Từ đó, làm rõ nét khácbiệt, nổi trội, ưu thế của văn học mà không một loại hình nghệ thuật nào có thể thay thế được.. Song, tựu chung lại, văn học là một loại hình ý thức xã hội thẩm mĩ
Trang 1BÀI ĐIỀU KIỆN MÔN LÝ LUẬN VĂN HỌC
Họ và tên: Lê Thị Thảo
Lớp C: Khoa Ngữ Văn
Giảng viên: Đỗ Văn Hiểu
Đề bài: “Anh chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về số phận của văn học trong
thời đại của bùng nổ văn hóa nghe nhìn Trong tương lai con người có cần đến văn học nữa hay không? Vì sao?”
có cần đến văn học nữa hay không? Đó là một vấn đề lớn cần được giải đáp Song
ta vẫn khẳng định một điều rằng: Văn học chắc chắn sẽ vẫn tiếp tục và tồn tại cho
dù đứng trước thách thức của các loại hình nghệ thuật khác đang ngày càng bùng
nổ và chiếm ưu thế Để lý giải vấn đề này tôi xin bàn về chức năng và chất liệu củavăn học trong tương quan với các loại hình nghệ thuật khác Từ đó, làm rõ nét khácbiệt, nổi trội, ưu thế của văn học mà không một loại hình nghệ thuật nào có thể thay thế được
II Nội dung
1 Khái niệm văn học là gì?
Trước tiên, ta phải khẳng định rằng có rất nhiều quan điểm xoay quanh khái niệm văn học là gì Có ý kiến cho rằng văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người Có ý kiến khác lại cho rằng văn học cũng
Trang 2chỉ là hiện thực đời sống Song, tựu chung lại, văn học là một loại hình ý thức xã hội thẩm mĩ thuộc kiến trúc thượng tầng, là tác phẩm bằng ngôn từ - đây cũng là bản chất của văn học, nhằm phân biệt văn học với các loại hình nghệ thuật khác.
2 Vị trí của văn học trước khi bùng nổ văn hóa nghe nhìn
Như chúng ta đã thấy, văn học đối với đời sống con người là vô cùng quan trọng Nếu như trước kia người ta coi văn chương như một phương tiện để truyền tải đạo lí “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, văn chương dùng để nói trí,
để tuyên truyền đạo đức, ứng xử ở đời Văn học đóng vị trí vô cùng quan trọng Trong thời phong kiến để tuyển chọn người tài người ta tổ chức các cuộc thi về văn Quan văn – quan võ ngang bằng nhau trong xã hội, đây là hai yếu tố được
đề cao với một bậc quân tử, người tài Người ta tìm đến văn chương như một người bạn, là nguồn tri thức khổng lồ để hoàn thiện nhân cách, trí tuệ bản thân
Và dường như văn học là nguồn cung cấp kiến thức, tìm kiếm sự giải trí, sự đồng điệu về cảm xúc duy nhất Sự hạn chế về công nghệ, các loại hình giải trí khác chưa được đề cao và phát triển rực rỡ như ngày nay thì vị trí của văn học càng được đề cao
Tuy nhiên, ngày nay với sự bùng nổ của văn hóa nghe nhìn thì số phận, vai trò của văn học cũng ít nhiều thay đổi Người ta tìm đến nhiều nguồn khác nhau để giải trí, giáo dục, thưởng thức: hội họa, ca nhạc, nhảy múa,… Vậy câu hỏi đặt
ra và cần được giải quyết là: điều gì làm cho văn học có thể tiếp tục tồn tại và con người vẫn luôn cần đến văn học Để minh chứng cho vấn đề trên tôi sẽ đi làm sáng rõ giá trị, sự khác biệt trong chất liệu và chức năng của văn học so vớicác loại hình nghệ thuật khác
3 Chất liệu của văn học (ngôn từ) trong tương quan chất liệu với các loại hình khác Từ đó, thấy được sự khác biệt, cũng như giá trị của việc dùng ngôn từ trong biểu đạt giá trị tác phẩm và tư tưởng của nhà văn.
Văn học không chỉ là một loại hình thái ý thức xã hội mà còn là một loại hình nghệthuật Do đó phải tiến lên so sánh với các loại hình nghệ thuật khác Đặc trưng của các loại hình nghệ thuật xét đến cùng cũng là bắt nguồn từ chất liệu của nó Nếu như chất liệu của hội họa là màu sắc, đường nét, của âm nhạc là âm thanh và tiết tấu, của vũ đạo là hình thể và động tác,… đều là vật chất với những trạng thái của
nó Thì chất liệu của văn học chính là ngôn từ, không phải là bản thân vật chất mà chỉ là một hệ thống những kí hiệu mà thôi Nói văn học là nghệ thuật của ngôn từ nhưng không phải là những ngôn từ logic chỉ tác động chủ yếu vào lý tính như chính trị, triết học,… mà phải là ngôn từ giàu hình ảnh và tình cảm, tác động chủ
Trang 3yếu vào tâm hồn con người Dưới đây, tôi sẽ làm rõ nét độc đáo, giá trị trong việc
sử dụng ngôn từ trong tương quan với chất liệu của các loại hình nghệ thuật khác:
a Ngôn từ có khả năng biểu đạt thế giới chủ quan của con người cả về cảm xúc, tư tưởng, cảm giác
Do ngôn ngữ là cái “vỏ bọc trực tiếp của tư duy” (theo quan điểm của Mác), là kí hiệu của tư duy cho nên những suy nghĩ, cảm xúc hoặc bất cứ trạng thái tư tưởng tình cảm nào của con người dù không nói ra cũng phải thông qua ngôn ngữ để tư duy Chính vì ngôn ngữ là vỏ bọc của tư duy nên để giải phóng khả năng tư duy người ta phải hướng tới cách tân và mở rộng ngôn ngữ
Thứ nhất, văn học lấy ngôn ngữ làm chất liệu nên có thể bộc lộ trực tiếp cảm xúc, tình cảm của nhân vật hay của chính nhà văn.
Trong thơ Xuân Diệu, tiếng lòng của một hồn thơ khát khao sự sống, khát khao tình yêu được thể hiện một cách rõ nét:
“Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đắm đắm”
Trong tình yêu làm sao để không có nỗi nhớ Nỗi nhớ đã trở thành một hương vị quen thuộc không thể thiếu trong tình yêu Nỗi nhớ cháy bỏng, cồn cào đang gào thét trong trái tim dường như muốn nổ tung vì nhớ em Trong thơ Xuân Diệu nỗi nhớ càng được đẩy lên cao trào Khi yêu nhau họ nhớ nhau từ hình bóng, mái tóc, đôi mắt long lanh đang rực cháy ngọn lửa của tình yêu Có gì đâu nếu con người tabộc lộ nỗi nhớ, ca dao xưa cũng có câu:
“Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
Cái hay của văn học là tình cảm của nhân vật, cảm xúc của họ không phải được thểnhư: tiếng nấc, gào thét tuyệt vọng như trong phim, không phải là giai điệu trầm lắng hay cao vót trong âm nhạc, có thể dùng tai, mắt để cảm nhận Mà trong văn học cảm xúc nhân vật tuy được bộc lộ trực tiếp qua ngôn từ, nhưng để hiểu và thấu
Trang 4cảm được ta phải lắng nghe tiếng lòng đồng cảm của chính mình và tưởng tượng, liên tưởng
Thứ hai, văn học với chất liệu là ngôn từ còn thể hiện quá trình tư duy Hình
tượng văn học có được là một quá trình đọc và nghiền ngẫm của bạn đọc Nếu các loại hình nghệ thuật khác quá trình tư duy gần như rất ít, bởi đó là các loại hình vậtchất, tác động trực tiếp vào các giác quan của con người Ngược lại, khi đọc một tác phẩm văn học đòi hỏi bạn đọc phải đọc toàn bộ tác phẩm, mỗi chương, mỗi phần là sự chuyển mình trong thế giới nội tâm nhân vật Hình tượng nhân vật chỉ hoàn thiện khi ta khép lại trang cuối của cuốn sách
Khi đọc “Ngàn mặt trời rực rỡ” chắc hẳn chúng ta mới thấu hiểu cuộc sống, tâm tư của con người bị vùi dập cả thể chất lẫn tinh thần do mảnh vỡ chiến tranh ở
Afghanistan Và phải đọc từng trang sách, thông qua cả một quá trình tư duy ta mới xây dựng được hình tượng của nhân vật Mariam trong trí tưởng tượng Một Mariam mạnh mẽ, đầy sự đau khổ, bất hạnh với diễn biến tâm lý vô cùng phức tạp.Mariam là con gái ngoài giã thú của một trong những doanh nhân thành đạt nhất ở thành phố Herat, Jalil Cô lớn lên trong một túp lều nhỏ bên ngoài thành phố cùng với người mẹ Cuộc sống xa cách với xã hội, không được hưởng một nền giáo dục,không bạn bè, tuổi thơ của cô bé bị ám ảnh bởi sự xấu hổ với thân phận một
harami Sự xấu hổ, đau đớn, giằng xé hơn khi cô tin rằng mình là nguyên nhân khiến mẹ tự tử Xấu hổ khi cảm thấy mình không là gì, không quan trọng với cha Rồi đau thương chồng chất đau thương khi chồng cũng xa lánh vì cô không thể sinh cho anh ta một đứa con trai
“Hãy nhớ lấy điều này và nhớ kĩ con gái ạ Giống như chiếc kim la bàn luôn chỉ vềhướng Bắc, ngón tay buộc tội của người đàn ông luôn trỏ tay vào người phụ nữ Luôn luôn là như vậy.” Cuộc đời của Mariam được đánh dấu bởi cái chết chăng: Cái chết của mẹ Nana, cái chết của đứa con còn chưa kịp cất tiếng khóc chào đời, cái chết của chồng và cuối cùng là cái chết của chính mình nhằm bảo vệ Laila và những đứa con của cô – vợ thứ hai của chồng mình và đó cũng là người cô yêu thương duy nhất còn sống sót Mariam như một tảng đá dưới suối không chai sạn,
vô cảm mà càng mặn nồng yêu thương hơn trước sóng gió cuộc đời, một người phụ nữ đầy nghị lực, niềm tin và lòng nhân ái
Có lẽ, phải đọc đến trang cuối cùng hình ảnh của một Mariam mới hoàn thiện trong ta với tất cả phẩm chất, thế giới nội tâm, dòng suy tưởng, quá trình đấu tranh tâm lý mãnh liệt của người phụ nữ trong xã hội đầy rẫy áp bức, bất công
Trang 5b Ngôn ngữ là hiện tượng phi vật thể - xuất hiện trong tưởng tượng, liên tưởng của người đọc
Chất liệu của tất cả các loại hình nghệ thuật như hội họa, âm nhạc, phim ảnh đều làcác vật chất, vật thể có thể tác động trực tiếp đến các giác quan của con người, tạo
sự tập trung, thu hút lớn Như chúng ta có thể trực tiếp xem được tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay, chùa Dâu,… Tất nhiên nghe nhìn xong, công chúng cũng tha
hồ tưởng tượng thêm nhưng vốn đã có hình ảnh trực quan ban đầu
Trái lại, ngôn ngữ không phải là vật thể cụ thể mà chỉ là một hệ thống kí hiệu Cho nên hình tượng mà thơ văn xây dựng lên không thể nghe nhìn một cách trực quan
mà phải thông qua tưởng tượng, liên tưởng
Vẻ đẹp của nàng Vân, nàng Kiều trong thơ Nguyễn Du chỉ sống cùng năm tháng, sống trong trái tim bạn đọc khi đọc tác phẩm kết hợp với liên tưởng để hình dung
vẻ đẹp của hai nàng:
“Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
Thuý Vân hiện lên với những gì đẹp đẽ nhất, đặc sắc nhất, thiêng liêng nhấtcủa tinh hoa đất trời: Hoa, trăng, ngọc, mây, tuyết Đó là sự quy tụ của vẻ đẹp trờiđất, của thiên nhiên Đó cũng là chuẩn của vẻ đẹp con người cần hướng đến trongthi pháp văn học trung đại Mỗi câu thơ, là một nét vẽ tài hoa về bức chân dunggiai nhân Cử chỉ, dáng đi đứng rất trang trọng, quý phái Cách xử sự rất đúngmực, đoan trang Đây là vẻ đẹp toàn bích của một thiếu nữ trong sáng, dịu hiền,không vướng một chút bụi trần
Tác giả miêu tả khuôn mặt của Thuý Vân đầy đặn, sáng trong như khuôntrăng tròn vành vạnh Tiếng nói trong như ngọc Miệng cười tươi như hoa Tócmềm bóng mượt đến nỗi “mây thua” Da trắng làm cho tuyết phải “nhường” Rõràng, ở nàng Vân là cái đẹp phúc hậu, đoan trang, cái đẹp chinh phục được xungquanh
Nếu vẻ đẹp của Vân là thuần phác, dịu hiền, đằm thắm, thì Kiều hiện lên với sự sắcsảo, mặn mà hiếm có.
“Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Trang 6Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hơn kém xanh”
Cái “thần” trong bức chân dung của Thúy Kiều nằm ở đôi mắt Mắt nàng Kiềuxanh trong như nước mùa thu, lông mày thanh tú như dáng vẻ, nét núi mùa xuân Thế là đủ cho một tuyệt sắc Trong nhân tướng học Trung Hoa, phàm ai có đôi mắtvậy thì rất đa đoan và nặng tình Chính “làn thu thủy” ấy đã dự cảm cho số phậnnghiệt ngã của nàng Kiều trong suốt 15 năm trời lưu lạc sau này
Như vậy, hình ảnh nhân vật không trực tiếp tác động đến các giác quan của conngười mà ta chỉ có thể cảm nhận bằng năng lực cảm thụ, liên tưởng mà thôi Đây lànét đặc trưng, riêng biệt của văn học mà không loại hình nghệ thuật nào có thể cóđược
c Khả năng biểu hiện không gian – thời gian
Chất liệu của các loại hình nghệ thuật khác, mặc dù là vật chất, vật thể, nhưng hiểnnhiên hoàn toàn có khả năng chuyển hóa thành những kí hiệu tượng trưng cho các
sự vật khác Tuy nhiên, cho dù có gộp tất cả những chất liệu như: âm thanh, tiếttấu, màu sắc, đường nét, hình thể, cũng không thể nào tượng trưng cho mọi sựvật, hiện tượng trong nhân sinh và vũ trụ này Chính vì thế các loại hình nghệ thuậtkhác đều mang những hữu hạn trong việc biểu hiện không gian, thời gian ở nhữngmức độ và hình thức khác nhau Mặt khác, với tư cách là vật thể, những chất liệu
ấy cho dù có thứ nhẹ như lông hồng thì tác phẩm cũng rất cồng kềnh Một bứctranh không thể vẽ hết được một cánh rừng bất tận, một bài hát không thể nói hếtđược khói bụi chiến tranh,…
Trái lại, với tư cách là những kí hiệu phi vật thể, ngôn ngữ hay ngôn từ có thể cốkết lại trong văn bản cực kì gọn nhẹ Và đúng như một câu đố Nga: “Không phải làmật nhưng lại dính với tất cả”, ngôn ngữ hay ngôn từ có thể hình dung bất kì sự vậtnào trong thế giới vĩ mô cũng như vi mô, hữu hình cũng như vô hình Lấy ngôn từlàm chất liệu văn học mang tính cực trị và cực tiểu về không gian, cực lâu và cựcnhanh về thời gian là như vậy
Thứ nhất, văn học tái hiện được cả không gian vật lý với cây đa, bến nước, sân đình:
“Đầu làng cây duối
Cuối làng cây đa
Cây duối anh để làm nhà
Cây đa bóng mát này ra anh chào”
Hay:
“Hỏi đâu trúc mọc bờ ao
Ai xinh ai đứng nơi nào cũng xinh
Trang 7Hỏi đâu táo rụng sân đình”
Cây đa, bến nước sân đình là biểu tưởng của làng quê Việt Nam, là nơi hò hẹn củanhững đôi trai gái yêu nhau, nơi tụ tập sum họp, lễ hội của người dân, là nơi dừngchân nghỉ ngơi sau ngày làm đồng vất vả, cùng nhau trò chuyện vui vẻ, cùng hátcũng câu ca, điệu hò, điệu lí dân ca Hiện thực cuộc ấy đi vào trong thơ ca như mộtngười tình yêu dấu tram năm không lỡ lời thề
Thời gian trong văn học cũng vô cùng độc đáo, đó là ánh nắng dịu ngọt của mậtvào buổi sáng bình minh, là ánh nắng vương vấn cuối ngày của buổi hoàng hôn
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Thứ hai, văn học không chỉ tái hiện không gian, thời gian vật lý, mà khung thời gian tâm lý, tâm linh được diễn tả sâu sắc:
“Dạo hiên vắng thầm reo từng bước
Ngoài rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Giữa không gian tĩnh mịch và vắng vẻ người chinh phụ bồn chồn, thấp thỏm chờtin chồng trở về Nỗi cô đơn, buồn tủi phủ khắp bầu không gian để người thiếu phụ
cô đơn, lẻ bóng suốt đêm thâu bao tháng ngày Nếu tiếng yêu thúc giục nàng Kiều
“Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” thì ở đây trước hiên vắng người chinhphụ lại “thầm gieo từng bước” Không gian nghệ thuật mà người nghệ sĩ gợi rachính là “hiên vắng” nhỏ hẹp trước nhà Nàng lo lắng đi đi lại lại trong vô thức nhưmuốn reo rắc vào lòng người đọc những thanh âm của khổ sầu Thẳm sâu trongtâm hồn đang chất chứa bao nỗi khổ đau không nơi giãi bày Cả không gian “trongrèm” và “ngoài rèm” đều nặng nỗi buồn, bao phủ một lớp bụi hiu quạnh, cô đơn.Phải chăng là:
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Sự chia lìa của thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử mới chua xót làm sao:
“Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thui hoa bắp lay”
Trang 8Không gian gió mây chia lìa như một nghịch cảnh đầy ám ảnh Trong thiên nhiêngió mây vốn là người bạn tâm giao, tri âm tri kỉ chẳng bao giờ chia lìa Vậy màtrong thơ Hàn Mặc Tử gió mây lại chia cắt đôi ngả như tình và lòng người bấy lâu,như chính mối tình của Hàn Mặc Tử
Nhìn lại quan niệm về thời gian, không quan qua các thời kì và thông qua lăngkính của người nghệ sĩ là vô cùng khác nhau Nếu thời gian trong thi ca trung đại
là “thời gian tuần hoàn” nghĩa là thời gian được hình dung như một vòng tròn quayliên tục, tái diễn, hết vòng này đến vòng khác Đã là vòng tròn tuần hoàn thì thờikhắc, thời đoạn có qua đi thì cũng có thể quay trở lại Quan niệm thời gian tuầnhoàn xuất phát từ cái nhìn tĩnh có phần siêu hình, lấy sinh mệnh vũ trụ để làmthước đo thời gian
Ngược lại, thời gian trong thơ Xuân Diệu là “thời gian tuyến tính” nghĩa là thờigian được hình dung như một dòng chảy xuôi chiều, một đi không trở lại Vì vậymỗi khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn Cho nên tâm trạng của con ngườitrước cuộc đời vì thế cũng không còn an nhiên, chậm rãi mà sống nhanh, sống vội,sống gấp hơn
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”
Xuân Diệu nhìn cuộc đời bằng đôi mắt xanh non biếc rờn nhưng cũng không tránhkhỏi những hoài nghi, mất mát Điều thi sĩ sợ nhất là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mautới, bởi thời gian là tuyến tính nên thời gian như một dòng chảy mà mỗi mộtkhoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn Bởi vậy, cách sống Xuân Diệu lựa chọn làsống nhanh để tận hưởng, tận hiến thời gian
“Nhanh lên chứ, vội vàng lên mới chứ
Em ơi em, tình non sắp già rồi”
d Tính phổ thông của văn học trong sáng tác, truyền bá, tiếp nhận, lưu trữ
Ngôn ngữ có một đặc điểm tuyệt diệu là vốn sở hữu chung của mọi người nhưngđồng thời cũng là sở hữu riêng trọn vẹn không cần phải chia cho từng người Do
đó, là một phương tiện vừa để tự biểu hiện lại vừa để giao tiếp với người khác Từ
đó, về mặt sáng tác, nếu quả mỗi người đều có mầm mống nghệ sĩ thì nghệ sĩ ngôn
từ dễ nảy mầm nhất Và dễ dàng nhận thấy việc sáng tác, xuất bản, lưu trữ, pháthành, tiếp nhận,… của văn học ít phải đầu tư về phương diện vật chất hơn nhiều sovới các loại hình nghệ thuật khác Chỉ cần nhắc tới việc xuất bản một số lượng lớnnhững tác phẩm văn học mà vẫn đưa được bản chính đến tận tay từng người đọc,chứ chưa cần đề cập đến vốn đầu tư cho một cuốn phim lớn như thế nào Đó làchưa kể tùy theo sở thích và hoàn cảnh của mình người đọc được tự do tuyệt đốitrong việc thưởng thức: đọc nhanh, đọc chậm, liền mạch hay nhảy cóc, đọc dởdang hay đọc đi đọc lại
Trang 9 Tiểu kết:
Tác phẩm văn học không chỉ phụ thuộc vào chất lượng mà còn phụ thuộc vào rấtnhiều điều kiện khác nhau trong quá trình truyền bá, tiếp nhận của bạn đọc Ngàynay, trong xã hội hiện đại, bùng nổ của văn hóa nghe nhìn đầy hấp dẫn, thú vị, mới
mẻ, tính chất phi trực quan của văn học ngày càng tỏ ra ít thuận tiện và ưu thế Tuynhiên, do văn học là nghệ thuật ngôn từ, văn học bao giờ cũng bộc lộ khuynhhướng tư tưởng sâu sắc hơn và phản ánh hiện thực toàn diện hơn với cách tiếpnhận và cảm nhận bằng chính sự liên tưởng của người đọc
4 Chức năng của văn học
Để làm rõ được luận điểm: “Trong tương lai con người có cần đến văn học nữa haykhông? Vì sao?”, chúng ta phải làm rõ giá trị của văn học trong tương quan với cácloại hình nghệ thuật khác
Xuất phát từ nhu cầu giáo dục, giải trí, thẩm mỹ, mà văn học ra đời nhằm đáp ứngnhững nhu cầu đó Như vậy, nhận xét từ phía cá tính sáng tạo, từ bản chất văn học,
từ góc độ tiếp nhận thưởng thức có thể thấy văn học mang nhiều chức năng trongbản thân nó như một hành động ý thức xã hội từ sáng tạo đến tiếp nhận Tính đachức năng của văn học được quyết định bởi tính thống nhất đa dạng của đối tượngnghệ thuật và tính đa nhu cầu của đời sống xã hội và chủ thể sáng tác
Chức năng của văn học thường vận động, biến đổi theo sự đổi thay nhu cầu củacon người trong đời sống xã hội Mỗi một thời đại, một dân tộc tùy hoàn cảnh lịch
sử cụ thể của mình mà có những yêu cầu khác nhau đối với hoạt động văn học vàmỗi cộng đồng, mỗi giai cấp, mỗi cá nhân lại tùy vào điều kiện thực tại của mình,mục đích thực tiễn của mình để có thể khai thác, tận dụng các khả năng tiềm tàngkhác nhau của văn học
Khi cuộc sống thanh bình người ta thích ngâm thơ, vịnh nguyệt tìm thú vui trongthưởng thức văn chương Lúc cả xã hội dồn sức đấu tranh chống giặc ngoại xâmthì chức năng, nhận thức giáo dục của văn học được đề cao: “Văn chương là vũ khíchiến đấu”
a Chức năng thẩm mỹ (chức năng bản chất của văn học)
Tình cảm thẩm mỹ là đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật Nó cho phép vănhọc thể hiện chức năng tình cảm thẩm mỹ Chức năng này là chức năng bao chumđặc trưng của văn học
Thẩm mỹ là một phạm trù mang đặc điểm vừa có nét khách quan, vừa có nét chủquan Trong tiếp nhận, đánh giá theo một cách nhìn nào đó mang quan hệ người thìtrăng sao, cây cỏ, cái chết, sự sống,… lại có thể trở thành cái đẹp, cái xấu, cái cao
cả anh hùng hay cái bi, cái hài, trở thành những xúc động có thể làm con ngườithỏa mãn, thích thú, sung sướng, hay khó chịu, khổ đau
Cái thẩm mỹ tồn tại rất nhiều ở dưới các dạng cụ thể khác nhau Giá trị thẩm mỹkhông chỉ là cái đẹp mà ngay cả cái xấu, cái thấp hèn Đó là những khách thể thẩm
mỹ gắn với con người chủ thể thẩm mỹ, cái thẩm mỹ hiện ra với nhiều cung bậc,
Trang 10cấp độ khác nhau: xúc động thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ Trongtác phẩm nghệ thuật thì hình tượng thẩm mỹ là đặc trưng bản chất thể hiện sứcsáng tạo của nghệ thuật, không có các phương diện thẩm mỹ thì không thành hoạtđộng văn học nghệ thuật.
Như vậy, thẩm mỹ trong văn học là tiếng nói của tình cảm thẩm mỹ (hay tình cảmcủa con người xã hội mang tính thẩm mỹ) nghệ thuật như một hoạt động từ sángtạo đến tiếp nhận đều khởi đầu bằng xúc động thẩm mỹ Khi xúc động thẩm mỹkéo dài sẽ thành tình cảm thẩm mỹ Ngược lại, không có xúc động thẩm mỹ, tìnhcảm nghệ thuật thì không có hoạt động nhận thức, sáng tạo nghệ thuật
Thứ nhất, chức năng thẩm mỹ thể hiện ở việc phản ánh cái đẹp ngay cả những cái xấu (thẩm xú) Trước hết, phản ánh và nhận biết cái đẹp trong văn
chương không phải là sao chép, chụp ảnh một cách nguyên xi mà phải chọn lọc,khái quát một cách công phu, thực hiện điển hóa nghệ thuật Nghĩa là làm cho cáiđẹp trong hiện thực hiện lên rõ hơn, sâu sắc hơn, xúc động hơn Nhờ nghệ thuật màcái đẹp trong cuộc sống thực vốn dễ trôi qua với dòng chảy liên tục của cuộc sốngđược cố định, lưu giữ Đời sống được bổ sung, giàu có thêm bởi cái đẹp của thếgiới nghệ thuật, giúp con người có điều kiện chiêm ngưỡng, suy ngẫm cái đẹpthiên hình vạn trạng như vĩnh hằng, như thoảng qua của vũ trụ, trái đất, con người,
…
Cái đẹp của tạo hóa thiên nhiên được đưa vào trong thơ đầy lãng mạn, thi vị trongthơ của Nguyễn Khuyến:
“ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như từng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”
Mùa thu của vùng đồng bằng Bắc Bộ có cái dịu ngọt, nhè nhẹ, khoan thai rất hợpvới lòng người Một màu “xanh ngắt” chứ chẳng phải mang màu xanh lục, xanhdịu, màu xanh ấy không chỉ đơn thuần là nền màu của bầu trời mà nó còn mang cảcái tình tha thiết của thi nhân đối với mùa thu Không gian mở ra theo cả chiều sâubiết “mấy tầng cao”, và nổi bật lên cùng những hình ảnh ấy là những “cần trúc”đang khẽ đung đưa trong gió thu Từ láy “lơ phơ” không làm cho khung cảnh trởnên vắng vẻ đìu hiu, mà nó lại hòa hợp với tiết trời sang thu đến lạ kì Xuân đếnmang những mầm non mới mọc cho đến ngày thu về, những thân măng đã trởthành thân tre, có hình dáng cong cong như chiếc cần câu cùng với những chiếc láxanh non thưa thớt Làn gió hắt hiu, nhè nhẹ sự có mối liên kết với những cànhtrúc nhỏ, mang đến một cảm giác rất ấm áp, sâu kín, nhẹ nhàng và tinh tế Thu