 triệu thuê bao đã thực hiện roaming và ứng dụng công nghệ mạng thông minh (Intelligent Network) để gia tăng các loại hình dịch vụ

Về mạng truyền đữ liệu, có 2 tổng đài Frame Relay Gateway quốc tế đặt tại Hà

Nội và thành phố Hồ Chí Minh

Về mạng báo hiệu, hiện nay trên mạng viễn thông Việt Nam sử dụng cả hai loại báo hiệu R2 và SS7 Mạng báo hiệu số 7 (S57) được đưa vào khai thác tại Việt Nam theo chiến lược triển khai từ trên xuống dưới theo tiêu chuẩn của ITU (khai thác thử nghiệm từ năm 1995 tại VTN và VTI) Cho đến nay, mạng báo hiệu số 7 đã hình

thành với một cấp STP (Điểm chuyên mạch báo hiệu) tại 3 trung tâm (Hà Nội, Đà

Nẵng, Hồ Chí Minh) của 3 khu vực (Bắc, Trung, Nam) và đã phục vụ khá hiệu quả

Về mạng đồng bộ, hiện nay VNPT đã thực hiện xây dựng giai đoạn 1 va giai

đoạn 2 với ba đồng hồ chủ PRC tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và một số

đồng hồ thứ cấp SSU Mạng đồng bộ Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc chủ tớ có

dự phòng, bao gồm 4 cấp, hai loại giao diện chuyền giao tín hiệu đồng bộ chủ yếu là

Trang 7

2 MHz va 2 Mb/s Pha 3 của quá trình phát triển mạng đồng bộ đang được triển khai nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng mạng và chất lượng dịch vụ

Theo đánh giá của các chuyên gia viễn thông, trước sự phát triển nhanh chóng của các mạng đữ liệu (dẫn đầu là mạng Internet với tốc độ tang 200%/nam) va su thay đổi không ngừng của công nghệ, mạng viễn thông Việt Nam nhất thiết phải có

sự thay đổi về công nghệ để theo kịp nhịp độ phát triển và nhu cầu của người sử dụng Xu hướng phát triển mới hiện nay là hội tụ viễn thông - tin học: hội tụ về loại hình thông tin như: thoại, dữ liệu, âm nhạc và hình anh; về ứng dụng như: Mạng riêng ảo-IP (IP-VPN), trung tâm-IP (IP-Center) hay bản tin hợp nhat (Unified Messaging); Về hình thức truy nhập như: Mạng chuyên mạch công cộng (PSTN),

đường dây thuê bao số (xDSL), IP, cáp, vô tuyến, vệ tinh; và về thiết bị như: điện

thoại, máy tính, máy di động

Việc hội tụ viễn thông — tin học phải được thực hiện dựa trên nguyên tắc tạo ra một mạng có hạ tầng thông tin duy nhất; dựa trên công nghệ chuyên mạch gói, triển khai các dịch vụ nhanh chóng, đa dạng, hội tụ giữa thoại và số liệu, giữa có định và di động, giữa vô tuyến và hữu tuyến, và tích hợp cộng nghệ viễn thông, tin học Yêu cầu đặt ra là mạng phải có cấu trúc đơn giản, linh hoạt, có tính mở, cung cấp các dịch vụ thoại và truyền số liệu trên cơ sở hạ tầng thông tin thống nhất đáp ứng mục tiêu đa dạng hoá dịch vụ với giá thành thấp, giảm thiểu thời gian đưa dịch vụ mới ra thị trường, giảm chỉ phí khai thác mạng và dịch vụ đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư và tạo nguồn doanh thu mới ngoài doanh thu ngoài doanh thu từ các dịch vụ truyền thống

Theo định hướng đến năm 2015 của VNPT, mạng lưới viễn thông Việt Nam sẽ được phát triển theo hướng tích hợp giữa hai mạng thoại và dữ liệu và đưa ra mô hình mạng thế hệ kế tiếp NGN (Next Generation Network), gồm bốn lớp: lớp ứng dụng và

dịch vụ, lớp diéu khién, lớp truyền tải và lớp truy nhập

1.1.5 Xu hướng phát triển trên thế giới

Thế giới đang bước vào kỷ nguyên thông tin mới bắt nguồn từ công nghệ, đa

phương tiện, những biến động xã hội, toàn cầu hoá trong kinh doanh và giải trí, phát

triển ngày càng nhiều khách hàng sử dụng phương tiện điện tử Biểu hiện đầu tiên của

xa lộ thông tin là Internet, sự phát triển của nó là minh hoạ sinh động cho những động thái hướng tới xã hội thông tin

Trang 8

Nền tảng cho xã hội thông tin chính là sự phát triển của các dịch vụ viễn thông

Mềm dẻo, linh hoạt và gần gũi với người sử dụng là mục tiêu hướng tới của chúng Nhiều loại hình dịch vụ viễn thông mới đã ra đời đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của khách hàng Dịch vụ ngày nay đã có những thay đôi về căn bản so với dịch vụ truyền thống trước đây (chẳng hạn như thoại) Lưu lượng thông tin cuộc gọi

là sự hoà trộn của các dịch vụ thoại và phi thoại Lưu lượng phi thoại liên tục gia tăng

và biến động rất nhiều Hơn nữa cuộc gọi số liệu diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài so với thoại thông thường (chỉ vài phút) Chính những điều này đã gây một áp lực cho mạng viễn thông hiện nay, phải đảm bảo truyền tải thông tin tốc độ cao với giá thành hạ Ở một góc độ khác, sự ra đời của những dịch vụ mới này đòi hỏi phải có công nghệ thực thi tiên tiến Việc chuyền đồi từ công nghệ tương tự sang công nghệ

số đã đem lại sức sống mới cho mạng viễn thông Tuy nhiên, những loại hình dịch vụ trên luôn đòi hỏi nhà khai thác phải đầu tư nghiên cứu những công nghệ viễn thông mới ở cả lĩnh vực mạng và chế tạo thiết bị Cấu hình mạng hợp lí và sử dụng các

công nghệ chuyền giao thông tin tiên tiến là thử thách đối với nhà khai thác cũng như

sản xuất thiết bị

Có thé khẳng định giai đoạn hiện nay là giai đoạn chuyền dịch giữa công nghệ thế hệ cũ (chuyên mạch kênh) sang dần công nghệ mới (chuyển mạch gói), điều đó không chỉ diễn ra trong hạ tầng cơ sở thông tin mà còn diễn ra trong các công ty khai thác dịch vụ, trong cách tiếp cận của các nhà khai thác khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng

1.2 Mạng PSTN và NGN

1.2.1 Mạng PSTN

Sau hơn 120 năm sau khi máy điện thoại được phát minh, mạng điện thoại đã được triển khai rộng khắp trên toàn thế giới Nhu cầu của con người là không có giới hạn và đo đó các nhà cung cấp dịch vụ phải không ngừng phát triển dịch vụ cũng như

cơ sở hạ tầng viễn thông để đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng Các công ty điện thoại đã có một khối lượng đầu tư khổng lồ vào mạng điện thoại Ban đầu, các thiết kế chủ yêu được tính toán dành cho dịch vụ thoại Nhưng trong thời gian gần đây, cùng với sự bùng nô của Internet trên toàn cầu rất nhiều dịch vụ mới đã ra đời Các dịch vụ này nói chung là có yêu cầu về độ rộng băng tần ngày

Trang 9

càng lớn và không đối xứng Do đó nó yêu cầu một cơ sở hạ tầng phải được nâng cấp

và hiện đại hoá để có thể cung cấp được các dịch vụ này tới mọi khách hàng ở mọi nơi, mọi lúc Hình 1.4 đưới đây mô tả một mạng viễn thông điện thoại điển hình Trong mạng này, các thiết bị thuê bao được kết nối tới các tổng đài nội hạt thông qua một mạch vòng đường dây thuê bao Nó được kết cuối tới tổng đài tại giá

phối day chinh MDF (Main Distribution Frame) Cac tổng đài được kết nối với nhau

qua mạng liên đài (Inter-CO network) Với các tiến bộ của công nghệ truyền dẫn quang SDH (Synchronous Digital Hierrachy), hầu như các mạng liên đài đã được quang hoá toàn diện và đã đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cung cấp các dịch vụ tốc

độ cao cho các thuê bao Nó có thể đảm bảo phục vụ cho tốc độ số liệu đường trục lên tới hàng chục Gbít

các dịch vụ

Hình 1.4 Mô hình mang viễn thông hiện đại Tuy nhiên, khi nhìn ở góc độ mạng truy nhập vấn đề lại hoàn toàn khác Hiện nay có trên một tỷ đường dây thuê bao trong mạng điện thoại PSTN trên toàn thế

giới Trong đó, hơn 95% là cáp xoắn đôi dành cho dịch vụ thoại thuần tuý và chiếm

một tỷ lệ lớn trong vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của các nhà cung cấp dịch vụ Nhưng hệ thống này lại có một số hạn chế làm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cung cấp các dịch vụ truyền số liệu - là các nhu cầu gần như thiết yếu hiện nay

Trang 10

Tại thời điểm đầu năm 2002, Viện Tiêu Chuẩn Viễn Thông Châu Âu (ETSI) thành lập nhóm nghiên cứu NGN với nhiệm vụ phải đề xuất chiến lược chuẩn hóa

của họ trong lĩnh vực NGN Hơn nữa, những vấn đề liên quan đến NGN đều đạt được

độ nhất trí cao trong lĩnh vực hợp tác tiêu chuẩn toàn cầu GSC nơi hợp tác của các tổ chức tiêu chuẩn SDO Trong bản tổng kết nghiên cứu vào tháng I1 năm 2001, nhóm

đã đưa ra 4 khuyến nghị:

+ Khuyến nghị 1: ETSI GA được mời để ghi nhận định nghĩa dưới đây của

NGN Định nghĩa này sẽ có tác dụng định hướng mọi hành động do ETSI tiến hành trên lĩnh vực này “NGN là mạng được phân chia thành các lớp và các mặt phẳng, sử dụng các giao diện mở nhằm đưa ra cho các nhà khai thác mạng và cung cấp một nền

tảng thông tin đề kiến tạo, triển khai và quản lý các dịch vụ, bao gồm cả các dịch vụ

đã có và các dịch vụ mới trong tương lai”

+ Khuyến nghị 2: ETSI sẽ đảm nhiệm vai trò tiên phong trong quá trình thúc đầy việc củng cố chuẩn hóa NGN nhưng việc tiến tới một dự án đối tác toàn cầu đơn

nhất không phải là một mục tiêu thích hợp

+ Khuyến nghị 3: ETSI cần tiến tới tham gia vào một tập hợp các quan hệ độc lập nhưng có liên quan đến nhau bao hàm cả lĩnh vực chuẩn NGN

+ Khuyến nghị 4: Đề có thé dat ETSI én vị trí hàng đầu trong quá trình chuân

hóa NGN đi đầu trong việc chuẩn hóa NGN nhờ vào việc có một trung khu chuyên môn hùng mạnh và tập trung, người ta sẽ mời GA yêu cầu ủy ban ETSI tiến hành khẩn cắp/ngay lập tức việc kiểm điểm lại cấu trúc TB và các trình tự hoạt động nhằm đảm bảo rằng ETSI sẵn sàng đáp ứng các thách thức của NGN

Trang 11

Hoạt động của NGN tiến hành đối với các vấn đề câu trúc và giao thức cần tập trung vào:

> Nghiên cứu xem xét việc sử dụng các công nghệ mô hình tham khảo chung dựa trên kết quả TIPHON, để góp phần xác định các chuẩn bồ sung cần cho việc hỗ trợ cả dịch vụ thiết lập truyền thông tuân theo NGN trong một phạm vi của một nhà

điều hành hoặc giữa các phạm vi nhà điều hành khác nhau

> Xác định các chức năng liên kết hoạt động đề hỗ trợ các thiết bị đầu cuối đang tồn tại (không nhận biết NGN) Cá biệt, cần xác định mô tả lớp trung kế cho

megaco/H.248 va BICC

> Xác định rõ cách thức theo đó dịch vụ kết cuối (end-to-end), tính linh động của người dùng và điều khiển cuộc gọi có thể được hỗ trợ qua các mạng hỗn hợp

> Xác định chức năng của các đầu cuối nhận biết NGN theo cơ chế cập nhật

phần mềm, tình trạng dư thừa và sự tiến triển của các đầu cuối giảm chỉ phí, thỏa

thuận và quản lý phiên bản, mục tiêu hướng tới đề triển khai Các đối tác chính cho

mọi công việc phối hợp với ETSI bao gồm: 3GPP, ATMF, ITU-T, (SG11, 13 và 16), T1S1, IETF (sip, megaco), MSF va ISC

Hoạt động NGN tiến hành trên QoS kết cuối cần tập trung vào:

> Hoàn thành việc xác định lớp QoS kết cuối cho thoại

> Xác định một khung xác định lớp QoS đa phương tiện kết cuối mới và

phương pháp đăng ký các lớp QoS của từng thành phần truyền thông

> Dinh rõ cách thức sử dụng cơ chế QoS lớp dưới nhằm đạt được QoS lớp trên trong phạm vi mạng

> Điều khiển QoS các lớp đưới liên vùng

> Nhận thức của người sử dụng cuối về QoS

> Các đối tác chủ chốt trong hoat déng lién két v6i ETSI 1a ATMF, IETF, ITU-

T cùng với nhiều diễn đàn truyền thông đa phương tiện khác

Hoạt động NGN tiến hành trên nền dịch vụ cần tập trung vào:

> Xác định các cấu trúc điều khiển dịch vụ bao gồm cả OSA, API và những khía cạnh proxy

Trang 12

> Nâng cấp các cơ chế nhằm hỗ trợ sự cung cấp dịch vụ qua nhiều mạng gồm

cả chuyền vùng dịch vụ và kết nối dịch vụ

> Phát triển các cơ chế nhằm hỗ trợ hiện diện của người sử dụng và điều khiển của người sử dụng đối với hồ sơ và tuỳ biến dịch vụ

> Tác động của tính linh động người sử dụng đối với các nền dịch vụ

Hoạt động NGN tiến hành trên quản lý mạng cần tập trung vào:

> Nâng cao toàn bộ cấu trúc quản lý mạng lõi và xác định các giao thức và dịch

vụ quản lý mạng cơ bản đề phù hợp với yêu cầu NGN (lỗi, chất lượng, quản lý khách hàng, cước, quản lý lưu lượng và định tuyến)

> Đưa vào và áp dụng các khái niệm cấu trúc và công nghệ mới

Hoạt động NGN tiến hành trên lĩnh vực ngăn chặn, xâm nhập, nghe lén hợp pháp cần tập trung vào:

> Xác định các giao thức chuyển giao truyền dẫn dựa trên mạng gói mới giữa mạng mục tiêu và cơ quan thực thi pháp luật

> Nang cấp thông tin liên quan đến xâm nhập, ngăn chặn hiện có nhằm đưa vào các thành tố đữ liệu mới bao hàm cả các dòng báo hiệu và đa phương tiện

Van dé bao mat cia NGN tap trung vao:

> Phát triển cấu trúc bảo mật phức hợp cho NGN Thêm nữa, nhóm bảo mật NGN này sẽ lập ra các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động bảo mật trong NGN (việc bảo mật trong vận hành, hoạt động NGN)

> Phát triển các giao thức bảo mật cụ thê NGN và các API

1.3 Tổng quan về mạng truy nhập

1.3.1 Giới thiệu chung

Mạng truy nhập gồm tat cả các thiết bị nằm giữa tổng đài nội hạt và thiết bị đầu cuối khách hàng thực hiện chức năng kết nối thuê bao đến mạng chuyền mạch để cung cấp các dịch vụ tích hợp như thoại, dữ liệu Mạng truy nhập là phần tử quan trọng và lớn nhất của bắt kỳ mạng Viễn Thông nào với chi phí xây dựng ít nhất chiếm 50% toàn bộ mạng Chất lượng và hiệu năng của mạng truy nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cung cấp dịch vụ của toàn bộ mạng Viễn Thông

Trang 13

>» Mang khong day bao gồm mạng vô tuyến có định và mạng di động

Nhìn từ khía cạnh công nghệ, mạng truy nhập có một số công nghệ chính như sau:

Công nghệ sử dụng ISDN và B-ISDN

Công nghệ sử dụng modem băng tần thoại

Công nghệ truy xuất T1/Elsử dụng cáp thuê bao nội hạt

Công nghệ sử dụng modem cáp

Công nghệ phân phối dịch vụ đa điềm đa kênh (MMDS)

Công nghệ phân phối dịch vụ nội hạt (LMDS)

Công nghệ sử dung qua vé tinh

Công nghệ truy nhap xDSL

Mạng truy nhập ngày nay là một thực thể phức tạp, nó là mạng phối hợp của nhiều môi trường truyền dẫn và công nghệ truy nhập khác nhau đề phục vụ cho nhiều loại khách hàng với nhu cầu khác nhau trong một khu vực rộng lớn và không đồng nhất Môi trường truyền dẫn chính trong mạng truy nhập hiện nay là cáp đồng (Chiếm khoảng 94% toàn bộ môi trường mạng), việc tận dụng cơ sở hạ tầng rất lớn này là rất

cần thiết và có lợi mà công nghệ truy nhập đường dây thuê bao số xDSL chính là giải

pháp cho vấn đề này Mạng truy nhập quang là mục tiêu hướng tới của mạng truy nhập trong tương lai để cung cấp cho khách hàng các dịch vụ đa dạng với tốc độ và

Trang 14

chất lượng cao Ngoài ra, phương thức truy nhập vô tuyến cũng phát triển rất mạnh

với hàng trăm triệu thuê bao trên khắp thế giới ở các mạng GSM, CDMA, mạng truy xuất qua vệ tỉnh Để tận dụng ưu điểm của phương thức này cùng với cơ sở hạ tầng sẵn có phương thức truy nhập có định vô tuyến ra đời và đang được phát triển ở cả

các vùng đô thị lớn đến các khu vực có địa hình hiểm trở

Ngày nay khi mà cơ cấu dịch vụ thay đổi, yêu cầu của khách hàng không chỉ đơn thuần là các dịch vụ thoại/fax truyền thống mà cả các dịch vụ số tích hợp với yêu cầu băng thông lớn, chất lượng cao đã thúc đây các công nghệ và thiết bị truy nhập

liên tiếp ra đời với tốc độ chóng mặt Thậm chí nhiều dòng sản phẩm chưa kịp thương mại hoá đã trở nên lỗi thời Hình 1.6 cho chúng ta thấy tiến trình phát triển của các

thiết bị truy nhập trong mạng Viễn Thông

là DLC thế hệ 3 hay NG DLC ra đời vào những năm cuối thế kỷ 20 Thiết bị này có

nhiều điểm tương đồng với ATM DSLAM do cùng sử dụng một công nghệ và kiến trúc tương tự nhau NG DLC có thể đấu nối và phối hợp hoạt động với nhau tạo thành một mạng ATM diện rộng thống nhất, chuyên mạch gói với băng thông tương

Trang 15

đối lớn cho phép cung cấp các dịch vụ dữ liệu một cách tương đối mềm dẻo (Hình

1.7) Đặc tính của dòng thiết bị này như sau:

Cung cấp giải pháp truy nhập băng rộng tạm thời qua mạng lõi ATM

Sử dụng công nghệ xDSL đề truy nhập dữ liệu tốc độ cao

Chuẩn V5.x để giao diện với mạng PSTN

Kết nối ATM với mạng đường trục hay qua mạng IP

Hỗ trợ các dịch vụ thoại/fax, ISDN và đữ liệu băng rộng

Bang thông và dung lượng hạn chế

Nút cô chai trong vòng ring truy nhập nếu phần lớn các thuê bao đều sử dụng dịch vụ xDSL và nút cổ chai trong mạng lõi ATM

Khó mở rộng dung lượng

Kiến trúc phức tạp, qua nhiều lớp (Ip qua ATM qua SDH/DSL)

Giá thành và chỉ phí tương đối cao

Trang 16

Sau DLC thé hé 3 là dòng thiết bị truy nhập IP hay IP-DSLAM Đây là dòng thuê

bao truy nhập tiên tiến nhất hội tụ nhiều công nghệ nền tảng trong mạng thế hệ sau ÁNGN Dòng thiết bị này chạy trên nền tảng mạng IP, IP-AN với những đặc điểm sau:

> Băng thông/ Dung lượng hầu như không hạn chế (Trên thực tế hầu như không tắc nghẽn với băng thông trong khoảng 1-10Gbps)

> Truy nhập bang rong IP

>_ Dễ dàng mở rộng và tích hợp với mạng NGN (Trên nền mạng chuyền mạch

mềm)

> Cung cấp tất cả các dịch vụ qua một mạng IP duy nhất mặc dù hệ thống này vẫn hỗ trợ các đầu cuối tương tự truyền thống Thiết bị này phối hợp hoạt động với mạng IP qua media gateway

> Gia thành tính cho từng thuê bao và chỉ phí vận hành mạng thấp

> Kiến trúc đơn giản (IP over SDH)

hiệu quả về mặt kinh tế và kỹ thuật thì ngoài giải pháp kéo thêm cáp đồng đến khu

vực thuê bao còn có cách sử dụng các thiết bị truy nhập, hơn nữa đề phù hợp với xu thế tắt yếu là tiến từ mạng PSTN lên mạng NGN khi mà mạng nội hạt chưa sẵn sàng

hỗ trợ các thiết bị truy nhập IP tiên tiến nhất thì cần phải có dòng thiết bị truy nhập

đáp ứng tất cả các yêu cầu sau:

> Hỗ trợ các giao diện PSTN truyền thống, các đầu cuối analog

Trang 17

> Có khả năng cung cấp các dịch vụ băng rộng và các dịch vụ mới khác

> Hỗ trợ báo hiệu V5.x và có thể kết ni tới các tổng đài nội hạt đang sử dụng (Tức là làm việc như là thiết bị DLC)

> Dễ dàng nâng cấp, tích hợp khi chuyên sang mạng NGN

> Dam bao thời gian triển khai và chỉ phí phát thiên thuê bao không quá cao

> Thiết bị sử dụng cho công nghệ xDSL là một trong những giải pháp hiệu quả 1.3.2 Một số công nghệ truy nhập băng rộng

a Modem cáp

Là thiết bị cho phép truy xuất thông tin tốc độ cao đến các server từ xa như Internet server hay VoD server qua mạng truyền hình cáp (Cáp đồng trục) với tốc độ thay đổi phụ thuộc vào hệ thống modem cáp, kiến trúc mạng cáp đồng trục và lưu lượng trên modem

Tốc độ theo chiều xuống có thể lên đến 27Mbps, tuy nhiên đây là dung lượng

tổng cộng của mọi người chia ra do cấu trúc mạng dạng nhánh, thường thì dung lượng của một thuê bao chỉ từ 1-3Mbps Ở chiều lên có thê đạt được 10Mbps nhưng thường là 1-2,5 Mbps

Ưu điểm của modem cáp là tận dụng được mạng truyền hình cáp sẵn có nên giảm chi phí, các linh kiện tần số cao cần thiết cho hoạt động của modem cáp đã trở nên rất rẻ và được bán đại trà Nhưng cũng do làm việc ở tần số cao và có đến 90% cáp đi trong nhà mà các cáp này thường được lắp đặt vội vã, cau thả nên dễ gây nhiễu cho tivi và các thiết bị khác, giải pháp ở đây là cần phải đi lại dây ở nhà Hơn nữa do việc sử dụng chung các kênh đường lên nên dễ gây tắc nghẽn

Các nhà khai thác mạng cáp đồng trục đang tiến hành cải tiến hạ tầng mạng cáp bằng cách đưa thêm mạng cáp quang vào mạng cáp đồng trục thay truyền

dẫn tương tự bằng truyền dẫn số được gọi là mạng lai ghép HFC(Hybrid Fiber

Coaxial): Mạng HFC cung cấp gần 100 kênh truyền dẫn tốc độ cao (6 MHz) cho mỗi kênh phân phối các luồng video tương tự, số, dữ liệu tới người sử dụng và

có thể mở rộng các dịch vụ băng rộng nhờ modem cáp Tuy nhiên do đường truyền HFC là chung nên băng thông khả dụng cho mỗi kênh khi có nhiều người

sử dụng không cao bằng DSL

Trang 18

b Công nghệ truy nhập sử dụng cáp sợi quang

Cáp quang có nhiều ưu điểm mạnh hơn so với cáp đồng như sợi cáp quang cho phép truyền tín hiệu có cự ly xa hơn, khả năng chống nhiễu và xuyên âm tốt, băng tần truyền dẫn rất lớn đảm bảo cho việc cung cấp các dịch vụ băng rộng tới khách hàng Mạng cáp quang chính là đích cuối cùng của các nhà quản lý mạng Viễn thông dé mo rộng các dịch vu băng hẹp sang các dịch vu băng rộng Tuy nhiên, việc xây dựng một mạng truy nhập cáp quang đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất lớn, trong khi mạng cáp đồng nội hạt vẫn chưa sử dụng hết khấu hao Hơn nữa, nhu cầu sử dụng của mỗi thuê bao hiện nay vẫn chưa tận dụng hết khả năng của cáp quang nên sẽ gây lãng phí Giải pháp ở đây là lắp đặt cáp quang tới tận cụm dân cư hay tới các toà nhà, các trụ sở cơ quan lớn rồi từ đây sẽ sử dụng cáp đồng dé truyén tín hiệu tới từng thuê bao Việc tồn tại đôi dây cáp đồng ở đoạn cuối này cũng là một trong những yếu tô thúc đây xDSL phát triển vì xDSL hoan toàn có thể cung cấp các giải pháp truy nhập cho các dịch vụ tốc độ cao từ các khối ONU của cấu trúc mạng truy nhập nói trên Như vậy, công nghệ xDSL là giải pháp trung gian hữu hiệu để cung cấp dịch vụ tới khách hàng trước khi có thể quang hoá mạng truy nhập

c Công nghệ truy nhập vô tuyến

Công nghệ truy nhập vô tuyến có nhiều loại khác nhau Công nghệ dịch vụ phân

phối đa điểm đa kênh MMDS (Multichannel Multipoint Distribution) là hỗn hợp của

các dịch vụ video và truyền số liệu tốc độ cao (chiều xuống lên tới 54Mbps) Hệ thống này cho phép các nhà cung cấp dịch vụ ở xa không có cơ sở hạ tầng có thê cung cấp các truy nhập hiệu quả tới khách hàng MMDS đang có điều kiện thuận lợi

để phát triển do ngày nay thị trường điện thoại không dây và điện thoại di động đang được chú trọng Tuy nhiên, do cường độ tín hiệu rất thất thường và phải thực hiện

tầm nhìn thăng nên vùng phủ sóng bị giới hạn Hơn nữa, MMDS sử dụng hệ thống và

công nghệ mới nên cần có thời gian để mạng ồn định Dịch vụ phân phối đa điểm nội

hạt LMDS (Local Multipoint Distribution) hay hệ thống truyền hình tế bào gần giống

hệ thống MMDS, nó hoạt động ở dải tần 27,5GHz -29,5GHz Về mặt lý thuyết,

LMDS phủ sóng một vùng với nhiều tế bào nên tránh được tầm nhìn thắng của MMDS, các tế bào lân cận sử dụng cùng một tần số nhưng phân cực khác nhau, các vùng tối được phủ sóng bằng trạm tiếp vận hay các bộ phản xạ sóng thụ động Với

Trang 19

kích thước tế bào nhỏ LMDS gây khó khăn trong việc triển khai cho các vùng ngoại 6 nhưng với máy phát công suất nhỏ hơn và vùng phủ tế bào nên có thể giữ giá thành đầu tư ở mức thấp Công nghệ truy nhập qua vệ tỉnh có ưu điểm về tầm phủ sóng rộng, không bị ảnh hưởng bởi khoảng cách cũng như các điều kiện địa lý, tốc độ truyền dẫn cao (có thể lên tới 23Mbps) nhưng độ trễ lan truyền lớn, các dịch vụ thông

tin vé tinh có thể bị máy bay và các vệ tỉnh thấp hơn che khuất, tuổi thọ của vệ tỉnh

có hạn và được xác định bằng lượng nhiên liệu mà nó mang theo, việc cấp phép và quản lý tần số lại phức tạp Hơn nữa, giá của hệ thống thông tin vệ tỉnh cao nên công nghệ này vẫn chưa thể được phô dụng Mạch vòng thuê bao vô tuyến WLL hay thông tin di động nội vùng cũng là một giải pháp được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới và đang được phát triển tại Việt Nam Công nghệ này được phát triên như một phương thức bổ trợ cho các hệ thống mạng cáp thuê bao, mở rộng mạng điện thoại công cộng Mặc dù khả năng truyền tốc độ cao không bằng so với cáp đồng và chỉ phí cao hơn nhưng WLL có nhiều ưu điểm trong các trường hợp cần giải quyết nhanh gọn và địa hình phức tạp So với cáp đồng và cáp quang thì hệ thống truy nhập vô tuyến chịu ảnh hưởng của môi trường truyền dẫn khắc nghiệt hơn

Trang 20

CHUONG II CONG NGHE xDSL

2.1 Tống quan

Có nhiều giải pháp để giải quyết tắc nghẽn gây ra do hạn chế về băng tần và các loại lưu lượng khác (chẳng hạn kích thước lớn, tốc độ cao, đa phương tiện ) trên các mạch vòng nội hạt Thực tế, các vấn đề này không chỉ xảy ra với mạng truy nhập

mà đã mở rộng tới cả mạng trung kế (mạng lõi) và thậm chí tới cả các chuyển mạch trung tâm Một trong các giải pháp chìa khoá đó là họ công nghệ dựa trên cáp đồng

có sẵn của các đường dây điện thoại-họ công nghệ xDSL (x Digital Subscriber Line),

với x biểu thị cho các kỹ thuật khác nhau

xDSL là từ dùng đề chỉ các công nghệ cho phép tận dụng miền tần số cao để truyền tín hiệu số tốc độ cao trên đôi dây cáp điện thoại thông thường Các công nghệ này chủ yếu được sử dụng trong mạng truy nhập đề cung cấp dịch vụ tốc độ cao tới nhà khách hàng

xDSL không phải là một công nghệ giải pháp cung cấp dịch vụ hoàn chỉnh

(end-to-end) mà chỉ là công nghệ về truyền dẫn, bao gồm 2 modem DSL có chức

năng điều chế, chuyển đổi tín hiệu đường dây được nói với nhau bằng đôi dây cáp

đồng Hình 2.1 Bộ cung cấp mạch vòng thuê bao số xDSL

xDSL là họ công nghệ đường dây thuê bao số gồm nhiều công nghệ, với x thay

cho các ký tự: A, H, V, I, S Có thể phân biệt dựa vào: tốc độ, khoảng cách truyền

dẫn, và được ứng dụng vào các dịch vụ khác nhau Có thể sử dụng kỹ thuật truyền đối

Trang 21

xứng với tốc độ truyền hai hướng như nhau, dién hinh la HDSL va SDSL va truyén không đối xứng với đường xuống có tốc độ cao hơn đường lên điển hình là ADSL và

VDSL Cac đặc trưng của họ công nghệ xDSL được cho trong Bang 2.1

Bảng 2.1: Các đặc trưng của họ công nghê xDSL

SDSL Single line 768Kbps Đối xứng Sử dụng I đôi dây

DSL

ADSL | Asymmetric | 1.5 téi 8Mbps | Duong xudng | Sử dụng I đôi dây

DSL

16 tới 640Kbps Đường lên

RADSL | Rate Adaptive |1.5tới8Mbps | Đường xuống | Sử dụng I đôi dây,

16 tới 640Mbps Đường lên thích tốc độ với các

điều kiện đường dây

CDSL Consumer Tới IMbps Đường xuông | Sử dụng I đôi dây

Trang 22

+ HDSL/HDSL2-High bit rate DSL HDSL chay véi tốc độ 1.544Mbps (Tốc độ

T1) ở vùng Bắc Mỹ và chạy với tốc độ 2.048Mbps (Tốc độ E1) ở hầu hết các nước

còn lại Cả 2 tốc độ này là đối xứng (Tốc độ cho cả đường lên và đường xuống) HDSI lúc đầu với tốc độ 1.544Mbps sử dụng 2 đôi dây và chiều dài tối đa cáp là 4,5km (khoảng 2,8 dặm) HDSL tốc độ 2.048Mbps cần 3 đôi dây với cùng chiều dài

cáp tối đa như trên Các phiên bản HDSL mới nhất được gọi là HDSL2, sử dụng chỉ l đôi dây và đây là công nghệ đang được mong đợi sẽ được chuẩn hoá nhiều hơn nữa

dé cho phép các nhà sản xuất thiết bị cùng phối hợp hoạt động

+ SDSL-Symmetric (or Single pair) DSL Néu muc đích của công nghệ xDSL là đề tái sử dụng mạch vòng nội hạt, thì có lẽ sẽ tốt hơn khi chỉ sử dụng một đôi dây, đó chính là các mạch vòng tương tự có sẵn SDSL chỉ sử dụng một đôi

nhưng chiều dài tối đa của cáp là 3km (nhỏ hơn 2 dặm) Tuy nhiên, tốc độ là giống

như HDSL

SDSL thường được cung cấp chạy với tốc độ 768Kbps bằng việc sử dụng cặp

dây đơn HDSL HDSL2 có thể làm được những cái giống như SDSL đã làm thậm chí

còn tốt hơn nữa do đó người ta hy vọng SDSL sẽ bị thay thế bởi HDSL2

+ ADSL- Asymmetric DSL ADSL chinh là một nhánh của công nghệ xDSL

Công nghệ ADSL không đối xứng được phát triển từ đầu những năm 90 khi xuất hiện

các nhu cầu truy nhập Internet tốc độ cao, các dịch vụ trực tuyến, video theo yêu cầu ADSL cung cấp tốc độ truyền dẫn tải dữ liệu xuống (download) lên tới 8Mbps

và 16 đến 640 kbps cho tải đữ liệu lên Một ưu điểm nồi bật của ADSL là cho phép khách hàng sử dụng đồng thời đường dây thoại cho cả hai dịch vụ: thoại và số liệu vì ADSL truyền tín hiệu ở miền tần số cao (4,4kHz — IMHz) nên không ảnh hưởng đến tín hiệu thoại

+ RADSL-Rate-Adaptive DSL Thông thường khi thiết bị được lắp đặt thì một

số tiêu chuẩn tối thiêu cho các điều kiện phải được đáp ứng đề cho phép thiết bị hoạt

động với tốc độ định trước Điều này cũng đúng cho các công nghệ trước đây, như là sóng mang —T hay ISDL RADSL là sự kế thừa của ADSL bằng việc sử dụng mã hoá

đa tần rời rạc (DMT), nó có tương thích thực sự với sự thay đổi các điều kiện trên

đường dây và điều chỉnh tốc độ cho mỗi hướng để tăng tối đa tốc độ trên mỗi đường

dây riêng biệt

Trang 23

+ CDSL-Consumer DSL Mac dù có quan hệ tương đối chặt chẽ với ADSL và

RADSL, CDSL vẫn có những điểm khác biệt tương thích với các đối tượng phục vụ

của nó CDSL có phần khiêm tốn hơn về mặt tốc độ và khoảng cách so với ADSL/RADSL, nhưng ngược lại nó cũng có ưu điểm nhất định Với CDSL không

cần lo lắng về các thiết bị đầu xa như bộ phân tách (spliter) ở nhà khách hàng Chức

năng của bộ phân tách là để cho phép các dịch vụ và các kiểu thiết bị khác đang tồn tại, chăng hạn như máy fax, tiếp tục hoạt động như trước đây

+ IDSL(ISDL DSL) Ngay từ đầu những năm 1980, ý tưởng về một đường dây thuê bao số cho phép truy nhập mạng số đa dịch vụ tích hợp (ISDN) đã hình thành DSL làm việc với tuyến truyền dẫn tốc độ 160 Kb/s tương ứng với lượng tải tin là

144 Kb/s (2B+D) Trong IDSL, một đầu đấu nói tới tổng đài trung tâm bằng một kết cuối đường dây LT (Line Termination), đầu kia nối tới thuê bao bằng thiết bị kết cuối mạng NT (Network Termination) Để cho phép truyền dẫn song công người ta sử

dụng kỹ thuật khử tiếng vọng IDSL cung cấp các dịch vụ như: Hội nghị truyền hình, đường dây thuê riêng (leased line), các hoạt động thương mại, truy cập Internet/Intranet

+ VDSL-Very high speed DSL Là thành phần mới nhất của họ xDSL, VDSL

được coi như là “mục tiêu cuối cùng” của kỹ thuật xDSL, là một công nghệ xDSL cung

cấp đường truyền đối xứng trên một đôi dây đồng Dòng bit tải xuống của VDSL là cao

nhất trong tất cả các công nghệ của xDSL, đạt tới 52Mbps, dòng tải lên có thể đạt 2.3 Mbps VDSL thường chỉ hoạt động tốt trong các mạng mạch vòng ngắn VDSL dùng cáp quang dé truyền dẫn là chủ yêu, và chỉ dùng cáp đồng ở phía đầu cuối

2.3 Động lực thúc đấy việc phát triển DSL

Công nghệ DSL được phát triển ngày càng rộng rãi do nó đáp ứng được một số yêu cầu về việc cung cấp dịch vụ hiện tại, đồng thời nó được hỗ trợ bởi sự phát triển của các công nghệ xử lý tín hiệu số

> Nhu cầu về việc truyền các tín hiệu số như số liệu, Internet tốc độ cao cần dải tần cao hơn dải tần của tín hiệu thoại thông thường, ví dụ (bảng 2.2)

> Việc phát minh ra bộ vi xử lý có năng lực lớn, giá rẻ cho phép mã hoá và giải mã các hình ảnh, âm thanh với tốc độ cao nên đường truyền cho tín hiệu này cũng phải có tốc độ tương ứng

Trang 24

> Tan dung mang cap đồng hiện có dé cung cấp các dịch vụ mới, tốc độ cao

>_ Tích hợp các dịch vụ khác nhau trong cùng một mạng truy nhập

Bảng 2.2 Các ứng dụng và độ đáp ứng yêu cầu của công nghệ DSL

chỉ dẫn trực tuyến

2.4 Ưu nhược điểm cúa xDSL

2.4.1.UU điểm của các họ công nghệ xDSL là:

+ Công nghệ xDSL đã được kiểm nghiệm với nhiều triệu line hoạt động trên

khắp thế giới, ở Châu Á, Hàn Quốc là nước có mật độ thuê bao là cao nhất

+ xDSL là họ công nghệ đã được chuẩn hoá bởi ITU-T

+ Sử dụng hệ thống cáp đồng đã được triển khai rất rộng khắp của các nhà khai thác

+ Trong điều kiện thuận lợi, đầu tư cho mạng xDSL không lớn đối với nhà khai thác

2.4.2.Những thách thức của công nghệ này là:

+ Khó khăn khi triển khai mạng lưới, do mạng truy nhập không đồng bộ

Trang 25

+ Hạn chế bởi khoảng cách và những hệ thống tập trung thê bao công nghệ cũ

đã triển khai

+ Triển vọng doanh thu tương đối tốt với các nhà khai thác chủ đạo, có cơ sở hạ tầng viễn thông rộng khắp như VNPT, nhưng sẽ rất khó khăn cho các nhà khai thác khác cạnh tranh Điều này đã được kiểm nghiệm trên thị trường viễn thông Mỹ Trong

những năm qua nhiều nhà khai thác đã liên tục thua lỗ và phải đóng cửa

Công nghệ xDSL hướng tới thị trường chính là tư nhân và các doanh nghiệp

vừa/nhỏ Dịch vụ này có thể không thích hợp với nhiều doanh nghiệp lớn, do chất

lượng dịch vụ không phải thường xuyên được bảo đảm Dự kiến trong một vài năm tới ở Việt Nam con số thuê bao ADSL sẽ lên tới hàng nghìn

Tại Việt Nam, những vấn đề về chất lượng cáp, chất lượng đấu nối trong mạng truy nhập cũng như một số thiết bị tập trung thuê bao gồm nhiều chủng loại khác nhau, sử dụng các công nghệ khác nhau là những yếu tố kỹ thuật quan trọng cần lưu ý

khi phát triển thuê bao xDSL

Trang 26

CHUONG III CONG NGHE ADSL2, ADSL2+

3.1 ADSL

3.1.1 Tong quan vé ADSL

ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line —- đường thuê bao số bất đối xứng) là kỹ thuật truyền thông băng rộng, sử dụng đường cáp đồng điện thoại sẵn có

để truy nhập internet tốc độ cao Khái niệm ADSL xuất hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm

1989 và phát triển cho đến nay

Công nghệ ADSL cho phép truyền đữ liệu và truy cập Internet tốc độ cao qua đường dây điện thoại Nó là một trong những kết nói Internet phổ biến, cung cấp băng thông lớn cho việc truyền tải dữ liệu hay còn gọi là mạng băng rộng (Broadband Internet) Broadband Internet so với kết nối bằng modem quay số truyền thống là một

cuộc cách mạng lớn về tốc độ Với tốc độ kết nói gấp hàng trăm lần modem quay số,

ADSL - một ứng dụng của broadband Internet - sẽ giúp bạn thực sự thưởng thức thế giới kĩ thuật số trên mạng toàn cầu

Bat đối xứng ở đây là bởi vì công nghệ ADSL sử dụng phần lớn kênh truyền

cho việc tải dữ liệu xuống (download) và chỉ dành một phần nhỏ cho việc tải dữ liệu lên (upload) Trên lý thuyết, tốc độ tải xuống của ADSL có thể đạt tới §Mbps

(Megabit/giây), còn tải lên là 640Kbps (Kilobit/giây) Nếu so sánh với tốc độ truy cập Internet qua modem quay số thông thường (dial-up), tốc độ tải xuống của ADSL cao gấp 140 lần, còn nếu so sánh với công nghệ truy nhập ISDN (128Kb/giây) thì cao gấp

60 lần

ADSL tận dụng băng thông chưa được dùng đến của đường dây cáp Một đường

dây có băng thông lớn hơn 100MHZz, trong đó phần dành cho tín hiệu thoại chỉ chiếm

có 4KHz, phần còn lại chưa được dùng đến Công nghệ ADSL đã tận dụng phần dư thừa này đề truyền đữ liệu Điều đó có nghĩa là, bạn có thê vừa truy cập Internet, vừa gọi điện thoại hoặc gửi fax trên cùng một đường dây điện thoại Dữ liệu Internet được

truyền độc lập với đữ liệu thoại và fax, khiến cho chất lượng thoại không thay đổi mà

tốc độ truyền dữ liệu Internet lại rất cao Đây là một ưu điểm nồi bật của công nghệ ADSL so với công nghệ kết nối Internet qua modem quay số thông thường

Trang 27

Với thế mạnh về tốc độ truyền đữ liệu cao và khả năng kết nối internet liên tục của mình, ADSL rất thích hợp cho công việc hội thảo qua mạng, xem phim, nghe nhạc, chơi game trực tuyến, video theo yêu cầu

Dé str dung duoc dich vu ADSL, ta can trang bi mot modem ADSL Modem ADSL khac voi modem quay số thông thường ở chỗ có khả năng ghép, tách tin hiệu thoại và dữ liệu trên cùng một đường dây điện thoại Sau khi đăng ký với nhà cung

cấp dịch vụ, đường thuê bao của bạn sẽ được nối với thiết bị ghép kênh truy nhập DSLAM đặt tại tổng đài Mỗi DSLAM có thể có từ 24, 36, 48 đến 96 công, tương ứng với số thuê bao mà nó có thê đảm nhiệm Ta cần lưu ý một điều là: Tốc độ kết

nối Internet ADSL sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khoảng cách từ thuê bao đến nơi đặt

DSLAM Với bán kính 3,5km, tốc độ tải xuống có thé dat tới §Mb/giây và tốc độ tải

lên là 640Kb/giây Khi bán kính lớn hơn tốc độ sẽ giảm đi và vượt ra ngoài bán kính 5km thì ADSL chỉ còn là ước mơ mà thôi

3.1.2 Mô hình tham chiếu và đặc điểm cúa hệ thống ADSL

a Mô hình tham chiếu

Chuẩn ITU G.922.1 đưa ra mô hình các khối chức năng của hệ thống ADSL như trên Hình 3.1

Customr Máy điện thoại,

Trang 28

+ ATU-C: Khối thu phát ADSL phía mạng

+ ATU-R: Khối thu phát ADSL phía khách hàng

+ AN: Nút truy nhập mạng

+ HPF va LPF: B6 loc thong cao và bộ lọc thông thap

+ CPE: Thiết bị của khách hàng

Người sử dụng có thể lựa chọn việc sử dụng đồng thời dịch vụ thoại POTS bằng cách thêm bộ tach (Splitter) R tai phia thué bao, khi đó tổng đài PSTN cần có bộ tách C Các giao diện trong mô hình tham chiếu:

+ V-C: Giao diện giữa điểm truy nhập và mạng băng rộng

+ U-C: Giao diện giữa đường dây và bộ chia phía tổng đài

+ U-C2: Giao diện giữa bộ chia và ATU-C

+U-R: Giao diện giữa đường dây và bộ chia phía khách hàng

+ U-R2: Giao diện giữa bộ chia và ATU-R

+T-R: Giao diện giữa ATU-R và lớp chuyên mạch (ATM, STM hoặc gói) +T-S: Giao diện giữa kết cuối mạng với CPE

Để đơn giản, các giao diện U-C và U-R, T-R và T-S được gọi chung là giao diện U và giao diện T

b Đặc diễm cúa ADSL

- Internet va voice cing di chung trên một đôi cáp điện thoại nhưng hai luồng

tín hiệu gồm: dữ liệu và thoại truyền đi riêng biệt không chồng lẫn nhau, không làm

ảnh hưởng đến các dịch vụ điện thoại đã có như: hộp thư thoại, hiển thị số máy gọi đến, chờ cuộc gọi

- ADSL cho két néi internet nhanh gấp 160 lần kiểu kết nối modems analog

chuẩn V90/56kbps

- Kết nối theo kiểu thường trực (always on), vì thoại và dữ liệu truyền riêng lẻ nhau, khi kết nói truy cập internet thường trực không làm bận hay gián đoạn cuộc gọi

đến trên đường dây điện thoại Không sử dụng kết nối, giải toả, bị tín hiệu bận hoặc

bị mắt thời gian trong quá trình mở trình duyệt truy cập internct

- Sử dụng đầy đủ tốc độ của đường kết nối Nếu tốc độ của đường ADSL là 1.6Mbps thì người dùng sử dụng đầy đủ tốc độ kết nói internet là 1.6Mbps Chia sẽ

băng thông với nhiều users khác nhau nhưng không làm giảm tốc độ truyền

Trang 29

- Có độ tin cậy cao, trong trường hợp khi mất điện thì ta vẫn gọi điện thoại bình thường

- Có tính bảo mật, an toàn dữ liệu Đây là một ưu điểm nỗi trội của ADSL mỗi

mạch điện là một kết nối riêng biệt

3.1.3 Kết nỗi mạng trong ADSL

Khi thiết bị DSL CPE kết nối với thiết bị DSL POTS sẽ được thực hiện thông qua quá trình khởi tạo để thiết lập thông tin giữa ATU-C và ATU-R Tiến trình này

cho phép hai modem được nhận dạng với nhau, xác định trạng thái đường dây, các thông tin đường dây, trao đổi tham số phục vụ cho việc kết nối, chỉ định tài nguyên

và các thông tin khác Quá trình chia làm 4 giai đoạn:

+ Kích hoạt và chấp nhận: ATU-R bắt đầu tiến trình bằng việc gửi các tín hiệu đến ATU-C đề trao đổi về phương pháp điều khiển, nhận dạng thiết bị, khi kết thúc

thì trạng thái đường dây đã được phân tích xong

+ Thu thử: ATU-C và ATU-R trao đồi thông tin xác định trạng thái đường dây

và điều chỉnh mức thu giữa chúng Việc thu thử được thực hiện tuỳ theo kiêu ghép

kênh FDM hay ECH

+ Phân tích kênh: Trao đồi thông tin về kênh upstream và downstream, thông

tin kết nói, thời gian thiết lập kết nói, băng thông trên mỗi kênh Sau đó modem thực hiện kiểm tra để xác định chất lượng mạch vòng và SNR cho mỗi âm DNT

3.1.4 Kỹ thuật truyền dẫn trong ADSL

ADSL cé thé sử dụng kỹ thuật ghép kênh phân chia theo tần số (FDM) hoặc kỹ

thuật triệt phá tiếng vọng (EC) Với kỹ thuật ghép kênh phân chia theo tan sé, dải tần lên được tách biệt với dải tần xuống bởi một dải bảo vệ như trong Hình 3.2 Vì vậy tránh được xuyên âm

Trang 30

Dé an tot nghiệp đại học Công nghé ADSL2+ va wng dung

việc xử lý tín hiệu số phức tạp hơn

Echo Cancellation Upstream Downstream

Hình 3.3 ADSL sử dụng kỹ thuật triệt phá tiếng vọng

Do không bị ảnh hưởng tự xuyên âm tại trạm trung tâm (CO) nên kỹ thuật FDM cho chất lượng hướng lên tốt hơn nhiều so với kỹ thuật EC, nhưng băng tần hướng xuống của kỹ thuật EC lớn hơn so với kỹ thuật FDM nên chất lượng hướng xuống

của kỹ thuật EC tốt hơn của kỹ thuật FDM đặc biệt đối với đường dây có khoảng

cách ngắn

3.1.5 Các phương pháp điều chế trong ADSL

Có 3 phương pháp điều chế được sử dụng trong ADSL đó là:

+ Phương pháp điều chế biên độ cầu phương (QAM)

+ Phương pháp điều chế CAP

+ Phương pháp điều chế tần số rời rac (DMT)

Dưới đây sẽ nghiên cứu từng phương pháp cụ thẻ

Trang 31

a Phương pháp điều chế biên độ cầu phương QAM (Quaratude Amplitude Modultion)

QAM là phương thức điều chế sử dụng một sóng hình sin và một sóng hình cosin ở cùng một tần số để truyền tín hiệu Hai sóng trên được truyền trên cùng một kênh Biên độ của hai sóng này (kế cả dấu) được sử dụng đề truyền bit thông tin Sau đây là một ví dụ đơn giản về QAM truyền thông tin 4 bit trên cùng một kí hiệu Hình 3.4

Hình 3.4 Ví dụ về hệ thống QAM truyền 4 bit trên 1 kí hiệu

Bốn bít tín hiệu được ánh xạ lên 16 điểm trên mặt phẳng pha biên độ thành một chùm điểm Giá trị x và y của mỗi điểm tương ứng với biên độ của séng sin và cosin được truyền lên kênh Cả phía phát và phía thu đều biết trước phép ánh xạ từ tô hợp bít

thành các điểm Sau khi các tín hiệu sin và cosin được truyền trên kênh, phía thu khôi

phục lại biên độ của mỗi tín hiệu (sử dụng quá trình cân bằng và xử lý tín hiệu) Biên độ

của các tín hiệu này được chiếu lên chùm điểm đồng nhất với chùm điểm phía phát Thông thường, nhiễu và méo tín hiệu trên kênh và trên các thiết bị điện tử làm cho các điểm bị chiếu sai lệch so với vị trí các điểm trên chùm điểm Máy thu sẽ lựa chọn điểm

nào trên chùm điểm có vị trí gần nhất so với điểm vừa thu được Nếu nhiễu quá lớn thì điểm gần nhất với điểm thu được sẽ khác với vị trí ban đầu của điểm phát, gây ra lỗi

Vi dụ trên được gọi là QAM16 do chùm điểm có 16 vị trí Số vị trí tuỳ thuộc số bít trên một kí hiệu Chăng hạn nếu là 2 bít/kí hiệu thì phương pháp điều chế trên gọi là

QAM4 Hình 3.5 Minh hoa chùm điểm của QAM4 trên cùng hệ trục toạ độ với QAM16

Trang 32

Giả sử năng lượng trung bình của tín hiệu trong hai phương pháp điều chế là như nhau Lưu ý rằng khoảng cách giữa các điểm của QAM4 lớn hơn khoảng cách giữa các điểm của QAM16 Do đó nếu xét trên cùng một kênh truyền thì nhiễu dé tác

động vào QAMI6 hơn, tức là QAMI6 đòi hỏi tỉ số S/N cao hơn QAM4 hay khoảng

cách truyền của QAMI6 nhỏ hơn QAM4 Tổng quát có thể thấy rằng QAM có bậc

càng lớn thì đòi hỏi công suất phát càng lớn và khoảng cách truyền càng nhỏ

® Diém QAMI16

C Điểm QAM4

Hình 3.5 Chùm điểm OAM16 và QAM4 trên cùng hệ trục ftoạ độ

với cùng mức năng lượng

Hình 3.6 là sơ đồ khối của bộ điều ché Dong dữ liệu từ người sử dụng đi vào bộ điều chế Tại đây dữ liệu được chia thành hai nửa, được điều chế thành hai phần trực

giao với nhau rồi được tổ hợp thành tín hiệu cầu phương và truyền trên kênh truyền

dẫn Điều đó có nghĩa là các tín hiệu cầu phương là tổ hợp của hai tín hiệu xuất phát

từ cùng một nguồn nhưng được làm lệch pha nhau 90°

vào (x,y) | giá trị Ý(G2)_ nhánh Q ~ đầu ra

Bộ tạo sóng Sin

Hình 3.6 Sơ đồ khối của bộ điều chế QAM

Trang 33

Hình 3.7 là một dạng của bộ giải điều ché QAM, dau vao của bộ giải điều chế là tín

hiệu thu được trên kênh truyền và tín hiệu đầu ra được chiếu lên chùm điểm của máy thu

Bộ tạo sóng Cosin

Bộ tạo sóng Sin

Hình 3.7 Sơ đồ khói bộ giải điều chế QAM

b Phương pháp điều chế CÁP (Carrierless Amplitude Phase Modulation)

Phương pháp điều chế pha và biên độ không sử dụng sóng mang này dựa trên

phương pháp điều chế QAM Bộ thu của phương pháp điều chế QAM yêu cầu tín

hiệu tới phải có phổ và pha giống như phổ và pha của tín hiệu truyền dẫn Do các tín hiệu truyền trên đường dây điện thoại thông thường không đảm bảo được yêu cầu này

nên bộ điều chế của ADSL phai lắp thêm bộ điều chỉnh thích hợp để bù phần méo

của tín hiệu truyền dẫn

Trang 34

Điều chế CAP không sử dụng kết hợp trục tải trực giao bằng kết hợp sin va cosin Việc điều chế được thực hiện bằng cách sử dụng bộ lọc thông dải hai nửa dòng

dữ liệu Các bít cùng một lúc mã hoá vào một kí hiệu (symbol) và qua bộ lọc, kết quả đồng pha và lệch pha sẽ biêu diễn bằng đơn vị symbol Tín hiệu được tổng hợp lại đi

qua bộ chuyên đổi A/D, bộ lọc và đến phần xử lý trước khi đến bộ giải mã Bộ lọc

phía đầu thu và bộ phận xử lý là một phần của bộ cân bằng, điều chỉnh

c Phương pháp điều chế đa tần rời rạc DMT(Discrete Multiple Tone Modulation) Điều chế DMT là kỹ thuật điều chế đa sóng mang DMT chia phô tần thành các

kênh 4KHz Các bít trong mỗi kênh được điều chế bằng kĩ thuật QAM và được đặt

trong các sóng mang Trong hệ thống ADSL, băng tần từ trạm trung tâm xuống thuê bao được chia thành 256 kênh và băng tần từ thuê bao lên trạm trung tâm được chia

làm 32 kênh, mỗi kênh có thể mang một số lượng bít khác nhau phụ thuộc vào chất

lượng của từng kênh

thoại có chất lượng và chiều dài dây khác nhau, chất lượng tín hiệu truyền trên mạng

này chịu ảnh hưởng của các loại nhiễu như xuyên âm, tín hiệu radio AM DMT khắc

phục vấn đề này bằng cách sử dụng các phần phô có suy hao và nhiễu nhỏ DMT thực hiện kiểm tra đường dây đề xác định xem đải tần số nào có thể được sử dụng và bao nhiêu bít có thể truyền trong mỗi kênh Kênh có S/N lớn truyền được nhiều bít hơn

các kênh có S/N nhỏ Đối với kênh tốt (S/N lớn) DMT thực hiện tăng số điềm trong

chùm điềm

Trang 35

3.1.6 Ghép kénh

Chuỗi bit trong các khung ADSL có thể chia tối đa thành 7 kênh tai tin tai cùng một thời điểm Các kênh này được chia thành 2 lớp chính: đơn hướng và song hướng

Chú ý rằng, các kênh tải tin này là các kênh logic và chuỗi bit từ tắt cả các kênh được

truyền đồng thời trên đường truyền ADSL mà không phải sử dụng băng tần riêng Bắt

kỳ kênh tải nào cũng có thé duoc lap trinh để mang tốc độ là bội số của tốc độ

32Kbps (Bảng 3.1) Đối với những tốc độ không phải là bội số của 32Kbps thì phải

sử dụng đến các bit phụ trong phần mào đầu của khung ADSL

Bảng 3.1 Tốc độ kênh mang

Kênh mang Hệ số nhân tối đa Tốc độ cao nhất hỗ trợ (Kbps)

aT ruyén tải đơn hướng từ trạm trung tâm tới khách hàng:

ADSL cho phép tạo tối đa bốn kênh tải tin từ trạm trung tâm tới khách hàng Bồn kênh tai tin này chỉ có nhiệm vụ mang chuỗi bit tới khách hàng và được ký hiệu

từ AS0 tới AS3 Các kênh này thiết lập trên cơ sở bội số của kênh tốc độ 1.536Mbps

Trang 36

Số kênh con lớn nhất có thể hoạt động tại bat ctr thoi điểm nào và số lượng tối

đa kênh tải tin có thể truyền đồng thời trong hệ thống ADSL tuỳ thuộc vào lớp truyền

tai Dién dan ADSL đưa ra 4 lớp truyền tải (Bảng 3.3) được đánh số từ 1 đến 4

Trong bảng này lớp I và lớp 4 là bắt buộc còn lớp 2 và lớp 3 là tuỳ chọn

Bảng 3.3 Các phương án lựa chọn kênh mang cho các lóp truyền tải

Kênh tái đơn hướng

(AS0,ASI, | (AS0,ASI | (AS0,ASI) (AS0)

ADSL cũng xây dựng cấu trúc 2Mbps đề truyền tốc độ cơ bản E1 tuy nhiên chi

có 3 kênh tải: AS0, ASI, AS2 (Bảng 3.4) hỗ trợ sử dụng luồng 2Mbps

Trang 37

Bang 3.4 Các kênh hỗ trợ cho luéng 2Mbps

Kênh tải đơn hướng

nhat (AS0,AS1,AS2) (AS0,ASI) (AS0)

Kênh tải song hướng

Trang 38

b Truyền tải song hướng:

Có ba kênh truyền tải song hướng có thể truyền trên giao diện ADSL Một trong số đó là kênh điều khiển bắt buộc (gọi là kênh C) Kênh C mang các bản

tin báo hiệu cho việc lựa chọn dịch vụ và thiết lập cuộc gọi Tất cả báo hiệu từ người sử dụng-mạng cho các kênh tải đơn hướng tới khách hàng được tải từ đây Tuy nhiên, kênh C cũng có thể được sử dụng để mang báo hiệu cho kênh song hướng nếu có yêu cầu

Bên cạnh kênh C, hệ thống ADSL có thê mang hai kênh tải song hướng tuỳ

chọn LSI hoạt động ở tốc độ 160Kbps và LS2 hoạt động ở tốc độ 384Kbps hoặc

576Kbps Các phương án lựa chọn kênh mang đối với các kênh song hướng được trình bày trong các Bảng 3.3 và Bảng 3.5 ở trên

œPhần mào đầu:

Kỹ thuật ADSL cũng sử dụng phần mào đầu trong cấu trúc kênh như các phương thức truyền dẫn khác Phần mào đầu thực hiện nhiều chức năng khác nhau trong quá trình tải tin Một trong số các chức năng của phần mào đầu là đồng bộ các

kênh tải để thiết bị ADSL ở hai đầu đường truyền có thể nhận biết cấu trúc các kênh

(AS và LS), tốc độ của các kênh, vị trí của các bit trong khung Các chức năng khác của phần mào đầu bao gồm: Kênh nghiệp vụ chung (EOC), kênh điều khiển nghiệp

vụ (OCC) đề tái cấu hình, thích ứng tốc độ từ xa và phát hiện lỗi qua việc kiểm tra

CRC (kiểm tra phần dư chu kỳ), một số bit sử dụng cho khai thác, quản lý, và bảo

dưỡng (OMC), số khác dùng đề sửa lỗi trước (FEC)

3.1.7 Cấu trúc khung và siêu khung

Trong ADSL, một siêu khung bao gồm một dãy 68 khung ADSL liên tiếp Trong số đó một vài khung có chức năng đặc biệt Ví dụ, khung 0 và 1 mang thông tin điều khiển lỗi (CRC) va cac bit chi thi sử dụng cho quản lý đường truyền Ngoài ra, các bit chỉ thị khác được chứa trong khung 34 và 35 Một khung đồng bộ đặc biệt không mang tin theo sau siêu khung đảm nhận chức năng đồng bộ cho siêu khung

Trang 39

Một siêu khung ADSL có chu kỳ 17 ms (Hinh 3.10)

yte nhan! 5 AR ^ byt€ byte yI byte - Ib= (bit chỉ thị) — hoặc dữ liệu

Bộ đệm khung dữ liệu (68/69x250us) Cac byte N;

khung dữ liệu ghép, điểm

Đầu ra FEC (điểm C) hoặc khung dữ liệu đầu _ ' Khung dữ liệu đầu vào mã hoá chùm điểm (C)

vào mã hoá chùm điềm (diém C)

Hình 3.10 Cấu trúc siêu khung ADSL

Một khung ADSL cé chu ky 250us va chia thành 2 phần chính: phần số liệu

nhanh và phần số liệu xen

a Phần số liệu nhanh:

Số liệu nhanh được chèn vào trong đường dẫn đầu tiên của khung Byte đầu tiên

gọi là “fast byte” và mang chức năng CRC và một số bit chỉ thị cần thiết Cac byte dit

liệu từ bộ đệm liên tục được chèn tiếp sau “fast byte” Các byte cho mỗi kênh mang theo yêu cầu như (Hình 3.11 và Hình 3.12) Nếu kênh mang nào không dùng thì sẽ không có dữ liệu chèn vào tương ứng Nếu như không có dữ liệu nào được gửi đi, thì

khung chỉ chứa “fast byte” Phần bộ đệm dữ liệu nhanh kết thúc bằng các byte chứa thông tin đồng bộ (AEX và LEX) và mã sửa lỗi FEC

Mỗi siêu khung ADSL danh 8 bit cho CRC (erc0-cre7), 24 bit chi thi (ib0-ib23) danh cho chtre nang OAM “Fast byte” của khung 0 được dùng cho các bit CRC, của khung 1, 34, 35 dung bit chi thi ib, cac khung con lai tai bit cau hinh (EOC) va bit điều

khiển đồng bộ (SC) cho việc xác định câu trúc kênh tải và đồng bộ

Trang 40

Phần số liệu nhanh có cấu trúc kiểm soát lỗi đơn giản được dùng dé truyền các

đữ liệu yêu cầu độ trễ nhỏ và chấp nhận lỗi như tín hiệu Video, Audio

Đầu ra FEC (điềm B) hoặc khung dữ liệu đầu vào mã hoá chùm điểm (điểm C)

Cac byte Kr Ghép khung dữ liệu điểm (A)

Byte ByteBr ByteBr ByteBr ByteBr ByteB; Byte ByteB, Byte Byte

(LS1) Hinh 3.11.Khung dit liéu dong nhanh

Frames 0 1 ex? | crs | cs | ces | e3 | e2 | cœl | e0 || œ | m6 | m5 | má | m3 | m | wi | ito |

Frames 34, 35 ibis | ibid | ibis | i12 | ibn | B0 | ito | bs | ib23 | ¡m2 | ml | ñh20 | ñhl9 | ibis | ibi7 | ible

exe J cos ] cot | od | cat 1 | " | 1 | xt [ si | set i 0 1 | 9 | cas | co? | 1 |

Trong cac khung bit7=msb va bit8=Isb

Hình 3.12 Định dạng byte đồng bộ đường nhanh còn gọi là (“fats byte”)

b Phan số liệu xen

Phần số liệu xen được chèn vào sau khung số liệu nhanh Đầu tiên nó được tập hợp theo khuôn dạng giống như khung số liệu nhanh Byte đồng bộ trong khung 0 mang các bit kiểm tra CRC Trong các khung khác từ 1 đến 67, byte đồng bộ sẽ mang

thông tin điều khiển SC cho các kênh mang thông tin kênh điều khiển mào đầu

ADSL2 (AOC) (Hình 3.13 và Hình 3.14)

Ngày đăng: 25/10/2013, 12:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w