DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Phần viết tắt Phần viết đầy đủ AI Chỉ số không đồng bộ Asynchrony Index ARDS Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển Acute Respiratory Distress Syndrome ASV Thông
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
NGUYỄN ĐỨC PHÚC
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CAI THỞ MÁY
THEO PHƯƠNG THỨC NAVA
Ở BỆNH NHÂN SUY HÔ HẤP CẤP
Chuyên ngành: Gây mê hồi sức
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Đức Phúc, học viên nghiên cứu sinh khóa năm 2013, chuyên ngành Gây mê hồi sức, Viện nghiên cứu khoa học Y Dược lâm sàng
108, xin cam đoan:
1 Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Gia Bình và TS.BS Lê Thị Diễm Tuyết
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, tháng năm 2020
Học viên
Nguyễn Đức Phúc
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cai thở máy 3
1.1.1 Định nghĩa và các tiêu chuẩn chỉ dẫn bệnh nhân sẵn sàng cai thở máy 3
1.1.2 Các tiêu chuẩn để cai thở máy 5
1.1.3 Các tiêu chuẩn đánh giá kết quả cai thở máy 5
1.1.4 Tương tác giữa bệnh nhân và máy thở .9
1.1.5 Các quy trình cai thở máy 16
1.1.6 Các phương thức cai thở máy 17
1.2 Phương thức thở máy NAVA 24
1.2.1 Cơ sở sinh lý học 24
1.2.2 Nguyên lý hoạt động của thở máy theo phương thức NAVA 26
1.2.3 Chỉ định và chống chỉ định thở máy theo phương thức NAVA 30
1.2.4 Các ưu điểm và hạn chế của thở máy theo phương thức NAVA 31
1.3 Các nghiên cứu thở máy theo phương thức NAVA ở trong nước và thế giới 31 1.3.1 Hiệu quả thở máy theo phương thức NAVA 31
1.3.2 Cai thở máy theo phương thức NAVA 36
1.3.3 Một số nguyên nhân thất bại khi thở máy theo phương thức NAVA 37
1.3.4 Các nghiên cứu trong nước 37
Trang 4Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đối tượng nghiên cứu 38
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 38
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 39
2.1.3 Tiêu chuẩn đưa ra khỏi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 40
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 40
2.2.3 Phương tiện nghiên cứu 43
2.2.4 Cách thức tiến hành 45
2.2.5 Các thời điểm nghiên cứu 50
2.2.6 Nội dung và các tiêu chí đánh giá trong nghiên cứu 51
2.2.7 Các tiêu chuẩn định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 53
2.2.8 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 60
2.2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 61
2.2.10 Sơ đồ nghiên cứus 63
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 64
3.2 Hiệu quả cai thở máy theo phương thức NAVA và PSV 70
3.3 Một số yếu tố liên quan cai thở máy thất bại theo phương thức NAVA 79
Chương 4: BÀN LUẬN 101
4.1 Đặc điểm chung của các bệnh nhân nghiên cứu 101
4.1.1 Tuổi, giới và chỉ số BMI 101
4.1.2 Nguyên nhân thở máy trước khi cai thở máy 103
4.1.3 Tỷ lệ rút ống nội khí quản, tỷ lệ mở khí quản trước khi cai thở máy 104 4.1.4 Thang điểm SOFA, SAPS II, APACHE II trước khi cai thở máy 106
4.2 Hiệu quả hỗ trợ cai thở máy theo phương thức NAVA so với PSV 107
Trang 54.2.1.Tỷ lệ cai máy thở thành công và thất bại 107 4.2.2 Thời gian thở máy trước cai máy thở và thời gian cai thở máy 111 4.2.3 Thay đổi tần số tim, tần số thở trong quá trình cai thở máy 112 4.2.4 Thay đổ áp lực đỉnh đường thở, thể tích lưu thông và công hô hấp
trong quá trình cai thở máy 113 4.2.5 Thay đổi khí máu trong quá trình cai thở máy 114 4.2.6 Tương tác giữa bệnh nhân và máy thở trong quá trình cai thở máy115 4.2.7 Kỹ thuật đặt ống thông thực quản và vị trí ống thôngthực quản
NAVA 119 4.2.8 Các sự cố kỹ thuật khi đặt ống thông thực quả NAVA 120 4.3 Một số yếu tố liên quan đến cai thở máy thất bại theo phương thức NAVA 121 4.3.1 Các yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu dẫn đến thất bại khi
cai thở máy NAVA 121 4.3.2 Diễn biến tần số tim, tần số thở trong quá trình cai thở máy NAVA 123 4.3.3 Diễn biến áp lực đường thở và thể tích lưu thông trong quá trình cai
thở máy NAVA 125 4.3.4 Diễn biến kết quả xét nghiệm khí máu động mạch trong quá trình
cai thở máy NAVA 127 4.3.5 Các yếu tố liên quan đến cai thở máy theo phương thức NAVA 129 4.3.6 Mức NAVA trong cai thở máy theo phương thức NAVA 132
KẾT LUẬN 134 KIẾN NGHỊ 136 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN
ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Phần viết tắt Phần viết đầy đủ
AI Chỉ số không đồng bộ (Asynchrony Index)
ARDS Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
(Acute Respiratory Distress Syndrome) ASV Thông khí hỗ trợ thích ứng
(Adaptive Support Ventilation)
(Automatic Tube Compensation) COPD Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(Chronic Obtructive Pulmonary Disease) CPAP Áp lực đường thở dương liên tục
(Continous Positive Airway Pressure) Edi Điện thế của cơ hoành (Electrical activity of the diaphragm)
F Tần số thở (Frequence)
MIP Maximum Inspiratory Pressure
MV Thông khí phút (Minute Volume)
NAVA Thông khí hỗ trợ điều chỉnh theo tín hiệu thần kinh
(Neurally Adjusted Ventilatory Assist) NVE Hiệu suất thông khí thần kinh
(Neurally-Ventilatory Efficiency)
PaCO2 Áp suất riêng phần CO2 trong máu động mạch
PaO2 Áp suất riêng phần O2 trong máu động mạch
PAV Proportional Assist Ventilation
Trang 7Phần viết tắt Phần viết đầy đủ
PEEP Áp lực dương cuối thì thở ra
(Positive End Expiratory Pressure PIP Áp lực đỉnh đường thở (Peak Inspiratory Pressure) Pmean Áp lực trung bình đường thở (Mean Airway Pressure) Pplat Áp lực cao nguyên (Plateau pressure)
PS Hỗ trợ áp lực (Pressure Support)
PSV Thông khí hỗ trợ áp lực (Pressure Support Ventilation) SIMV Thông khí bắt buộc ngắt quãng đồng thì
(Synchronized Intermittent Mandatory Ventilation)
VE Thông khí phút thở ra (Expired minute Ventilation)
Vt Thể tích khí lưu thông (Tidal volume)
WOB Công thở (Work of Breathing)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các thông số thường được dùng trong lâm sàng để dự kiến cai máy
thở thành công 6
Bảng 1.2 Các tiêu chuẩn xác định thử nghiệm cho bệnh nhân tự thở thất bại 17
Bảng 1.3 Đánh giá sự sẵn sàng để thử nghiệm thở tự nhiên 18
Bảng 2.1 Hằng số C liên quan đến sai sót loại I và II 40
Bảng 2.2 Thang điểm Glasgow 55
Bảng 2.3 Thang điểm SOFA 56
Bảng 2.4 Thang điểm SAPS 2 57
Bảng 2.5 Thang điểm APACHE II 58
Bảng 3.1 Phân bố giới, tuổi, chỉ số BMI và bệnh mạn tính kèm theo ở đối tượng nghiên cứu 64
Bảng 3.2 Phân bố về đặc điểm bệnh lý cai thở máy 65
Bảng 3.3 Đặc điểm tần số tim, huyết áp trung bình, khí máu tại thời điểm trước khi cai thở máy ở đối tượng nghiên cứu 66
Bảng 3.4 Đặc điểm một số thông số máy thở tại thời điểm Tx ở đối tượng nghiên cứu 67
Bảng 3.5 Thang điểm đánh giá mức độ nặng tại thời điểm Tx ở đối tượng nghiên cứu 68
Bảng 3.6 Đặc điểm sinh hóa tại thời điểm Tx ở nhóm nghiên cứu 69
Bảng 3.7 Kết quả điều trị ở nhóm NAVA và nhóm PSV 71
Bảng 3.8 Diễn biến công thở trong quá trình cai thở máy 76
Bảng 3.9 Các loại không đồng bộ và tổng số không đồng bộ giữa bệnh nhân- máy thở 77
Trang 9Bảng Tên bảng Trang
Bảng 3.10 Các đặc điểm bệnh nhân thất bại cai thở máy NAVA ngay tại
thời điểm trước khi cai thở máy 79
Bảng 3.11 Kết quả cai thở máy theo nguyên nhân 80
Bảng 3.12 Điểm SOFA, SAPSII và APACHEII theo kết quả cai thở máy ngay tại thời điểm trước khi cai thở máy NAVA 81
Bảng 3.13 Diễn biến áp lực đỉnh đường thở theo kết quả cai thở máy theo phương thức NAVA 84
Bảng 3.14 Diễn biến thể tích lưu thông thở ra theo kết quả cai thở máy theo phương thức NAVA 85
Bảng 3.15 Diễn biến giá trị đỉnh của điện thế cơ hoành trong quá trình cai thở máy NAVA 90
Bảng 3.16 Diễn biến giá trị của hiệu số điện thế cơ hoành trong quá trình cai thở máy NAVA 92
Bảng 3.17 Diễn biến hiệu suất thông khí - thần kinh trong quá trình cai thở máy NAVA 94
Bảng 3.18 Diễn biến công hô hấp trong quá trình cai thở máy NAVA 95
Bảng 3.19 Diễn biến mức NAVA trong quá trình cai thở máy NAVA 98
Bảng 3.20 Chiều dài đoạn ống thông thực quản đưa vào cơ thể 99
Bảng 3.21 Các sự cố kỷ thuật khi cai thở máy NAVA 100
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thành công ở nhóm PSV và NAVA 70
Biểu đồ 3.2 Cai thở máy thành công ở 2 nhóm NAVA và PSV 70
Biểu đồ 3.3 Diễn biến tần số tim trong quá trình cai thở máy 72
Biểu đồ 3.4 Diễn biến tần số thở trong quá trình cai thở máy 72
Biểu đồ 3.5 Diễn biến áp lực đỉnh đường thở trong quá trình cai thở máy 73 Biểu đồ 3.6 Diễn biến thể tích lưu thông thở ra trong quá trình cai thở máy 73
Biểu đồ 3.7 Diên biến PaO2 trong quá trình cai thở máy 74
Biểu đồ 3.8 Diễn biến PaO2/FiO2 trong quá trình cai thở máy 74
Biểu đồ 3.9 Diễn biến PaCO2 máu động mạch trong quá trình cai thở máy 75 Biểu đồ 3.10 Diễn biến pH máu động mạch trong quá trình cai thở máy 75
Biểu đồ 3.11 Chỉ số không đồng bộ giữa 2 nhóm NAVA và PSV 78
Biểu đồ 3.12 Diễn biến tần số tim theo kết quả cai thở máy theo phương
thức NAVA 82
Biểu đồ 3.13 Diễn biến tần số thở theo kết quả cai thở máy theo phương
thức NAVA 83
Biểu đồ 3.14 Diễn biến PaO2 theo kết quả cai thở máy theo phương
thức NAVA 86
Biểu đồ 3.15 Diễn biến PaO2/FiO2 theo kết quả cai thở máy phương
thức NAVA 87
Biểu đồ 3.16 Diễn biến PaCO2 theo kết quả cai thở máy phương
thức NAVA 88
Trang 11Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 3.17 Diễn biến pH máu động mạch trong quá trình cai thở máy
phương thức NAVA 89
Biểu đồ 3.18 Diễn biến giá trị đỉnh của điện thế cơ hoành theo căn nguyên thở máy 91
Biểu đồ 3.19 Diễn biến giá trị của hiệu số điện thế cơ hoành theo căn nguyên thở máy 93
Biểu đồ 3.20 Diễn biến hiệu suất thông khí - thần kinh theo căn nguyên
thở máy 95
Biểu đồ 3.21 Diễn biến công hô hấp theo căn nguyên thở máy 96
Biểu đồ 3.22 Mối tương quan giữa áp lực đỉnh đường thở và điện thế đỉnh
cơ hoành 97
Biểu đồ 3.23 Diễn biến mức NAVA theo căn nguyên thở máy 99
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mũi tên màu trắng cho thấy “ineffective efforts” trên biểu đồ
pressure-time Mũi tên màu đỏ “ineffective efforts” trên biểu đồ flow-time 12
Hình 1.2 Auto-triggering gây ra do thất thoát từ bộ dây máy thở Ghi nhận không có sự giảm áp lực đường thở trên biểu đồ pressure-time lúc bắt đầu pha hít vào, có nghĩa là không có trigger của bệnh nhân 13
Hình 1.3 Mũi tên màu đỏ cho thấy “double-triggering” trên biểu đồ pressure-time Mũi tên màu trắng chỉ “double-triggering” trên biểu đồ flow-time 14
Hình 1.4 Ví dụ về “premature cycling” Mũi tên màu trắng cho thấy gắng sức hít vào tiếp tục sau khi kết thúc giai đoạn hít vào trên biểu đồ pressure - time Mũi tên màu đỏ cho thấy sự thay đổi đột ngột lưu lượng thở ra gây ra do gắng sức hít vào của bệnh nhân 14
Hình 1.5 Ví dụ về “Delayed cycling” Trên biểu đồ pressure - time vòng tròn màu trắng cho thấy tăng áp lực đường thở ở gần cuối giai đoạn hít vào gây ra do co thắt cơ thở ra 15
Hình 1.6 Sơ đồ hoạt động của phương thức NAVA 25
Hình 1.7 Dạng sóng điện thế cơ hoành ở người khỏe và người bệnh 27
Hình 1.8 Sơ đồ hoạt động của máy thở khi dùng phương thức NAVA 29
Hình 2.1 Máy thở Servo-I của hãng Maquet 43
Hình 2.2 Ống thông thực quản Edi Catheter của hãng Maquet 43
Hình 2.3 Module và cáp nối của hãng Maquet 44
Hình 2.4 Xác định vị trí Edi catheter trên monitor 46
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Cai thở máy là toàn bộ quá trình giải phóng bệnh nhân khỏi máy thở và ống nội khí quản, quá trình này cần được thực hiện ngay sau khi tình trạng hô hấp của bệnh nhân đã ổn định Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay vẫn còn
có nhiều câu hỏi gây tranh cãi liên quan đến phương pháp tốt nhất để thực hiện quá trình này [5], [24]
Đồng bộ giữa máy thở và bệnh nhân là khái niệm phản ánh sự diễn ra cùng pha giữa nỗ lực thở của bệnh nhân với dòng khí cung cấp từ máy thở Đây là yếu tố rất quan trọng, giúp bệnh nhân được hỗ trợ tốt nhất và tránh được các biến chứng trong quá trình cai thở máy [40]
Thách thức trong việc phát triển những chiến lược cai thở máy là sự mất đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở, khi có sự đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở sẽ làm giảm thiểu nguy cơ tổn thương phổi, ngăn ngừa teo cơ hoành, tăng sự tương xứng giữa nhu cầu của bệnh nhân và hỗ trợ của máy thở [57]
Cai thở máy theo phương thức PSV được sử dụng rộng rãi nhất [50]
và được vận hành tốt với hầu hết các bệnh nhân cần cai thở máy trong giai đoạn ngắn ( 8-24 giờ), song nó có thể gây phiền phức đối với cai thở máy dài ngày hơn do phương pháp này không cho phép bệnh nhân được nghỉ ngơi và
có khả năng gây hại bởi việc làm giãn nở phổi quá mức và tiếp theo tổn thương phổi [117], tăng công hô hấp [107], [108] và tăng chỉ sô không đồng
bộ máy thở - bệnh nhân
Thở máy hỗ trợ điều chỉnh theo tín hiệu thần kinh-NAVA (Neurally Adjusted Ventilatory Assist), được tác giả Christer Synderby giới thiệu lần đầu tiên năm 1999 [111] là một phương thức thở máy hỗ trợ phát triển mới nhất hiện nay NAVA cung cấp một sự hỗ trợ tương xứng với nỗ lực thở của bệnh nhân và sử dụng hoạt động điện của cơ hoành (Edi) để kiểm soát nhịp thở hỗ trợ
Trang 14Cai thở máy theo phương thức NAVA được cung cấp áp lực hỗ trợ dương tương xứng với hoạt động điện của cơ hoành và kích hoạt cũng như kết thúc sự hỗ trợ một cách đồng bộ với nỗ lực hô hấp của bệnh nhân theo từng nhịp thở Mức độ hỗ trợ của máy thở đối với mỗi nhịp thở được xác định bằng giá trị tức thời của điện thế hoạt động cơ hoành và giá trị mức NAVA được cài đặt Mức NAVA có vai trò khuếch đại tín hiệu điện thế hoạt động cơ hoành và xác định sự hỗ trợ tức thời của máy thở với từng nhịp thở, khắc phục những hạn chế của phương thức PSV do đó cải thiện mối tương tác giữa bệnh nhân và máy thở được hài hòa hơn [57], [91], [111], [130]
Các nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng đã cho thấy NAVA có những ưu điểm vượt trội so với PSV như phát hiện và khắc phục được các yếu tố không đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở, giảm được các nỗ lực thở không hiệu quả của bệnh nhân, rút ngắn thời gian thở máy, hỗ trợ cai thở máy Ngoài ra, theo dõi điện thế hoạt động cơ hoành có thể sử dụng như một yếu tố tiên lượng trong cai thở máy [18], [120]
Ở Việt Nam, việc áp dụng cai thở máy theo phương thức NAVA chưa được triển khai rộng rãi, chúng tôi chưa thấy có công bố nào so sánh hiệu quả của NAVA và PSV trong cai thở máy, cũng như các yếu tố liên quan đến cai thở máy thất bại theo phương thức NAVA[3]
Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu hiệu quả cai thở máy
theo phương thức NAVA ở bệnh nhân suy hô hấp cấp”
Mục tiêu nghiên cứu:
1 So sánh hiệu quả hỗ trợ cai thở máy giữa phương thức NAVA và PSV ở bệnh nhân suy hô hấp cấp
2 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến kết quả cai thở máy thất bại
theo phương thức NAVA
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
đã được biết rõ, như nhiễm trùng và chấn thương đường thở, tổn thương phổi
do thở máy…, vì vậy cần tiến hành giải phóng bệnh nhân khỏi máy thở và rút ống nội khí quản cho bệnh nhân càng sớm càng tốt nếu tình trạng bệnh nhân cho phép [5], [75]
Tiêu chí cơ bản của cai thở máy là bỏ được máy thở cho bệnh nhân càng sớm càng tốt khi đã giải quyết được nguyên nhân khiến bệnh nhân phải thở máy Khoảng 75% số bệnh nhân thở máy có thể bỏ được máy thở khi giải quyết được nguyên nhân khiến bệnh nhân cần tới sự hỗ trợ thở máy Một số khác cần tiến hành cai thở máy trước khi có thể thôi thở máy Một phần nhỏ bệnh nhân không bao giờ đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn sinh lý để quyết định thôi thở máy và đây là nhóm đối tượng phụ thuộc lâu dài vào máy thở [73]
1.1.1.2 Các tiêu chuẩn chỉ dẫn bệnh nhân sẵn sàng để cai thở máy
Trước khi xem xét một bệnh nhân có các tiêu chuẩn để quyết định ngừng sự hỗ trợ của máy thở, cần đánh giá các vấn đề cơ bản sau:
- Đã xử lý được nguyên nhân khiến bệnh nhân phải thở máy
Cần xem xét chỉ định cai thở máy mỗi khi giảm được FiO2 hoặc PEEP Tuy nhiên, trước khi thử ngừng hỗ trợ thở máy cho người bệnh, bệnh nhân
Trang 16phải có khả năng duy trì được tình trạng trao đổi khí của bản thân với mức hỗ trợ hô hấp tối thiểu nhất Về phương diện oxy hoá máu, điều này có nghĩa là khi PaO2 ≥ 60mmHg với FiO2 ≤ 0.4 và PEEP ≤ 5cm H2O Nếu bệnh nhân cần
hỗ trợ oxy hoá máu ở mức cao hơn mức nói trên khi đang được thở máy, khả năng thành công khi thôi thở máy giảm đi rõ rệt Ngoài ra, bệnh nhân phải có khả năng tự thở, có thể kiểm soát được mức thông khí của chính bản thân họ tức là không có vấn đề gì về quá trình điều khiển hô hấp và không có tình trạng thở quá nhanh, tần số thở < 30 nhịp/ phút
- Chức năng của hệ thống các cơ quan
Để cai thở máy thành công, tất cả hệ thống tạng chính trong cơ thể phải có hoạt động chức năng thoả đáng Chức năng tim mạch phải được tối
ưu hoá Trước khi tiến hành cai thở máy, các rối loạn nhịp tim, quá tải về dịch và tình trạng co bóp cơ tim phải được điều chỉnh tốt Lý tưởng hơn, cần bảo đảm thân nhiệt bình thường trước khi bắt đầu cai thở máy Nồng độ các chất điện giải cũng cần được duy trì ở mức bình thường Các mất cân bằng
về kali, calci, magiê và phosphat máu sẽ dẫn đến tình trạng yếu cơ Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân cũng cần được chú ý do cả chế độ nuôi dưỡng thiếu hay thừa đều có thể làm tổn hại chức năng cơ hô hấp Các rối loạn chức năng gan, thận, hoặc đường tiêu hoá đều gây tác động bất lợi đến chức năng hô hấp[1]
- Yếu tố tinh thần
Mặc dù ít gặp, song có thể thấy bệnh nhân có tình trạng lệ thuộc tâm thần vào máy thở Vì vậy, quá trình cai thở máy nên được tiến hành theo cách
hỗ trợ bệnh nhân tách dần khỏi máy thở Đối với các bệnh nhân đáp ứng đầy
đủ các tiêu chuẩn sinh lý để tiến hành cai thở máy song lại cai thở máy thất bại và không phát hiện được bất kỳ lý do nào giải thích việc cai thở máy thất bại, cần xem xét khả năng bệnh nhân này có tình trạng lệ thuộc tâm thần vào máy thở trước khi quy kết là bệnh nhân phụ thuộc vào máy thở mạn tính
Trang 171.1.2 Các tiêu chuẩn để cai thở máy
Trước khi xem xét một bệnh nhân có các tiêu chuẩn để quyết định ngừng
sự hỗ trợ của máy thở, cần đánh giá các thông số sinh lý cơ bản sau [1], [52]:
- Có cải thiện về tình trạng suy hô hấp
- PaO2 ≥ 60mmHg với FiO2 ≤0,4 và PEEP≤5 cmH2O
- Bệnh nhân có khả năng tự thở
- Tình trạng huyết động ổn định
- Các chất điện giải máu trong giới hạn bình thường
- Thân nhiệt < 380C
- Tình trạng dinh dưỡng thỏa đáng
- Không có suy các hệ cơ quan chính của cơ thể
Các thông số trên cần phải được đánh giá hàng ngày
1.1.3 Các tiêu chuẩn đánh giá kết quả cai thở máy
1.1.3.1 Các yếu tố và các chỉ số dự đoán cai thở máy thành công
- Chỉ số thở nhanh nông (RSBI: rapid shallow breathing index, f/Vt) là tỷ
số giữa tần số tự thở và thể tích lưu thông tính bằng lít Khả năng cai máy thành công cao khi RSBI< 80, trung gian khi RSBI 80-100 và cai máy thất bại nếu RSBI>100 Đây là chỉ số được coi là nhạy và đặc hiệu nhất để dự kiến cai thở máy thành công hay thất bại
Nghiên cứu của Fadaii A cho thấy RSBI có độ nhạy cao với độ đặc hiệu thấp RSBI≤80 là đáng tin cậy hơn RSBI≤105 như một dự báo thành công cho cai thở máy [54]
Nghiên cứu của Meade thấy RSBI<100 hoặc 105 nhịp thở/phút/L (Độ nhạy, 65-96%; độ đặc hiệu, 0-73%) [86]
- P0,1 là sự thay đổi áp lực đường thở ở 0,1 giây sau khi bắt đầu hít vào chống lại đường thở bị bít Áp lực bít đường thở P0,1 được dùng để đánh giá
sự chỉ huy của trung tâm hô hấp của bệnh nhân Bình thường, P0,1≤2 cmH2O (-2 đến -6 cmH2O) Tuy là giá trị âm nhưng diễn đạt là giá trị dương Tăng P0,1 khi giá trị > 6cmH2O, nói lên tăng công thở và/hoặc tăng chỉ huy hô hấp của bệnh nhân (có thể do hỗ trợ của máy thở không đủ) Giảm P0,1 khi giá trị
Trang 180 – 1,9 cmH2O (tức là 0 đến 1,9) nói lên giảm công thở và/hoặc giảm chỉ huy
hô hấp của bệnh nhân (có thể do hỗ trợ của máy thở quá mức) Giá trị P0,1 >4 – 6 cmH2O chỉ dẫn cai máy thất bại [1], [8], [9]
- Áp lực hít vào tối đa (MIP: Maximum inspiratory pressure)
MIP dự đoán kém chính xác sự thành công của cai thở máy (≤ -20-25 cmH2O) Chỉ số này biểu thị chiều dài và lực cơ hô hấp trong thì thở vào gắng sức, không đòi hỏi sự hợp tác của bệnh nhân nhưng nó phụ thuộc vào kỹ thuật
đo đạc [98]
- Thông khí phút (MV: minute ventilation)
Liên quan giữa thông khí phút và PaCO2 rất chặt chẽ Nó là một yếu tố
để xem xét khi cai máy thở
Giá trị bình thường MV là 6-10 lít/phút, khi MV <10-15 lít/phút thì xem xét cai máy thở
Thông số thường được dùng nhất để dự đoán kết quả cai máy thành công [1], [8], [119]
Bảng 1.1 Các thông số thường được dùng trong lâm sàng để dự kiến cai
Sức hít vào âm (NIF)
Áp lực hít vào tối đa (MIP)
<0,3
60 – 100
1.1.3.2 Các nguyên nhân dẫn đến cai thở máy thất bại
Có nhiều lý do khiến quá trình cai thở máy cho bệnh nhân bị thất bại,
trong đó các nguyên nhân thường gặp [1]
Trang 19Cai máy đến kiệt sức
Auto-PEEP
Tăng công hô hấp quá mức
Tình trạng dinh dưỡng kém
Nuôi dưỡng quá mức
Suy tim trái
Giảm nồng độ magie và phosphat máu
Tình trạng sốt, nhiễm trùng
Suy các tạng chính
Hạn chế kỹ thuật và phương tiện
- Cai thở máy đến kiệt sức
Một trong những sai lầm lớn nhất thường gặp khi cai thở máy là để bệnh nhân cai thở máy đến kiệt sức Cần theo dõi sát tần số thở, thể tích khí lưu thông, tần số tim và huyết áp vì đây là những dấu hiệu báo hiệu bệnh nhân
có tình trạng gắng sức quá mức hay không Khi tiến hành cai thở máy kéo dài trong nhiều ngày phải chú ý đến bệnh nhân có được những khoảng thời gian được nghỉ ngơi [18], [48], [92], [112]
- PEEP nội sinh (Auto-PEEP)
Auto-PEEP là hiệu số giữa áp lực phế nang luôn cao hơn áp lực khí quyển ở cuối thì thở ra Có auto-PEEP có nghĩa là áp lực phế nang luôn cao hơn áp lực khí quyển Auto-PEEP giúp cho phổi bệnh nhân không trở về bình thường khi thì thở ra kết thúc mà vẫn còn dòng khí thở ra Auto-PEEP là vấn
đề thường gặp ở nhiều bệnh nhân bị bệnh phổi mạn tính trong quá trình cai thở máy dài ngày Auto-PEEP làm tăng gradient áp lực cần thiết để thở vào bất kể bệnh nhân thở máy hay tự thở Ở những bệnh nhân này, dùng CPAP rất quan trọng để làm cân bằng áp lực giữa phế nang và áp lực trong dây thở của máy thở Mức CPAP này thường chọn trong khoảng từ 5 – 10 cmH2O và được điều chỉnh tuỳ theo quan sát nỗ lực hít của bệnh nhân trên lâm sàng Khi
Trang 20mức PEEP cân bằng thoả đáng với auto-PEEP thì ta sẽ quan sát được trên lâm sàng cải thiện dấu hiệu chỉ dẫn tình trạng gắng sức của bệnh nhân, ví dụ như giảm có kéo cơ hô hấp, giảm tần số thở, giảm tần số tim Khi bệnh nhân kích hoạt máy thở tần số thở của bệnh nhân bằng với tần số máy thở [1], [9]
- Tình trạng thăng bằng dinh dưỡng và thăng bằng điện giải
Suy dinh dưỡng ảnh hưởng tới khả năng hô hấp và cai thở máy, thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi, thở máy kéo dài Suy dinh dưỡng làm tăng nguy
cơ nhiễm khuẩn, giảm khả năng bảo vệ chống đỡ với các tác nhân bên ngoài Suy dinh dưỡng làm teo cơ hoành, cơ hô hấp phụ, làm giảm khối lượng cơ, giảm khả năng co bóp và sức chịu đựng của cơ hô hấp, giảm đáp ứng thông khí đối với giảm oxy máu và tăng carbonic máu [45], [48], [79], [99], [126]
Tuy nhiên cung cấp quá nhiều glucide sẽ làm tăng tạo carbonic gây khó khăn cho quá trình cai thở máy do làm tăng công hô hấp, tăng thông khí phút [1], [6], [7], [22], [53]
Việc nuôi dưỡng thích hợp, đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân, đặc biệt
là albumin, transferrin làm tăng khả năng cai máy thở thành công [9], [17]
Năng lượng thích hợp là 2000 – 3000 kcal/24 giờ
Mất thăng bằng điện giải sẽ gây tình trạng yếu cơ, nhất là giảm nồng độ kali, magie, phosphat và calci máu sẽ làm giảm chức năng cơ hô hấp [1]
Trang 21- Suy tim trái
Một vấn đề được quan tâm đặc biệt đối với bệnh nhân bị bệnh tim phổi
là khi có tình trạng suy tim trái kém kiểm soát Ở các bệnh nhân này có thể nhanh chóng xuất hiện tình trạng phù phổi Ở một số bệnh nhân có tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim trong quá trình cai thở máy, cần phải xử lí các rối loạn chức năng tim mạch trước khi tiến hành cai thở máy để đảm bảo thành công [18]
- Yếu tố dược lý: Một số tác nhân dược lý ảnh hưởng tới quá trình cai thở máy
+ Thuốc giãn cơ, pancuronium, succcinylcholin, rocuronium
+ Thuốc gây mê toàn thể, quinidin, lithium, propranolol gây nhược cơ hô hấp + Corticosteroid làm thay đổi mô học, thành phần hoá sinh của cơ hoành và các bất thường hô hấp khác nếu như thời gian sử dụng trên 2-3 tuần + Các thuốc an thần làm suy chức năng trung tâm hô hấp nếu điều trị kéo dài và làm yếu cơ hô hấp [96]
1.1.4 Tương tác giữa bệnh nhân và máy thở
1.1.4.1 Kích hoạt nhịp thở Triger
Trigger là quá trình kích hoạt một nhịp thở hỗ trợ của máy thở Khi bệnh nhân có nỗ lực thở vào, máy thở sẽ có một bộ phận nhạy cảm nhận biết được những thay đổi bước đầu trong chức năng hô hấp của bệnh nhân, từ đó phát động nhịp thở hỗ trợ cho bệnh nhân
Các kiểu thở máy hỗ trợ trước đây sử dụng 3 dạng trigger: áp lực, dòng
Trang 22thiếu hụt vượt quá mức nhạy cảm đặt sẵn (sensitivity), nhịp thở vào sẽ được bắt đầu
+ Ưu điểm: Nhạy, rút ngắn thời gian đáp ứng nên hợp với sinh lý, giảm bớt được hoạt động gắng sức của bệnh nhân [14],[90]
+ Nhược điểm: có thể gây cản trở dòng thở ra của bệnh nhân
- Trigger thời gian
Thường được sử dụng trong CMV hoặc SIMV, khi bệnh nhân ngừng thở hoàn toàn, máy sẽ tự động bơm vào phổi bệnh nhân tại những thời điểm nhất định
Nhược điểm của trigger này là kéo dài thời gian thở máy và tăng nguy
cơ các biến chứng của thở máy
- Trigger điện thế hoạt động cơ hoành
Khi cơ hoành bị kích thích trong nỗ lực thở vào của bệnh nhân sẽ xuất hiện sự thay đổi điện thế hoạt động của cơ hoành Sự thay đổi của điện thế này ngay lập tức sẽ được máy phát hiện và cung cấp nhịp thở hỗ trợ với mức cài đặt trước Ưu điểm của trigger này là giúp máy thở phát hiện sự gắng sức của bệnh nhân sớm hơn, trước khi có sự thay đổi ở phổi về dòng hay áp lực,
do đó hợp với sinh lý hơn [12], [34], [130]
1.1.4.2 Đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở
- Khái niệm
+ Đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở
Mô tả sự diễn ra cùng pha giữa nỗ lực thở của bệnh nhân với sự hỗ trợ của máy thở Khi có sự đồng bộ bệnh nhân – máy thở, bệnh nhân sẽ cảm thấy
dễ chịu, không bị tăng công thở do các nỗ lực thở không hiệu quả, không bị rối loạn giấc ngủ, giảm nhu cầu dùng thuốc an thần, rút ngắn thời gian thở máy, do đó tránh được nhiều biến chứng của thở máy [120]
+ Không đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở
Là tình trạng mất sự đồng bộ giữa thời gian thở vào và thời điểm hỗ trợ của máy và việc hiệu chỉnh kém của máy thở so với nhu cầu của bệnh nhân
Trang 23Khoảng 25% bệnh nhân có sự không đồng bộ cao trong quá trình thở máy, tỷ
lệ không đồng bộ cao làm kéo dài thời gian thở máy [125]
+ Chỉ số không đồng bộ
Định nghĩa: Chỉ số không đồng bộ (Asynchrony Index, AI) là số sự kiện không đồng bộ chia cho tổng số tần số hô hấp (số lần không đồng bộ/số lượng tần số hô hấp toàn bộ (Số sự kiện không đồng bộ + Số chu kỳ được cung cấp hiệu quả bởi máy thở) x 100 [67]
Chỉ số không đồng bộ đã được sử dụng trong nghiên cứu để đánh giá tác động và các biến chứng liên quan đến mất đồng bộ bệnh nhân – máy thở Giá trị được biểu diễn dưới dạng phần trăm và giá trị lớn hơn hoặc bằng 10%
có liên quan đến biến chứng [32], [41], [125]
- Nguyên nhân
Không đồng bộ có thể do các yếu tố kỹ thuật hoặc yếu tố sinh lý bệnh
+ Các yếu tố kỹ thuật bao gồm: Hở dòng, trigger hoặc đóng dòng không
hợp lý, lỗi của hệ bộ phận nhận cảm về dòng, áp lực hoặc thể tích
+ Các yếu tố sinh lý bệnh bao gồm: Bộ máy hô hấp bị ức chế, nhược cơ,
tăng công hô hấp (giảm độ đàn hồi, tăng sức cản và PEEP nội sinh)
Các yếu tố sinh bệnh học và kỹ thuật có khuynh hướng phối hợp với nhau để gây nên sự không đồng bộ này [125]
hỗ trợ mà không có nỗ lực hít vào ban đầu có thể do trigger quá nhạy hoặc do
hở dòng
Không đồng bộ thở ra: Xuất hiện khi máy thở ngắt dòng thở vào quá sớm hoặc quá muộn khi mà tín hiệu thần kinh của nỗ lực hít vào đã kết thúc
Trang 24+ Theo kích hoạt nhịp thở
Nỗ lực không hiệu quả (Infective Effort)
Định nghĩa: Nỗ lực không hiệu quả là "những nỗ lực của bệnh nhân không được cảm nhận bởi máy thở" [28] Đặc điểm chính của nỗ lực không hiệu quả là làm giảm áp lực đường thở trong biểu đồ áp lực - thời gian, gây ra bởi nỗ lực hô hấp của bệnh nhân, làm giảm áp lực đường thở và sự thay đổi lưu lượng thở ra mà không cung cấp nhịp thở từ máy thở [124], [125]
Loại không đồng bộ này thường gặp nhất và xuất hiện thường xuyên hơn trong giai đoạn thở ra (cũng có thể xảy ra trong giai đoạn hít vào), ở tất cả các chế độ thở máy [80], [125]
Hình 1.1 Mũi tên màu trắng cho thấy “ineffective efforts” trên biểu đồ pressure-time Mũi tên màu đỏ “ineffective efforts” trên biểu đồ flow-time [38]
Kích hoạt tự động (Auto-Triggering)
Định nghĩa: Kích hoạt tự động là một loại không đồng bộ có thể gây ra bởi rò rỉ trong bộ dây thở máy, ngưng tụ nước trong bộ dây, cài đặt không đúng độ nhạy [28], [69], [124] Kích hoạt tự động được định nghĩa là "thở không được lên lịch cũng không phải do bệnh nhân khởi xướng" gây thở nhanh hoặc tăng thông khí [28]
Các biến chứng liên quan đến loại không đồng bộ này bao gồm căng phổi động và kiềm hô hấp Do đó, khi nghi ngờ kích hoạt tự động, điều quan
Trang 25trọng là đánh giá xem có nỗ lực hít vào trong biểu đồ sóng áp lực - thời gian không, kiểu thở, tình trạng chung, mức độ an thần, áp suất bóng chèn, vị trí ống nội khí quản, sự có mặt của ngưng tụ trong bộ dây máy thở, cài đặt độ nhạy trigger và loại máy thở được sử dụng [28], [31], [59], [69]
Hình 1.2 Auto-triggering gây ra do thất thoát từ bộ dây máy thở Ghi nhận không có sự giảm áp lực đường thở trên biểu đồ pressure-time (biểu đồ trên) lúc bắt đầu pha hít vào, có nghĩa là không có trigger của bệnh nhân [38]
Kích hoạt kép (Double Triggering)
Định nghĩa: Kích hoạt kép là một kiểu không đồng bộ có thể xảy ra trong các chế độ điều khiển bởi áp lực và thể tích [125]
Thille và các cộng sự thấy rằng các yếu tố liên quan đến tăng tần xuất kích hoạt kép là: tỷ lệ PaO2/FIO2 thấp, thông khí hỗ trợ/điều khiển, thời gian hít vào ngắn, áp lực hít vào tối đa cao và mức PEEP cao [125] Kích hoạt kép
có thể được định nghĩa là "hai chu kỳ được ngăn cách bởi thời gian thở ra rất ngắn, được định nghĩa là ít hơn một nửa thời gian hít vào trung bình, chu kỳ đầu tiên được kích hoạt bởi bệnh nhân" [30], [80], [125]
Loại không đồng bộ này có thể xảy ra khi thời gian hít vào của thần kinh dài hơn thời gian hít vào được đặt trên máy thở [49]
Trang 26Hình 1.3 Mũi tên màu đỏ cho thấy “double-triggering” trên biểu đồ pressure-time Mũi tên màu trắng chỉ “double-triggering” trên biểu đồ
flow-time [38]
Chu kỳ sớm (Premature Cycling)
Định nghĩa: Chu kỳ có thể được xem là "biến số” được đo và sử dụng để kết thúc thì hít vào và bắt đầu lưu lượng thở ra [101] Chu kỳ sớm cũng như kích hoạt kép là một dạng không đồng bộ xảy ra khi thời gian thở của thần kinh của bệnh nhân lớn hơn thời gian thở máy được cài đặt trong máy thở [60]
Sự khác biệt với kích hoạt kép, là trong chu kỳ sớm nỗ lực hô hấp của bệnh nhân không đủ để kích hoạt nhịp thở thứ hai Chu kỳ sớm đã làm giảm đáng kể áp suất đường thở, có thể nhìn thấy ngay sau khi kết thúc giai đoạn hít vào đã được cài đặt trên máy thở, cùng với sự gia tăng lưu lượng hít vào
có thể nhìn thấy trong biểu đồ lưu lượng – thời gian [132]
Hình 1.4 Ví dụ về “premature cycling” Mũi tên màu trắng cho thấy gắng sức hít vào tiếp tục sau khi kết thúc giai đoạn hít vào trên biểu đồ pressure - time Mũi tên màu đỏ cho thấy sự thay đổi đột ngột lưu lượng thở ra gây ra
do gắng sức hít vào của bệnh nhân [38]
Trang 27Chu kỳ muộn (Delayed Cycling)
Định nghĩa: Chu kỳ muộn xảy ra khi thời gian hít vào được cài đặt trong máy thở cơ học vượt quá thời gian hít vào của thần kinh bệnh nhân [28] Điều này có nghĩa là hệ thống tiếp tục trong giai đoạn hít vào, một khi nỗ lực hít vào của bệnh nhân đã kết thúc, làm giảm thời gian cho giai đoạn thở ra Điều này có thể tạo ra sự kích hoạt các cơ thở ra của bệnh nhân trước khi các tiêu chuẩn chu kỳ được thiết lập (thở ra tích cực), bẫy khí, căng phổi động và PEEP nội sinh, có thể làm tăng công thở và gây ra nỗ lực không hiệu quả [58], [94], [132]
Parthasarathy và cộng sự đã đề cập rằng "sự chậm trễ trong việc thư giãn các cơ hô hấp có thể khiến chúng duy trì hoạt động trong giai đoạn đầu của thì hít vào tiếp theo và bằng cách đi ngược lại sự chuyển động đi xuống của cơ hoành có thể cản trở hiệu quả của nỗ lực hít vào tiếp theo" [94].Thời gian hít vào cũng có thể giảm, bằng cách thay đổi các tiêu chuẩn chu kỳ trong thở máy hỗ trợ
áp lực [127] Do đó, bằng cách sửa đổi các tiêu chuẩn chu kỳ, kích hoạt không hiệu quả và thở ra chủ động do chu kỳ muộn có thể ngăn ngừa [66], [82]
Hình 1.5 Ví dụ về “Delayed cycling” Trên biểu đồ pressure - time vòng tròn màu trắng cho thấy tăng áp lực đường thở ở gần cuối giai đoạn hít vào gây ra do co thắt cơ thở ra Trên biểu đồ lưu lượng – thời gian, mũi tên màu trắng cho thấy lưu lượng hít vào giảm nhanh là do kết quả của hoạt
hóa thì thở ra [38]
1.2.4.3.Các biến chứng kết hợp với mất đồng bộ bệnh nhân - máy thở
Trang 28Xác định không đồng bộ bằng cách sử dụng phân tích dạng sóng, là một phương pháp không xâm lấn và đáng tin cậy, cho thấy có mối tương quan tốt với các phương pháp khác tương đương như xác định không đồng bộ bằng
đo áp suất thực quản [125]
Các biến chứng kết hợp với mất đồng bộ bệnh nhân - máy thở:
- Auto PEEP (còn gọi là PEEP nội sinh = PEEPi)
- Kết quả cai thở máy kém
- Tăng liều an thần
- Rối loạn giấc ngủ
- Thời gian nằm ICU và thở máy kéo dài
1.1.5 Các quy trình cai thở máy
Một hướng tiếp cận thành công để tiến hành cai thở máy là sử dụng các quy trình được các kỹ thuật viên và thầy thuốc chuyên khoa chăm sóc hô hấp thực hiện Các quy trình này giúp rút ngắn thời gian cai thở máy và rút ngắn thời gian thở máy so với khi các bác sỹ điều trị trực tiếp tiến hành cai thở máy cho bệnh nhân Lý do chính giải thích tại sao áp dụng các phác đồ này lại tỷ lệ thành công cao là vì chúng được các nhóm chuyên viên thuộc nhiều chuyên khoa đề xuất và được các thầy thuốc chăm sóc hô hấp thực hiện, với điểm nhấn mạnh là các thầy thuốc chăm sóc hô hấp được toàn quyền đưa ra các quyết định lâm sàng Cũng cần phải nhắc lại là tại Hoa Kỳ, các quy trình thở máy rất thường được các thấy thuốc chăm sóc hô hấp thực hiện
Mặc dù có rất nhiều quy trình cai thở máy được đề xuất, song phương pháp đã và đang được sử dụng thường xuyên nhất là phương pháp cai thở máy bằng cách thử cho bệnh nhân tự thở Các bệnh nhân đang được thở máy
Trang 29sẽ được sàng lọc thường xuyên xem đã đủ tiêu chuẩn cai thở máy theo các tiêu chuẩn chuyên biệt Những bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ được đánh giá qua một thử nghiệm cho thở tự nhiên trong một thời gian ngắn bằng cách sử dụng chỉ số thở nhanh-nông (rapid shallow breathing index, RSBI) Nếu RBSI≤105, tiếp tục tiến hành thử nghiệm cho bệnh nhân thở tự nhiên
Bảng 1.2 Các tiêu chuẩn xác định thử nghiệm cho bệnh nhân tự thở thất bại
Tần số thở > 35 lần /phút
SpO2 <90%
Nhịp tim >140lần/phút hoặc nhịp tim tăng 20%
Huyết áp tâm thu >180mmHg ,huyết áp tâm trương >90mmHg
Bệnh nhân kích thích vật vã
Vã mồ hôi
Các bệnh nhân thực hiện thành công thử nghiệm cho tự thở trong khoảng thời gian từ 30 đến 120 phút sẽ được xem xét rút ống nội khí quản Nhiều thầy thuốc tiến hành thử nghiệm cho bệnh nhân thở tự nhiên trong khi bệnh nhân vẫn được nối với máy thở Điều này cho phép sử dụng các thông số sẵn
có trên màn hình theo dõi bệnh nhân và để nhanh chóng cho bệnh nhân được
hỗ trợ thở máy trở lại nếu cần Đối với các bệnh nhân thực hiện thành công thử nghiệm cho tự thở, tiến hành rút ống nội khí quản trừ khi bệnh nhân có lý
do cần trì hoãn việc rút ống nội khí quản
1.1.6 Các phương thức cai thở máy
Nói chung, các phương thức cai thở máy có thể được chia thành 4 nhóm chính
- Các thử nghiệm cho bệnh nhân tự thở (Spontaneous Breathing Trials, STB)
- Thở máy hỗ trợ áp lực (Pressure Support Ventilation, PSV)
- Thở máy bắt buộc ngắt quảng đồng thì (Synchrony Intermitent
Mandatory Ventilation, SIMV)
- Các phương thức cai thở máy mới
Trang 30Bất kể sử dụng phương pháp cai máy nào, một nguyên tắc chung được
đưa ra là “không được để bệnh nhân cai máy đến mức kiệt sức” Mức gắng
sức mà bệnh nhân phải chịu trong khi tiến hành thử nghiệm cai thở máy không được nặng nề đến mức gây tình trạng mệt cơ hô hấp hay gây tổn hại khả năng thông khí của bệnh nhân trong thử nghiệm cai thở máy tiếp sau Ngoài ra, ở các bệnh nhân cần cai thở máy trong nhiều ngày (≥1 ngày), cần phải nhớ điều chỉnh hỗ trợ hô hấp vào buổi đêm để đảm bảo cơ hô hấp được nghỉ ngơi và bệnh nhân có thể ngủ được Các biện pháp cai thở máy luân phiên thích hợp giữa các giai đoạn làm việc và giai đoạn nghỉ ngơi đồng thời đảm bảo cho bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng và giấc ngủ thỏa đáng
1.1.6.1 Các thử nghiệm thở tự nhiên (Spontaneous Breathing Trials)
Phương pháp cổ điển để cai thở máy là thử nghiệm cho bệnh nhân tự thở (qua ống chữ T hoặc CPAP) Có hai cách để tiến hành thử nghiệm tự thở
Trong trường hợp thứ nhất, thử nhiệm tự thở được đánh giá bệnh nhân
đã sẵn sàng để rút ống nội khí quản Các bệnh nhân có thể dung nạp với thở
tự nhiên trong khoảng thời gian 30-120 phút sẽ được xem xét khả năng ngừng
hỗ trợ thông khí bằng máy thở và xem xét rút ống nội khí quản
Trong trường hợp thứ hai, thực hiện quá trình cai thở máy bằng cách tăng dần thời gian tự thở không có sự hỗ trợ của máy thở xen kẽ với các giai đoạn được máy thở hỗ trợ hoàn toàn Khoảng thời gian của thử nghiệm tăng dần nếu khả năng dung nạp của bệnh nhân được cải thiện, cho phép có các giai đoạn nghỉ giữa các lần thử bỏ máy thở và ban đêm Đối với những bệnh nhân được mở khí quản, có thể phải kéo dài thử nghiệm tự thở tới hơn 24 giờ mới đảm bảo bệnh nhân có thể được bỏ thở máy hoàn toàn
Bảng 1.3 Đánh giá sự sẵn sàng để thử nghiệm thở tự nhiên
PaO2/FiO2≥ 200mmHg
FEEP≤ 5cm H2O
Phản xạ đường thở không bị tổn thương
Không cần truyền liên tục thuốc vận mạch hoặc thuốc làm tăng co bóp cơ tim
Trang 31Phương pháp tiến hành thử nghiệm cho thở tự nhiên có nhiều thay đổi Các thử nghiệm kinh điển được tiến hành với ống chữ T (T-piece) Tuy nhiên, các máy thở thế hệ mới khi cài đặt phương thức CPAP chỉ tạo ra một công thở rất nhỏ cho bệnh nhân và nhiều thầy thuốc sử dụng máy thở để tiến hành thử nghiệm cho bệnh nhân thở tự nhiên Thực hiện các thử nghiệm thở tự nhiên cho bệnh nhân thông qua máy thở có ưu điểm là duy trì một FiO2 chính xác, đồng thời cho phép sử dụng chức năng theo dõi của máy thở để theo dõi các thông số của bệnh nhân Ngoài ra, có thể áp dụng một mức CPAP thấp hay mức hỗ trợ áp lực thấp trong khi tiến hành thử nghiệm thở tự nhiên Nhược điểm chính của phương pháp dùng máy thở để tiến hành thử nghiệm cho thở
tự nhiên là có thể gây một công thở (work-of breathing) cho bệnh nhân hay có thể cần cung cấp cho bệnh nhân một mức hỗ trợ áp lực thấp
Hầu hết bệnh nhân đạt được kết quả tốt tương đương nhau khi tiến hành thử nghiệm tự thở trên ống chữ T hay thử nghiệm CPAP qua máy thở với mức CPAP bằng 0 Do có tình trạng auto-PEEP, nhiều bệnh nhân COPD có thể có được tác dụng có lợi khi áp dụng mức CPAP 5cmH2O trong thử nghiệm thở tự nhiên Các bệnh nhân với sức cản đường thở cao, đặt ống nội khí quản nhỏ, được đặt nội khí quản qua đường mũi có thể mang lại tác dụng
có lợi khi áp dụng áp lực hỗ trợ thấp (5-10cmH2O) Nhiều trường hợp bệnh khác cũng có thể có lợi khi áp dụng thử nghiệm khi thở tự nhiên với mức CPAP thấp và hỗ trợ áp lực mức thấp Trong tất cả các thử nghiệm thở tự nhiên, cần duy trì FiO2 ở mức đang áp dụng cho bệnh nhân đang thở máy
1.1.6.2 Cai thở máy theo phương thức hỗ trợ áp lực
- Nguyên lý: Trong phương thức này tất cả bệnh nhân sẽ được máy hỗ trợ bằng áp lực dương đồng bộ với nỗ lực hít vào của bệnh nhân
- Áp dụng
Nhiều thầy thuốc sử dụng biện pháp giảm dần mức hỗ trợ áp lực để cai thở máy, miễn là bệnh nhân vẫn duy trì được tần số thở và thể tích lưu thông theo mục tiêu mong muốn
Trang 32Quy trình này được bắt đầu bằng cách cài đặt thông khí hỗ trợ áp lực ở mức đảm bảo được thể tích khí lưu thông và tần số thở phù hợp với mức được
dự kiến khi quyết định ngừng hỗ trợ thông khí bằng máy thở Mức hỗ trợ áp lực phù hợp nhất là mức hỗ trợ giúp cơ thể không cần sử dụng đến cơ hô hấp phụ để đảm bảo quá trình thông khí Sau đó tiến hành giảm áp lực hỗ trợ trong từng khoảng thời gian đều đặn, tới mức áp lực hỗ trợ tối thiểu 5 – 8 cmH2O là mức hỗ trợ tối thiểu giúp điều hòa tăng gánh tải công thở do máy thở hay do ống nội khí quản gây ra, miễn là mục tiêu thông khí dự kiến vẫn được duy trì Khi bệnh nhân có khả năng duy trì được quá trình trao đổi khí ở mức thông khí đích với mức hỗ trợ tối thiểu này, có thể thôi thở máy cho bệnh nhân
Cai thở máy theo phương thức PSV được sử dụng rộng rãi nhất [50] và
có khả năng gây hại bởi việc làm giãn nở phổi quá mức và tiếp theo tổn thương phổi [117], tăng công hô hấp [107], [ 108] và tăng chỉ số không đồng
bộ thì máy thở - bệnh nhân
Mặc dù phương pháp cai thở máy được vận hành tốt với hầu hết các bệnh nhân cần cai thở máy trong giai đoạn ngắn ( 8-24 giờ), song nó có thể gây phiền phức đối với cai thở máy dài ngày hơn Trước hết, phương pháp này không cho phép bệnh nhân được nghỉ ngơi Nếu mức hỗ trợ được duy trì
ở mức tối thiểu cần thiết, áp lực này có thể không phù hợp với thời gian cai máy kéo dài Thêm vào đó, do thiếu khả năng điều biến tiêu chuẩn cắt dòng thở vào và chuyển sang thì thở ra được sử dụng để cắt thì thở vào trong PSV ở một số loại máy thở, cần dùng mức hỗ trợ áp lực ở mức cao ≥ 15 cmH2O có thể làm tăng hoạt động của cơ thở ra
Brochard và cộng sự so sánh 3 phương thức cai thở máy gồm phương thức thở máy hỗ trợ áp lực, phương thức thở máy bắt buộc đồng thì ngắt quảng và ống chữ T ở 109 bệnh nhân thấy rằng phương thức thở máy hỗ trợ
áp lực có tỷ lệ thất bại thấp nhất 23%, so với phương thức SIMV là 42%, ống chữ T là 43% [29]
Trang 33Gnanapandithan và cộng sự thấy rằng khi cai thở máy bằng phương thức thở máy hỗ trợ áp lực, giảm dần áp lực hỗ trợ mà không được kết hợp với thử nghiệm thở tự nhiên ban đầu kết quả tốt hơn và cai thở máy thành công cao hơn, thời gian điều trị ở đơn vị chăm sóc đặc biệt ngắn hơn và xu hướng thời gian rút ống nội khí quản nhanh hơn so với cai thở máy bằng nghiệm pháp thở tự nhiên kết hợp với thở máy hỗ trợ áp lực [62]
1.1.6.3 Cai thở máy theo phương thức thở máy bắt buộc ngắt quãng đồng thì
Trong phương thức thở máy bắt buộc đồng thì ngắt quãng có hai kiểu nhịp thở khác biệt được áp dụng: Nhịp thở điều khiển được cài đặt trên máy
và nhịp thở của bệnh nhân
Tiến hành kỹ thuật bằng cách giảm dần nhịp thở điều khiển, khi nhịp thở điều khiển còn 4 – 6 nhịp/phút mà tình trạng bệnh nhân vẫn ổn định, duy trì oxy hóa máu tốt thì có thể ngừng thở máy Phương thức này hiện nay ít dùng vì thời gian cai thở máy kéo dài [53]
+ Kéo dài thời gian thở máy
1.1.6.4 Các phương thức cai thở máy mới
Nhiều nhà sản xuất đã giới thiệu các phương thức thở máy mới với tuyên bố từ nhà sản xuất là giúp làm tăng tỷ lệ thành công khi cai máy thở Hỗ trợ thể tích (volume support), AutoMode, bù trừ tự động ống thở (automatic tube compensation) … và mới nhất hiện nay là phương thức thở máy hỗ trợ hiệu chỉnh theo tín hiệu thần kinh (NAVA) đã được giới thiệu cho mục đích này
Mặc dù những chế độ thở mới này có thể mang lại một số ích lợi, song chưa có đủ dữ liệu để ủng hộ việc áp dụng các chế độ thở mới này giúp cai máy nhanh hơn so với các chế độ cai máy thở trước đó
Trang 34- Cai thở máy theo phương thức bù dòng tự động
Trong phương thức bù dòng tự động ATC (Automatic Tube Compensation), máy thở kiểm soát trong việc bù vào áp lực cho ống nội khí quản bị giảm trong nhịp thở tự nhiên của bệnh nhân Phương thức này không hiệu quả hơn thử nghiệm thở ống chữ T hoặc phương thức hỗ trợ áp lực trong cai thở máy Phương thức bù dòng tự động có thể hiệu quả trong trường hợp ống nội khí quản nhỏ Trong trường hợp cai thở máy khó, chưa có nhiều nghiên cứu chứng minh được hiệu quả của phương thức này
- Cai thở máy theo phương thức thở máy hỗ trợ một phần
Trong phương thức thở máy hỗ trợ một phần PAV (Proportional Assist Ventilation), áp lực cung cấp cho hệ hô hấp được tạo thành bởi áp lực gây ra bởi cơ hô hấp và của máy thở Máy thở đưa áp lực dương vào hệ hô hấp trong thì hít vào tương thích với dòng do bệnh nhân tạo ra (hỗ trợ dòng, đơn vị cmH2O/L/s) và thể tích (hỗ trợ thể tích, đơn vị cmH2O/L) Do vậy, công hô hấp tăng thêm do nỗ lực hô hấp tỉ lệ thuận với sự hỗ trợ của máy thở: bệnh nhân cần nhiều sẽ được hỗ trợ nhiều Tuy nhiên, việc điều chỉnh PAV hợp lý đòi hỏi phải hiểu biết về các tính chất cơ học của hệ hô hấp
- Cai thở máy theo phương thức thở máy hỗ trợ thích ứng [1]
Nguyên lý: Thở máy hỗ trợ thích ứng (ASV: adaptive support ventilation) dựa trên khái niệm “công thở vào tối thiểu”, khái niệm này sẽ gợi
ý bệnh nhân sẽ thở với một thể tích lưu thông và tần số hô hấp giúp giảm đến mức nhỏ nhất tải trọng đối với độ đàn hồi và trở kháng trên đường thở trong khi vẫn duy trì được tình trạng oxy hoá máu và tình trạng cân bằng kiềm toan
Khi được nối với bệnh nhân, máy thở sẽ cung cấp một loạt các nhịp thở test để tiến hành đo: Đo độ giãn nở phổi, sức cản đường thở và Auto-PEEP, nhập cân nặng của bệnh nhân cho phép phần mềm tính toán lựa chọn được thông khí phút cần thiết, lựa chọn tần số thở, thời gian thở vào, tỷ lệ I:E và giới hạn áp lực cho nhịp thở kiểm soát và nhịp thở tự nhiên, các thông số này
sẽ được máy thở thay đổi dựa trên sự đo đạc các thông số cơ học phổi nhằm đạt được đích mong muốn
Trang 35Nếu bệnh nhân tự thở, máy thở sẽ thực hiện các nhịp thở hỗ trợ áp lực
và khuyến khích các nhịp thở tự nhiên Tuy nhiên các nhịp thở tự nhiên và nhịp thở kiểm soát có thể được kết hợp nhằm đảm bảo thông khí phút
Nếu bệnh nhân không kích hoạt thì thở vào, máy thở sẽ quyết định tần
số thở, thể tích khí lưu thông
Kết quả áp dụng trong cai máy
Chen và cộng sự so sánh ASV với SIMV, kết quả cho thấy ASV sẵn sàng rút ống nội khí quản cao hơn so với SIMV (20% so với 4%) ASV có thời gian cai thở máy nhanh hơn so với SIMV (1 ngày so với 3 ngày) [33]
Kirakli và cộng sự so sánh ASV với PSV để cai thở máy cho bệnh nhân COPD, cho thấy bệnh nhân thở máy với ASV có thời gian cai thở máy ngắn hơn (24 giờ với 73 giờ) và tỷ lệ cai thở máy thành công (71% với 68%) [74]
- Cai thở máy theo phương thức Smartcare/PS
Phương thức này theo đuổi hai mục đích: Thứ nhất là hiệu chỉnh áp lực để đảm bảo sự thoải mái cho bệnh nhân, có nghĩa là nhịp thở từ 15-30 (có thể đến
34 nếu bệnh nhân có tổn thương thần kinh), thể tích lưu thông trên ngưỡng tối thiểu 250ml nếu bệnh nhân dưới 55kg và 300ml cho nhóm bệnh nhân còn lại,
CO2 khí thở ra dưới 55 mmHg (65mmHg nếu bệnh nhân COPD) Thứ hai là
hệ thống có các thuật toán giảm PS theo bậc thang nhằm thực hiện SBT một cách tự động [28]
- Cai thở máy theo phương thức NAVA
Trong hai thập kỷ gần đây, các nhà sản xuất máy thở đã đưa ra nhiều phương thức thở máy mới Sự hiểu biết về mặt sinh lý và cơ chế bệnh sinh đã đưa ra các phương thức cai thở máy mới Sự khác nhau chính giữa các phương thức là cách cung cấp áp lực hỗ trợ và mục tiêu chính của các phương thức cai thở máy là cải thiện tương tác giữa bệnh nhân và máy thở [92]
Cai thở máy theo phương thức NAVA là phương thức hỗ trợ một phần theo hoạt động điện của cơ hoành (Edi) Sự hỗ trợ của máy bắt đầu khi xuất hiện
Trang 36tín hiệu thần kinh đến cơ hoành và ngắt hỗ trợ khi trung tâm hô hấp kết thúc tín hiệu Edi, giúp tối đa sự tương tác giữa bệnh nhân và máy thở [18]
1.2 Phương thức thở máy NAVA
1.2.1 Cơ sở sinh lý học
Năm 1999, thở máy theo phương thức NAVA được Synderby giới thiệu lần đầu tiên, được xem như một phương thức thở máy mới với nguyên tắc trigger máy thở khác hoàn toàn với các cách thức thông thường, máy thở được trigger bởi điện thế cơ hoành và mức áp lực hỗ trợ cũng được điều chỉnh bởi mức điện thế cơ hoành Việc sử dụng nhận cảm điện thế cơ hoành để khởi động thì thở vào của máy sẽ khắc phục được nhược điểm chậm thì thở vào của nhận cảm áp lực và nhận cảm dòng [114]
Cách thức hoạt động của thở máy theo phương thức NAVA được trình bày trong hình 1.6 Trung tâm hô hấp ở hệ thần kinh trung ương phát tín hiệu thần kinh điều khiển nhịp hô hấp; tín hiệu theo dây thần kinh hoành đi xuống, kích thích cơ hoành, khởi động thì thở vào của bệnh nhân Cơ hoành co sẽ tạo
áp lực âm trong lồng ngực, làm lồng ngực và phổi giãn ra và xuất hiện dòng khí từ ngoài vào phổi Với các phương thức thông khí nhân tạo thông thường
sử dụng nhận cảm áp lực hoặc nhận cảm dòng để trigger máy, máy sẽ bắt đầu thì thở vào ở bước cuối cùng của chuỗi hoạt động kể trên Lý tưởng nhất, nghĩa là máy thở hoạt động đúng lúc bệnh nhân cần có nhịp thở vào, sẽ là nhận cảm được tín hiệu từ trung tâm hô hấp, tuy nhiên hiện nay chưa có công nghệ nào đáp ứng yêu cầu này Phương thức NAVA (công nghệ mới), dựa trên sự nhận cảm điện thế cơ hoành, xuất hiện khi cơ hoành được kích thích,
để trigger máy thở [18], [39], [92], [114]
Như vậy, máy thở sẽ bắt đầu thì thở vào hầu như cùng lúc với sự co cơ hoành, tức là lúc bắt đầu thì thở vào của bệnh nhân, bảo đảm hoạt động của máy hoàn toàn đồng thì với nhịp thở vào của bệnh nhân
Trang 37Hình 1.6 Sơ đồ hoạt động của phương thức NAVA
Theo: Sinderby C., Beck J.C (2013) Neurally adjusted ventilatory assist In: Principle and pratice of mechanicl ventilation (Editor: Tobin M.J.), McGraw-Hill, third edition [18]
Phần bên phải của hình 1.6 minh họa kỹ thuật thu nhận điện thế cơ hoành Một ống thông dạ dày có các điện cực nhỏ trên thân ống, được đưa qua mũi vào dạ dày bệnh nhân Khi đầu ống nằm trong dạ dày, các điện cực nằm trong thực quản sẽ ở vị trí ngang mức với cơ hoành (vòng tròn xanh), các điện cực đó sẽ thu nhận tín hiệu điện thế cơ hoành và đưa về máy thở Bộ vi xử lý trong máy thở nhận các tín hiệu, xử lý và điều khiển máy thở hoạt động [18], [92]
Đáp ứng sinh lý với tăng mức NAVA: Thở máy theo phương thức NAVA làm giảm gánh nặng cho cơ hoành mà không làm giảm Edi cả trong khi thở thông thường hoặc thở tối đa [113] Khi tăng mức NAVA, Edi sẽ giảm mà áp lực trong đường thở sẽ tăng chậm, điều này đảm bảo áp lực xuyên phổi được giữ hằng định
Trên các bệnh nhân suy hô hấp, đáp ứng sinh lý điển hình đối với quá trình tăng mức NAVA (từ 0) sẽ diễn ra theo 3 giai đoạn [18]
Trang 38- Giai đoạn 1: Ở mức NAVA thấp nhất, Edi là cao nhất, điều đó cho thấy một nỗ lực lớn của bệnh nhân mà không có thông khí Khi tăng dần mức NAVA, áp lực máy thở tăng dần, đến một mức NAVA đạt được áp lực xuyên phổi và thể tích khí lưu thông theo nhu cầu của bệnh nhân Giai đoạn này chỉ
ra rằng thở máy theo phương thức NAVA bổ trợ cho các cơ hô hấp để khôi phục lại hệ thống thông khí đầy đủ
- Giai đoạn 2: Tiếp tục tăng mức NAVA, áp lực xuyên phổi không tăng thêm, Edi giảm xuống Giai đoạn này chỉ ra một “khoảng thoải mái” của bệnh nhân, mức độ hỗ trợ đủ để giảm gánh nặng cho các cơ hô hấp Ở giai đoạn này,
sự thay đổi áp lực đường thở, tần số thở và thể tích khí lưu thông là tối thiểu
- Giai đoạn 3: Nếu tiếp tục tăng mức NAVA, Edi sẽ giảm hơn nữa cho đến khi đạt giá trị “cao nguyên đạt giá trị tối thiểu” Ở mức NAVA cao nhất, Edi vẫn không bị triệt tiêu Ngay cả khi cơ hoành được nghỉ ngơi tối đa, Edi vẫn hiện diện và có thể kiểm soát thông khí mà không làm giảm phản xạ hô hấp
Việc giảm hoạt động của điện thế cơ hoành và tránh sự hỗ trợ quá mức trong quá trình thở máy theo phương thức NAVA đã được chứng minh bằng thực nghiệm trong việc ngăn ngừa tổn thương phổi do thở máy [27]
1.2.2 Nguyên lý hoạt động của thở máy theo phương thức NAVA
Hoạt động điện của cơ hoành được đo bởi một dãy các đôi điện cực nằm trên ống thông Các điện cực sẽ đo được điện thế cơ hoành khi có hoạt động của cơ hoành Điện thế cơ hoành được tính bằng µV, dao động từ vài
µV khi ngừng thở đến trên 100 µV khi gắng sức tối đa Các nghiên cứu về điện thế cơ hoành thực hiện trên máy thở Servo thấy điện thế đỉnh ở người lớn thông thường trong khoảng 8-18 µV tùy theo điều kiện đo Điện thế cơ hoành tăng khi có suy giảm tình trạng hô hấp, giảm hỗ trợ của máy thở, giảm an thần, tăng yêu cầu thông khí như khi gắng sức, và tăng khoảng chết [18], [115] Ngược lại, điện thế cơ hoành giảm khi tình trạng hô hấp cải thiện, tăng
an thần, tăng mức hỗ trợ của máy thở, và giảm PaCO2 [18]
Trang 39Trường hợp không đo được điện thế cơ hoành (điện thế bằng 0), nếu loại trừ lý do kỹ thuật (do trục trặc của điện cực), nguyên nhân có thể là không có hoạt động cơ hoành do bệnh lý thần kinh trung ương (trung tâm hô hấp bị tổn thương, do thuốc ức chế hô hấp), tổn thương cơ hoành (ví dụ: thoát
vị hoành nặng), hay bệnh lý thần kinh (ví dụ: viêm tủy, viêm đa rễ và dây thần kinh, ), bệnh lý cơ (ví dụ: nhược cơ), dùng thuốc giãn cơ [18], [119]
Hình 1.7 Dạng sóng điện thế cơ hoành ở người khỏe và người bệnh
3 người có thể tích lưu thông xấp xỉ nhau (500 ml), nhưng bệnh nhân COPD
và bệnh nhân sau bại liệt cần có điện thế
cơ hoành cao hơn
Vt: thể tích lưu thông Edi: điện thế cơ hoành Healthy: người khỏe COPD: bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Post-polio infection: sau bại liệt Theo: Sinderby C., Beck J C (2013)
Neurally adjusted ventilatory assist In:
Principle and pratice of mechanical
McGraw-Hill, third edition, 351375 [18]
Hoạt động điện của cơ hoành ngoài tác dụng trong việc trigger máy thở, còn có vai trò trong việc điều chỉnh áp lực hỗ trợ của máy thở và trong nghiên cứu các chức năng hô hấp trong quá trình thở máy
1.2.2.1 Kích hoạt thở vào (Triggering)
Nhịp thở của máy được kích hoạt bởi sự tăng tín hiệu Edi, đó là sự biến thiên chứ không phải một giá trị tuyệt đối Bình thường tín hiệu Edi sẽ xuất hiện trước các tín hiệu áp lực và dòng để kích hoạt nhịp thở máy Tuy nhiên
Trang 40có một số trường hợp tín hiệu Edi bị bỏ qua, có tín hiệu giả, hoặc có nhóm cơ
hô hấp khác co tạo ra dòng trùng với thời điểm bắt đầu có tín hiệu Edi, trong trường hợp này máy thở sẽ được kích hoạt bởi một trong hai sự thay đổi của Edi hoặc dòng, trên cơ sở tín hiệu nào đến trước sẽ kích hoạt trước (first-come, first-served) Điều này là để tránh tình trạng ngừng trệ thở vào trong quá trình kích hoạt nhịp thở Nếu sự kích hoạt bằng dòng xảy ra trước tín hiệu Edi, máy thở sẽ hỗ trợ một áp lực 2 cmH2O đến khi Edi xuất hiện
1.2.2.2 Áp lực hỗ trợ
Trong thông khí hỗ trợ áp lực, áp lực hỗ trợ được đặt bởi bác sĩ và máy thở cung cấp áp lực hỗ trợ hằng định qua các nhịp thở, khi đó thể tích lưu thông có thể không phù hợp với bệnh nhân và có thể làm nặng thêm tình trạng căng phổi, gây nguy cơ tổn thương phổi do thở máy [123] Trong phương thức thở NAVA, mức áp lực hỗ trợ được điều chỉnh theo điện thế cơ hoành, nghĩa là mức áp lực hỗ trợ sẽ tỷ lệ với yêu cầu của trung tâm hô hấp của bệnh nhân, do đó máy thở có thể hoạt động theo nhu cầu của bệnh nhân [123]
Áp lực đường thở của phương thức NAVA được tính theo phương trình sau: Paw = NAVA level × EAdi
Paw = NAVA level × (Edipeak –Edi min)
Trong đó Paw là áp lực đường thở khi thở vào (cmH2O), EAdi là tín hiệu hoạt động điện của cơ hoành tức thời (µV), NAVA level (mức NAVA)
là hằng số do bác sĩ đặt trong phạm vi cho phép từ 0-15 cmH2O/µV và được điều chỉnh từng bước mỗi 0.1 cmH2O/µV Đáp ứng của máy thở đối với sự thay đổi của mức NAVA phụ thuộc vào giá trị tuyệt đối của Edi và khác nhau giữa các bệnh nhân Nếu giá trị Edi lớn, chỉ cần một sự điều chỉnh nhỏ mức NAVA để tạo ra một thay đổi lớn của áp lực hỗ trợ Ví dụ: tăng mức NAVA thêm 1 cmH2O/µV khi Edi đỉnh là 10 µV sẽ làm tăng áp lực hỗ trợ thêm 10 cmH2O, trong khi đó nếu Edi đỉnh là 1 µV sẽ chỉ làm tăng áp lực hỗ trợ thêm
1 cmH2O [18], [123] Khi bệnh nhân được hỗ trợ bằng máy thở, điện thế cơ hoành sẽ thay đổi, do đó Bác sĩ cần chọn mức hỗ trợ (NAVA level) phù hợp cho bệnh nhân Máy thở sẽ đo điện thế cơ hoành, cập nhật điện thế tức thời để