1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÁP LUẬT về NGHĨA vụ tài CHÍNH của NGƯỜI sử DỤNG đất đối với NHÀ nước ở VIỆT NAM HIỆN NAY tt

27 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 456,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 9380107

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS PHẠM THỊ GIANG THU

PGS-TS NGUYỄN THỊ NGA

Phản biện 1: GS.TS Hoàng Thế Liên

Phản biện 2: PGS.TS Trần Thị Thúy Lâm

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thị Thương Huyền

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại:

Vào hồi: giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đất đai là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế của các quốc gia Ở Việt Nam, đất đai là tài sản công và quyền quản lý, thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công được chế định bằng pháp luật đất đai Đất đai được khai thác, sử dụng hiệu quả hay không phụ thuộc vào mức độ vốn hóa

để chuyển tài nguyên thành tài sản, thành vốn Đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế chính là đảm bảo công bằng cả về kinh tế và xã hội của các chủ thể trong quan hệ đất đai Trong bốn công cụ quản lý của các lý thuyết về quản lý đất đai hiện nay, công cụ tài chính đất đai giữ vai trò cân bằng lợi ích của các bên một cách trực tiếp nhất

Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) - Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2012 đã xác định hoàn thiện pháp luật về tài chính đất đai là một nội dung cần thực hiện trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đưa nước

ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tiếp tục thực hiện mục tiêu này, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam

đã định hướng yêu cầu cải cách với những tiêu chí rõ ràng; cụ thể “cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng đơn giản, ổn định, công khai, minh bạch và công bằng” là một trong các nhiệm vụ trước mắt

Tính đến hết 31/12/2018, diện tích đất đưa vào sử dụng ở nước ta là 93.7% tổng diện tích đất tự nhiên [88] Thu ngân sách từ đất giai đoạn 2013 – 2018, chiếm tỉ trọng trung bình khoảng 14,4% thu nội địa Từ sau khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực, tỉ lệ thu ngân sách từ đất trên tổng thu nội địa tăng đáng kể cả về tổng thu lẫn tỉ lệ phần trăm; Cụ thể từ 11,1% (năm

Trang 5

2013), 11,4% (năm 2014) lên 13.3% (năm 2015), 15,9% (năm 2016), 16,8% (năm 2017) và 17,9% (năm 2018) Nội dung thu ngân sách từ đất hiện tập trung chủ yếu vào nghĩa vụ tài chính (NVTC) của người sử dụng đất (NSDĐ) đối với Nhà nước Mặc dù kết quả thu ngân sách từ đất luôn tăng cao trong những năm gần đây nhưng nguồn thu mang yếu tố quyết định lại không ổn định, thiếu bền vững Thuế thu từ đất có cơ sở thu ổn định nhưng mức thu lại thấp, tỉ trọng thu thuế đất trên tổng thu từ đất chưa đến 1,3%, thấp hơn chi phí quản lý thuế Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới thì chi phí hoạt động quản lý thuế của Việt Nam chiếm đến 2% tổng thu từ thuế Như vậy, thuế đất đai hiện nay không đủ để bù đắp chi phí hành thu Ngược lại, tiền sử dụng đất là khoản thu ngân sách từ đất chiếm tỉ trọng lớn nhất, trung bình khoảng 70% nguồn thu ngân sách từ đất nhưng cơ sở thu không bền vững Gần đây nhất, báo cáo số 42/BC-KTNN ngày 11 tháng 5 năm 2020 của Kiểm toán Nhà nước về quyết toán ngân sách năm 2018 cho thấy thu ngân sách năm 2018 bằng 110,7% năm 2017, song kết quả tăng thu nội địa chủ yếu từ thu tiền sử dụng đất Tiền sử dụng đất chỉ thu được một lần cho một diện tích đất cụ thể, không thu hàng năm Với tỉ lệ đất tự nhiên đã đưa vào sử dụng cao như hiện nay, tương lai thu từ đất trong tương lai sẽ giảm mạnh, không bảo đảm quyền kinh tế của chủ sở hữu đất

Tình hình hoạt động quản lý, sử dụng đất tại các địa phương từ năm

2013 đến năm 2020 qua thanh tra của Thanh tra Chính phủ và kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước cho thấy tồn tại những hạn chế trong quy định về NVTC của NSDĐ và sai phạm trong thực thi pháp luật Hầu hết các địa phương đều xảy ra tình trạng thất thu ngân sách từ đất, phổ biến là xác định không đúng NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, tính không đúng, không

đủ, chậm thu, chậm nộp mà không phạt chậm nộp Nguyên nhân của tình

Trang 6

trạng trên xuất phát từ thực trạng pháp luật NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước chưa hoàn thiện Quy định về xác định NVTC như loại đất, đơn giá, chu kỳ giá, thuế suất… còn nhiều bất cập Thực trạng pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước vẫn còn nhiều kẽ hở và khoảng trống pháp lý dẫn tới gian lận, trốn và tránh thực hiện pháp luật Thực hiện pháp luật còn tồn tại tình trạng không tuân thủ, không thi hành pháp luật từ phía NSDĐ

và áp dụng pháp luật không chính xác từ phía cơ quan quản lý đất đai, cơ quan thuế NSDĐ trốn và tránh thực hiện NVTC đất đai, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, không làm thủ tục hợp pháp để trốn nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, thuế thu nhập Cơ quan quản lý đất đai và cơ quan thuế áp dụng pháp luật còn nhiều sai phạm như: không ký hợp đồng thuê đất, không làm phiếu chuyển thông tin địa chính nên không thể xác định NVTC của NSDĐ, tính không đúng, không đủ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, áp dụng quy định miễn giảm không đúng đối tượng Tất cả thực trạng trên đã

và đang gây thất thu ngân sách Nhà nước từ đất ở Việt Nam

sử dụng đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay là rất cấp thiết Nghiên

cứu này sẽ góp phần giải quyết những tồn tại trong thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tài chính đất đai Công cụ tài chính trong quản lý đất đai được hoàn thiện sẽ phát huy tốt nguồn lực đất đai, thúc đẩy quá trình vốn hóa đất đai được hiệu quả

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam

Trang 7

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nghĩa

vụ tài chính và lý luận về pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước:

Cụ thể phân tích làm rõ các cơ sở lý thuyết về nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của NSDĐ; vai trò của tài chính về đất trong quản lý đất đai, đặc điểm pháp luật về NVTC của NSDĐ; tiêu chí, nguồn luật, cơ cấu nội dung của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực

hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất trong bối cảnh cải cách tài chính đất đai để hướng tới hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN Luận án tập trung phân tích nội dung các quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ, phạm vi nghĩa vụ, thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ, trình tự thủ tục thực hiện từng loại tiền trong nhóm NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước

Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và những khó khăn,

hạn chế, nguyên nhân, yêu cầu điều chỉnh pháp luật, luận án đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu các lý thuyết kinh tế về địa tô của Karl Marx,

lý thuyết về đánh thuế đất đai của Adam Smith, Henry George để làm tiền

đề cho lý luận về pháp luật NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, nghiên cứu các quy định pháp luật về NVTC của NSDĐ từ

Luật đất đai năm 1987 đến pháp luật hiện hành và thực trạng pháp luật

Trang 8

Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật NVTC của NSDĐ

đối với Nhà nước ở một số tỉnh thành và kết quả hành thu tài chính đất đai trên phạm vi cả nước

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài, luận án giới hạn phạm

vi nghiên cứu ở việc đi sâu phân tích, tìm hiểu các quy định hiện hành về nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước, gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất và lệ phí trước bạ

Về không gian: nghiên cứu việc thực hiện pháp luật trên phạm vi cả nước;

Về thời gian: Do quyết toán ngân sách Nhà nước được thực hiện chậm hơn so với năm hành thu khoảng hai (02) năm, nên số liệu thu ngân sách từ đất được sử dụng trong khoảng thời gian từ 2013 đến 2018

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp luật học so sánh

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước để rút ra những kết luận, nhận định tổng quát; làm cơ sở cho xây dựng quan điểm và đề xuất giải pháp hoàn thiện

- Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng trong toàn bộ các chương của luận án nhằm trình bày các nội dung, vấn đề theo một bố cục hợp lý, gắn kết

Trang 9

- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương trong luận án để luận giải các vấn đề đặt ra từ lý luận đến thực tiễn về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước

- Phương pháp luật học so sánh được sử dụng vào chương 2 và chương 4 của luận án Trên cơ sở quy định của các quốc gia trên thế giới về NVTC của chủ đất đối với Nhà nước, luận án rút ra những điểm tương đồng, khác biệt, so sánh để đánh giá được những ưu, nhược điểm của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước ở Việt Nam; trên cơ sở đó xây

dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật

5 Những điểm mới của luận án

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu liên quan đến NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, với sự nghiên cứu độc lập và nghiêm túc, luận án có những đóng góp khoa học sau đây:

- Thứ hai, luận án đã phân tích thực trạng pháp luật và thực hiện

pháp luật về nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước Dựa trên xây

Trang 10

dựng cấu trúc nội dung pháp luật NVTC của NSDĐ, luận án đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí đất đai

Một trong những điểm mới của luận án chính là cách thức tiếp cận thực trạng pháp luật về các khoản thu từ đất mà NSDĐ phải nộp Luận án phân tích quy định theo cơ cấu nội dung pháp luật về NVTC của NSDĐ mà luận án đã xây dựng ở phần lý luận Quy định của pháp luật về nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) và lệ phí đất đai phải được làm rõ theo

cơ cấu: thời điểm phát sinh nghĩa vụ, phạm vi nghĩa vụ (mức nộp, giá đất, cách xác định), cơ sở thu, thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ, thủ tục thực hiện, chính sách miễn giảm

Từ thực trạng thực hiện pháp luật nêu trên, luận án chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước: (i) quy định về các loại nghĩa vụ tài chính cụ thể vẫn chưa bao quát hết các cơ sở thu, chưa bảo đảm tính ổn định, minh bạch, công bằng và thực tiễn hành thu vẫn tồn tại nhiều gian lận, thất thoát; (ii) thất thoát tiền sử dụng đất do quy định về nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất còn bất cập; (iii) thất thoát tiền thuê đất do công tác quản lý đất đai lỏng lẻo và thiếu quy định điều chỉnh; (iv) thuế thu nhập từ chuyển nhượng QSDĐ hiện nay có cơ sở thuế không thống nhất giữa Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật thuế thu nhập cá nhân; (v) quy định về NVTC của NSDĐ chưa điều chỉnh kịp thời những sản phẩm BĐS mới phát sinh trên thị trường hiện nay

- Thứ ba, luận án đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp

luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, phù hợp với mục tiêu cải cách tài chính đất đai và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện

Trang 11

nay: (i) xây dựng các loại nghĩa vụ tài chính có cơ sở thu là giá trị tăng thêm từ đất bằng công cụ thuế, bổ sung thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm; (ii) bổ sung chế tài trong trường hợp chậm xác định NVTC; (iii) hoàn thiện quy định về thủ tục cho thuê đất để quy định thống nhất thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp tiền thuê đất; (iv) hoàn thiện quy định đơn giá thuê đất trả tiền hàng năm không thông qua đấu giá theo hướng xác định theo từng năm tài chính; (v) các giải pháp tránh thất thoát tiền thuê đất; (vi) thuế

sử dụng đất cần quy định thuế suất ở mức hợp lý hơn, phù hợp với cơ sở thu; (vii) thống nhất quy định cơ sở thuế của thuế thu nhập từ chuyển nhượng QSDĐ của cá nhân và doanh nghiệp là như nhau theo hướng đánh trên thu nhập ròng để bảo đảm nhất quán với bản chất thuế này; (viii) hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa chính và hình thức thanh toán trong giao dịch đất đai Những giải pháp luận án đưa ra bao quát từ cơ sở thu đến thủ tục thực hiện, từ quy định chung đến quy định cụ thể

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

Thứ nhất, về mặt lý luận, luận án là công trình khoa học nghiên cứu

một cách hệ thống các vấn đề từ cơ sở lý thuyết, lý luận đến thực trạng pháp luật về nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước Luận án đã tổng hợp, vận dụng các lý thuyết của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển như lý thuyết kinh tế về địa tô, lý thuyết về đánh thuế đất đai để luận giải cơ sở hình thành NVTC đất đai của NSDĐ Cơ sở lý luận cho pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước cũng được luận án làm rõ Những nghiên cứu

về mặt lý luận của luận án có thể góp phần giúp các nhà nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các nguyên tắc, tiêu chí của NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước khi sửa đổi, bổ sung Luật đất đai năm 2013

Thứ hai, về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật

và thực tiễn thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước của

Trang 12

luận án đã chỉ ra những bất cập, vướng mắc, khoảng trống trong điều chỉnh pháp luật hiện nay Luận án đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về NVTC đối của NSDĐ với Nhà nước; gợi mở cho các nhà lập pháp tham khảo như một quan điểm đề xuất sửa đổi Luật đất đai năm 2013

7 Cơ cấu của luận án

Luận án gồm có: Phần mở đầu; Bốn chương; Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo;

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận án

Chương 2: Lý luận về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất và

về pháp luật nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước

Chương 3: Thực trạng pháp luật và đánh giá việc thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CỦA LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Tác giả chia thành những nhóm công trình nghiên cứu sau:

Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến những vấn đề lý luận nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người sử dụng đất

Trang 13

Nhóm thứ hai: Các công trình khoa học liên quan đến thực trạng pháp luật nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước

1.2 Những nội dung nghiên cứu liên quan đƣợc luận án kế thừa

Thứ nhất, những nội dung liên quan đến cơ sở lý luận nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước được luận án kế thừa

Một là, luận án đã tiếp thu cơ sở lý thuyết kinh tế về địa tô, lý

thuyết về đánh thuế đất đai của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển K.Mark, Henry George Đây là cơ sở cho việc thực hiện quyền kinh tế đối với đất đai của chủ sở hữu đất

Hai là, pháp luật về NVTC của NSDĐ là công cụ quan trọng để

thực hiện công bằng trong tiếp cận đất đai, động viên về mặt kinh tế giữa các chủ sử dụng đất Các công trình này đã giúp luận án có được những nhận thức cơ bản về vai trò của tài chính đất đai trong quản lý đất đai trong thực hiện công bằng xã hội và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Ba là, các quốc gia với các hình thức sở hữu đất khác Việt Nam đã

có những chính sách tài chính đất đai khác nhau nhưng tựu trung đều đánh trên giá trị đất và giá trị tăng thêm từ đất Các nghiên cứu này cũng gợi mở cho luận án những thông tin cần thiết để so sánh đối chiếu với Việt Nam và

đánh giá vấn đề một cách toàn diện

Thứ hai, những nội dung liên quan đến thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất với Nhà nước được luận án kế thừa

Một là, giá trị tăng thêm từ đất khi khả năng sinh lợi tăng được thể

hiện bằng giá trị tính thành tiền Mọi giá trị tăng thêm từ đất sẽ thuộc về Nhà nước sau khi trừ đi phần giá trị thuộc về NSDĐ Đây chính là nguồn

Ngày đăng: 17/12/2020, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w