1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng Kiểm toán căn bản - Bài 5: Tổ chức kiểm toán

22 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 691,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Kiểm toán căn bản - Bài 5: Tổ chức kiểm toán giúp sinh viên hiểu được qui trình cuộc kiểm toán cụ thể thông qua nội dung tổ chức công tác kiểm toán; hiểu rõ về tổ chức bộ máy trong từng loại hình kiểm toán khác nhau; cơ sở pháp lý khi thực hiện kiểm toán thông qua chuẩn mực kiểm toán.

Trang 1

BÀI 5 TỔ CHỨC KIỂM TOÁN

Hướng dẫn học

Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

Đọc tài liệu: Giáo trình Lý thuyết kiểm toán – NXB Tài chính – GS.TS Nguyễn Quang

Quynh và PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa

 Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học

Nội dung

Bài học này giới thiệu các vấn đề về tổ chức công tác kiểm toán, tổ chức bộ máy kiểm toán

và chuẩn mực kiểm toán Cụ thể:

 Phần 1: Làm rõ về nội dung tổ chức công tác kiểm toán với một số nội dung cơ bản như mục tiêu tổ chức công tác kiểm toán, trình tự tổ chức công tác kiểm toán qua 3 giai đoạn: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán;

 Phần 2: Làm rõ nội dung về tổ chức bộ máy kiểm toán: các nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức bộ máy kiểm toán từ đó đi sâu vào phân tích đặc điểm tổ chức bộ máy kiểm toán trong các loại hình kiểm toán cụ thể như đối với kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập

và kiểm toán nội bộ;

 Phần 3: Làm rõ nội dung về chuẩn mực kiểm toán: khái quát chung về chuẩn mực kiểm toán với các hình thức biểu hiện cụ thể; tìm hiểu về chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến (GAAS) và đặc điểm xây dựng chuẩn mực kiểm trong từng bộ máy kiểm toán

Mục tiêu

 Giúp sinh viên hiểu được qui trình cuộc kiểm toán cụ thể thông qua nội dung tổ chức công tác kiểm toán

 Giúp sinh viên hiểu rõ về tổ chức bộ máy trong từng loại hình kiểm toán khác nhau

 Giúp sinh viên nắm được cơ sở pháp lý khi thực hiện kiểm toán thông qua chuẩn mực kiểm toán

Trang 3

5.1 Tổ chức công tác kiểm toán

5.1.1 Mục tiêu và trình tự tổ chức công tác kiểm toán

Tổ chức nói chung là mối liên hệ giữa các yếu tố

trong một hệ thống Mức độ liên hệ này được xác

định qua biên độ giao động từ 0 đến 1 Ở mức độ 0,

các yếu tố trong hệ thống không tồn tại bất kỳ mối

liên hệ nào Khi đó hệ thống rơi vào tình trạng tan

rã hay vô tổ chức Ở độ 1, ngược lại, các yếu tố

quan hệ chặt chẽ, khoa học và hệ thống hoạt động ở

mức độ tối ưu Như vậy, ở tất cả các tổ chức, các

chủ thể luôn kì vọng tổ chức của mình đạt được cấp

độ 1

Kiểm toán là một hệ thống, khi vận hành hệ thống

này để thực hiện hai chức năng cơ bản là xác minh và bày tỏ ý kiến thì cần phải lưu ý đến mối liên hệ giữa các yếu tố để hệ thống đạt được mục tiêu một cách tốt nhất Các yếu tố đó là các phương pháp kiểm toán thuộc 2 nhóm: kiểm toán chứng từ (gồm kiểm toán cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic) và kiểm toán ngoài chứng từ (gồm kiểm kê, điều tra, thực nghiệm) Tùy thuộc vào quan điểm của từng Kiểm toán viên

mà cách kết hợp các yếu tố trong tổ chức có thể khác nhau khi kiểm toán các đối tượng cơ bản

Có thể theo dõi 2 trường hợp sau:

Thứ nhất, với kiểm toán tài chính, cũng như mọi loại hình kiểm toán khác, để thực

hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính cũng sử dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ Tuy nhiên, do mỗi loại kiểm toán có chức năng cụ thể khác nhau, đối tượng cụ thể khác nhau và quan hệ chủ thể khách thể kiểm toán khác nhau nên trong kiểm toán tài chính cách thức kết hợp các phương pháp cơ bản trên cũng có những điểm đặc thù

Ở đây các phương pháp kiểm toán cơ bản được triển khai theo hướng kết hợp hoặc chi tiết thành các cách kiểm toán cụ thể tùy tình huống cụ thể trong suốt quá trình kiểm toán Chẳng hạn, theo hướng chi tiết, phương pháp điều tra (cơ bản) có thể thực hiện thông qua các cách thức như quan sát, trao đổi hoặc phỏng vấn, gửi thư xác nhận… Ngược lại, theo hướng tổng hợp, các phương pháp đối chiếu logíc, đối chiếu trực tiếp, cân đối… có thể được thực hiện thông qua các thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán Trong kiểm toán tài chính để bảo đảm tính hiệu quả trình tự phổ biến được thực hiện là tiến hành kiểm toán theo trình tự ngược với trình tự kế toán Tuy nhiên, trong khu vực nhà nước, để nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công, thì kiểm toán tài chính thường được kết hợp với kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động thì trình tự kiểm toán là ngược hay xuôi so với trình tự kế toán cũng cần được kết hợp một cách linh hoạt

Thứ hai, với kiểm toán hoạt động, đối tượng của loại hình kiểm toán này rất đa

dạng, thậm chí có sự khác biệt lớn, chẳng hạn giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động chi quỹ phúc lợi hay hoạt động sử dụng ngân sách theo những mục tiêu của nhà

Trang 4

nước… Vì vậy, tổ chức kiểm toán cho từng hoạt động này sẽ có những điểm khác biệt Do mục tiêu của kiểm toán hoạt động là hướng đến việc đánh giá hiệu quả và hiệu năng của các nghiệp vụ hoạt động, nên trình tự kiểm toán (đối với nghiệp vụ tài chính) thường được thực hiện xuôi theo trình tự của kế toán

Từ những phân tích trên có thể thấy mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng

tới việc tạo ra mối liên hệ khoa học và nghệ thuật các phương pháp kỹ thuật kiểm toán dùng để xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán

Dù trình tự của bản thân công tác kiểm toán khác nhau (công việc kiểm toán có thể thực hiện trong các doanh nghiệp có quy mô lớn, trung bình hoặc nhỏ, có hoạt động đơn giản hoặc phức tạp; các đơn vị kinh doanh hay đơn vị hành chính sự nghiệp…) song trong mọi trường hợp, tổ chức kiểm toán đều phải được thực hiện theo một quy trình chung với 3 bước cơ bản:

 Bước 1: Chuẩn bị kiểm toán bao gồm tất cả các công việc khác nhau nhằm tạo

được cơ sở pháp lý, kế hoạch kiểm toán cụ thể và các điều kiện vật chất cho công tác kiểm toán

 Bước 2: Thực hành kiểm toán bao gồm tất cả các công việc thực hiện chức năng

xác minh của kiểm toán để khẳng định được thực chất của đối tượng và khách thể kiểm toán cụ thể

 Bước 3: Kết thúc kiểm toán bao gồm các công việc đưa ra kết luận kiểm toán,

lập báo cáo kiểm toán và giải quyết các công việc phát sinh sau khi lập báo cáo kiểm toán

Để thực hiện quy trình kiểm toán với 3 bước cơ bản nêu trên, khái niệm “Cuộc kiểm toán” phải bao hàm đầy đủ các yếu tố sau:

a) Đối tượng kiểm toán

b) Mục tiêu và phạm vi kiểm toán

c) Chủ thể kiểm toán

d) Khách thể kiểm toán

e) Phương pháp áp dụng trong kiểm toán và cơ sở

pháp lý thực hiện kiểm toán

f) Thời hạn kiểm toán

Trong phần diễn giải về quy trình kiểm toán có đề cập đến việc minh họa 2 cuộc kiểm toán sau:

 Cuộc kiểm toán 1: Kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty cổ phần đầu tư và

xây lắp dầu khí Sài Gòn cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2013, Kiểm toán viên cần xác định các yếu tố cơ bản sau:

a Đối tượng kiểm toán: Báo cáo tài chính năm 2013

b Mục tiêu và phạm vi kiểm toán

- Mục tiêu kiểm toán: Xác minh sự trung thực, hợp lý của các thông tin trên các BKTC theo các chuẩn mực, quy định cụ thể có hiệu lực trong năm 2013

- Phạm vi kiểm toán: Báo cáo tài chính được lập cho năm tài chính từ 01/01/2013 đến 31/12/2013

Trang 5

c Chủ thể kiểm toán: Công ty TNHH Dịch vụ kiểm toán, kế toán và tư vấn thuế AAT

d Khách thể kiểm toán: Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp dầu khí Sài Gòn

e Phương pháp áp dụng trong kiểm toán và cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán

- Phương pháp áp dụng trong kiểm toán: thử nghiệm tuân thủ, thử nghiệm cơ bản và các phương pháp kiểm toán chung

- Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán: hệ thống chuẩn mực kiểm toán, chuẩn mực

kế toán, chế độ kế toán (doanh nghiệp) Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính

f Thời hạn kiểm toán: Căn cứ vào điều khoản trên hợp đồng (cuộc kiểm toán hoàn thành trước 08/04/2014)

 Cuộc kiểm toán 2: Kiểm toán hoạt động tại 1 chi nhánh của ngân hàng KT (các

thông tin có liên quan xem ở các phần trình bày thuộc 5.1.2)

5.1.2.1 Chuẩn bị kiểm toán

Chuẩn bị là bước công việc đầu tiên của tổ chức

công tác kiểm toán nhằm tạo ra tất cả tiền đề và

điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán

Đây là công việc có ý nghĩa quyết định chất lượng

kiểm toán

Chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn đầu tiên, cần thiết

cho mọi cuộc kiểm toán Nếu thực hiện chu đáo,

phù hợp sẽ giúp cho thực hiện tốt các giai đoạn sau

Hiện nay, Nhà nước Việt Nam và rất nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán tài chính Đây là cơ sở rất thuận lợi cho Kiểm toán viên có thể thực hiện tốt được giai đoạn này (điều này khác biệt hoàn toàn so với trước kia, khi mà khung pháp lý về kiểm toán chưa đầy đủ, thì việc chuẩn vị kiểm toán thực sự khó khăn do nguồn tài liệu thiếu về số lượng, về tính đồng bộ và cả chất lượng…)

Tùy thuộc vào loại hình kiểm toán (kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ…), đối tượng kiểm toán (có thể là tài sản cá nhân, tài sản của nhà nước, các dự án, các nghiệp vụ…) khác nhau mà việc chuẩn bị sẵn sàng về điều kiện tiền đề

và điều kiện cơ sở vật chất cụ thể có những điểm khác biệt, nhưng có thể quy về một

số công việc cần thiết cần thực hiện như sau:

 Xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán

o Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán

cho mỗi cuộc kiểm toán cụ thể Mục tiêu chung của kiểm toán phải gắn chặt với mục tiêu, yêu cầu của quản lý Vì vậy, trước hết mục tiêu của kiểm toán phải tùy thuộc vào quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm toán, tùy thuộc vào loại hình kiểm toán

Quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán biểu hiện trước hết ở bộ máy kiểm toán (chủ thể kiểm toán): Kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập hay

Trang 6

kiểm toán nội bộ Mỗi bộ máy có lĩnh vực và phạm vi hoạt động khác nhau, yêu cầu pháp lý khác nhau nên mục tiêu kiểm toán không thể trùng hợp cho dù cùng thực hiện ở một khách thể Ngược lại, với cùng một chủ thể kiểm toán, mục tiêu kiểm toán cũng có thể khác nhau tùy quan hệ giữa khách thể đó với chủ thể kiểm toán: Khách thể trực tiếp hay gián tiếp, bắt buộc hay tự nguyện,

cũ hay mới…

Chẳng hạn:

 Với cuộc kiểm toán 1: Đây là cuộc kiểm toán tài chính (do Kiểm toán viên độc lập thực hiện) cho đối tượng là BCTC của 1 doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn giao dịch chứng khóan, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán là ngoại kiểm trên tinh thần tự nguyện Mục tiêu kiểm toán sẽ được xây dựng như sau: Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai lệch trọng yếu do gian lận hoặc sai sót hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không

 Với cuộc kiểm toán 2: Đây là một cuộc kiểm toán hoạt động (do Kiểm toán viên nội bộ thực hiện) cho đối tượng là các hoạt động cụ thể phát sinh tại chi nhánh của 1 ngân hàng thương mại, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể là nội kiểm trên tinh thần bắt buộc và cưỡng chế, vì vậy, việc xác định mục tiêu có điểm khác biệt:

- Kiểm tra việc tuân thủ các quy định nội bộ, pháp luật trong hoạt động tín dụng, kế toán, vận hành của Chi nhánh

- Đánh giá tính hiệu quả của công tác kiểm soát nội bộ tại Chi nhánh

- Trên cơ sở kiểm tra, nhận diện rủi ro/sai phạm, xác định nguyên nhân, trách nhiệm đối với những vi phạm/ hạn chế được phát hiện và kiến nghị cấp thẩm quyền có biện pháp cải thiện, giảm thiểu rủi ro

Cũng trong quan hệ với loại hình kiểm toán, cần phân định mục tiêu kiểm toán định kỳ với kiểm toán đột xuất, kiểm toán thường xuyên và thông thường Kiểm toán thường xuyên hướng tới tạo lập nền nếp quản lý tài chính kế toán, kiểm toán đột xuất thường gắn với xử lý các vụ việc cụ thể; còn kiểm toán định

kỳ thường gắn với những kết luận, đánh giá tổng quát các vấn đề theo yêu cầu quản lý chung

Để định hướng và đánh giá được kết quả, mục tiêu của một cuộc kiểm toán phải cụ thể và chính xác Đây là yêu cầu đầu tiên đối với công việc chuẩn bị kiểm toán Tùy thuộc vào các hoạt động kiểm toán nêu trên, mục tiêu kiểm toán có thể biểu hiện trong kế hoạch, hợp đồng hoặc lệnh kiểm toán

o Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng

kiểm toán Phạm vi kiểm toán thường được xác định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hướng cụ thể hóa mục tiêu này

Trang 7

Với một khách thể kiểm toán cần xác định rõ đối tượng cụ thể của kiểm toán: chẳng hạn cũng là cuộc kiểm toán tài chính, nhưng ở khách thể này có thể chỉ kiểm toán Bảng Cân đối kế toán và Thuyết minh báo cáo tài chính (do cuộc kiểm toán thực hiện ở những ngày đầu khi doanh nghiệp mới đi vào hoạt động),

ở khách thể khác lại là bộ Báo cáo tài chính bắt buộc (gồm 4 báo cáo: Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính), ở khách thể khác nữa thì ngoài 4 báo cáo bắt buộc còn có Báo cáo về tình hình biến động vốn chủ sở hữu (Dược Hậu Giang) hay ở một doanh nghiệp nhà nước thì Bảng khai tài chính còn chứa đựng các bảng kê khai tài sản của Nhà nước, tài sản cá nhân… ngoài 4 báo cáo tài chính bắt buộc Cùng với việc cụ thể hóa về đối tượng, phải cụ thể hóa về khoảng thời gian thuộc phạm vi kiểm toán (tháng, quý, năm) Trong điều kiện kiểm toán năm đầu tiên phải xét phạm vi kiểm toán trong cả quan hệ với thời kỳ trước có liên quan do thông tin tài chính của kỳ trước có ảnh hưởng đến số dư đầu kỳ này Chẳng hạn:

Với cuộc kiểm toán 1: Phạm vi kiểm toán là báo cáo tài chính năm 2013 Với cuộc kiểm toán 2: Hoạt động cấp tín dụng, kế toán, vận hành cho kỳ hoạt động từ ngày 01/09/2013 đến ngày 30/09/2014 của chi nhánh ngân hàng thương mại KT

 Chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện vật

o Cùng với việc chỉ định con người, cần chuẩn bị các thiết bị và điều kiện vật chất các khác kèm theo: Phương tiện tính toán và kiểm tra thích ứng với đặc điểm tổ chức kế toán, phương tiện kiểm kê thích ứng với từng loại vật tư, đá quý; các phần mềm hỗ trợ Kiểm toán viên trong quá trình phân tích, chọn mẫu; các phương tiện ghi hình…

 Thu thập thông tin

Để có thể xây dựng được kế hoạch kiểm toán phù hợp và khả thi với mục tiêu và phạm vi kiểm toán đã được xác định thì Kiểm toán viên phải có đầy đủ hiểu biết

về khách thể kiểm toán Những hiểu biết này sẽ giúp Kiểm toán viên hoạch định

Trang 8

các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm của đơn vị, nhất là giúp cho Kiểm toán viên khoanh vùng những vấn đề có rủi ro cao để có những phương pháp kiểm toán phù hợp

Ở giai đoạn này, việc thu thập thông tin trước hết cần tận dụng tối đa nguồn tài liệu đã có song khi cần thiết vẫn phải có những biện pháp điều tra bổ sung

Các nguồn tài liệu đã có thường bao gồm:

o Các nghị quyết có liên quan đến hoạt động của đơn vị được kiểm toán

o Các văn bản có liên quan đến đối tượng và khách thể kiểm toán

o Các kế hoạch, dự toán, dự báo có liên quan

o Các báo cáo kiểm toán lần trước, các biên bản kiểm kê hoặc biên bản xử lý các

vụ đã xảy ra trong kỳ kiểm toán

o Các tài liệu khác có liên quan

Trong nhiều trường hợp, nguồn thông tin đã có chưa đủ cần tiến hành khảo sát, điều tra bổ sung, song cũng ở mức khái quát phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm toán Chẳng hạn, với Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp dầu khí Sài Gòn, muốn cuộc kiểm toán BCTC cho năm 2013 đạt được mục tiêu như đã đề ra thì Kiểm toán viên phải có những hiểu biết nhất định về doanh nghiệp này như: hình thức sở hữu vốn, loại hình kinh doanh, các chính sách kế toán được sử dụng, cơ cấu tổ chức, các kế hoạch kinh doanh của năm tài chính hiện hành, những thay đổi trong cơ cấu tổ chức, thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp… để có thể lập kế hoạch kiểm toán phù hợp

 Lập kế hoạch kiểm toán

Cũng như các kế hoạch khác, lập kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực giữa nhu cầu và nguồn lực đã có Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh quan trọng của cuộc kiểm toán, phát hiện được toàn bộ gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn Mục tiêu chính của tổ chức kiểm toán và Kiểm toán viên trong lập kế hoạch kiểm toán là đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách chủ động và có hiệu quả

Trong kiểm toán, kế hoạch chung này gọi là kế hoạch chiến lược Tuy nhiên giới

hạn lập kế hoạch đề cập ở đây là kế hoạch tổng quát cho một cuộc kiểm toán

Do đó, việc xác định nhu cầu được thực hiện chủ yếu qua việc cụ thể hóa mục tiêu

và phạm vi kiểm toán đã dự kiến ở trên (điểm 1 của phần này) Việc cụ thể hóa này trước hết ở xác định những công việc cụ thể phải làm (ổn định) và trên cơ sở

đó lượng hóa quy mô từng việc và xác định thời gian kiểm toán tương ứng (định lượng) Để thực hiện được cả hai quá trình đó, cần thiết không chỉ cụ thể hóa và chính xác hóa mục tiêu và phạm vi kiểm toán mà còn cần thiết xác định các nguồn thông tin có thể có

Trang 9

Trên cơ sở xem xét các quan hệ trên, cần xác định số người, kiểm tra phương tiện

và xác định thời hạn thực hiện công tác kiểm toán

o Số người tham gia kiểm toán cần được xem xét cả về tổng số và cơ cấu Tổng

số người phải tương xứng với quy mô kiểm toán nói chung đã xác định ở phần trên; Cơ cấu của nhóm công tác phải thích ứng với từng việc cụ thể đã chính xác hóa mục tiêu, phạm vi ở phần xác định nhu cầu

o Thời hạn thực hiện công tác kiểm toán cần ấn định cụ thể cả về thời hạn chung cũng như thời hạn cần thiết và thời điểm thực hiện từng công việc cụ thể đã phân công cho từng người theo quan hệ lôgic giữa các công việc cụ thể

Chẳng hạn, trong việc xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng quát cho kiểm toán tài chính, các Kiểm toán viên cần phải:

o Xem xét các yếu tố quan trọng theo xét đoán nghề nghiệp của Kiểm toán viên trong việc xác định công việc trọng tâm của nhóm kiểm toán

o Xác định nội dung, lịch trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện một cuộc kiểm toán

o Tùy thuộc vào kết quả đánh giá rủi ro mà Kiểm toán viên cần xác định:

 Nguồn lực cho các vùng kiểm toán đặc biệt, như bố trí các Kiểm toán viên

có kinh nghiệm phù hợp tham gia vào các vấn đề phức tạp, chứa đựng rủi

ro cao

 Dự kiến nhu cầu chuyên gia (nếu cần thiết)

 Quy mô nguồn lực phân bổ cho các vùng kiểm toán đặc biệt, như số lượng Kiểm toán viên tham gia quan sát kiểm kê ở các khu vực quan trọng; phạm

vi soát xét công việc của Kiểm toán viên khác trong trường hợp thực hiện kiểm toán cho đơn vị có quy mô lớn hoặc thời gian dành cho các khoản mục có rủi ro cao

 …

Kế hoạch từng cuộc kiểm toán cũng phải được xây dựng phù hợp với từng loại hình kiểm toán Trong kiểm toán độc lập, kế hoạch kiểm toán cần được cụ thể hóa qua hợp đồng kiểm toán, trong đó quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn từng bên

cả trong việc chuẩn bị và cả trong thực hiện kế hoạch kiểm toán

 Xây dựng chương trình kiểm toán

Sau khi hoàn thành kế hoạch kiểm toán tổng quát, chương trình kiểm toán cần được xây dựng để đưa

ra hướng giải quyết các vấn đề đã được xác định ở

kế hoạch này trên cơ sở đảm bảo đạt được mục đích của cuộc kiểm toán thông qua việc sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực của Kiểm toán viên

Do mỗi phần hành kiểm toán có vị trí, đặc điểm khác nhau nên phạm vi, loại hình kiểm toán cũng khác nhau dẫn đến số lượng và thứ tự các bước kiểm toán khác nhau Xây dựng chương trình kiểm toán chính là việc xác định số lượng và thứ tự các bước kể từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc công việc kiểm toán

Trang 10

Chẳng hạn, các nghiệp vụ về tiền mặt thường biến động lớn, tiền là phương tiện thanh toán gọn nhẹ, dễ di chuyển, dễ bảo quản, dự trữ Do đó, khả năng gian lận, sai sót nhiều Hơn nữa, các nghiệp vụ này lại phản ánh được thực chất quá trình hoạt động của đơn vị kiểm toán Do đó nghiệp vụ tiền mặt thường là đối tượng thường xuyên, trực tiếp và toàn diện của kiểm toán

Trong khi đó, các loại tài sản khác như vật tư chẳng hạn, lại có khối lượng lớn với rất nhiều chủng loại, lại được bảo quản trên nhiều kho, bãi khác nhau nên nội dung

và trình tự kiểm toán không giống như đối với tiền mặt Cũng tương tự, nghiệp vụ bán hàng và thu tiền có đặc điểm riêng so với các nghiệp vụ về nguồn vốn, càng khác biệt với các nghiệp vụ sản xuất, dịch vụ Do vậy cần xây dựng quy trình kiểm toán riêng cho từng loại nghiệp vụ

Mặt khác, sự khác nhau giữa các loại hình kiểm toán: kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ hay kiểm toán hoạt động cũng dẫn đến trình tự kiểm toán khác nhau ngay đối với mỗi loại nghiệp vụ

Có thể hình dung sự khác biệt giữa việc xây dựng chương trình cho cuộc kiểm toán tài chính và cuộc kiểm toán hoạt động (thông qua cuộc kiểm toán 1 và 2 như sau)

o Chương trình kiểm toán vốn bằng tiền cho cuộc kiểm toán 1

Người thực hiện ký

– Phê chuẩn, phân cấp quản lý đối với tiền mặt

B/ Thủ tục kiểm toán chi tiết

I Tiền mặt

1 Đối chiếu giữa biên bản kiểm kê với Sổ Quỹ, sổ chi tiết và Sổ Cái để đảm bảo số dư đã được trình bày trên Bảng Cân đối kế toán là hợp lý

2 Đọc lướt qua Sổ Quỹ để phát hiện những nghiệp vụ bất thường và tiến hành kiểm tra, đối chiếu với các chứng từ gốc để đảm bảo việc trình bày là đúng và phù hợp

3a Chọn tháng bất kỳ và mỗi tháng chọn nghiệp vụ trên Sổ Cái (hoặc sổ chi tiết) để đối chiếu sự khớp đúng giữa sổ kế toán và chứng từ gốc về nội dung, ngày, tháng, số tiền Đồng thời kiểm tra sự chấp thuận của người có thẩm quyền của khách hàng

– Nếu kết quả tốt: Chấp nhận

– Nếu kết quả xấu: Mở rộng phạm vi kiểm tra chi tiết

Trang 11

Người thực hiện ký

3b Chọn tháng bất kỳ và mỗi tháng chọn chứng từ để đảm bảo việc ghi sổ (sổ quỹ, sổ chi tiết và Sổ Cái) là phù hợp

4 Chọn nghiệp vụ trước ngày kết thúc niên độ

và nghiệp vụ sau ngày kết thúc niên độ để kiểm tra thủ tục phân chia niên độ của khách hàng là đúng đắn và phù hợp

II Tiền gửi Ngân hàng và Tiền đang chuyển

1 Xem xét có tài khoản nào được xác nhận mà đã hết

số dư từ năm trước không Bất kỳ tài khoản nào cũng đều phải được xác nhận

2 Lập bảng đối chiếu số dư ngân hàng

a Kiểm tra cộng dồn Xem xét các khoản bất thường (có giá trị lớn)

b Đối chiếu số dư trên sổ chi tiết với Sổ Cái và sổ phụ ngân hàng vào ngày kết thúc năm tài chính

c Kiểm tra bảng đối chiếu của 2 tháng bất kỳ đối với từng tài khoản để xem xét các khoản bất thường và xác định lại thời gian, tính chính xác Đồng thời, kiểm tra sự chấp thuận của người có thẩm quyền

3 Thu thập thư xác nhận của ngân hàng và kiểm tra ghi nhận trong sổ kế toán của đơn vị

– Giải thích các khoản chênh lệch nếu có tại thời điểm khóa sổ

– Kiểm tra lại tất cả các khoản tiền gửi chưa được ghi vào ngày cuối kỳ với sổ phụ ngân hàng sau ngày khóa sổ

4 Xem xét khoản tiền đang chuyển được liệt kê phản ánh trong "Tiền đang chuyển" là hợp lý (xem xét khoản tiền có giá trị lớn)

a Đối chiếu với sổ Tiền gửi ngân hàng, phiếu chuyển tiền ngân hàng về ngày, số tiền, diễn giải

b Đối chiếu với sổ phụ ngân hàng cuối năm, phân chia niên độ về ngày, số tiền, diễn giải Ghi chú các khoản tiền gửi được ngân hàng phản ánh sau ngày kết thúc năm tài chính

c Xem xét các khoản tiền gửi được ngân hàng ghi chép trong khoảng thời gian hợp lý (1 – 2 ngày sau ngày đơn vị ghi sổ)

d Xem xét báo cáo tài chính năm trước và giấy tờ làm việc năm nay để thấy được các dữ liệu đối chiếu đã

có trong hồ sơ

C Thủ tục kiểm toán bổ sung – Xem xét các khoản số dư ngoại tệ đã được đánh giá theo tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng tại ngày kết thúc năm tài chính

– Các thủ tục khác (nếu có)

Ngày đăng: 18/12/2020, 09:23

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm