Vậy do doanh thu của cả ba hoạt động: bán hàng, cung cấp dịch vụ; tài chính và hoạt động khác đều tăng, đặc biệt là doanh thu hoạt động khác gia tăng quá nhanh, mặt khác do giá xăng dầu
Trang 1CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CÔNG TY XĂNG DẦU TÂY NAM BỘ
4.1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH DOANH THU, CHI PHÍ, LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY XĂNG DẦU TÂY NAM BỘ QUA 3 NĂM 2006 - 2008
4.1.1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH DOANH THU
4.1.1.1 Phân tích doanh thu theo thành phần
Từ bảng 4 (trang 48) cho thấy tổng doanh thu của công ty tăng qua các năm, tốc độ tăng dần qua 3 năm
Năm 2007 tổng doanh thu là 4.709.873 triệu đồng, tăng 1.369.618 triệu
đồng tức là tăng 41% so với năm 2006, trong đó:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 1.366.495 triệu đồng, ứng với mức biến động tương đối là 40,92%, nguyên nhân là do sản lượng tiêu thụ cùng với giá bán các mặt hàng đều tăng nên doanh thu tăng lên rất nhiều
- Doanh thu hoạt động tài chính đạt 197 triệu đồng, tăng 62 triệu đồng so với năm 2006 với tốc độ tăng 45,93%, sở dĩ có sự gia tăng này là do lãi tiền gửi
và tiền cho vay tăng mạnh cùng với việc đầu tư vào trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu mang lại nhiều hiệu quả hơn năm 2006
- Doanh thu hoạt động khác tăng một lượng rất đáng kể 3.061 triệu đồng, tăng quá nhanh so với 2006 với tốc độ 655,46%, việc gia tăng nhanh chóng này xuất phát từ tiền thu về của hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản cố định của công ty ở năm 2007 quá nhiều
Vậy do doanh thu của cả ba hoạt động: bán hàng, cung cấp dịch vụ; tài chính và hoạt động khác đều tăng, đặc biệt là doanh thu hoạt động khác gia tăng quá nhanh, mặt khác do giá xăng dầu biến động mạnh cùng với việc công ty đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tái xuất sang nước ngoài và cùng với việc mở rộng thị trường, sản lượng kinh doanh xăng dầu của hoạt động bán hàng nội bộ tăng lên nhiều… nên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cũng tăng lên đáng kể
Trang 2Bảng 4: DOANH THU THEO THÀNH PHẦN GIAI ĐOẠN 2006 – 2008
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ lệ
(%) Số tiền
Tỷ lệ (%)
DT bán hàng và CCDV 3.339.653 99,982 4.706.148 99,921 7.097.962 99,95 1.366.495 40,92 2.391.814 50,82
Doanh thu khác 467 0,014 3.528 0,075 3.041 0,04 3.061 655,46 (487) (13,80)
Tổng cộng 3.340.255 100 4.709.873 100 7.101.464 100 1.369.618 41,00 2.391.591 50,78
Nguồn: Phòng Kế toán tài chính
Hình 3: Biểu đồ biểu diễn tổng doanh thu của công ty qua 3 năm
3.340.255
4.709.873
7.101.464
0 2.000.000 4.000.000 6.000.000 8.000.000
2006 2007 2008 Năm
Triệu đồng
Trang 3 Năm 2008, tổng doanh thu đạt 7.101.464 triệu đồng, tăng lên thêm
2.391.591 triệu đồng so với năm 2007 với tốc độ tăng 50,78% Sự gia tăng này là do:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 2.391.814 triệu đồng, tương đương tăng 50,82%, hoạt động bán hàng trực tiếp nội địa và bán hàng nội bộ được tăng cường, thêm vào đó các dịch vụ vận tải, dịch vụ hàng dự trữ quốc gia, dịch vụ giữ hộ Tổng công ty có doanh thu tăng đáng kể nên đã góp phần làm cho doanh thu này tăng lên rất nhiều
- Doanh thu hoạt động tài chính tăng lên 264 triệu đồng, nghĩa là tăng với tốc độ 34,01%, nguyên nhân là do tiền lãi thu từ hoạt động tiền gửi, cho vay cũng như lãi do đầu tư tài chính ngắn hạn rất cao
- Các hoạt động khác có doanh thu giảm một lượng là 487 triệu đồng, ứng với tốc độ giảm 13,8%
Nhìn chung, doanh thu năm 2008 tăng so với năm 2007 là do hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ vẫn giữ được tốc độ tăng ổn định, tuy doanh thu hoạt động khác giảm tới 487 triệu đồng nhưng do doanh thu hoạt động tài chính tăng đáng kể nên cũng góp phần làm cho tổng doanh thu tăng lên
4.1.1.2 Phân tích doanh thu theo cơ cấu mặt hàng
Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá Trong quá trình tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn được thể hiện thông qua chỉ tiêu doanh thu Do đó, trong kinh doanh các nhà quản lý luôn quan tâm đến việc tăng doanh thu, đặc biệt là tăng doanh thu bán hàng và cung ứng dịch vụ vì đây
là doanh thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp, là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp tái sản xuất, trang trải các chi phí Tuy nhiên, để làm được điều đó các nhà quản lý cần phải phân tích tình hình biến động của doanh thu theo mặt hàng việc làm này sẽ giúp cho các nhà quản lý có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình doanh thu của doanh nghiệp, biết được mặt hàng nào
có doanh thu cao, mặt hàng nào có nhu cầu cao trên thị trường, mặt hàng nào có
Trang 4nguy cơ cạnh tranh để từ đó đưa ra kế hoạch kinh doanh phù hợp đem lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp
Công ty xăng dầu Tây Nam Bộ là một doanh nghiệp nhà nước chuyên kinh doanh các mặt hàng xăng dầu bên cạnh đó công ty cũng cung cấp các dịch vụ vận tải, dịch vụ hàng dự trữ quốc gia, dịch vụ hàng giữ hộ Tổng công ty, Các mặt hàng xăng dầu chính bao gồm xăng, dầu hỏa, diesel, mazut; và một số sản phẩm phụ như dầu mỡ nhờn, hóa dầu, gas, nhựa đường…
Trang 5Bảng 5: DOANH THU THEO MẶT HÀNG
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ lệ
(%) Số tiền
Tỷ lệ (%)
Trang 6Bảng 6: SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ THEO MẶT HÀNG GIAI ĐOẠN NĂM 2006 – 2008
Sản lượng
Tỷ trọng (%)
Sản lượng
Tỷ trọng (%)
Sản lượng Tỷ lệ
(%) Sản lượng
Tỷ lệ (%)
Trang 7Trong các mặt hàng xăng dầu mà công ty kinh doanh thì diesel và mazut là hai mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng xuất bán cũng như tỷ trọng doanh thu Bên cạnh đó, xăng và dầu hỏa là hai mặt hàng có tỷ trọng sản lượng
và tỷ trọng doanh thu nhỏ hơn diesel và mazut nhưng cả hai mặt hàng này đều là những mặt hàng được kinh doanh phổ biến ở tất cả các cửa hàng xăng dầu của công ty Qua bảng 5 cho thấy doanh thu của bốn mặt hàng này đã chiếm hơn 99% tỷ trọng tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Các mặt hàng còn lại như gas, dầu mỡ nhờn…chiếm tỷ trọng rất nhỏ, do đó mà bài viết này chỉ tập
trung phân tích sự biến động doanh thu của bốn mặt hàng: xăng, dầu hỏa, diesel
và mazut
Qua bảng tổng hợp số liệu ở bảng 5 cho thấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng lên qua 3 năm, trong đó xăng luôn giữ tốc độ tăng trưởng cao nhất Năm 2006 doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt 3.339.653 triệu đồng, năm 2007 là 4.706.148 triệu đồng, tăng 40,92% so với năm 2006 Đến năm
2008, doanh thu này tiếp tục tăng với tốc độ là 50,82% đạt mức 7.097.962 triệu đồng
a) Sự biến động doanh thu của mặt hàng xăng
Hình 4: Biểu đồ biểu diễn doanh thu của xăng qua 3 năm 2006 – 2008
Qua bảng 5 cho thấy doanh thu của mặt hàng xăng đều tăng qua các năm với tốc độ khá nhanh Năm 2006 doanh thu của xăng là 680.576 triệu đồng,
680.576
1.011.398
2.117.930
0 500.000 1.000.000 1.500.000 2.000.000 2.500.000
Triệu đồng
2006 2007 2008 Năm
Trang 8chiếm 20,38% về tỷ trọng của tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Năm 2007, doanh thu mặt hàng này tiếp tục tăng lên thêm 330.822 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 48,61%, với mức biến động đáng kể này đã làm cho doanh thu đạt mức 1.011.398 triệu đồng Nguyên nhân của sự gia tăng này là do giá cả xăng trong nước bị ảnh hưởng bởi tình hình biến động giá cả xăng dầu thế giới Xăng là sản phẩm thiết yếu, ít có sản phẩm thay thế, nó rất cần thiết trong nhu cầu cung cấp nhiên liệu cho các phương tiện đi lại cũng như phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cho nên dù giá xăng có tăng cao thì nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này vẫn không giảm Cụ thể, qua bảng tổng hợp sản lượng tiêu thụ từng mặt hàng (bảng 6, trang 52) thì sản lượng tiêu thụ xăng năm 2007 là 100.317.229 lít, tăng lên 30.835.249 lít, với tốc độ 44,38% so với năm 2006 Kết hợp hai yếu
tố nhu cầu tiêu dùng xăng ngày một tăng cùng với giá bán cũng gia tăng với tốc
độ khá nhanh nên đã làm cho doanh thu của mặt hàng xăng liên tục tăng, doanh thu năm sau lớn hơn rất nhiều so với doanh thu năm trước Đến năm 2008, tình hình tiêu thụ xăng đạt 156.790.816 lít, tăng thêm 56.473.587 lít so với năm 2007 tức là với mức biến động 56,3% Như vậy, cùng với việc giá xăng liên tục tăng ở năm 2008 thì số lượng xăng xuất bán cũng gia tăng một lượng đáng kể nên đã làm cho doanh thu năm 2008 là 2.117.930 triệu đồng, đẩy doanh thu thêm một lượng 1.106.532 triệu đồng, tốc độ 109,41% so với năm 2007
b) Sự biến động doanh thu của mặt hàng dầu hỏa
236.279
274.476
496.591
0 100.000 200.000 300.000 400.000 500.000
Triệu đồng
2006 2007 2008
Năm
Trang 9Từ hai bảng tổng hợp số liệu doanh thu và sản lượng tiêu thụ từng mặt hàng giai đoạn 2006 – 2008 cho thấy dầu hỏa có sản lượng và doanh thu đều tăng qua
3 năm Cụ thể năm 2007, mặt hàng này tiêu thụ được 29.199.557 lít, tăng 559.676 lít (tăng 1,95%) so với năm 2006; đồng thời doanh thu tăng lên thêm 38.197 triệu đồng, đạt mức 274.476 triệu đồng, tăng lên 16,17% Sang năm 2008, doanh thu dầu hỏa là 496.591 triệu đồng, so với năm 2007 thì doanh thu này đã tăng thêm 222.115 triệu đồng (tăng 80,92%) Sự gia tăng sản lượng trên xuất phát từ hoạt động xuất khẩu, tái xuất, bán hàng nội bộ Tổng công ty đối với mặt hàng dầu hỏa tăng mạnh, hơn nữa do giá gas tiêu dùng ngày càng nâng giá nên người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang sử dụng dầu hỏa Thêm vào đó thì giá
cả mặt hàng dầu hỏa biến động mạnh ở năm 2008 nên đã làm cho doanh thu của
nó tăng lên rất nhiều so với năm cũ
c) Sự biến động doanh thu của mặt hàng diesel
Hình 6: Biểu đồ biểu diễn doanh thu của diesel qua 3 năm 2006 – 2008
Diesel là một trong những mặt hàng chủ lực của công ty xăng dầu Tây Nam
Bộ, mặt hàng này luôn đứng đầu về tỷ trọng sản lượng và tỷ trọng doanh thu trong tổng số Cùng với sự tăng giá của mặt hàng xăng thì giá của diesel cũng biến động không ngừng Sự tăng giá này ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của diesel Qua bảng 5 và bảng 6 cho thấy doanh thu và sản lượng của mặt hàng này liên tục tăng từ năm 2006 đến năm 2008 Năm 2007 doanh thu của diesel đạt
1.329.149
1.853.511
2.778.319
0 500.000 1.000.000 1.500.000 2.000.000 2.500.000 3.000.000
Triệu đồng
2007 2008 Năm
2006
Trang 10được 1.853.511 triệu đồng, tăng 524.362 triệu đồng (tăng 39,45%) so với năm
2007 Nguyên nhân của việc doanh thu tăng nhanh là do giá cả của mặt hàng này liên tục leo thang, cùng với sản lượng tiêu thụ ngày càng tăng, năm 2007 có 223.449.132 lít diesel được xuất bán, tăng 21,5% so với năm trước Đến năm
2008, doanh thu mặt hàng này vẫn duy trì mức biến động theo chiều hướng tăng lên, đạt mức 2.778.319 triệu đồng, tăng 924.808 triệu đồng so với năm 2007 Doanh thu năm 2008 tăng lên chủ yếu là do giá bán tăng bởi vì sản lượng tiêu thụ diesel không những không tăng mà còn giảm xuống chỉ có 218.868.660 lít, sản lượng này đã giảm 2,05%
d) Sự biến động doanh thu của mặt hàng mazut
Hình 7: Biểu đồ biểu diễn doanh thu của mazut qua 3 năm 2006 – 2008
Mazut là mặt hàng thứ hai về tỷ trọng sản lượng và tỷ trọng doanh thu trong tổng số sau mặt hàng diesel Năm 2007 doanh thu của mazut đạt 1.554.137 triệu đồng, chiếm 33,02% về tỷ trọng, tăng thêm 472.448 triệu đồng (tốc độ tăng 43,68%) so với năm 2006 Nguyên nhân của sự biến động doanh thu mazut là do giá bán của mazut đã tăng lên cùng với việc sản lượng tiêu thụ tăng 28.831.797
kg Đến năm 2008 doanh thu này tiếp tục tăng lên thêm 132.301 triệu đồng (tăng 8,51%) so với năm 2007, đạt mức 1.686.439 triệu đồng Tuy doanh thu mazut năm 2008 có tăng lên nhưng tốc độ tăng giảm nhiều, nguyên nhân là do giá cả
1.081.689
1.554.137 1.686.439
0 500.000 1.000.000 1.500.000 2.000.000
Triệu đồng
2006 2007 2008 Năm
Trang 11loại nhiên liệu khác có giá cả thấp hơn và do sự xuất hiện của nhiều đầu mối nhập khẩu khác đấu thầu do không thực hiện nghiêm túc về chỉ tiêu chất lượng nên có giá bán thấp hơn giá công ty Do vậy, sản lượng xuất bán của mazut đã giảm 53.385.495 kg so với năm 2007, mặc dù sản lượng giảm nhưng vì giá mazut cũng tăng cao trong năm 2008 nên cũng kéo theo sự tăng lên của doanh thu của mặt hàng mazut
4.1.1.3 Phân tích doanh thu theo phương thức bán
Phân tích doanh thu theo phương thức bán giúp cho các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc nắm bắt được những nhu cầu của khách hàng ở từng phương thức bán, cũng như đánh giá được hiệu quả mà từng phương thức bán mang lại như thế nào trong tổng doanh thu của doanh nghiệp Từ đó định ra những kế hoạch kinh doanh cụ thể khắc phục những yếu kém, phát huy thế mạnh từng bước nâng cao doanh thu của doanh nghiệp và khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường
Công ty xăng dầu Tây Nam Bộ hiện nay có hai hình thức bán chủ yếu là
xuất bán trực tiếp và xuất bán nội bộ (xuất bán nội bộ Tổng công ty và xuất
bán nội bộ công ty) Trong đó, phương thức bán xuất bán trực tiếp được chia thành hai nhóm: xuất bán trực tiếp nội địa (bao gồm bán buôn trực tiếp, bán buôn cho Tổng đại lý, đại lý, bán lẻ) và bán tái xuất
Để biết được tình hình doanh thu của từng phương thức bán như thế nào ta
đi sâu vào phần phân tích dưới đây
XUẤT BÁN TRỰC TIẾP
Xuất bán trực tiếp nội địa
Doanh thu của hoạt động kinh doanh xăng dầu thị trường nội địa luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu bán hàng của công ty Cụ thể các phương thức bán như sau:
a) Bán buôn trực tiếp
Bán buôn trực tiếp là hình thức bán cho các khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, xăng dầu được dùng vào mục đích sản xuất kinh doanh là chủ yếu Trong hình thức bán buôn trực tiếp thì giá bán không giống như giá bán
Trang 12lẻ, khi khách hàng gửi lời mời thầu thì công ty sẽ tham gia vào buổi đấu thầu giá, công ty sẽ đưa ra một mức chào giá trong buổi đấu thầu Các nhà cung cấp sản phẩm cùng loại sẽ đưa ra các mức giá khác nhau, mức giá này do chính doanh nghiệp mình quyết định Người mua là các hộ công nghiệp sẽ chọn lựa nhà cung cấp nào có giá cả hợp lý và mang lại lợi ích cho mình nhiều nhất Nhà cung cấp nào được chọn để cung ứng xăng dầu thì nhà cung cấp đó đã trúng thầu
Dựa vào bảng tổng hợp doanh thu theo phương thức bán ở trang 59 cho thấy doanh thu bán buôn trực tiếp tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm dần
Cụ thể, năm 2007 là 602.874 triệu đồng, tăng 73.356 triệu đồng với tốc độ 13,85% so với năm 2006 Sang năm 2008 doanh thu này cũng tăng nhưng tốc độ chậm hơn chỉ tăng 12,60% so với năm 2007, đạt 678.848 triệu đồng
Tuy doanh thu có tăng qua 3 năm 2006 – 2008 nhưng về tỷ trọng của nó trong tổng doanh thu bán hàng thì giảm dần, năm 2006 chiếm 15,91%, năm 2007 chiếm 12,84%, năm 2008 chỉ còn chiếm 9,59%
Nguyên nhân của tốc độ tăng doanh thu qua các năm chậm dần và ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng doanh thu là do sản lượng xuất bán của phương thức này giảm qua các năm với tốc độ lớn dần Sản lượng bán buôn trực tiếp giảm dần là do có nhiều đối thủ cạnh tranh kinh doanh các mặt hàng xăng dầu kém chất lượng hơn nên khi đấu thầu họ đưa ra các mức giá thấp hơn giá của công ty xăng dầu Tây Nam Bộ, thêm vào đó là vì các hộ công nghiệp chuyển sang sử dụng những nhiên liệu khác có giá thấp hơn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 13Bảng 7: DOANH THU THEO PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG GIAI ĐOẠN 2006 – 2008
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ lệ
(%) Số tiền
Tỷ lệ (%)
A XUẤT BÁN TRỰC TIẾP 2.637.368 79,26 3.320.463 70,75 4.117.956 58,17 683.095 25,90 797.493 24,02
1 Xuất bán trực tiếp nội địa 1.834.161 55,12 1.927.007 41,06 2.608.751 36,85 92.846 5,06 681.744 35,38
- Bán buôn trực tiếp 529.518 15,91 602.874 12,84 678.848 9,59 73.356 13,85 75.974 12,60 -Bán cho tổng đại lý, đại lý 1.010.806 30,38 962.452 20,51 1.346.234 19,02 (48.354) (4,78) 383.782 39,88 -Bán lẻ 293.837 8,83 361.681 7,71 583.669 8,24 67.844 23,09 221.988 61,38
2 Bán xuất khẩu, tái xuất 803.207 24,14 1.393.457 29,69 1.509.205 21,32 590.250 73,49 115.748 8,31
Trang 14Bảng 8: SẢN LƯỢNG XUẤT BÁN THEO TỪNG PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG GIAI ĐOẠN 2006 – 2008
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng Tỷ lệ
(%) Số lượng
Tỷ lệ (%)
Trang 15b) Bán buôn cho Tổng đại lý và đại lý
Công ty bán buôn trực tiếp cho Tổng đại lý sau đó Tổng đại lý sẽ phân phối xuống cho các đại lý trực thuộc Tổng đại lý, hoặc các hộ kinh doanh tư nhân có thể ký hợp đồng trực tiếp làm đại lý của công ty, lúc này công ty sẽ giao thẳng hàng hóa tới các đại lý Đại lý xăng dầu có chức năng như các cửa hàng xăng dầu, đó là bán trực tiếp sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng, chỉ khác là người đứng đầu đại lý là các hộ kinh doanh cá thể
Bảng 7 và bảng 8 thể hiện rõ doanh thu và số lượng xuất bán qua Tổng đại
lý, đại lý như sau: doanh thu có tăng nhưng tỷ trọng của nó trong tổng doanh thu bán hàng ngày càng giảm qua các năm, số lượng xuất bán cũng giảm dần Năm
2007, doanh thu phương thức bán hàng này đạt 962.452 triệu đồng, chiếm 20,51% về tỷ trọng Doanh thu năm 2007 giảm là do số lượng bán ra đã giảm 18.460.256 lít Đến năm 2008, doanh thu bán buôn cho Tổng đại ly, đại lý đã cải thiện được tình hình năm trước và tăng lên 383.782 triệu đồng, đạt 1.346.234 triệu đồng, tốc độ biến động là 39,88%
Nguyên nhân chung của việc doanh thu tuy có tăng qua các năm là do giá bán xăng dầu gia tăng mà đỉnh điểm là năm 2008, năm có nhiều biến động tình hình xăng dầu thế giới, trong năm này tình hình giá cả xăng dầu trong nước có đến 12 lần thay đổi giá Doanh thu tăng không ảnh hưởng từ số lượng xuất bán, bởi vì sản lượng xăng dầu tiêu thụ qua Tổng đại lý, đại lý giảm liên tục qua 3 năm Hiện nay, các công ty cạnh tranh cùng ngành luôn có những hình thức hấp dẫn thu hút sự quan tâm của các đại lý đó là thời hạn thanh toán tiền hàng lâu hơn, định mức công nợ, hoa hồng đại lý cao…Chính các chính sách này đã làm không ít các đại lý chuyển sang phân phối hàng hóa từ các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành Thêm vào đó, một vài đại lý vì mục đích lợi nhuận quá nhiều nên đã pha trộn những hàng hóa không đúng chất lượng vào bán chung với nguồn hàng từ công ty giao xuống, từ việc làm này đã làm cho người tiêu dùng mất lòng tin đối với sản phẩm xăng dầu mang thương hiệu Petrolimex Chính vì thế, công ty xăng dầu Tây Nam Bộ đã chấm dứt hợp đồng với những đại lý không thực hiện đúng những điều khoản mà hai bên đã ký kết
Trang 16c) Bán lẻ
Là hình thức giao dịch trực tiếp giữa công ty và người tiêu dùng thông qua các cửa hàng xăng dầu nằm trên địa bàn Thành phố Cần Thơ Qua bảng 7 (trang 59) thể hiện doanh thu của phương thức bán lẻ tăng dần qua 3 năm, năm sau tăng một lượng luôn nhiều hơn năm trước Doanh thu bán lẻ xăng dầu liên tục gia tăng một mặt là vì giá cả xăng dầu biến động mạnh, mặt khác do đời sống nhân dân được cải thiện, cùng với nhu cầu đi lại ngày càng nhiều nên việc mua sắm các phương tiện lưu thông trở nên phổ biến và dễ dàng từ đó thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ngày càng lớn Chính vì vậy mà sản lượng bán lẻ xăng dầu ngày càng tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc gia tăng doanh thu Sản lượng xăng dầu chính xuất bán năm 2006 là 33.231.123 lít, năm 2007 là 38.340.025 lít, năm 2008
là 43.776.590 lít Cụ thể, doanh thu bán lẻ năm 2006 là 293.837 triệu đồng, năm
2007 tăng thêm một lượng 67.844 triệu đồng, tương đương tăng 23,09% Đến năm 2008, doanh thu này tiếp tục tăng 61,38% và đạt mức cao 583.669 triệu đồng, chiếm 8,24% về tỷ trọng
Bán tái xuất
Bán tái xuất là phương thức bán theo nhu cầu đặt hàng của khách hàng nước ngoài, chủ yếu là Campuchia Đây là việc thực hiện sự ủy nhiệm của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam bởi vì khách hàng từ Campuchia đặt hàng với Tổng công ty sau đó Tổng công ty mới giao xuống cho công ty Năm 2007, nhu cầu sử dụng xăng dầu ở Campuchia tăng mạnh, tăng 53.005.702 lít đã làm cho doanh thu năm này đạt 1.393.457 triệu đồng, tăng 590.250 triệu đồng, tương đương tăng 73,49%
Tuy sang năm 2008 hoạt động xuất khẩu, tái xuất, chuyển khẩu đã giảm về sản lượng đáng kể, chỉ còn 132.147.949 lít, giảm 50.543.386 lít so với năm 2007, nhưng do giá xăng dầu năm 2008 tăng cao nên vẫn làm cho doanh thu tăng lên 115.748 triệu đồng, tức là tăng 8,31% về số tương đối, doanh thu này đạt được 1.509.205 triệu đồng
Trang 17 XUẤT BÁN NỘI BỘ
Hình thức xuất bán nội bộ bao gồm hai hình thức là xuất bán nội bộ Tổng công ty và xuất bán nội bộ công ty Xuất bán nội bộ Tổng công ty là xuất hàng hóa bán cho các công ty thành viên cùng trực thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Về bản chất, hình thức này chỉ là việc nhập và xuất hàng hóa từ trên Tổng công ty giao xuống cho công ty quản lý và hạch toán hộ Xuất bán nội bộ công ty chính là bán cho ba chi nhánh trực thuộc công ty xăng dầu Tây Nam Bộ
Trong những năm gần đây công ty xăng dầu Tây Nam Bộ chỉ có hình thức xuất bán nội bộ Tổng công ty Nhìn chung ở bảng 7 và bảng 8 thấy được doanh thu của phương thức bán hàng này tăng rất nhanh, tỷ trọng doanh thu tăng dần qua các năm và doanh thu chiếm hơn 1/5 tổng doanh thu Năm 2007, doanh thu này đạt 1.373.059 triệu đồng, tăng thêm 682.734 triệu đồng với tốc độ rất nhanh 98,9% Sang năm 2008, tình hình này tiếp tục gia tăng thêm 1.588.263 triệu đồng, tăng hơn 2 lần giá trị năm 2007 (tăng 115,67%) dẫn đến doanh thu xuất bán nội bộ năm 2008 là 2.961.322 triệu đồng
4.1.1.4 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu
Nhìn chung qua bảng 9 (trang 64) cho thấy công ty đã hoàn thành tốt kế hoạch doanh thu do Tổng công ty giao xuống, doanh thu thực hiện vượt 2,74% so với kế hoạch đề ra
BÁN TRỰC TIẾP
Bán buôn, bán cho Tổng đại lý, đại lý
Doanh thu thực hiện của phương thức này đạt được 2.025.082 triệu đồng, vượt 29.317 triệu đồng so với kế hoạch (bảng 9, trang 64) Tình hình thực hiện doanh thu của phương thức bán buôn, bán cho Tổng đại lý, đại lý đã có nhiều cố gắng nên đã vượt chỉ tiêu đề ra Tuy một số hộ công nghiệp đã chuyển sang sử dụng nhiên liệu khác, hoặc chuyển qua sử dụng hàng hóa của các công ty cạnh tranh, thêm vào đó công ty đã giảm bớt một vài đại lý nhưng không vì thế mà doanh thu của phương thức bán này không hoàn thành kế hoạch
Công ty đã đưa ra một số biện pháp giữ chân khách hàng công nghiệp và các đại lý: giá cả hàng hóa, thời hạn thanh toán tiền hàng, định mức công nợ, hoa
Trang 18hồng đại lý…cùng với chất lượng xăng dầu thương hiệu Petrolimex làm cho doanh thu vẫn giữ vững và ổn định
Bảng 9: TÌNH HÌNH HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH DOANH THU NĂM 2008
ĐVT: Triệu đồng
HOẠCH
DT THỰC HIỆN
Chênh lệch
TH so với KH
Số tiền
Tỷ lệ hoàn thành (%) Doanh thu xuất bán trực tiếp 4.035.630 4.117.956 82.326 102,04
Bán buôn, bán Tổng đại lý và đại lý 1.995.765 2.025.082 29.317 101,47
Bán tái xuất
Theo bài phân tích trên thì sản lượng xăng dầu bán tái xuất cho Campuchia
đã giảm một lượng đáng kể so với năm 2007 nhưng doanh thu năm này vẫn hoàn thành kế hoạch, đạt 1.509.205 triệu đồng, vượt 34.205 triệu đồng, tức tăng 2,32%
so với kế hoạch
Trang 19 XUẤT BÁN NỘI BỘ NGÀNH
Doanh thu thực hiện đạt 2.961.322 triệu đồng vượt mức kế hoạch là 3,72 % Doanh thu vượt kế hoạch như vậy là do việc hoàn thành tổng kho xăng dầu Miền Tây là tổng kho xăng dầu hiện đại, đầu mối cung cấp xăng dầu lớn nhất ở vùng ĐBSCL có sức chứa 105.000 m3 với tất cả 14 bồn chứa, 2 cầu cảng có khả năng tiếp nhận tàu tải trọng 15.000 tấn, hệ thống công nghệ xuất nhập bán tự động và
tự động hóa hoàn toàn đã giúp Công ty Xăng dầu Tây Nam Bộ chủ động nguồn xăng dầu kinh doanh, tiết kiệm chi phí vận tải, đáp ứng kịp thời nhu cầu xăng dầu của các tỉnh thành trong vùng nên thu hút được một lượng lớn doanh nghiệp trong Tổng công ty chuyển sang mua hàng của công ty, và cũng nhờ đó lượng xăng dầu tiêu thụ ở các chi nhánh của công ty tăng cao hơn do luôn luôn có đủ xăng dầu đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu ở các địa bàn mà các chi nhánh hoạt động
4.1.1.5 Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Trong điều kiện kinh tế thị trường thì sức mua của người tiêu dùng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả bán hàng của doanh nghiệp, đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Bên cạnh đó, giá cả sản phẩm hàng hoá cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tình hình tiêu thụ và doanh thu của doanh nghiệp
Doanh thu của công ty được cấu thành từ hai yếu tố là giá bán (giá bán bình quân) và sản lượng tiêu thụ Giá bán bình quân của mỗi mặt hàng sẽ được
xác định dựa trên doanh thu bán ra và sản lượng tiêu thụ của mỗi mặt hàng
Để hiểu rõ hơn sự ảnh hưởng của hai nhân tố này đến doanh thu như thế nào ta đi vào phân tích sự ảnh hưởng của nhân tố lượng và giá đến doanh thu qua các năm
Gọi:
∆a: ảnh hưởng của nhân tố sản lượng tiêu thụ đến doanh thu
∆b: ảnh hưởng của nhân tố giá bán đến doanh thu
a) Đối với mặt hàng xăng
Trang 20 Năm 2007 so với năm 2006
Dựa vào bảng số liệu tổng hợp sản lượng và giá bán ở bảng 10, trang 67 ta
đi sâu nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhân tố lượng và giá như sau:
Năm 2008 so với năm 2007
Tóm lại, doanh thu của mặt hàng xăng qua giai đoạn 2006 – 2008 liên tục tăng là do cả giá bán lẫn sản lượng tiêu thụ đều tăng Hai nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi của doanh thu Giá cả xăng dầu tăng là do tình hình chính trị trên thế giới diễn biến phức tạp làm cho giá cả xăng dầu tăng cao, do đó giá nhập khẩu xăng dầu ở nước ta cũng biến động mạnh theo xu hướng đó Sản lượng tiêu thụ tăng là do nhu cầu sử dụng xăng phục vụ cho các phương tiện giao thông tăng nhanh, mở thêm các cửa hàng bán lẻ, chất lượng xăng dầu cùng với
Trang 21phong cách phục vụ khách hàng tốt nên xăng dầu mang thương hiệu Petrolimex luôn tạo được niềm tin đối với người tiêu dùng
b) Đối với mặt hàng dầu hỏa
Năm 2007 so với năm 2006
mà doanh thu dầu hỏa năm này tăng 38.197 triệu đồng so với năm 2006
Năm 2008 so với năm 2007
+ Nhân tố lượng
∆a = ((31.545.583 - 29.199.557) x 9,400)/1000 = 22.053 (triệu đồng)
+ Nhân tố giá
∆b = ((15,742 - 9,400) x 31.545.583)/1000 = 200.062 (triệu đồng)
Năm 2008 doanh thu dầu hỏa tăng 222.115 triệu đồng so với năm 2007 là
do sản lượng tiêu thụ tăng 2.346.026 lít nên làm cho doanh thu tăng 22.053 triệu đồng, đồng thời giá bán dầu hỏa tăng 6.342 đồng/lít đã dẫn đến doanh thu tăng lên thêm 200.062 triệu đồng
Qua bảng phân tích doanh thu theo cơ cấu mặt hàng (bảng 5, trang 52) cho thấy doanh thu của dầu hỏa đều tăng lên qua các năm Sự gia tăng này chủ yếu là
do giá bán của nó biến động mạnh và là mặt hàng có giá biến động ở mức cao nhất trong năm 2008 Mặt khác thì sản lượng xuất bán tăng lên cũng góp phần làm cho doanh thu của dầu hỏa tăng
Trang 22Bảng 10: SẢN LƯỢNG VÀ GIÁ BÁN CÁC MẶT HÀNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2008
Giá bán (1000 đồng)
Trang 23c) Đối với mặt hàng diesel
Năm 2007 so với năm 2006
+ Nhân tố lượng
∆a = ((223.449.132 – 183.914.322) x 7,227)/1000 = 285.718 (triệu đồng)
+ Nhân tố giá
∆b = ((8,295 – 7,227) x 223.449.132)/1000 = 238.644 (triệu đồng)
Vậy do sản lượng tiêu thụ diesel năm 2007 tăng 39.534.810 lít so với năm
2006 nên đã làm cho doanh thu tăng 285.718 triệu đồng, thêm vào đó giá bán đơn vị cũng tăng 1.068 đồng/lít nên làm cho doanh thu mặt hàng này tăng 238.644 triệu đồng
Năm 2008 so với năm 2007
Nhìn chung, doanh thu của diesel tăng lên qua 3 năm 2006 – 2008, doanh thu mặt hàng này tăng lên chủ yếu là do giá bán tăng lên rất nhiều, giá bán tăng góp phần trực tiếp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sự tăng lên doanh thu Nguyên nhân là do tình hình thị trường xăng dầu thế giới biến động mạnh làm ảnh hưởng đến tình hình xăng dầu nước ta vì giai đoạn năm 2006 – 2008 nước ta là một nước nhập khẩu xăng dầu hoàn toàn Bên cạnh đó sản lượng tiêu thụ cũng ảnh hưởng đáng kể đến doanh thu nhưng ở năm 2008 sản lượng này có suy giảm, chủ yếu là do giá bán ở năm này tăng quá cao nên khách hàng hạn chế sử dụng hoặc chuyển sang sử dụng các nhiên liệu khác có giá rẻ hơn mặt hàng diesel
Trang 24d) Đối với mặt hàng mazut
Năm 2007 so với năm 2006
Năm 2008 so với năm 2007
Qua việc phân tích sự biến động sự ảnh hưởng của nhân tố giá và nhân tố sản lượng tiêu thụ đến doanh thu của mặt hàng mazut cho thấy giá bán là nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến sự tăng lên của doanh thu Tuy sản lượng xuất bán của mazut có giảm nhưng ảnh hưởng không nhiều đến sự tăng lên của doanh thu Sản lượng này giảm là do một số khách hàng công nghiệp chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế là than thay cho mazut với giá rẻ hơn, đồng thời sự xuất hiện của nhiều đầu mối nhập khẩu khác khi đấu thầu có giá bán thấp hơn giá của công ty xăng dầu Tây Nam Bộ nên đã làm mất đi một lượng khách hàng quen thuộc của công ty
Trang 254.1.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHI PHÍ
Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất, th ương mại, dịch vụ nhắm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp: doanh thu và lợi nhuận Chi phí là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Mỗi sự tăng, giảm của chi phí sẽ dẫn đến sự tăng giảm của lợi nhuận Phân tích tình hình chi phí qua các năm là xem xét sự biến động của các khoản mục chi phí, đánh giá mức độ chênh lệch từ đó đề ra một số biện pháp hạn chế sự gia tăng và có thể giảm bớt các loại chi phí đến mức thấp nhất
Công ty xăng dầu Tây Nam Bộ là một doanh nghiệp thương mại, chuyên kinh doanh các sản phẩm xăng dầu chính do đó công ty có các loại chi phí khác
với những doanh nghiệp sản xuất Công ty có 2 loại chi phí lớn: giá vốn hàng
bán và chi phí hoạt động Chi phí hoạt động bao gồm chi phí bán hàng và chi
phí quản lý doanh nghiệp
4.1.2.1 Phân tích sự biến động của giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán còn gọi là chi phí mua hàng đối với các doanh nghiệp thương mại Đây là một khoản mục chi phí mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn các mức giá cao, thấp khác nhau dựa vào việc tìm các nhà cung cấp hàng hóa khác nhau Sự tự do lựa chọn các nhà cung ứng khác nhau là đối với các doanh nghiệp thương mại nhìn chung, tuy nhiên công ty xăng dầu Tây Nam Bộ thì chỉ được phép nhận hàng hóa từ công ty tuyến trên đó là Tổng công ty xăng dầu Việt Nam để đảm bảo chất lượng và khối lượng nguồn hàng
Trong những năm gần đây, thị trường xăng dầu thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình xăng dầu trong nước Giá cả xăng dầu thế giới liên tục tăng buộc Bộ Công Thương phải quy định giá trần xăng dầu bằng với giá bán lẻ Kinh doanh trong tình hình chung này thì Tổng công ty sẽ chịu lỗ một khoản nhưng khoản lỗ này được Nhà nước bù đắp
Qua bảng 11 (trang 73) cho thấy giá vốn hàng bán của công ty liên tục tăng
từ năm 2006 đến năm 2008 Năm 2006 tổng giá vốn hàng bán của các mặt hàng
Trang 26là 3.267.183 triệu đồng, năm 2007 tăng lên thêm 1.365.147 triệu đồng (tăng 41,78%), đạt mức 4.632.330 triệu đồng Sang năm 2008, chi phí này là 7.012.432 triệu đồng, tăng 2.380.102 triệu đồng, tức đã tăng 51,38% so với năm 2007
Tình hình biến động giá vốn hàng bán của từng mặt hàng cụ thể như sau:
XĂNG
Hình 8: Giá vốn hàng bán của xăng giai đoạn 2006 – 2008
Năm 2006, giá vốn hàng bán của xăng đạt 665.808 triệu đồng, năm 2007 chi phí này tăng lên rất nhiều, tăng 329.726 triệu đồng (tăng 49,52%) Đến năm
2008, mặt hàng này có giá vốn hàng bán là 2.092.409 triệu đồng, đứng thứ hai về
tỷ trọng trong tổng giá vốn hàng bán của công ty, tăng lên thêm 1.096.875 triệu đồng so với năm 2007, tốc độ tăng rất nhanh 110,18%
655.808
955.534
2.092.409
0 500.000 1.000.000 1.500.000 2.000.000 2.500.000
Triệu đồng
2006 2007 2008
Năm
Trang 27Bảng 11: GIÁ VỐN HÀNG BÁN THEO MẶT HÀNG GIAI ĐOẠN 2006 – 2008
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ lệ
(%) Số tiền
Tỷ lệ (%)
Trang 28 DẦU HỎA
Hình 9: Giá vốn hàng bán của dầu hỏa giai đoạn 2006 – 2008
Giá vốn hàng bán của dầu hỏa chiếm tỷ trọng nhỏ nhất so với các mặt hàng xăng, diesel, dầu hỏa Năm 2006, giá vốn hàng bán của mặt hàng này 231.152 triệu đồng, năm 2007 giá vốn này tăng lên thêm 39.019 triệu đồng (tăng 16,88%)
so với năm 2006, đạt mức 270.171 triệu đồng Đến năm 2008, con số này tiếp tục tăng mạnh lên tới 490.607 triệu đồng, tăng 81,59% so với năm 2007
DIESEL
Hình 10: Giá vốn hàng bán của diesel giai đoạn 2006 – 2008
Diesel là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất về doanh thu, sản lượng và cả giá vốn hàng bán Năm 2006, chi phí mua hàng của diesel là 1.300.306 triệu đồng, đến năm 2007 chi phí này tăng lên với tốc độ 40,31% nên đã đạt mức
231.152
270.171
490.607
0 100.000 200.000 300.000 400.000 500.000
Triệu đồng
2006 2007 2008
Năm
Trang 292008, giá vốn hàng bán của diesel tiếp tục tăng với tốc độ 50,45% vượt 920.402 triệu đồng so với năm 2007
MAZUT
Hình 11: Giá vốn hàng bán của mazut giai đoạn 2006 – 2008
Gía vốn hàng bán của mặt hàng mazut luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng giá vốn hàng bán của công ty, chỉ đứng sau diesel và xăng Năm 2007, tình hình giá cả xăng dầu biến động mạnh nên làm cho giá vốn của các mặt hàng đều tăng, trong đó mazut đã tăng thêm 471.543 triệu đồng, tăng 44,56% so với năm
2006, đạt mức 1.529.760 triệu đồng Sự biến động này không dừng lại ở năm
2008 mà tiếp tục vượt 136.358 triệu đồng so với năm 2007, làm cho giá vốn của mặt hàng này là 1.666.117 triệu đồng
4.1.2.2 Phân tích sự biến động của chi phí hoạt động
Chi phí hoạt động bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh chung trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty, do đó
để biết được chi phí hoạt động của từng mặt hàng là như thế nào thì ta sẽ tiến hành phân bổ chi phí hoạt động dựa trên tỷ trọng doanh thu của từng mặt hàng qua từng năm
Chi phí hoạt động từng mặt hàng của công ty được thể hiện ở bảng 12 (trang 77) Số liệu tổng hợp từ bảng 12 cho thấy tổng chi phí hoạt động năm
2007 có tăng so với năm 2006, tăng thêm 10.880 triệu đồng (tăng 18%) đạt 71.306 triệu đồng Đến năm 2008, chi phí hoạt động tiếp tục đạt 81.409 triệu đồng, tăng thêm 10.103 triệu đồng với tốc độ 14,17% so với năm 2007
1.058.216
1.529.760 1.666.117
0
500.0001.000.0001.500.0002.000.000
Triệu đồng
2006 2007 2008
Năm
Trang 30 CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG CỦA XĂNG
Năm 2006 chi phí hoạt động của xăng là 12.315 triệu đồng, đến năm 2007 chi phí này tăng lên một lượng đáng kể, tăng 24,44%, vượt 3.009 triệu đồng so với năm 2006 Chi phí hoạt động của xăng đứng thứ 3 về tỷ trọng trong tổng chi phí ở hai năm 2006, 2007; đến năm 2008 chi phí hoạt động của xăng lại tiếp tục tăng lên thêm 8.966 triệu đồng, tốc độ rất lớn tăng 58,51%, đạt 24.291 triệu đồng Chính vì sự gia tăng này dẫn đến chi phí hoạt động của mặt hàng này chiếm 29,84% về tỷ trọng, đứng thứ 2 so với các mặt hàng khác
CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG CỦA DẦU HỎA
Chi phí hoạt động của mặt hàng dầu hỏa có sự tăng và giảm qua giai đoạn 3 năm 2006 – 2008 Năm 2007 so với năm 2006 thì chi phí này biến động theo chiều hướng giảm, giảm 116 triệu đồng, tốc độ là 2,72% Sang năm 2008, chi phí này biến động tăng, tăng một lượng 1.537 triệu đồng, tốc độ tăng đáng kể 36,95% dẫn đến chi phí hoạt động của dầu hỏa của năm này là 5.696 triệu đồng
CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG CỦA DIESEL
Cũng giống như mặt hàng xăng, chi phí hoạt động của diesel tăng dần qua
3 năm Giai đoạn 2006 – 2007 chi phí hoạt động của mặt hàng này tăng, năm
2007 giá trị của chi phí này là 28.085 triệu đồng, tăng 4.035 triệu đồng (tăng 16,78%) so với năm 2006 Đến năm 2008 chi phí này cũng tăng lên 3.779 triệu đồng với mức biến động 13,46%, đạt 31.865 triệu đồng
CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG CỦA MAZUT
Mazut là mặt hàng có chi phí hoạt động tăng, giảm qua 3 năm Trong năm
2007 chi phí này tăng 3.976 triệu đồng so với năm 2006, đạt 23.548 triệu đồng, sang năm 2008 chi phí này đã giảm được 4.206 triệu đồng với tốc độ 17,86% so với năm 2007
Trang 31Bảng 12: CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG CÁC MẶT HÀNG GIAI ĐOẠN 2006 – 2008
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ lệ
(%) Số tiền
Tỷ lệ (%)
Trang 324.1.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN GIAI ĐOẠN 2006 – 2008
Lợi nhuận là một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong việc phân tích đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Vì lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, lợi nhuận phản ánh đầy đủ về mặt số lượng và chất lượng của một doanh nghiệp, phản ánh kết quả của việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất như nguyên liệu, lao động, tài sản cố định Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp đồng thời cũng là nguồn vốn cơ bản để tái đầu tư cho doanh nghiệp Vì vậy, để có thể phân tích đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chúng ta cần phân tích tình hình lợi nhuận trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
4.1.3.1 Tình hình lợi nhuận thực tế qua 3 năm
Phân tích kết quả tình hình lợi nhuận là xem xét sự biến động lợi nhuận của toàn doanh nghiệp, so sánh sự biến động này với năm trước hoặc đánh giá mức
độ hoàn thành, vượt hay không hoàn thành kế hoạch đã đề ra Từ những so sánh đánh giá trên doanh nghiệp sẽ tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự thay đổi đó và sau đó đề ra những biện pháp kịp thời, những chiến lược kinh doanh phù hợp cho những năm tiếp theo
Bảng 13: LỢI NHUẬN THỰC TẾ CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2006 - 2008
Tỷ lệ (%)
Tổng lợi nhuận trước thuế 10.805 2.320 4.767 (8.485) (78,53) 2.447 105,47 Thuế TNDN hiện hành 3.458 650 1.335 (2.808) (81,20) 685 105,38 Lợi nhuận sau thuế TNDN 7.347 1.670 3.432 (5.677) (77,27) 1.762 105,51
Trang 33Hình 12: Biểu đồ biểu diễn lợi nhuận sau thuế TNDN của công ty
giai đoạn 2006 – 2008
Qua bảng tổng hợp số liệu lợi nhuận thực tế của toàn công ty cho thấy lợi nhuận của toàn công ty có sự tăng giảm qua các năm Cụ thể năm 2007 lợi nhuận công ty giảm đáng kể so với năm 2006 Trong khi năm 2006 công ty hoạt động
có lãi 7.347 triệu đồng thì năm 2007 chỉ còn lãi 1.670 triệu đồng, giảm 5.677 triệu đồng tương đương giảm 77,27% Nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận của công
ty giảm nhiều ở năm 2007 là do công ty phát sinh các khoản mục chi phí khá cao: chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp tăng 10.880 triệu đồng, chi phí hoạt động khác tăng 1.570 triệu đồng (bảng BCKQKD, trang 44) Đến năm 2008, lợi nhuận của công ty đã lên mức 3.432 triệu đồng, tăng 1.762 triệu đồng nghĩa là tăng với tốc độ 105,51% so với năm 2007 Năm 2008 công ty kinh doanh có lãi hơn là vì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính tăng lên góp phần làm tăng lợi nhuận
Lợi nhuận của một doanh nghiệp do 3 nguồn mang lại: đó là lợi nhuận từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động khác Sau đây ta đi sâu tìm hiểu sự đóng góp của từng khoản mục lợi nhuận qua từng năm trong giai đoạn 3 năm 2006 – 2008 là như thế nào?
4.1.3.2 Phân tích lợi nhuận từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ
Trong mỗi doanh nghiệp thì hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ luôn
là hoạt động chủ lực, do đó lợi nhuận mang lại từ hoạt động này luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng lợi nhuận của toàn doanh nghiệp Đối với công ty xăng
7.347
1.670
3.432
0 2.000 4.000 6.000 8.000
Triệu đồng
2006 2007 2008 Năm
Trang 34dầu Tây Nam Bộ là một doanh nghiệp thương mại thì điều này càng được thể hiện rõ nét nhất ở bảng tổng hợp số liệu (bảng 14, trang 81)
Để tìm hiểu rõ sự biến động của lợi nhuận này ta sẽ phân tích chi tiết sự ảnh hưởng của 2 thành phần hình thành nên lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch
vụ đó là lãi gộp và chi phí hoạt động
Qua bảng phân tích ta thấy doanh thu thuần năm 2007 tăng so với năm
2006 là 1.366.495 triệu đồng, tương đương 40,92%; năm 2008 doanh thu thuần tiếp tục tăng với tốc độ 50,82% tương đương mức biến động tuyệt đối là 2.391.814 triệu đồng Điều này cho thấy tình hình kinh doanh của công ty gia tăng đáng kể, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của thị trường Tuy doanh thu thuần có tăng lên giữa các năm nhưng tốc độ này luôn thấp hơn so với tốc độ gia tăng của giá vốn hàng bán (Cụ thể, năm 2007 so với năm 2006: tốc độ tăng doanh thu thuần 40,92% < tốc độ tăng giá vốn hàng bán 41,78%; năm 2008 so với năm 2007: tốc độ tăng doanh thu thuần 50,82% < tốc độ tăng giá vốn hàng bán 51,38%)
Do Việt Nam chỉ mới khai thác được xăng dầu thương mại để sử dụng vào ngày 22/02/2009 nên thời gian trước đó nước ta hoàn toàn sử dụng xăng dầu nhập khẩu từ nước ngoài Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2008 tình hình chính trị thế giới lại không ổn định nên ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả xăng dầu thế giới do vậy mà chi phí mua hàng của công ty luôn tăng cao Chính
sự gia tăng của giá vốn hàng bán vượt qua tốc độ tăng doanh thu thuần nên điều này đã ảnh hưởng đến sự giảm sút lợi nhuận của công ty
Xét về chi phí hoạt động ta thấy chi phí hoạt động của công ty tăng dần qua
3 năm Năm 2006 so với năm 2007 chi phí hoạt động tăng 10.879 triệu đồng, tương đương 18% trong khi đó lãi gộp chỉ tăng 1.348 triệu đồng, tương đương 1,86% nên làm cho lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm 9.531 triệu đồng, tương đương 79,14% Đến năm 2008, chi phí hoạt động tăng 10.103 triệu đồng (tăng 14,17%) trong khi lãi gộp tăng lên 11.172 triệu đồng (tăng 15,87%)
so với năm 2007 nên làm cho lợi nhuận bán hàng ở năm 2008 tăng 1.609 triệu