SKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPTSKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2019 -2020
Trang 2MỤC LỤC
Phần I: Đặt vấn đề 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2: Tính mới của đề tài 3
1.3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài 3
1.3.1 Đối tượng, phạm vi 3
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 3
1.3.3 Cấu trúc đề tài 3
Phần II: NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ KẾT THÚC BÀI HỌC NHẰM CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 4
1.1 Cơ sở lí luận 4
1.1.1: Mục đích của hoạt động KTBH: 4
1.1.2: Cấu trúc hoạt động kết thúc bài học 5
1.1.3 Ý nhĩa của hoạt động kết thúc bài học đối với dạy học theo hướng phát triển năng lực HS 6
1.2: Cơ sở thực tiễn 7
Chương 2: SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ KẾT THÚC BÀI HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 11
2.1 Tổ chức hoạt động KTBH nhằm kiểm tra đánh giá mức độ hiểu bài và năng lực thực hành của học sinh 11
2.1.1: Hoạt động KTBH bằng việc thảo luận câu hỏi nêu vấn đề được giáo viên đưa ra ở đầu tiết học 11
2.1.2 Tổ chức hoạt động KTBH bằng sơ đồ tư duy, hệ thống sơ đồ hóa kiến thức, điền sơ đồ trống 13
2.2 Sử dụng hoạt động kết thúc bài học để nhấn mạnh các thông tin quan trọng 20
2.2.1: Tổ chức hoạt động KTBH bằng các trò chơi: 20
2.2.2: KTBH bằng tranh biếm họa nhằm khắc sâu nhận thức của học sinh về sự kiện lịch sử: 29
2.3 Sử dụng hoạt động kết thúc bài học bằng tranh luận, giúp người học có cái nhìn đúng hơn về những quan điểm trái chiều 32
2.3.1: Tranh luận: 32
2.3.2: Một số hình thức tranh luận : 33
2.3.3: Một số ví dụ minh họa về tranh luận: 34
Trang 3Chương 3: THỰC NGHIỆM 40
Trang 43.1.1 Mục đích thực nghiệm 40
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 40
3.2 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 40
3.2.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 40
3.2.2 Chọn nội dung thực nghiệm 40
3.2.3 Tiến hành thực nghiệm 40
3.2.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 41
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
1 Kết luận chung 44
2 Khuyến nghị 45
Tài liệu tham khảo 46
Phụ Lục 1
Trang 5Phần I: Đặt vấn đề 1.1 Lí do chọn đề tài
Một trong những yêu cầu của tiết học thành công là phải có hoạt độngKTBH, muốn có một hoạt động KTBH ấn tượng, có dấu ấn thì giáo viên phải cónhững hoạt động đổi mới tích cực cuối giờ học nhằm hướng tới học sinh Hoạtđộng kết thúc bài học có rất nhiều lợi ích trong đó nếu hướng tới người học thì họcsinh là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất Kết thúc bài học không chỉ hoànthành nội dung sau một giờ học nhằm củng cố, hệ thống kiến thức bài học dướidạng một trò chơi, một hoạt động trải nghiệm nào đó nhằm khắc sâu kiến thức chohọc sinh mà còn có thể liên hệ, vận dụng và mở rộng kiến thức giúp học sinh có cáinhìn đa chiều và sâu sắc hơn về một sự kiện hay một nhân vật lịch sử
Phương pháp dạy học truyền thống lâu nay vẫn tổ chức hoạt động kết thúcbài học đều dựa vào vai trò của giáo viên, phần vì giáo viên là người hướng dẫnnội dung bài học ngay từ đầu giờ cho đến cuối giờ và đa phần học sinh được giáoviên giao nhiệm vụ hoặc hướng dẫn các hoạt động học tập trong quá trình truyềntải nội dung bài học, nên giáo viên là người kết thúc bài học bằng một hoạt độngcủng cố, và hướng dẫn học sinh liên hệ vận dụng, mở rộng và ở dạy học truyềnthống giáo viên chỉ hệ thống lại kiến thức mà học sinh đã được học ở phần nộidung bài học, hơn nữa vào thời điểm kết thúc bài học thời gian cũng không cònnhiều nên có khi phần kết thúc bài học giáo viên làm thật nhanh hoặc làm qua đểhoàn thành các bước lên lớp, cho nên việc đánh giá được mức độ nhận thức cũngnhư năng lực của học sinh sau giờ học còn nhiều hạn chế Vì vậy hoạt động kếtthúc bài học cần được giáo viên quan tâm hơn và chú trọng hơn đến những hoạtđộng của học sinh
Thay vì kết thúc bài học chỉ dựa vào hoạt động của giáo viên thì giáo viênnên hướng tới những hoạt động của học sinh, bằng những phương pháp dạy họctích cực để phát huy năng lực của học sinh, khơi gợi những năng lực trong mỗi conngười vốn có, dựa vào đó để kiểm tra mức độ nhận thức của học sinh Vì thế tôimuốn dùng một số biện pháp mới trong dạy học để kết thúc bài học là phát huynăng lực và kiểm tra đánh giá năng lực của người học Sau giờ học học sinh đã cơbản nắm được kiến thức nhưng muốn qua phần kết thúc tạo điều kiện để học sinhnói lên suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng của mình, đặc biệt là mở ra những hướngtiếp cận nội dung bài học khác nhau cũng như có cái nhìn khách quan về những sựkiện, nhân vật lịch sử, tránh cái nhìn một chiều và thụ động
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiếnthức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớmáy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từhọc chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học
Trang 6Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghịquyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương phápdạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổimới phương pháp dạy học theo hướng này.
Để đạt được mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới, chương trìnhgiáo dục đã đề ra những năng lực cốt lõi trong giáo dục cần hướng đến cho ngườihọc là: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyếtvấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tựnhiên và xã hội, năng lực công nghệ tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất
kể cả năng lực tư duy phản biện là cơ sở để phát triển năng lực giải quyết vấn đề
và sáng tạo của người học
Và hoạt động KTBH cũng có thể tổ chức để hướng người học đạt được nhữngnăng lực trên, là cơ sở, biện pháp để phát triển toàn diện về các kỹ năng cho conngười, chuẩn bị cho con người những hành trang tốt nhất phục vụ trong cuộc sốngtương lai: Học để biết, học để thực hành, “học đi đôi với hành” để cùng chungsống, giải quyết những vấn đề khó khăn, giúp đỡ cho người khác và học để khẳngđịnh mình
Trên thực tế dạy học hiện nay vẫn theo phương pháp truyền thống, mặc dùtrong quá trình dạy học giáo viên đã ít nhiều có thực hành đổi mới phương phápgiảng dạy, nhưng để thực hành nhuần nhuyễn và tập trung hướng tới phát triểnnăng lực còn nhiều hạn chế, nên học sinh sẽ chịu nhiều thiệt thòi và trong thời đạitoàn cầu hóa như ngày nay thì học đi đôi với hành là một điều rất cần thiết, đặc biệt
là trong môn lịch sử Dạy học truyền thống chỉ mới đáp ứng được việc ghi nhớkiến thức trong sách giáo khoa hoặc học sinh chỉ ghi nhớ sự kiện một cách máymóc nên hiệu quả không cao, học sinh khó có thể thể hiện được quan điểm, suynghĩ hay nhận định của mình qua những nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử
Vì thế việc áp dụng các phương pháp dạy học mới vào trong bài học là điềunên được thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy học, không chỉ áp dụng cácphương pháp dạy học mới vào quá trình khởi động, hay hình thành kiến thức mới
mà có thể áp dụng vào trong hoạt động KTBH, một trong những hoạt động cuốibài mà giáo viên cũng như học sinh ít quan tâm
Việc thực hiện hoạt động dạy học tích cực ở phần KTBH cũng không kémphần quan trọng trong một giờ học, mà thậm chí ở phần hoạt động này khi bài học
đã kết thúc, mọi vấn đề đã được thông qua trong bài học thì học sinh có thể nhìnđược một cách khái quát nhất của vấn đề, hay có những cái nhìn, đánh giá kháchquan hơn qua nhiều kênh thông tin đã được tiếp cận, để giúp học sinh có cái nhìn
đa chiều và toàn diện hơn
Thông qua việc tiếp cận bài học lịch sử, hiểu biết về quá khứ mà học sinh rút
ra được những quy luật phát triển của lịch sử loài người, để từ đó rèn cho học sinhnhững kĩ năng phân tích, phán đoán hướng giải quyết vấn đề
Vì những lí do trên cho nên, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp kết thúc bài học theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT” Tôi mạnh dạn đưa ra những kinh nghiệm tôi đã đúc rút
được trong quá trình dạy học ở trường THPT nơi tôi đang công tác để thực hiện đềtài, với mong muốn góp thêm một số ý tưởng và biện pháp mới trong tổ chức dạyhọc để phát huy những năng lực tích cực cho học sinh trong phần KTBH Thông
Trang 7qua đề tài, tôi mong muốn nhận được sự góp ý của đồng nghiệp có thêm những đềxuất, những biện pháp hữu hiệu và thiết thực hơn trong việc thực hiện đề tài.
1.2: Tính mới của đề tài.
Đề tài “Một số biện pháp kết thúc bài học theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT” không chỉ được sử dụng trong môn
Lịch sử mà được sử dụng và tiến hành ở nhiều môn học như Toán, Lý, Hóa, Văn, Địa,Giáo dục công dân Nhưng sử dụng một số biện pháp mới để kết thúc bài học ở mônLịch sử là một đề tài còn mới, nên tôi mạnh dạn sử dụng một số biện pháp tích cực đểkết thúc bài học trong môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông trong đó nhằmhướng tới hoạt động của học sinh, thông qua các hoạt động để phát triển năng lực, tưduy sáng tạo, tìm tòi và mở rộng kiến thức của người học
Vì vậy, đề tài “Một số biện pháp kết thúc bài học theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT” có tính mới Những kinh
nghiệm đúc rút trong thực tiễn dạy học có thể áp dụng rộng rãi đối với các trườngtrung học phổ thông
1.3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài
1.3.1 Đối tượng, phạm vi
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài được tiến hành thực nghiệm và khảo sát trên cácđối tượng là học sinh các khối 10,11,12 tại trường tôi đang công tác Để nhữngbiện pháp trong đề tài có thể ứng dụng phổ biến cho các trường THPT, tác giả chủyếu tiến hành thực nghiệm và khảo sát ở các lớp học ban cơ bản
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiến hành các biện pháp dạy học theo hướng pháthuy năng lực cho học sinh trong chương trình lịch sử lớp 10, 11, 12 ban cơ bản
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tôi tiến hành tiếp cận các nguồn tài liệu
về đổi mới phương pháp dạy học tích cực, tài liệu về phương pháp dạy học nhằmphát triển năng lực, ngoài ra tôi còn dựa trên các công văn về chủ trương đường lốicủa Đảng và nhà nước về đổi mới giáo dục dạy học ở trường THPT
- Tôi còn tiến hành phương pháp thực nghiệm, khảo sát, điều tra giáo viên vàhọc sinh về các biện pháp dạy học mới
1.3.3 Cấu trúc đề tài
Đề tài được cấu trúc gồm 4 phần với các nội dung cụ thể như sau:
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần II: NỘI DUNG
Phần III: KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
Phần IV: PHỤ LỤC
Trang 8Phần II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ KẾT THÚC BÀI HỌC NHẰM CHÚ TRỌNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH.
1.1 Cơ sở lí luận.
Hoạt động kết thúc bài học gồm hoạt động luyện tập, củng cố và liên hệ vậndụng, mở rộng để tìm tòi kiến thức mới Ở hoạt động này thay vì giáo viên làngười vừa tổ chức và vừa thực hiện thì mục đích của giáo viên là hướng nhữnghoạt động đến người học
- Thực tiễn trong quá trình dạy học, hoạt động KTBH thường chỉ giáo viên làngười vừa tổ chức vừa thực hiện nhằm củng cố, hệ thống kiến thức mà học sinhvừa mới được trải nghiệm sau một giờ học, sau đó hướng dẫn học sinh liên hệ, vậndụng bằng một sự kiện nào đó liên quan đến bài học, nên những hoạt động nàythường diễn ra nhàm chán, mang tính lặp lại ở bài này sang bài khác, vì thế họcsinh khi vừa trải nghiệm xong một bài học thì cũng xem như bài học đó đã kết thúc
và học sinh sẽ không phải tiến hành thêm một hoạt động nào nữa Nhưng nếu giáoviên tổ chức hoạt động KTBH bằng những biện pháp tích cực như trong phần hìnhthành kiến thức mới thì đòi hỏi người học phải ghi nhớ, xâu chuỗi và thậm chí làphải tìm hiểu thêm các sự kiện, các nguồn thông tin khác ngoài sách giáo khoa để
so sánh, phân tích, nhận định đúng hơn và có cái nhìn khách quan, chính xác hơn
về sự kiện nhân vật lịch sử
- Thực tế thì ở tất cả các loại bài học đều có thể tổ chức cho học sinh thựchiện hoạt động dạy học tích cực trong phần KTBH, nên không khó để áp dụngnhững biện pháp này trong chương trình dạy học mới, đặc biệt trong xu thế củathời đại mới việc hướng người học đến những hoạt động thực tiễn, học để hànhđộng, học để hướng tới những phẩm chất, năng lực, tư duy sáng tạo là cơ hội đểcho học sinh thực hành sau mỗi giờ học
Để tự mình chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên chú trọng rèn luyện cho HSnhững phương pháp tự học, để học sinh biết cách tự tìm lại những kiến thức,những nguồn tư liệu mới qua đó học sinh có thể thực hành các thao tác tư duy nhưphân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen để dầnhình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh
Trang 9Ngoài ra trong hoạt động KTBH giáo viên cũng có thể giao những nhiệm vụcho học sinh nhằm tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theophương châm “tạo điều kiện cho HS nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luậnnhiều hơn” Điều đó có nghĩa, mỗi HS vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừahợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thứcmới Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng
sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết cácnhiệm vụ học tập chung
Từ những hoạt động tích cực để chiếm lĩnh kiến thức, học sinh có thể tựmình thực hành những kiến thức đó dưới những hình thức khác nhau mang tínhsáng tạo Học sinh có thể tự khai thác, xử lý thông tin, đưa ra những quan điểmnhận định riêng của mình, bảo vệ ý kiến lập luận đó bằng năng lực phản biện,hướng tới việc chủ động xử lý tình huống trong bài học mà thực tiễn đặt ra cũngnhư tình huống trong cuộc sống
Khi học sinh đã thực hành được các năng lực trên thì việc có thể rút ra bàihọc, đánh giá nhận xét nội dung mình chiếm lĩnh được cũng như những quan điểmtrái chiều của những học sinh khác, thậm chí còn có thể tìm được nguyên nhân vànêu cách sửa chữa các sai sót của nhau Từ đó có thể hoàn thiện nội dung, bài họcmột cách đầy đủ và chính xác hơn
1.1.2: Cấu trúc hoạt động kết thúc bài học
Hoạt động KTBH bao gồm hoạt động luyện tập, củng cố và hoạt động mở rộngkiến thức dưới những hình thức tổ chức dạy học theo phương pháp mới nhằmhướng tới những năng lực cho học sinh
sẽ được hưởng lợi nhiều hơn cả khi tự mình làm được những điều đó
* Hoạt động vận dụng, mở rộng và liên hệ:
- Ở hoạt động này giáo viên tiến hành giao bài tập, nhiệm vụ cho học sinh vậndụng được những kiến thức, kĩ năng để giải quyết những tình huống/vấn đề mớitrong học tập hoặc trong cuộc sống
- Bổ sung (tìm tòi, mở rộng): Học sinh không bao giờ dừng lại với những gì đã học
mà cần phải tiếp tục bổ sung thêm những kiến thức mới trên cơ sở những gì đã
Trang 10học, giáo viên tiếp tục khuyến khích tìm tòi và mở rộng kiến thức ngoài lớp học,học sinh tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từ thựctiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết bằng nhữngcách khác nhau.
Ở hoạt động này thường khó hơn vì đòi hỏi người học có thể đánh giá, nhận xétcác sự kiện, hiện tượng nhân vật lịch sử, thậm chí học sinh phải nói lên được suynghĩ, quan điểm của mình về nội dung mình đã được học, vì thế để học sinh có thểthực hành ở hoạt động này, giáo viên tích cực giao nhiệm vụ cho học sinh, để họcsinh mạnh dạn thực hành, học sinh muốn đánh giá, nhận xét được một cách kháchquan và mang tính chính xác hơn buộc phải tìm kiếm những nguồn thông tin khác,những tư liệu khác ngoài sách giáo khoa, từ đó hình thành thói quen tìm kiếm và
mở rộng kiến thưc của mình…
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động kết thúc bài học đối với dạy học theo hướng phát triển năng lực HS
Tổ chức các biện pháp tích cực trong phần KTBH không chỉ có ý nghĩa vớihọc sinh mà có ý nghĩa với cả giáo viên
* Đối với giáo viên: Khi tổ chức hoạt động KTBH bằng những biện pháp tích cực.
+ Giáo viên biết được mức độ nắm bắt bài học của học sinh, giáo viên cũng nhậnthấy ở học sinh có những quan điểm trái chiều từ một sự kiện hay nhân vật lịch sử.+ Giáo viên đánh giá được các năng lực thực hành của học sinh qua các hoạt độngtích cực, để từ đó giáo viên có thể bổ sung, điều chỉnh phương pháp dạy học chocho phù hợp, những hoạt động nào phù hợp với nội dung gì
+ Giáo viên có thể gợi mở những vấn đề mới, những ý tưởng mới cho học sinh tiếpcận và có tư dy tư duy đa chiều về bản chất các sự kiện, nhân vật lịch sử
* Đối với học sinh: Khi tổ chức hoạt động KTBH bằng những biện pháp tích cực.
+ Giúp học sinh khái quát lại kiến thức một cách logic, có hệ thống, và học sinh dễghi nhớ các sự kiện dưới những hình thức khác nhau
+ Giúp học sinh có cơ hội tìm kiếm các nguồn thông tin mới, buộc học sinh phải tưduy vận động để so sánh, đối chiếu
+ Tạo hứng thú học tập, gợi mở những ý tưởng mới, tạo cơ hội để học sinh ápdụng ý tưởng vào các tình huống mới
+ Học sinh có thể phát biểu ý kiến cá nhân về nội dung bài học và có thể áp dụngvào thực tiễn từ bài học lịch sử
+ Học sinh có thể thực hành sản phẩm bài học dưới những hình thức khác nhau,qua đó hình thành năng lực, phẩm chất của người học
Như vậy các biện pháp tích cực sử dụng ở phần KTBH là tạo điều kiện chohọc sinh được thực hành, được tư duy, được trình bày quan điểm của mình từ
Trang 11những sự kiện, hiện tượng nhân vật lịch sử, để hướng tới giải quyết những tìnhhuống cụ thể, giáo viên có cơ hội để đa dạng hóa các hình thức dạy học mới đểtruyền tải kiến thức.
1.2: Cơ sở thực tiễn.
Việc đổi mới phương pháp dạy học tích cực ở các trường THPT đã và đangthực hiện nhằm phát huy năng lực người dạy, cũng như năng lực người học Nhiềuphương pháp dạy học tích cực được giáo viên áp dụng vào trong quá trình giảngdạy, nhưng áp dụng những phương pháp dạy học tích cực để kết thúc bài học thìcòn nhiều hạn chế, vì thế tính hiệu quả của giờ học chưa cao, đặc biệt với mônLịch sử học sinh vẫn xem như là môn học thuộc nên không cần có nhiều hoạtđộng, nên việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong bài học đôikhi còn miễn cưỡng Với giáo viên đa phần các giờ học vẫn sử dụng phương phápdạy học truyền thống là phổ biến, hoặc có áp dụng phương pháp dạy học mớinhưng chú trọng đến phần khởi động và hình thành kiến thức, còn phần kết thúcbài học thì ít khi chú ý tới
Trong quá trình dạy học ở trường THPT, tôi đã tiến hành điều tra thực trạngdạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh thông qua phần kết thúc bàihọc trong môn lịch sử ở trường THPT như sau:
- Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng dạy học theo hướng phát triển năng lực qua phương phápdạy học tích cực để kết thúc bài học trong môn lịch sử ở trường THPT
- Đối tượng điều tra:
+ Học sinh lớp 10A1, 11A1, 12A8 tại trường THPT nơi tôi đang công tác.Nội dung điều tra: Điều tra theo mức độ hình thành các năng lực của học sinhsau khi sử dụng một số biện pháp tích cực để kết thúc bài học trong dạy học mônlịch sử ở trường THPT
khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
1 Giáo viên sử dụng phương
Trang 12lực cho học sinh: Trong
đó:
a Giáo viên tổ chức cho học
sinh trao đổi, thảo luận,
tranh biện về quan điểm cá
nhân trong phần kết thúc
bài học, được nói lên suy
nghĩ, sự sáng tạo của
mình
b Học sinh được đặt câu hỏi
với giáo viên ở phần kết
thúc bài học về những vấn
đề còn hoài nghi và được
giáo viên giải thích
c Học sinh được tạo điều
kiện để phát huy năng lực
Kết quả điều tra lớp 10A1, 11A1, 12A8 tại trường tôi đang công tác
1 Giáo viên sử dụng phương
Trang 13lực cho học sinh: Trong
đó:
a Giáo viên tổ chức cho học
sinh trao đổi, thảo luận,
tranh biện về quan điểm cá
nhân trong phần kết thúc
bài học, được nói lên suy
nghĩ của mình
b Học sinh được đặt câu hỏi
với giáo viên ở phần kết
thúc bài học về những vấn
đề còn hoài nghi và được
giáo viên giải thích
c Học sinh được tạo điều
kiện để phát huy năng lực
Từ bảng điều tra khảo sát cho chúng ta thấy
+ Ở tiêu chí Giáo viên sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là chủ yếu ta thấy học sinh phản ánh 90% giáo viên vẫn tiến hành giờ học bằng phương
pháp dạy học truyền thống, trong khi đó chỉ có 10% thỉnh thoảng sử dụng phươngpháp dạy học nhằm phát triển năng lực của học sinh, và rõ ràng đó là một sự thiệtthòi của học sinh, trong khi đã tiến hành phương pháp dạy học tích cực từ lâu
+ Ở tiêu chí Giáo viên sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong phần khởi động và hình thành kiến thức là chủ yếu ta thấy khi tiến hành bài học đa phần
giáo viên chú ý đến việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào phần khởiđộng và hình thành kiến thức, ở hai phần này được giáo viên quan tâm hơn cảtrước hết là khi mới vào giờ học phần khởi động nhằm thu hút sự chú ý của họcsinh vào bài học nên giáo viên sẽ có những hoạt động tích cực để học sinh tư duyvấn đề, còn phần hình thành kiến thức giáo viên cũng chú ý hơn trong việc áp dụngcác biện pháp tích cực trước hết là phần trọng tâm bài học, nên giáo viên sẽ ápdụng nhiều biện pháp tích cực trong dạy học hơn trong phần này nên ở mục này có
Trang 14tới 80% giáo viên thường xuyên sử dụng biện pháp này còn khoảng 20% thỉnhthoảng sử dụng, điều đó chứng tỏ giáo viên đa phần quan tâm đến phần khởi động
nó vừa lưu lại dấu ấn, vừa kích thích tính tò mò tìm hiểu, khám phá các kiến thứcmới, nếu tổ chức được các hoạt động tích cực như thế cho học sinh ở phần KTBHthì sẽ rất thuận lợi cho giáo viên trong các giờ học sau
Vì thế học sinh không được nói lên suy nghĩ, quan điểm của mình sau giờhọc, không được giải đáp những vấn đề còn hoài nghi và không được phát vấnnhững vấn đề còn chưa thỏa đáng Những nội dung được trao đổi trong giờ học saukhi đã hoàn thành đôi khi không được xâu chuỗi lại làm cho học sinh hoài nghi vềnhững điều mình biết vì thế việc áp dụng vào thực tiễn sẽ có nhiều hạn chế và rấtkhó khăn cho học sinh Nên việc tạo ra những dấu ấn cần thiết sau giờ học là điềuquan trọng, vừa giải đáp những thắc mắc mà học sinh chưa được giải đáp thỏađáng, vừa được tổ chức vui chơi thực tế, điều này sẽ biến giờ học thành một giờthực hành vui vẻ, hạnh phúc, học sinh không cần phải ghi nhớ nhiều mà được ápdụng ngay vào thực tiễn để giải quyết ngay nội dung bài học, sẽ khiến học sinh nhớlâu hơn mà hiệu quả sẽ cao hơn Trên thực tế chúng ta thấy học sinh cần phải họcquá nhiều môn và yêu cầu các môn học dường như đều như nhau nhưng với yêucầu đó và phương pháp dạy học truyền thống sẽ biến mỗi giờ học trở nên mệt mỏiđối với học sinh, gây ra sự uể oải mà hiệu quả không cao Vì vậy KTBH bằng một
số biện pháp tích cực sẽ gây sự hứng thú cho học sinh và đem lại hiệu quả sau mỗibài học
Trang 15Chương 2: SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ KẾT THÚC
BÀI HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT.
2.1 Tổ chức hoạt động KTBH nhằm kiểm tra đánh giá mức độ hiểu bài và năng lực thực hành của học sinh.
Bằng các biện pháp tích cực trong tổ chức dạy học ở phần KTBH giáo viên sẽkiểm tra được mức độ nắm bắt bài học cũng như các khả năng thực hành của họcsinh, từ đó để có những biện pháp thích hợp để điều chỉnh, bổ sung cho học sinh
+ Mục tiêu:
- Hệ thống, khái quát và luyện tập thực hành kiến thức học sinh đã được trải nghiệm
sau mỗi giờ học
- Thực hành một số năng lực chung và năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử để trảinghiệm các kiến thức mới
- Khuyến khích học sinh mở rộng, vận dụng, tìm tòi những kiến thức mới, đánh giá vàthực hành trong thực tiễn
+ Phương thức: Dưới những hình thức hoạt động dạy học khác nhau, giáo viên tổ
chức hoạt động KTBH bằng các trò chơi, vẽ sơ đồ tư duy, bảng sơ đồ hóa kiến thức,bảng biểu, thuyết trình, tranh luận sự kiện nhân vật lịch sử
2.1.1: Hoạt động KTBH bằng việc thảo luận câu hỏi nêu vấn đề được giáo viên đưa ra ở đầu tiết học.
Trước khi giảng dạy bài mới, giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề, cụ thểhoá bằng câu hỏi nêu vấn đề viết trực tiếp lên bảng và lưu ý học sinh theo dõi bàihọc để tìm ra câu trả lời Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề ở đầu tiết học cũng chính làcâu hỏi để giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận ở phần KTBH
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần làm nổi bật trọng tâm vấn đề thôngqua hệ thống câu hỏi có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến câu hỏi nêu vấn đề
đã đặt ra từ đầu Sau khi học sinh đã hoàn thành nội dung bài học, giáo viên sẽ tổchức hoạt động KTBH để giải quyết vấn đề ban đầu nêu ra, học sinh trả lời, giáoviên tiếp tục bổ sung, sửa chữa và nâng cao kiến thức cho học sinh
Ví dụ sau khi dạy nội dung “Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945” ở bài 16phong trào giải phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám 1939
- 1945 (Tiết 4) (Lịch sử 12 - cơ bản), giáo viên có thể nêu vấn đề: Tại sao Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi một cách tương đối nhanh chóng và ít đổ máu? (Có thể yêu cầu học sinh viết câu hỏi vào vở học) với nội dung câu hỏi này
thì sau khi hoàn thành cả bài học giáo viên vừa có thể tổ chức cho học sinh kháiquát lại toàn bộ nội dung bài học ở phần luyện tập cũng cố, từ đó mới trả lời đượcvấn đề đặt ra
Bằng biện pháp tích cực trong hoạt động KTBH giáo viên tổ chức cho họcsinh khái quát nội dung bài học dưới hình thức nhanh nhất, dễ ghi nhớ nhất mà tạo
ra được hứng thú học tập, vừa mang tính củng cố bài học vừa đưa ra được nhữnglập luận để giải quyết vấn đề đã nêu
Trang 16+ Hoạt động 1: Giáo viên tổ chức cho học sinh một trò chơi nhằm củng cố hệthống lại kiến thức của bài 16 với tên gọi “ Đi tìm câu trả lời cho các từ khóa”
- Giáo viên dán sẵn các từ khóa lên bảng và phát cho các nhóm học sinh nội dungđáp án
- Nhiệm vụ của học sinh là lựa chọn đáp án đúng để lên dán vào từ khóa
+ Hoạt động 2: Giáo viên tổ chức HS thảo luận vấn đề theo từng nhóm nhỏ đượcđặt ra từ đầu bài
“Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi một cách tương đối nhanh chóng và
ít đổ máu”.
Hs trao đổi thảo luận, kết hợp với kiến thức đã học và tìm kiếm những thông tin cóliên quan để giải quyết vấn đề và các nhóm cử đại diện lên thuyết trình quan điểmcủa nhóm mình, đưa ra những bằng chứng, lập luận để chứng minh khẳng địnhtrên là đúng
- Giáo viên nhận xét, đánh giá về lập luận của học sinh và kết luận vấn đề
- Gợi ý sản phẩm: “ Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi một cách tương
đối nhanh chóng và ít đổ máu” bởi dựa trên những cơ sở sau:
* Có điều kiện khách quan thuận lợi:
+ Từ tháng 8/1945 quân đồng minh (Liên Xô, Mĩ) dồn dập tấn công tiêu diệt phátxít Nhật, quân Nhật thất bại hầu khắp trên các chiến trường, cùng với đó là việc Mĩném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố ở Nhật gây thương vong nặng nề.+ Ngày 15/8 Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện, làm cho chính quyền Nhật vàtay sai ở Đông Dương hoang mang, tê liệt mở ra thời cơ “ngàn năm có một chocách mạng Việt Nam”
* Chuẩn bị kịp thời cho cách mạng hành động:
+ Về sự chuẩn bị: Đảng đã chuẩn bị suốt 15 năm về các lực lượng cho cuộc tổngkhởi nghĩa, thông qua hai cuộc tổng diễn tập 1930 - 1931, 1936 - 1939 Đặc biệtkhi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chủtrương cách mạng, tích cực chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
+ Qui mô cuộc khởi nghĩa rộng lớn nhưng hầu như diễn biến khởi nghĩa giànhchính quyền ở các địa phương không có tiếng súng, ít đổ máu, nhân dân giànhchính quyền một cách mau lẹ
+ Lực lượng chủ yếu tham gia khởi nghĩa: Là sự nổi dậy của quần chúng nhândân, đây là lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng, kết hợp với lực lượng vũtrang nhưng lực lượng vũ trang chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ, ít phải sử dụng hànhđộng quân sự Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu nhận xét rằng: Cuộc Tổng khởi nghĩa -cách mạng diễn ra một cách tương đối hòa bình
+ Hình thức chủ yếu của khởi nghĩa là biểu tình, tuần hành thị uy có vũ trang bằngcác loại vũ khí tự tạo, tự mua sắm, bằng đấu tranh chính trị
-> Vì vậy trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám nổ ra và thắng lợinhanh chóng, ít đổ máu nhờ sự chuẩn bị chu đáo và sẵn sàng của lực lượng cáchmạng do Đảng và Việt Minh lãnh đạo, là nhân tố chủ quan quyết định và cũng đập
tan luận điệu xuyên tạc“cách mạng tháng Tám là sự ăn may”
Trang 17Như vậy qua hoạt động KTBH học sinh không chỉ được khái quát nội dungmình đã được học một cách logic mà xâu chuỗi được vấn đề liên kết của bài học,điều này đòi hỏi học sinh phải vừa ghi nhớ sự kiện cũ, vận dụng sự kiện mới vàdựa vào năng lực tổng hợp, khái quát để giải quyết vấn đề.
2.1.2 Tổ chức hoạt động KTBH bằng sơ đồ tư duy, hệ thống sơ đồ hóa kiến thức, điền sơ đồ trống
* Kết thúc bài học bằng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép một cách logic mở rộng một ý tưởng, tómtắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề bằng cách kết hợpviệc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết…Sơ đồ tư duy có nhiều hìnhthức khác nhau, nhưng đều là dạng sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tưduy của mỗi người cũng có thể khác nhau, nhưng đều nhằm một mục đích là giúpngười học dễ nhận biết, dễ hiểu và dễ thực hành
Mục đích sử dụng sơ đồ tư duy:
+ Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh
+ Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não
+ Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic
Sơ đồ tư duy giúp học sinh nắm vấn đề một cách tổng thể, phát triển nhậnthức, tư duy sáng tạo
Ví dụ minh họa 1: Bài 29 - Cách mạng tư sản Anh (Lịch sử lớp 10, ban cơ bản)
Sau khi hoàn thành nội dung bài 29 - “Cách mạng tư sản Anh” giáo viên tổ
chức cho học sinh hoạt động KTBH bằng việc vẽ sơ đồ tư duy với mục đích tómtắt khái quát nội dung bài học, thông qua đó giáo viên đánh giá mức độ hiểu bài,khả năng thực hành và nắm kiến thức của học sinh, sau đó cho HS thảo luận một
số vấn đề sau cách mạng nhằm khuyến khích khả năng tư duy, đánh giá vấn đề,cũng như việc khuyến khích học sinh liên hệ với thực tiễn nước Anh ngày nay
* Hoạt động 1: Luyện tập, thực hành
- Phương pháp: Hoạt động nhóm Giáo viên chia lớp thành hai nhóm
- Hình thức: Vẽ sơ đồ tư duy:
Vẽ sơ đồ tư duy về “cách mạng tư sản Anh” bằng những hình thức khác nhau
nhằm thể hiện được đầy đủ nội dung bài học
+ Nguyên nhân bùng nổ cách mạng, Diễn biến cách mạng
+Kết quả, ý nghĩa và tính chất và đặc điểm cách mạng tư sản Anh.
- Hoạt động: Học sinh tiến hành vẽ và thuyết trình về sản phẩm mình đạt được
* Hoạt động 2: Liên hệ, vận dụng
Trang 18- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để làm rõ một số vấn đề:
- Bản chất của một cuộc cách mạng tư sản
- Liên hệ đến sự phát triển của nước Anh hiện nay
- Giáo viên nhận xét, đánh giá sản phẩm từ học sinh vừa hoàn thành
Học sinh sưu tập một số nội dung, hình ảnh về nước Anh ngày nay
Ví dụ minh họa 2: Bài 10 - Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa
(Lịch sử lớp 12, ban cơ bản)
- Sau khi hoàn thành nội dung bài học, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạtđộng KTBH bằng vẽ sơ đồ tư duy, từ trong nội dung giáo viên hướng dẫn cho họcsinh liên hệ, vận dụng thực tiễn mà học sinh biết
- Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm:
+ Nhóm 1: Từ từ khóa “ Cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa” Các em hãy vẽ nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3 để thể hiện rõ nội dung của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ, qua đó liên hệ những mặt tích cực và hạn chế từthành tựu khoa học - công nghệ ở địa phương em đang sống và nêu ra một số biệnpháp để phát huy tiếp mặt tích cực và giải pháp cho mặt hạn chế?
+ Nhóm 2: Từ từ khóa “ Cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa”, bằng sự sáng tạo em hãy vẽ biểu hiện của toàn cầu hóa bằng cách riêng để
thể hiện nội dung của Xu thế toàn cầu hóa
- Sản phẩm của học sinh sau thời gian 3 phút: Vừa mang tính khái quát nộidung bài học, vừa mang tính sáng tạo, tìm tòi và vận dụng vào thực tế cuộc sống
Trang 19- Kết hợp hoạt động vận dụng, tìm tòi kiến thức mới từ ảnh hưởng cách mạng khoa
học công nghệ và xu thế toàn cầu hoá trong cuộc sống ngày nay tại quê hương,làng xóm và bản thân học sinh:
+ Học sinh có thế lấy những dẫn chứng cụ thể về những tác động mà học sinh thấyđược trong cuộc sống hàng ngày (dẫn chứng)
+ Có thể sưu tập những hình ảnh tích cực và hạn chế về ảnh hưởng của cách mạngkhoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa để minh chứng
Trang 20* Kết thúc bài học bằng sơ đồ, sơ đồ hóa hệ thống kiến thức
Sơ đồ là hình vẽ đơn giản, sơ lược, chỉ vẽ những nét chính, nét chủ yếu,mang tính quy ước, mô tả đặc trưng của sự vật hay quá trình, hoặc biểu diễn từngphần của một tổng thể trong mối tương quan giữa các phần với nhau, nhưng mangtính đầy đủ, hệ thống và dễ hiểu
Trong dạy học lịch sử, sơ đồ được coi là đồ dùng trực quan quy ước nhằm
cụ thể hóa nội dung sự kiện lịch sử bằng những mô hình hình học đơn giản, diễn
tả tổ chức một cơ cấu xã hội, một thể chế chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiệnlịch sử
Tổ chức hoạt động KTBH bằng sơ đồ hóa hệ thống kiến thức là rất phù hợp,vừa mang tính khái quát, tổng hợp kiến thức bài học dưới dạng tóm lược, qua đó
có thể nhấn mạnh thông tin quan trọng cho học sinh tìm hiểu
- Mục tiêu: khái quát lại nội dung đã học của 1 tiết học hoặc nội dung một bài học,bằng sơ đồ học sinh quan sát một cách trực quan và dễ hình dung ra nội dung vừamới trải nghiệm
- Biện pháp: Có những biện pháp để sơ đồ hóa hệ thống kiến thức bài học: Có thể
là giáo viên tiến hành hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ hoặc cho học sinh kháiquát dưới những hình thức khác nhau
- Ví dụ minh họa 1: Bài 31: CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP CUỐI THẾ KỶ
XVIII
Sau khi hoàn thành nội dung bài học “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII”(Lịch sử 10 - cơ bản), giáo viên sử dụng sơ đồ “Sự phát triển đi lên của cách mạngPháp 1789” để củng cố bài học và sử dụng câu hỏi “Từ cách mạng tư sản Pháp rút
ra bài học gì?” để học sinh có thể vận dụng kiến thức bài học vào giải quyết vấn đềthực tiễn
- Các biện pháp KTBH:
+ Hoạt động 1: Luyện tập, củng cố bài học
- Mục tiêu: Hình thành kỹ năng khái quát nội dung dưới hình thức sơ đồ
Hình thành kỹ năng vẽ sơ đồ
- Phương pháp: Vẽ sơ đồ tiến trình Cách mạng tư sản Pháp năm 1789
Giáo viên tổ chức cho học sinh lên bảng vẽ sơ đồ tiến trình cách mạng tư sản Phápnăm 1789, mục đích vừa củng cố nội dung bài học vừa rèn kỹ năng thực hành chohọc sinh
+ Hoạt động 2: Vận dụng, mở rộng:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận “ cách mạng tư sản Pháp là một trong những cuộc cách mạng tiêu biểu của nhân loại”? Mục đích nhằm rèn kỹ năng
phân tích, nhận định, nói lên quan điểm của mình sau nội dung bài học
- Mở rộng: Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm để làm rõ các vấn đề:
1 So sánh đỉnh cao của CMTS Pháp với CMTS Anh?
2 Yếu tố nào đưa cách mạng Pháp đạt đến đỉnh cao?
Trang 21Từ đó GV nhấn mạnh vai trò của quần chúng trong cách mạng tư sản Pháp,chính phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân đã đưa cách mạng Pháp đạtđến đỉnh cao
- Gợi ý sản phẩm:
- Sơ đồ cách mạng tư sản Pháp:
+ Sản phẩm về sơ đồ cách mạng tư sản Pháp: học sinh dựa vào sơ đồ để thuyếttrình các giai đoạn phát triển của cách mạng qua đó giải thích được vì sao thờiGiacôbanh là đỉnh cao của cách mạng với những lý do sau
- 6.1793, Hiến pháp mới được thông qua, tuyên bố Pháp là nước cộng hòa, ban bốquyền dân chủ rộng rãi và mọi sự bất bình đẳng giai cấp bị bãi bỏ
- Phái Giacôbanh đã quan tâm giải quyết vấn đề ruộng đất đòi hỏi cơ bản của nôngdân
- 8/1793, Quốc hội thống qua sắc lệnh “ Tổng động viên toàn quốc” để huy độngsức mạnh của nhân dân trong cả nước chống “thù trong giặc ngoài” ban hành luậtgiá tối đa với lương thực đển hạn chế nạn đầu cơ tích trữ, đồng thời ban hành mứclương tối đa của công nhân
- Nhờ các chính sách của mình, phái Giacobanh đã dập tắt được các cuộc nổi loạn,đuổi quân xâm lược ra khỏi biên giới Hoàn thành các nhiệm vụ dân tộc và dânchủ Cách mạng đạt đến đỉnh cao
+ Sản phẩm về phần thảo luận: “ cách mạng tư sản Pháp là một trong những cuộc cách mạng tiêu biểu của nhân loại”? Học sinh dựa vào những thắng lợi và ảnh
hưởng của cách mạng tư sản Pháp để chứng minh
- Cuộc cách mạng tư sản Pháp là cuộc đối đầu gay gắt giữa hai thế lực cách mạng
và phản cách mạng tiêu biểu nhất ở châu Âu
- Cuộc cách mạng chuẩn bị khá toàn diện nên thắng lợi cũng khá toàn diện
- Cuộc cách mạng tư sản Pháp là cuộc cách mạng về quyền con người thông qua
“Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền”
Trang 22- Xây dựng được mô hình nhà nước dân chủ tư sản nên ảnh hưởng sâu rộng khắpthế giới và giá trị của nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay
- Mở rộng: Vai trò của quần chúng: Quần chúng nhân dân là lực lượng thúc đẩycách mạng phát triển và đi lên, nên có vai trò to lớn
- Quan trọng cách mạng tư sản Pháp đã hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ của một cuộccách mạng - và nó mở ra một thời kỳ mới, thời đại thắng lợi của các nước tư bảntiến tiến lúc bấy giờ Vì vậy nó được xem là một cuộc cách mạng tiêu biểu củanhân loại
Ví dụ minh họa 2: Bài 13 - Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1925
đến năm 1930
- Sau khi học xong bài, giáo viên tổ chức hoạt động KTBH nhằm mục đích củng
cố luyện tập nội dung bài học và rèn kỹ năng thực hành, qua đó nhận xét về sự rađời của Đảng để thấy được sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam là một thắng lợibước đầu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
- Biện pháp thực hiện:
+ Hoạt động 1: Tổ chức “trò chơi mảnh ghép”, học sinh sẽ tiến hành ghép nhữngnội dung có tính lôgic, xâu chuỗi các sự kiện với nhau để thấy được quá trình rađời của Đảng cộng sản Việt Nam, với mục đích hệ thống hóa kiến thức nội dungbài học
từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
* Kết thúc bài học bằng biện pháp điền sơ đồ trống.
Sơ đồ trống là dạng sơ đồ không có nội dung bên trong, giáo viên có thểchuẩn bị các sơ đồ trống ở nhà và sau khi KTBH có thể dùng sơ đồ đó để yêu cầuhọc sinh điền nội dung mình đã được học vào bên trong, hoặc giáo viên có thể giaocho các nhóm học sinh tự tạo các sơ đồ trống để nhóm khác điền nội dung vào các
sơ đồ đó
- Ví dụ : Bài 17 - Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ ngày 2 - 9 - 1945 đến trước ngày 19 - 12 - 1946
Trang 23Sau khi hoàn thành bài 17 Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2 9
-1945 đến trước ngày 19 -12 -1946(Tiết 2) (Lịch sử 12 - cơ bản) , giáo viên tổ chứchoạt động KTBH bằng các biện pháp:
+ Hoạt động 1- Luyện tập củng cố:
Điền nội dung đã học vào sơ đồ trống về tình hình Việt Nam sau cách mạng thángTám và sơ đồ biện pháp giải quyết những khó khăn của Đảng và chính phủ cáchmạng nhằm mục đích hệ thống lại toàn bộ kiến thức toàn bài
+ Hoạt động 2 - Vận dụng, mở rộng:
Tổ chức học sinh thảo luận để rút ra bài học cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc hiện nay
từ thực tiễn nội dung bài đã học
- Các bước thực hiện:
Bước 1: Giáo viên chia lớp thành hai nhóm điền nội dung vào sơ đồ trống để hệthống kiến thức với nội dung yêu cầu:
+ Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám
+ Biện pháp giải quyết những khó khăn của Đảng và chính quyền mới
Bước 2: Giáo viên tiếp tục tổ chức hoạt động vận dụng, mở rộng để rút ra bài họccho công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước hiện nay
vũ trang còn yếu
Kinh tế lạc hậu, nạn đói (giặc đói)
Văn hóa lạc hậu, 90%
dân số
mù chữ (giặc dốt)
Tài chính trống rỗng
Đảng lãnh đạo, nhân dân ủng hộ
Cách mạng thế giới đang phát triển
Tình thế ngàn cân treo sợi tóc
Trang 24* Sơ đồ biện pháp giải quyết tình hình đất nước sau cách mạng tháng Tám
- Mở rộng - Bài học cho công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước hiện nay:
+ Bài học về nguyên tắc bảo vệ độc lập dân tộc là bất biến
+ Bài học về mềm dẻo sách lược, linh hoạt trong từng hoàn cảnh cụ thể
+ Bài học về tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc để giải quyết những khó khăn
2.2 Sử dụng hoạt động kết thúc bài học để nhấn mạnh các thông tin quan trọng.
2.2.1: Tổ chức hoạt động KTBH bằng các trò chơi:
- Trò chơi: Trò chơi trong môn Lịch sử là hoạt động dạy học mà ở hoạt động nàyngười học được tổ chức các trò chơi để vừa lĩnh hội kiến thức mà vừa được trảinghiệm các sự kiện, nhân vật lịch sử qua các loại hình trò chơi, đồng thời qua các
sự kiện lịch sử khuyến khích học sinh tìm tòi các sự kiện mới Làm cho học sinhhọc lịch sử một cách thú vị, lớp học sôi nổi, tập trung sự chú ý cũng như tiếp nhậnkiến thức nhẹ nhàng hơn
Tuy nhiên trong KTBH để tổ chức một trò chơi vừa mang tính khái quát, vừa nhấnmạnh một thông tin quan trọng và đảm bảo thời gian là vấn đề cần phải lưu ý.Vìvậy việc sử dụng hoạt động trò chơi trong KTBH, chỉ cần tập trung nhấn mạnh một
số thông tin quan trọng trong bài để đảm bảo thời gian mà tạo được sự hứng thú vàphát huy năng lực tư duy tìm tòi, sáng tạo của học sinh
âm mưu, trừng trị theo pháp luật
-Quyên góp, điều hòa thóc gạo.
-Tăng gia sản xuất
Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ hợp pháp
-Quyên góp của dân:
tuần lễ vàng, quỹ độc lập.
-Phát hành tiền
-Thi hành chính sách bình dân học vụ -Phát triển giáo dục các cấp
VĂN HÓA KINH TẾ
QUÂN SỰ, CHÍNH TRỊ
Trang 25+ Giáo viên nên chọn những trò chơi dễ tổ chức và thực hiện, trò chơi phải phùhợp với chủ đề, với đặc điểm và trình độ của học sinh, của bài học.
+ Giáo viên phải chuẩn bị nhiều về nội dung, kịch bản, để sử dụng phương pháptrò chơi đạt hiệu quả cao
+ Tổ chức trò chơi phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi, trò chơiphải chú ý tạo điều kiện cho nhiều học sinh được tham gia vào trò chơi
+ Giáo viên cần chú ý về thời gian trò chơi trong phần KTBH và nên có phầnthưởng tượng trưng cho học sinh tham gia tốt, có thể ghi điểm hay quà là cây bút,quyển vở
* Trò chơi “truy tìm ô chữ”
- “Truy tìm ô chữ” là trò chơi mà giáo viên tổ chức hoạt động để KTBH nhằm
củng cố kiến thức, luyện tập nội dung bài vừa học, qua trò chơi giáo viên yêu cầuhọc sinh vận dụng những kiến thức và sự hiểu biết của mình để giải đáp ô chữ bímật, có thể kết hợp với hình ảnh và qua trình chiếu powepoint sẽ thu hút sự chú ýcủa học sinh, thông qua kết quả của trò chơi giáo viên nhấn mạnh một sự kiện,nhân vật hoặc thông tin quan trọng có ý nghĩa lớn để khắc sâu thông tin đó Với trò
chơi “Truy tìm ô chữ” này có thể áp dụng được nhiều bài trong nội dung chương
trình của cả 3 khối, vừa thu hút sự chú ý của học sinh, và có thể khiến học sinhkhắc sâu sự kiện hơn
+ Giáo viên là người tổ chức trò chơi và đọc câu hỏi
+ Các nhóm cử đại diện lên để giành quyền trả lời, trả lời đúng được tích điểm, trảlời sai mất lượt cho đội bạn đồng thời bị mất điểm khi đội bạn trả lời đúng câu hỏi.+ Trong quá trình trò chơi đội nào phát hiện là ô chữ bí mật ở hàng dọc và giànhquyền trả lời đúng thì chiến thắng
+ Kết quả đội nào được điểm cao hơn sẽ là đội chiến thắng
- Ví dụ minh họa 1 Bài 25- Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa dưới triều Nguyễn
(Nửa đầu thế kỷ XIX) (Lịch sử 10 - ban cơ bản)
Giáo viên tổ chức trò chơi nhằm khái quát lại hệ thống kiến thức đã học, từ
đó hướng học sinh đến một thông tin qua trọng của bài học
Trang 26+ Hoạt động 1: Giáo viên giới thiệu về trò chơi, cách thức chơi và cử ra cácđội chới, hướng người học đạt được những năng lực như thu thập xử lý thông tin
và đánh giá được thông tin quan trọng:
Từ hàng dọc có 7 chữ cái, tương ứng với nó là 7 hàng ngang, mỗi hàng ngangđược mở ra sẽ xuất hiện 1 chữ cái của ô bí mật hàng dọc và cũng là gợi ý liên quanđến ô hàng dọc
Hàng ngang số 1 (8 chữ cái): Quần thể kiến trúc độc đáo ở kinh thành Huế là?
Hàng ngang số 4 (8 chữ cái): Chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ thừa thiên
là quyết định của vị Vua?
- Đáp án: Phương Tây (chữ Ư)
Hàng ngang số 7 (9 chữ cái) : Một trong những chính sách tích cực giúp lãnhthổ nhà Nguyễn không ngừng được mở rộng?
cơ sở các ô hàng ngang liên quan với nhau để nói lên tác động của chính sách
“đóng cửa” (bế quan tỏa cảng) của nhà Nguyễn và tác động của nó vào thời điểmlúc bấy giờ, nó được coi là một trong những nguyên nhân mà nhà Nguyễn để mấtnước ở cuối thế kỷ XIX
+ Hoạt động 2: Mở rộng, tìm tòi kiến thức mới:
Trang 27Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để rút ra bài học từ chính sách
“đóng cửa” của nhà Nguyễn
Chính sách đóng cửa của nhà Nguyễn đã làm cho nhà Nguyễn bị cô lập, tụthậu, mất khả năng phòng thủ làm suy yếu quốc gia dân tộc
dù biết rằng mở cửa đem đến cho đất nước những thách thức và nguy cơ mới,nhưng không thể không mở cửa hội nhập, vì đó là cơ hội lớn cho Việt Nam vươnlên vươn xa hơn trong thời đại mới
- Ví dụ minh họa 2: Bài 9 - Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 (Lịch sử 11,
ban cơ bản) Sử dụng trò chơi “truy tìm ô chữ” để KTBH và giải quyết tình huống:
“Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử nướcNga và lịch sử nhân loại”
+ Hoạt động 1: Tổ chức trò chơi(giáo án pp,đĩa CD): Giáo viên giới thiệu: Từ hàng dọc có
9 chữ cái, tương ứng với nó là 9 hàng ngang, mỗi hàng ngang được mở ra sẽ xuấthiện 1 chữ cái của ô bí mật hàng dọc
Hàng ngang số 1(8 chữ cái): Hình thức bùng nổ của cuộc cách mạng thángHai năm 1917 là gì?
- Đáp án: Biểu tình (chữ B)
Hàng ngang số 2 (8 chữ cái): Đảng cộng sản được xây dựng trên cơ sở liênminh giữa giai cấp nào và nông dân?
- Đáp án: Công nhân (chữ Ô)
Hàng ngang số 3 (5 chữ cái): Người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo cách mạngtháng Mười Nga là ai?
Trang 28- Đáp án: Nguyễn Ái Quốc (chữ I)
Hàng ngang số 8 (7 chữ) Lực lượng vũ trang trong cách mạng tháng Mườicòn được gọi là?
- Đáp án: Cận vệ đỏ (chữ C)
Hàng ngang số 9 (9 chữ cái) Theo lịch Nga trước tháng 3 năm 1918 Cáchmạng xã hội chủ nghĩa bùng nổ vào tháng mấy năm 1917?
- Đáp án: Tháng Mười ( chữ H)
- Đáp án ô chữ hàng dọc: Bôn sê vich
+ Hoạt động 2: Để mở rộng kiến thức về cách mạng tháng Mười:
Giáo viên cho học sinh thảo luận về câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhậnxét về cách mạng tháng Mười “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng ThángMười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trêntrái đất Trong lịch sử loài người từ trước tới nay chưa có một cuộc cách mạng có ýnghĩa sâu xa như vậy”
Dự kiến sản phẩm của hoạt động 2:
+ Làm thay đổi cục diện chính trị thế giới Phá vỡ trận tuyến của CNTB, nó khôngcòn là hệ thống duy nhất trên thế giới
+ Cổ vũ phong trào của giai cấp công nhân quốc tế, chỉ cho họ con đường đi đếnthắng lợi trong cuộc đấu tranh chống CNTB
+ Có ảnh hưởng mạnh mẽ và để lại nhiều bài học phong trào cách mạng thế giới,đặc biệt là các phong trào giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa và phụ thuộc
*Trò chơi “đi tìm các triều đại lịch sử”:
- Ví dụ minh họa : Sau khi hoàn thành bài 5 Trung quốc thời phong kiến (Tiết (Lịch sử 10 - Ban cơ bản) và hoàn thành nội dung văn hóa phong kiến Trung Quốc,giáo viên tổ chức hoạt động KTBH bằng các biện pháp tích cực nhằm củng cố nộidung về văn hóa Trung Quốc phong kiến sau đó tổ chức một trò chơi để tăng khảnăng thu thập thông tin của học sinh
2)-Hoạt động 1: Thuyết trình khái quát về thành tựu văn hóa Trung Quốc (Video, đĩa CD)
và nhấn mạnh những thành tựu quan trọng của các triều đại
- Mục tiêu :
Trang 29+ Khái quát những thành tựu văn hóa Trung Quốc thời phong kiến
+ Hiểu được các giá trị văn hóa thông qua quá trình lao động và sáng tạo của nhândân lao động
+ Có ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy văn hóa nhân loại
- Phương thức :
+ Giáo viên giao nhiệm vụ ở nhà qua tiết học trước, yêu cầu học sinh tìm hiểu vềnhững thành tựu văn hóa của các triều đại phong kiến Trung quốc kết hợp với nộidung đã được học trong hoạt động hình thành kiến thức để thực hiện trò chơi.+ Giáo viên là người tổ chức trò chơi bằng việc đọc các câu hỏi để học sinh tìmcâu trả lời, qua các câu hỏi học sinh xác định những dữ liệu trên nói đến triều đạiphong kiến nào của Trung Quốc
+ Kết hợp những tư liệu học sinh tự tìm hiểu ngoài dữ liệu sgk
Câu 3 Hai câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du:
“ Thanh minh trong tiết tháng Ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”
Nói đến một cách chia thời gian mà người Trung quốc phát minh ra?
- Con đường tơ lụa
Câu 2 Đây được coi là đỉnh cao của một loại hình nghệ thuật gắn với những têntuổi nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị ?
Trang 30-> Giáo viên nhận xét, đánh giá về bài tập và năng lực thực hành của học sinh.+ Hoạt động 2 - Mở rộng, vận dụng: Giáo viên hướng dẫn học sinh liên hệ ảnhhưởng văn hóa Trung Quốc thời phong kiến đến Việt Nam,
- Biện pháp: Giáo viên chia lớp thành hai nhóm để thi thuyết
Mỗi nhóm lựa chọn một biếu hiện ( tích cực hoặc hạn chế) thuyết trình về biểuhiện đó ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc phong kiến đến Việt Nam
Ví dụ: Tư tưởng trọng nam khinh nữ
* Trò chơi “Đóng vai”
Hoạt động đóng vai là việc người học được nhập vai vào các nhân vật, cáctình huống cụ thể, HS sẽ chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức và được hoạtđộng trực tiếp trong quá trình đóng vai HS được trao đổi, giao lưu với GV, vớibạn bè, được thể hiện tài năng của mình trước tập thể, được hòa mình vào khôngkhí thoải mái, sôi nổi, thân thiện của lớp học
Đóng vai trong môn học lịch sử không chỉ giúp học sinh khắc sâu kiến thức mà HScòn có cơ hội trải nghiệm không khí lịch sử khi được hòa mình vào lịch sử và hìnhthành những kĩ năng quan trọng như giao tiếp, thuyết trình
Trang 31- Ưu điểm của hoạt động đóng vai :
+ Học sinh được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độtrong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
+ Gây hứng thú và chú ý cho học sinh
+ Tạo điều kiện làm nảy sinh tư duy sáng tạo của học sinh
+ Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạođức đến chính trị - xã hội
- Các hình thức đóng vai:
+ Có thể tiến hành đóng vai trong khởi động bài học, trong hình thành kiến thứcmới và cả trong KTBH, ở đây tôi muốn tổ chức hoạt động đóng vai trong KTBH+ Đóng vai nhân vật lịch sử người có ảnh hưởng lớn trong lịch sử, đóng vai tìnhhuống cụ thể
- Các bước tiến hành đóng vai
Bước 1: Chuyển giao và nhận nhiệm vụ đóng vai
Bước 2: Tổ chức HS đóng vai
Bước 3: Tổ chức HS trao đổi, thảo luận sau khi đóng vai
Bước 4: Nhận xét, đánh giá và chốt kiến thức
* Đóng vai nhân vật lịch sử.
- Ví dụ minh họa 1: Sau khi học xong bài 34 - Các nước tư bản chuyển sang giai
đoạn đế quốc chủ nghĩa : (Lịch sử 10 - Ban cơ bản) Giáo viên tổ chức hoạt độngKTBH với việc củng cố lại hệ thống kiến thức vừa học qua câu hỏi trắc nghiệm,sau đó GVcho học sinh đóng vai một nhân vật lịch sử có đóng góp lớn trong sựtiến bộ của khoa hoc - kỹ thuật thế giới
+ Bước 1 : Giáo viên cho học sinh lựa chọn một nhân vật lịch sử để hóa thân vàovai nhân vật lịch đó (nội dung đã được học sinh chuẩn bị ở nhà)3(vi deo, đĩa CD)
+ Bước 2 : Học sinh tiến hành trò chơi đóng vai tìm hiểu về nhân vật Pi-e-Quy-Ri
và Ma-ri Quy-ri
+ Bước 3 : Học sinh thảo luận vấn đề bằng các câu hỏi tương tác lẫn nhau
+ Bước 4: Giáo viên nhận xét, đánh giá và cho điểm
Trang 32Hình thức này có một số đặc điểm sau:
+Thứ nhất,: HS không có sự chuẩn bị trước ở nhà như đóng vai nhân vật mà đượcthông báo tình huống và giải quyết tình huống ngay tại lớp
+ Thứ hai, việc xây dựng tình huống do GV và HS đảm nhận nhiệm vụ để giảiquyết tình huống sau khi KTBH
+ Thứ ba: việc “diễn” không phải phần chính mà điều quan trọng là Hs thể hiệnđược thái độ, quan điểm của mình từ tình huống đó
+ Cuối cùng, HS thường làm việc theo tổ, nhóm để giải quyết tình huống
- Ví dụ minh họa : Sau khi hoàn thành Bài 19 - Các cuộc kháng chiến chống giặc
ngoại xâm ở các thế kỷ X - XV giáo viên tổ chức cho HS hoạt động KTBH bằngtrò chơi “Đóng vai” để giải quyết một tình huống cụ thể và qua đó nhấn mạnh tầmquan trọng của các chiến thắng lịch sử trong kháng chiến chống giặc ngoại xâmcủa ông cha ta
- Bước 1: Giáo viên chia lớp thành hai nhóm, và giao nhiệm vụ
+ Nhóm 1 : “Hãy tưởng tượng mình là một người lính của nhà Lý kể lại cuộc quyếtchiến trên bờ sông Như Nguyệt trong cuộc kháng chiến chống Tống”
+ Nhóm 2 : “Hãy tưởng tượng mình là một người lính nhà Minh được nghĩa quânLam Sơn tha chết, cấp ngựa, thuyền cho về nước kể lại sự thất bại ở trận Chi Lăng– Xương Giang của quân Minh”
- Bước 2: Các nhóm thảo luận nội dung mình được giao và tập hợp ý kiến của cácthành viên trong nhóm thành nội dung, cử đại diện nhóm lên “diễn”
Ở hai ví dụ, ta thấy yêu cầu đưa ra cho HS là đóng vai một người lính kể lạidiễn biến của cuộc chiến nhưng hai người lính này lại ở trong hai hoàn cảnh hoàntoàn trái ngược nhau Một người lính kể lại chuyện trong tư thế của người chiếnthắng và một người lính kể lại chuyện trong tư thế của kẻ chiến bại Do đó, đòi hỏi
HS phải tự mình tưởng tượng, sáng tạo để làm cho nhân vật của mình thực sự sinhđộng
Biện pháp thực hiện: * Giáo viên tổ chức trò chơi “Mảnh ghép bức tranh bí ẩn”.
- Bước 1 Cách chơi: Bức tranh được che bởi 4 câu hỏi liên quan đến bài học, lần lượthọc sinh trả lời câu hỏi để mở các mảnh ghép đó và đoán hình ảnh trong bức tranh làai?
- Bước 2 Tiến trình trò chơi
+ Tìm nhân vật bí ẩn trong bức tranh qua các câu hỏi dưới đây ?
Trang 33Câu hỏi 1: Đây là trận đánh ác liệt và có ý nghĩa nhất trong chiến dịch Biên giới?Đáp án: Đông Khê
Câu hỏi 2: Nghệ thuật quân sự được quân đội ta sử dụng trong chiến dịch Biên giớinăm 1950?
Đáp án: “Vây điểm - Diệt Viện”
Câu hỏi 3: Nhằm thu hút sự chú ý của ta để Pháp đưa quân từ Cao Bằng xuống và
từ Thất khê lên lấy lại Đông Khê, Pháp đã thực hiện cuộc tiến công nào?
2.2.2: KTBH bằng tranh biếm họa nhằm khắc sâu nhận thức của học sinh về
sự kiện lịch sử:
Trong triết học Mác - Lê Nin có nói “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường nhận thức hiện thựckhách quan, nhận thức chân lý” và kênh hình là một trong những phương tiện giúpngười học nhận thức nhanh nhất Trong kênh hình có nhiều khác nhau từ sơ đồ,bảng biểu, tranh ảnh, hình vẽ kể cả tranh biếm họa
Tranh biếm họa cũng là một loại hình nghệ thuật dùng ngôn ngữ tạo hình đặc biệtmang tính cường điệu, trào phúng, hài hước nhằm mục đích phản ánh nội dung
cụ thể về nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc khuyếch đại các mâuthuẫn trong các mối quan hệ chính trị, xã hội, giá trị đạo đức
* Lợi ích khi sử dụng tranh biếm họa trong dạy học
- Thu hút sự chú ý của học sinh về loại hình nghệ thuật mang tính hài hước
- Tạo ra sự liên tưởng, suy luận kiến thức đã học với mối liên hệ ẩn ý trong tranh
- Học sinh dễ khắc sâu kiến thức, tự mình chiếm lĩnh kiến thức và có cái nhìnkhách quan, cũng như cơ hội bỳ tỏ quan điểm của mình
* Một số ví dụ minh họa:
Ví dụ minh họa 1: Sau khi dạy bài 17 - Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)
(Tiết 1) - (Lịch sử lớp 11 - Ban cơ bản) giáo viên tổ chức hoạt động KTBH bằngviệc quan sát một bức tranh biếm họa, vừa mang tính khái quát hóa nội dung bàihọc qua bức tranh, nhưng cũng đồng thời tạo điều kiện để cho học sinh bày tỏ quanđiểm của mình qua phần khai thác từ hình ảnh tranh biếm họa
Hoạt động KTBH bằng tranh biếm họa:
Bước 1: - GV tổ chức cho HS khai thác bức tranh của hoạ sĩ Kukryniksy mô
tả hành động bán đứng Tiệp Khắc của các nước phương Tây mà cụ thể ở đây là
Anh và Pháp Dòng chữ trên có nghĩa: “Hướng về phương Đông”.Hình ảnh tranh
Trang 34biếm học, các nhân vật trong tranh và đặt câu hỏi: “Có hay không Anh, Pháp, Mĩ
cũng phải chịu một phần trách nhiệm trong việc để chiến tranh thế giới thứ haibùng nổ?
Bước 2: Học sinh quan sát, thảo luận và trình bày quan điểm của mình
+ Hình ảnh nước Đức: Ví như chó sói
+ Hình ảnh Anh, Pháp (những quý ông lịch lãm) đang dâng miếng bánh béo
bở Tiệp Khắc cho Đức (“Chó sói”)
+Hình ảnh nước Mĩ: Xa, mờ, đứng ngoài ngắm nhìn thể hiện chính sách ngoạigiao của Mĩ “không can thiệp những vấn đề ngoài châu Mĩ”
Bước 3: HS kết hợp kiến thức SGK mục I và bức tranh, lí giải việc chiếntranh thế giới thứ hai bùng nổ
- Từ đó rút ra:
+ Sự kiện chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ chưa hẳn là sự bành trướng vàngang ngược của trục phát xít Đức - Italia - Nhật Bản, mà còn do thái độ dungdưỡng thỏa hiệp của các nước như Anh, Pháp và thái độ trung lập của Mĩ đã tạođiều kiện cho chiến tranh bùng nổ: Họ lo sợ chủ nghĩa phát xít sẽ gây chiến tranh
và làm phá vỡ hệ thống Vec xai - Oa sinh tơn, nhưng lại thù ghét chủ nghĩa cộngsản hơn nên muốn nhân cơ hội này đẩy chiến tranh về phía Đông (Liên Xô), vì vậyAnh, Pháp không ngại dâng đồng minh của mình (Tiệp Khắc) cho Đức để đổi lấymột sự thỏa thuận không chắc chắn từ HítLe là ngừng mọi hoạt động quân sự ởchâu Âu
Trang 35+ Vì thế Anh, Pháp và Mĩ cũng phải chịu một phần trách nhiệm trong việc đểchiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và bức biếm họa trên là hình ảnh thể hiện rõđỉnh cao của thái độ thỏa hiệp mà các nước Anh, Pháp đã thực hiện.
- Hoạt động mở rộng: Giáo viên tổ chức biện luận hoặc thuyết minh về vấnđề: Từ nguyên nhân bùng nổ của chiến tranh thế giới thứ hai, em hãy trình bày suynghĩ của em về vấn đề gìn giữ hòa bình và nỗ lực ngăn chặn các chiến tranh, xungđột hiện nay
- Ví dụ minh họa 2: Bài 35: Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ và sự bành trướng
thuộc địa (Lịch sử 10 - Ban cơ bản)
- Sau khi hoàn thành nội dung bài học, giáo viên tổ chức hoạt động KTBHbằng việc nhấn mạnh một thông tin quan trọng về đặc điểm các nước đế quốc,trong đó đặc biệt là đế quốc Anh, được mạnh danh là “đế quốc thực dân”
- Bước 1: Giáo viên cho học sinh quan sát tranh biếm họa “Người khổng lồ”: qua
đó đặt câu hỏi: vì sao đế quốc Anh được ví là “đế quốc mặt trời không bao giờ lặn”
- Bước 2: Hs dựa vào tranh biếm họa cùng câu hỏi để trả lời và khai thác hình ảnhlàm nổi bật những đặc điểm của đế quốc Anh
- Dự kiến sản phẩm:
Tranh Người khổng lồ Rhodes, một hình tượng của Cecil Rhodes sau khi công bố
kế hoạch nối đường điện tín từ Cape Town tới Cairo Nó thể hiện tham vọng thuộcđịa theo hướng Bắc - Nam của Anh tại châu Phi
Trang 36+ Cụm từ "đế quốc mặt trời không bao giờ lặn" đã được sử dụng để miêu tảnhững đế quốc với lãnh thổ rộng lớn đến nỗi luôn luôn có một phần lãnh thổ của
nó nằm trong ban ngày
+ Những phần thuộc địa bao la của Anh ở các châu lục chiếm 1/4 diện tích thế giớitương đương khoảng 35 500 0000 km2 cai trị khoảng 412,2 triệu người chiếm 23%dân số thế giới
+ Tranh giành châu Phi là quá trình tranh chấp giữa các cường quốc ở châu
Âu trong việc chiếm châu Phi làm thuộc địa kéo dài từ giữa thế kỷ 19 tới khi Chiếntranh thế giới thứ nhất bùng nổ vào năm 1914 Vào cuối quá trình này, ngoạitrừ Ethiopia, nhà nước Dervish và Liberia được độc lập, toàn bộ châu Phi đã bị bảynước châu Âu chia nhau làm thuộc địa, trong đó Anh chiếm được phần nhiều nhấtvới diện tích trên 30% Với hệ thống thuộc địa rộng lớn như vậy nên nước Anhđược ví là "đế quốc mặt trời không bao giờ lặn"
- Hoạt động mở rộng:
GV tổ chức cho HS tranh biện về vấn đề: Từ hình ảnh về bức tranh biếm họa,
em hãy trình bày suy nghĩ của em về nhận xét: Anh là “Đế quốc mặt trời khôngbao giờ lặn”
HS thể hiện suy nghĩ của bản thân, sau đó GV phân tích bức tranh, để họcsinh hiểu rõ về bản chất của đế quốc mặt trời không bao giờ lặn trên nước Anh, vànhấn mạnh: dưới chân của đế quốc mặt trời không bao giờ lặn là sự xâm lược, bóclột tàn nhẫn và làm giàu trên xương máu của nhân dân thuộc địa
2.3 Sử dụng hoạt động kết thúc bài học bằng tranh luận, giúp người học có cái nhìn đúng hơn về những quan điểm trái chiều.
2.3.1: Tranh luận:
Tranh luận là hình thức dạy học nhằm nâng cao tính tương tác của học sinh,giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên, qua đó để hình thành tưduy hành động và năng lực mới cho người học
Việc sử dụng phương pháp tranh luận trong dạy học lịch sử góp phần pháttriển tư duy phản biện của học sinh - một loại tư duy quan trọng không thể thiếu,cần trang bị trong trường phổ thông
* Ưu điểm của tranh luận:
- Học sinh được tự do tranh luận, phản bác ý kiến của người khác, bảo vệ ý kiếncủa mình, cũng như đề xuất những thắc mắc dưới dạng câu hỏi
- Tăng cường sự tương tác giữa học sinh và giáo viên, giữa học sinh với học sinh,giữa học sinh với nội dung kiến thức và giữa học sinh với các nguồn bên ngoài
- Rèn luyện cách nhìn đa chiều về một vấn đề, tránh định kiến và tạo động lực đểhọc tập suốt đời Người học có cơ hội đối diện và quan sát nhiều quan điểm khác
Trang 37nhau, từ đó đánh giá quan điểm của chính mình để thay đổi hoặc cập nhật cho phùhợp.
- Giúp cho học sinh chọn lựa ngôn từ một cách thuyết phục, diễn đạt rõ ràng ý kiếncủa mình
- Xây dựng khả năng tư duy độc lập; Sử dụng thông tin để hình thành lập luận chặtchẽ; Phân loại sắp xếp hệ thống lập luận để hình thành quan điểm về một vấn đề cụthể
- Rèn luyện thái độ tôn trọng trong giao tiếp Tranh luận dạy học giúp người họcbiết cách Lắng nghe tích cực và tiếp nhận quan điểm của phía khác, trân trọng trithức, giải quyết vào vấn đề
Với đặc điểm này, việc sử dụng phương pháp tranh luận trong dạy học vềnhân vật lịch sử, hoăc tranh luận về bản chất sự kiện lịch sử là cần thiết và phùhợp, không chỉ đáp ứng được nhu cầu nhận thức và gây hứng thú trong học tập chohọc sinh mà còn là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn
* Các bước tiến hành tranh luận:
Giai đoạn 1: Chuyển giao và nhận nhiệm vụ tranh luận
Giai đoạn 2: Tổ chức HS tranh luận
-Trình bày, củng cố lại luận điểm của mình
-Phản bác quan điểm đối lập của đội bạnGiai đoạn 3: Kết luận chứng minh quan điểm của đội mình
Giai đoạn 4: Nhận xét, đánh giá và chốt kiến thức
2.3.2: Một số hình thức tranh luận :
- Thứ nhất, tranh luận theo các nhóm học sinh về nhân vật lịch sử
Ví dụ sau khi học bài 17 - Quá trình hình thành và phát triển của nhà nướcphong kiến từ thế kỉ X đến thế kỉ XV (Lớp 10 - Cơ bản), giáo viên có thể tổ chứctranh luận cho các em về một nhân vật có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử dân tộc,nhưng hầu như không được nhắc tới trong sách giáo khoa cấp THPT và hiện naycòn rất nhiều tranh cãi trong việc đánh giá về những nhân vật này như: Thái hậuDương Vân Nga nhường ngôi cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, hay như Hồ Quý
Ly trong việc lập ra nhà Hồ thay cho nhà Trần (1400), hoặc nhân vật Mạc ĐăngDung người có vai trò lập ra nhà Mạc thay nhà Lê Sơ (1527)
- Thứ hai, tranh luận giữa giáo viên với học sinh về các vấn đề lịch sử
Ví dụ sau khi học bài 21 - Những biến đổi của nhà nước phong kiến trongcác thế kỉ XVI - XVIII (Lớp 10 - cơ bản), giáo viên có thể tổ chức cho học sinhtranh luận về công hay tội của nhà Mạc bằng biện pháp nêu ra vấn đề ngay tại lớp
để học sinh có những nhận định đúng hơn về những đóng góp của các vương triềuphong kiến Việt Nam
Hoặc tranh luận về vấn đề “ mất nước và trách nhiệm của nhà Nguyễn ởcuối thế kỷ XIX?” sau khi học xong “bài 20 - Chiến sự lan rộng ra cả nước Cuộc
Trang 38kháng chiến của nhân ta từ năm 1873 đến năm 1884 Nhà Nguyễn đầu hàng” (Lịch
sử 11 - THPT)
Khi dạy bài 11 - Tây Âu hậu kỳ trung đại, (Lịch sử 11 - THPT), giáo viên cóthể tổ chức cho học sinh tranh luận về hệ quả của cuộc phát kiến địa lý Việc tìm racác dân tộc mới sau các cuộc phát kiến địa lý có phải là quá trình khai phá vănminh hay bắt đầu một quá trình ăn cướp và nô dịch của thực dân phương Tây.Mỗi hình thức tranh luận đều có ưu thế vượt trội riêng trong việc phát huy tính tựchủ, tích cực trong học tập và rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh
Thông qua hoạt động KTBH để giành một lượng thời gian nhất định để tổ chứccho học sinh tranh luận, vừa làm nổi bật những nhân vật, sự kiện lịch sử vừa giúphọc sinh có cái nhìn đúng hơn về nhân vật và sự kiện lịch sử
2.3.3: Một số ví dụ minh họa về tranh luận:
- Một là tranh luận về nhân vật lịch sử :
Ví dụ sau khi học bài 17 - Quá trình hình thành và phát triển của nhà nướcphong kiến từ thế kỉ X đến thế kỉ XV (Lớp 10 - Cơ bản), giáo viên có thể tổ chức
HS tranh luận về nhân vật Dương Vân Nga Cụ thể:
Giáo viên tổ chức hoạt động KTBH nhấn mạnh vấn đề bằng tổ chức hoạt độngtranh luận về nhân vật lịch sử Thái hậu Dương Vân Nga
+ Trước tiên giáo viên cho HS hoạt động luyện tập thực hành kiến thức vừamới trải nghiệm qua giờ học bằng việc thống kê các triều đại phong kiến Việt Namvới bảng thống kê:
+ Sau đó giáo viên tổ chức hoạt động tranh luận về nhân vật Dương VânNga trong lịch sử dân tộc Trên cơ sở đó, GV lập kế hoạch tổ chức HS tranh luận
GV giới thiệu nêu ngắn gọn về Hoàng hậu Dương Vân Nga:
Hoàng hậu Dương Vân Nga là người Ái Châu (Thanh Hóa) là con gái Dương ĐìnhNghệ Bà là vợ vua Đinh Tiên Hoàng, sau khi vua Đinh và con trai cả là Đinh Liễn
bị ám sát, bà đã giao quyền nhiếp chính cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn (Lê ĐạiHành) sau đó bà trở thành vợ vua Lê Đại Hành, chính điều đó đã đưa đến cho bànhiều tai tiếng và cái nhìn kỳ thị của xã hội lúc bấy giờ Có hai luồng ý kiến tráingược nhau về bà:
- Một là: Việc bà nhường ngôi cho thập đạo tướng quân Lê Hoàn là một việc làmsáng suốt nhất lúc bấy giờ khi đất nước đang gặp những khó khăn và thử thách lớnnên bà đáng được lịch sử ghi nhận khi dám đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích dòng
họ và cá nhân?
Trang 39- Hai là: Bà đã thông đồng với Lê Hoàn từ trước để cướp ngôi và bản thân bà cũng
là người phụ nữ không đoan chính vì sau đó đã lấy Lê Hoàn làm chồng?
Với vấn đề tranh luận nói trên, GV tổ chức HS làm việc theo nhóm trongthời gian khoảng 3 phút Hết thời gian, GV tổ chức HS tranh luận Bằng kiến thứccủa mình, HS đưa ra ý kiến, quan điểm đánh giá của mình GV khuyến khích HStăng cường đưa ra ý kiến thông qua các câu hỏi gợi mở, và lập luận để bảo vệ mộttrong hai quan điểm trên
Trọng tài: Giáo viênNhóm 1 (Tổ 1,2)
Nhóm 1 cho rằng thái hậu Dương Vân
Nga đã thông đồng với Lê Hoàn từ trước
để cướp ngôi
Nhóm 2 (tổ 3,4)Nhóm 2 cho rằng thái hậu Dương VânNga có công với lịch sử dân tộc
Kết quả: Sau khi học sinh tranh biện, GV đóng vai trò trọng tài, đưa ra nhận xét:
Nhóm 2 (tổ 3,4)
Nhóm 2 cho rằng thái hậu Dương Vân
Nga có công với lịch sử dân tộc
Nhóm 1 (Tổ 1,2)Nhóm 1 cho rằng thái hậu Dương VânNga đã thông đồng với Lê Hoàn từtrước để cướp ngôi
Vì sẵn sàng bỏ qua lợi ích dòng tộc để
đặt lợi ích dân tộc trên hết, nên đã
không ngại nhường ngôi cho thập đạo
tướng quân Lê Hoàn
vì sau khi Đinh Tiên hoàng bị ám sát bà
đã nhường ngôi cho thập đạo tướngquân Lê Hoàn
Nhờ việc nhường ngôi cho Lê Hoàn, mà
ông đã tổ chức đánh bại cuộc tiến công
xâm lược của quân Tống năm 981, giữ
vững nền độc lập cho dân tộc
Điều quan trọng là ngay sau đó bà lạitrở thành vợ của vua Lê Đại Hành, mộtngười phụ nữ có hai đời chồng làm vua
Vậy chúng ta suy nghĩ thế nào trước hành động này của Dương Vân Nga?Kết thúc tranh luận, GV tổng kết, chốt lại vấn đề bằng cách đưa ra những đánh giákhách quan và gợi cho HS những suy nghĩ sâu sắc hơn: Thái hậu Dương Vân Nga,một con người nổi tiếng về tài sắc, mạnh mẽ và quyết đoán Dù LS có đánh giá bànhư nào đi nữa thì hành động nhường ngôi cho Thập đạo tướng quan Lê Hoàn làmột quyết định đúng đắn với vận mệnh dân tộc lúc bấy giờ
Tuy nhiên, hành động của bà ở mỗi giai đoạn LS lại có cái nhìn khác nhau: trách
cứ hoặc cảm thông Song có thể nói, cho dù có đánh giá như nào đi nữa, thì vai tròcủa bà đối với LS dân tộc là không thể phủ nhận Thân phận bà đi bên cạnh haingười đàn ông – hai hoàng đế Ở vị trí nào bà cũng làm tròn vai trò của người vợ,bậc mẫu nghi thiên hạ, đóng góp không nhỏ vào sự thịnh trị của hai vương triềuĐinh- Tiền Lê
- Ngoài tổ chức tranh luận về nhân vật Thái hậu Dương Vân Nga, giáo viên còn cóthể mở tổ chức thêm trò chơi cho học sinh bằng cách “thi hùng biện vai trò ngườiphụ nữ xưa và nay qua nhân vật Dương Vân Nga”