Thống kê lượng bốc hơi trung bình tháng của trạm Đồng Hới biểu thị cho lượng bốc hơi trung bình tháng trên khu vực nghiên cứu trình bày trong bảng 1.5.. Thống kê số giờ nắng trung bình t
Trang 1PHẠM THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN MẶN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT MẶN CHO KHU VỰC
HẠ LƯU SÔNG KIẾN GIANG TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Trang 2
PHẠM THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN MẶN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT MẶN CHO KHU VỰC
HẠ LƯU SÔNG KIẾN GIANG TỈNH QUẢNG BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: THỦY VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60-44-90
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
HÀ NỘI - 2010
Trang 3Luận văn thạc sỹ kỹ thuật “Nghiên cứu diễn biến mặn và đề xuất các giải pháp kiểm soát mặn cho hạ lưu sông Kiến Giang tỉnh Quảng Bình” đã được hoàn thành tại khoa Thủy văn và Tài nguyên nước trường Đại học Thủy lợi tháng 11 năm
2010 Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình
Trước hết tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Lê Văn Nghị và thầy giáo PGS.TS Vũ Minh Cát là người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng chân thành cảm ơn tới các anh chị thuộc Viện Khoa học Thủy lợi, bộ môn Nhiệt Thủy Khí - Khoa Cơ Khí - Học viện Kỹ thuật Quân sự, các đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ chuyên môn, thu thập tài liệu liên quan để luận văn được hoàn thành
Xin gửi lời cảm ơn đến phòng đào tạo đại học và sau đại học, khoa Thủy văn và Tài nguyên nước trường Đại học Thủy lợi và toàn thể các thầy cô đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn
Trong khuô n khổ một luận văn, do thời gian và điều kiện hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các đồng nghiêp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nôi, tháng 11 năm 2010 Tác giả
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC, TÌNH HÌNH NGUỒN
N ƯỚC VÀ CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ XÃ HỘI 4
CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN DÒNG CHẢY MÙA CẠN
VÀ NHU CẦU NƯỚC DÙNG THIÊT KẾ 30
Trang 62.2.2 Tính toán nhu cầu nước dùng của các ngành kinh tế 39
CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE 11 NGHIÊN CỨU
C HẾ ĐỘ THỦY LỰC VÀ TRUYỀN MẶN
MÙA CẠN KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG
56
Trang 73.4.2.1 Tại thượng lưu cống Mỹ Trung 84
CHƯƠNG 4 CÁC KỊCH BẢN TÍNH TOÁN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT MẶN CHO HẠ LƯU SÔNG KIẾN GIANG 88
4.2.1.1 Phương án 1.1 Dòng chảy đến tần suất 75%, nhu cầu
4.2.1.4 Phương án 1.4: Dòng chảy đến tần suất 85%, nhu cầu nước
4.2.2.1 Phương án 2.1 Dòng chảy đến tần suất 75%, nhu cầu
4.2.3.1 Phương án 3.1 Dòng chảy đến tần suất 75%, nhu cầu
Trang 84.3.1 Giải pháp về vận hành cống Mỹ Trung trong tình hình mới 118
Trang 9Hình 1.2 Bản đồ hệ thống sông ngòi lưu vực sông Kiến Giang 17
Trang 10Hình 4.4 Thay đổi độ mặn từ cửa Nhật Lệ vào trong sông Kiến Giang 93
Trang 11Hình 4.35 Biến trình độ mặn từ điểm 1 đến điểm 7 114
Trang 12Bảng 1.2 Tốc độ gió trung bình trạm khí tượng Đồng Hới 9
Bảng 2.5 Dòng chảy trung bình mùa cạn tại các trạm thủy văn trên hệ thống
Bảng 2.10 Diễn biến diện tích gieo trồng các vùng cần tính cân bằng thuộc
Trang 13Bảng 2.17 Gia súc năm 2010 các vùng trong khu vực nghiên cứu 45
Bảng 4.1 Các điểm trích kết quả mô phỏng mặn tính từ cửa Nhật Lệ vào
trong sông (km)
91
Bảng 4.4 Nhiệm vụ và qui trình vận hành của cống Mỹ Trung trong tình
Trang 14MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
nhất đất nước Trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh, nông lâm ngư nghiệp đóng vai trò chủ đạo Đồng bằng Lệ Ninh thuộc hạ lưu sông Kiến Giang là vựa lúa lớn nhất tỉnh Quảng Bình, có diện tích tự nhiên 34.261ha, trong đó 14.742ha đất nông nghiệp và 800ha mặt nước phá Hạc Hải Đây là nơi khí hậu khắc nghiệt, có đủ loại thiên tai
Hiện nay, bên cạnh nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp thì yêu cầu khai
thác mặt nước phá Hạc Hải để nuôi trồng thuỷ sản là một đòi hỏi cấp thiết từ thực tế sản xuất Vì vậy, ở khu vực Thượng Mỹ Trung tồn tại một mâu thuẫn liên quan trực tiếp đến cống Mỹ Trung giữa một bên là nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp và bên kia là nhu cầu phát triển kinh tế thuỷ sản nước lợ
Để phát triển kinh tế nông nghiệp với cây lúa là chủ đạo thì cần phải được ngọt hoá, chống nhiễm mặn như hiện nay và vai trò của cống Mỹ Trung không thể
bỏ qua Để phát triển kinh tế thuỷ sản thì cần có độ mặn cao hơn trên phá Hạc Hải, yêu cầu này cần thiết phải mở cửa Mỹ Trung để đưa mặn từ hạ lưu xâm nhập vào phá Hạc Hải
Nhưng mâu thuẫn này không thể giải quyết một cách đơn giản là đóng hay
mở cống Mỹ Trung Vì nếu mở cống Mỹ Trung thì phần lớn đồng bằng Thượng Mỹ Trung có thể bị xâm nhập mặn Lúc đó có thể xảy ra tình trạng lợi bất cập hại Vấn
đề đóng hay mở cống Mỹ Trung và nếu mở, thì mở như thế nào để đảm bảo phát triển được nông nghiệp và khai thác được tiềm năng thủy sản trên phá Hạc Hải vẫn
là một vấn đề lớn với các câu hỏi đặt ra là:
Trang 15Vì vậy, vấn đề “Nghiên cứu diễn biến mặn và đề xuất các giải pháp kiểm soát mặn cho khu vực hạ lưu sông Kiến Giang tỉnh Quảng Bình” có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn được học viên lựa chọn nghiên cứu
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn được thực hiện nhằm các mục đích chính sau đây:
tình hình sử dụng nước khác nhau
- Đề xuất các giải pháp kiểm soát mặn cho khu vực hạ lưu sông
3 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ứng dụng
mùa cạn, hiện trạng cũng như các kịch bản đề xuất
b Phương pháp nghiên cứu, công cụ sử dụng
+ Phương pháp
thế giới và trong nước Kế thừa các nghiên cứu khoa học, các dự án liên quan trên lưu vực sông Kiến Giang
+ Công cụ sử dụng
- Khai thác, sử dụng phần mềm MIKE11 tính toán thuỷ lực và chất lượng nước
Trang 164 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
tế xã hội vùng hạ lưu sông Kiến Giang
5 NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương:
Trang 17Lưu vực sông Kiến Giang nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Bình Phía Bắc giáp
lưu vực sông Dinh huyện Bố Trạch, phía Nam giáp lưu vực sông Bến Hải tỉnh
Quảng Trị, phía Tây giáp lưu vực sông Mê Kông - biên giới Việt Lào và phía Đông
là biển Đông Lưu vực sông Kiến Giang bao gồm 02 huyện, 01 thị xã của tỉnh
Quảng Bình là Lệ Thủy, Quảng Ninh và thị xã Đồng Hới với tổng diện tích lưu vực
Trang 181.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình vùng sông Kiến Giang rất đa dạng và phức tạp, tuy nhiên nó cũng
có những nét đặc thù riêng của một lưu vực khởi nguồn từ dãy Trường Sơn và sát biển Theo bản đồ tỷ lệ 1/100.000; 1/50.000; 1/25.000 và các bình đồ khu tưới, địa hình ở đây có thể chia thành 4 dạng đặc trưng như sau:
1.1.2.1 Địa hình cồn cát ven biển
Dạng địa hình này chạy dài từ cửa Nhật Lệ dọc theo sườn Đông của đường 1A đến tận Bầu Sen - Mè Té giáp với Hồ Xá của Quảng Trị trên một chiều dài gần
dốc tới 1/20 -1/30 Phía trong đồng với độ dốc 1/1,5 đến 1/2 Cao độ cao nhất đến 45m (Hương Thủy), cao độ thấp tới +10m Cồn cát có dạng sóng quẩn không thành lớp, giữa cồn là những khu trũng cục bộ, có khả năng giữ tạm được nước mưa Các sóng cát và biển cát di động theo mùa gió, nhưng sự chuyển dịch chậm
Từ chợ Cưởi trở vào dạng địa hình này có các lưỡi lấn sâu vào đồng bằng, nhưng cao độ đã hạ nhiều có cao độ từ +3 đến +4m
2
P
Trên vùng địa hình này chỉ có
thể trồng cây lâm nghiệp, cây chịu hạn như phi lao, cây tràm hoa vàng
1.1.2.2 Địa hình vùng gò đồi
Địa hình này chiếm khoảng 25% diện tích vùng nghiên cứu, phân bố chủ yếu
ở phía Tây Nam thuộc vùng phía Tây của đường sắt Bắc - Nam Dạng địa hình này phân bố theo thế đồi bát úp và dốc dần từ Nam (Hồ Xá) xuống đến Hưng Thủy và theo hướng Tây Đông Độ cao trung bình ở cao trình từ +40m đến +12m Dọc theo các khe suối có những thung lũng hẹp để gieo trồng Thảm phủ thực vật chủ yếu là cây bụi: sim, mua, cây dầu chổi , dạng địa hình này thích hợp với việc trồng các loại cây công nghiệp và cây màu
Trang 19chiếm khoảng 50% diện tích lưu vực Các núi đá vôi nằm xen kẽ chủ yếu trong dạng địa hình này, địa hình này ngày một bị trọc hóa do chế độ khai thác lâm nghiệp bừa bãi
1.1.2.4 Địa hình vùng đồng bằng
Đồng bằng sông Kiến Giang bị bao bọc bởi phía Đông là cồn cát cao, phía Nam là đồi bát úp, phía Tây và Tây - Bắc là núi cao tạo cho đồng bằng Lệ Ninh có dạng lòng chảo trũng Rốn trũng là phá Hạc Hải với mặt bằng diện tích 800 ha thường xuyên ngập nước, đây là một hồ tự nhiên ở giữa đồng bằng dùng để điều tiết nước cả trong mùa lũ và mùa kiệt Địa hình đồng bằng này có thế dốc từ Tây sang Đông, từ Đông sang Tây và từ Nam ra Bắc lấy dòng chính Kiến Giang làm máng trũng chính Cao độ cao nhất của đồng bằng là +4m, thấp nhất là -0,8m Trên dạng địa hình này, do thực tế sản xuất nên đã hình thành các khu canh tác nhỏ theo các tiểu vùng Tuy nhiên các khu canh tác cũng chưa phải là khép kín Dạng địa hình này hàng năm vẫn chịu cảnh ngập úng ngay cả trong thời kỳ sản xuất Tổng diện tích vùng đồng bằng chiếm tới hơn 20% diện tích toàn vùng
1.1 3 Đặc điểm địa chất
Địa tầng giới cổ sinh (Paleozoi) Pz: Dạng trầm tích trước Cacbon hệ tầng Đại giang Sđg, các trầm tích Đevon thượng Eyen, các trầm tích tướng lục nguyên thường gồm cát kết, bột kết, sét kết, đá phiến sét và một vài loại đá biến chất nhẹ khác, loại trầm tích trước Cácbon này phân bố chủ yếu tại lưu vực sông Kiến Giang kéo dài đến Tây Bắc - Bắc Đồng Hới
Giới Tân sinh (Kainozoi) Kz bao gồm dạng trầm tích bở rời có các dạng cát tích tụ tạo thành các cồn cát, đụn cát ven biển, theo dải lớn có chiều ngang khoảng
vỏ sò hến và tạp chất hữu cơ khác Trầm tích phù sa sông, đầm phá cổ xen kẽ những tích tụ phong thành cổ và trẻ tạo nên thành phần cơ bản của đồng bằng Lệ Thuỷ Thành phần là đất thịt nhẹ đến sét, xen kẹp các lớp thấu kính bùn cát, bùn sét, bùn hữu cơ có lẫn nhiều vỏ sò hến Đá gốc chính là sa diệp thạch
Trang 201.1 4 Đặc điểm thổ nhưỡng
Đất canh tác của đồng bằng Lệ Ninh được thành tạo do nhiều nguồn: tàn tích núi lửa, trầm tích lục nguyên, trầm tích biển, sông, pha sông biển Sản phẩm chủ yếu là phần bở rời của đá biến chất, phù sa sông Kiến Giang và phù sa biển Thổ nhưỡng trong vùng bao gồm các loại đất như sau:
các rốn trũng Hói Quan, Hói Đò, Hói Sỏi và các xã thuộc Gia Ninh, Võ Ninh, Duy Ninh, Hàm Ninh Cấu tượng đất bở tơi màu đen đến đen xám gặp nước bở rời, khô
có dạng cứng lẫn nhiều sạn sỏi Đất sử dụng để trồng lúa là chính cần có nước để thau chua rửa mặn
yếu nằm ở đồng bằng trũng Lệ Ninh Đất dạng không Glây hoặc Glây nhẹ Đất chủ yếu sử dụng trồng lúa nước, có độ mùn cao, cấu tượng đất chủ yếu là thịt pha sét nhẹ có độ dẻo quánh, những nơi thường xuyên ngâm nước đất bị lầy thụt, độ PH từ
cho năng suất cao từ (5-7) tấn/ha-vụ
màu và nhiều năm không được tưới, tập trung phần lớn ở vùng Rào Sen, Sen Thủy Đất này cần được tưới ẩm thường xuyên để giữ mùn, loại đất này phù hợp với cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày
xuyên phải có lớp nước mặt để ém mặn, chua phèn
1.2 ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG, KHÍ HẬU
Lưu vực nghiên cứu nằm ở vùng Trung Trung Bộ thuộc miền khí hậu Đông Trường Sơn Đặc điểm địa lý và địa hình đã quyết định rất nhiều đến chế độ nhiệt của khu vực Chính sự chia cắt mạnh mẽ về địa hình gây nên sự phân hóa về khí hậu làm cho khí hậu có những biểu hiện đa dạng hơn trên nền khí hậu nhiệt đới gió mùa Nơi đây diễn ra sự giao tranh giữa các khối không khí lớn khi chúng vượt qua hai đèo (Đèo Ngang và Đèo Lý) Sự giao tranh này làm cho lớp không khí gần mặt
Trang 21đất bất ổn định làm cho mùa mưa và tổng lượng mưa giữa các vùng khác nhau, nhiệt độ cũng bị phân hóa đáng kể Tác dụng chắn gió của dãy Trường Sơn gây ra gió Tây khô nóng trong những tháng đầu mùa hè
Căn cứ vào tình hình lưới trạm quan trắc khí tượng đã trình bày Chọn trạm khí tượng Đồng Hới làm trạm đại biểu cho lưu vực nghiên cứu
1.2.1 Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí là một trong các yếu tố cơ bản nhất của khí hậu Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, chế độ nhiệt của Quảng Bình thể hiện tính chất nhiệt đới gió mùa với một nền nhiệt độ cao và phân bố khá đồng đều quanh năm
Sự biến đổi nhiệt độ theo không gian theo quy luật nhiệt độ giảm dần từ Nam
ra Bắc và từ Đông sang Tây (theo độ cao của địa hình) Tuy nhiên do ảnh hưởng của gió Tây khô nóng tác động lên bề mặt địa hình khác nhau nên nhiều khi quy luật này bị phá vỡ
Nhiệt độ hàng năm dao động ít, trung bình năm ở đồng bằng ven biển từ
o
P
C Về mùa hè, các tháng nóng nhất là các tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình các tháng này là 29,5P
Trang 22Bảng 1.1 Đặc trưng nhiệt độ không khí trạm Đồng Hới
Đơn vị: P
o
P
C Đặc
Bảng 1.2 Tốc độ gió trung bình trạm khí tượng Đồng Hới
Đơn vị: m/s Đặc
TB năm Vtb
Trang 23Bảng 1.3 Tần suất xuất hiện các hướng gió chính ở Đồng Hới
Thống kê độ ẩm tương đối trung bình và nhỏ nhất trong khu vực nghiên cứu qua số liệu của trạm khí tượng Đồng Hới được trình bày trong bảng 1.4
Bảng 1.4 Đặc trưng độ ẩm tương đối trung bình, nhỏ nhất trạm Đồng Hới
Đơn vị: % Đặc
τR TB R
τR min R
Trang 241.2 4 Chế độ bốc hơi
Bốc hơi là một trong những nguyên nhân làm hao hụt lượng nước vì vậy nó được xem là một thành phần quan trọng trong phương trình cân bằng nước Trên khu vực Quảng Bình, lượng bốc hơi trung bình hàng năm ở vùng đồng bằng ven biển từ 960mm đến 1200mm, ở vùng núi thấp hơn từ 800mm đến 1000mm Bốc hơi
có xu hướng giảm dần theo hướng Đông Tây tương tự với xu hướng của nhiệt độ
Tổng lượng bốc hơi trong các tháng mùa hè lớn hơn mùa đông Trong 4 tháng mùa hè từ tháng 5 đến tháng 8 chiếm khoảng 55% đến 60% lượng bốc hơi năm, các tháng còn lại chỉ chiếm 40% đến 45% tổng lượng bốc hơi năm
Thống kê lượng bốc hơi trung bình tháng của trạm Đồng Hới biểu thị cho lượng bốc hơi trung bình tháng trên khu vực nghiên cứu trình bày trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Lượng bốc hơi trung bình tháng năm trạm Đồng Hới
Số giờ nắng trong năm từ 1.577 đến 1.894 giờ;
Số ngày nắng trung bình 168 ngày/năm
nhất vào tháng 2, tháng 3 Mùa hạ trung bình mỗi tháng có (170-250) giờ nắng, nhiều nhất là từ tháng 5 đến tháng 7
Thống kê số giờ nắng trung bình tháng, năm của trạm Đồng Hới biểu thị số giờ nắng trung bình tháng, năm trên khu vực nghiên cứu trình bày trong bảng 1.6
Trang 25Bảng 1.6 Số giờ nắng trung bình tháng, năm trạm Đồng Hới
Tuy nhiên lượng mưa phân bố rất không đều theo tháng, theo mùa và theo từng khu vực hình thành một chế độ mưa đặc sắc với sự xuất hiện của những trung tâm mưa lớn, trung tâm mưa nhỏ, sự tăng lượng mưa vào thời kỳ này và giảm lượng mưa vào thời kỳ khác một cách đột ngột
1.2.6.1 Mùa mưa
Vùng lưu vực sông Kiến Giang có mùa mưa bắt đầu vào tháng 9 và kết thúc vào tháng 11 Ngoài ra ở vùng nghiên cứu còn xuất hiện mùa mưa tiểu mãn vào tháng 4,
năm không xảy ra nhưng số năm có mùa mưa này vẫn chiếm tỉ lệ khá cao (60-70%)
1.2.6.2 Phân bố mưa theo không gian
Lượng mưa năm có xu thế tăng dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây
sự tăng giảm lượng mưa là hướng của các sườn núi so với hướng gió thịnh hành trong từng mùa Trên các sườn đón gió thì lượng mưa tăng lên rõ rệt, trên các sườn khuất gió thì lượng mưa giảm đột ngột
Thống kê lượng mưa trung bình tháng năm của các trạm đo mưa trên khu vực nghiên cứu như trong bảng 1.7
Trang 26Bảng 1.7 Lượng mưa trung bình tháng của các trạm trên khu vực
1.2.6.3 Phân bố mưa theo thời gian
Thời kỳ từ tháng 1 đến tháng 7 thường ít mưa, tổng lượng mưa của những tháng này chiếm (25-35)% lượng mưa năm Thông thường tháng 2, 3, 4 là những tháng có lượng mưa ít nhất trong năm Lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10,
11, chiếm (65-70)% tổng lượng mưa năm Ở đa số các nơi đều có sự tăng vọt về lượng mưa từ tháng 8 sang tháng 9 và sự giảm sút nhanh chóng lượng mưa từ tháng
11 sang tháng 12 Khoảng tháng (5-7) là thời kỳ hoạt động cực thịnh của gió Tây khô nóng nên lượng mưa cũng không nhiều Những tháng cuối mùa hạ và đầu mùa đông, tháng (9-11) là thời kỳ lượng mưa tăng nhanh do sự hoạt động xen kẽ và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hệ thống thời tiết phía Nam - Bắc, dải hội tụ nhiệt đới trong những khối không khí nói chung tích ẩm lớn với các khối không khí phía Bắc Tháng
có tỷ suất mưa lớn nhất là tháng 10, đây là tháng có lượng mưa ổn định nhất trong năm và thường xảy ra lũ lụt vì cường độ mưa lớn, mưa nhiều Tỷ suất mưa nhỏ nhất
sông Kiến Giang
Trang 271.2.6.4 Số ngày mưa và cường độ mưa
Cũng như lượng mưa, số ngày mưa năm có xu thế tăng dần từ Bắc vào Nam,
từ Đông sang Tây, trung bình từ (130 - 160) ngày/năm Số ngày mưa phân bố không đều giữa các tháng, các mùa trong năm Từ tháng (4-7) là những tháng có ít ngày mưa, mỗi tháng có không quá trung bình 10 ngày mưa Từ tháng (8 -12) là những tháng có nhiều ngày mưa (từ 14 đến 18 ngày) Riêng trong 3 tháng mùa mưa (9, 10, 11) có đến (40 - 60) ngày, trung bình mỗi tháng có (15 - 20) ngày có mưa
Trong các tháng của mùa mưa ít tháng (1-7) thì từ tháng (1-4) chủ yếu là các loại mưa nhỏ, mưa phùn, từ tháng (5-7) chủ yếu là mưa rào nhẹ vào chiều tối do giông nhiệt gây ra Vào các tháng mùa mưa do hoạt động mạnh của bão, dải hội tụ
và của khối không khí lạnh cực đới, Front lạnh nên nhiều khi xảy ra mưa lớn dữ dội, kéo dài nhiều ngày
Do sự khác nhau về loại mưa như đã nêu ở trên cho nên số ngày mưa chênh lệch giữa các mùa chỉ khoảng (2-3) lần nhưng lượng mưa lại chênh lệch nhau rất nhiều, có thể tới (20-30) lần Điều này chứng tỏ cường độ mưa trong các tháng mùa mưa lớn hơn nhiều so với cường độ mưa trong các tháng ít mưa
Số liệu đo được cho thấy lượng mưa lớn nhất trong 24 giờ ở tất cả các nơi cũng đều vượt quá 300 mm, nhiều nơi đạt (350-450)mm, một số nơi đạt (500-550)mm Ví dụ tại Lệ Thuỷ ngày 11/8/1978 cường độ mưa lớn nhất trong 1 giờ đạt 102,1mm, trong 30 phút là 90,6mm, trong 10 phút là 30,2mm
Cường độ mưa lớn thường xảy ra vào những tháng giữa mùa mưa nên dễ gây
ra lũ úng ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của nhân dân
1.2.6.5 Biến động của mưa
Lượng mưa các tháng mùa đông ít biến động hơn các tháng mùa hè Lượng mưa năm ít biến động hơn lượng mưa tháng tuy nhiên phần lớn các nơi cũng đều đạt từ (15-20)% giá trị trung bình năm Do lượng mưa biến động nhiều nên các giá trị trung bình của lượng mưa chưa phản ánh đúng tình hình thực tế vì ở những nơi
mà lượng mưa biến động lớn thì hàng năm dễ xảy ra hạn hoặc úng hoặc hán úng diễn ra thất thường, do đó việc sử dụng giá trị của lượng mưa trung bình bị hạn chế
Trang 281.2.6.6 Tính toán mưa tưới thiết kế
Chọn tài liệu mưa của trạm mưa Phan Xá để tính toán mô hình mưa tưới thiết
kế cho khu vực nghiên cứu vì theo quy hoạch cho thấy trạm Phan Xá nằm gần khu tưới Theo quy phạm VN - 08-16 tần suất thiết kế mưa tưới cho khu tưới là 75% Dựa trên tài liệu mưa của trạm Phan Xá tính lượng mưa năm thiết kế với tần suất 75% Chọn mô hình mưa điển hình là một năm thực đo có lượng mưa năm sấp xỉ lượng mưa năm thiết kế và có dạng phân phối tương đối bất lợi cho yêu cầu sử dụng nước Mô hình mưa tưới thiết kế trạm Phan Xá đại biểu cho mưa tưới thiết kế của khu vực nghiên cứu như trình bày trong bảng 1.8
Trang 29Bảng 1.8 Mô hình mưa tưới thiết kế trạm Phan Xá
Trang 3044’00’’ kinh độ Đông có cao độ +935m trên
2
P
, chiều dài 128km.Sông chảy qua hai huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh và đổ ra biển Đông ở cửa Nhật Lệ Sông có 11 phụ lưu cấp 1; 9 phụ lưu cấp 2 và 3 phụ lưu cấp 3
xuống độ cao 30-40m theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc về đến đồng bằng thì chuyển hướng Đông Nam - Tây Bắc, ở đồng bằng sông mở rộng đột ngột, độ dốc đáy sông rất nhỏ, sau đó sông nhập với sông Long Đại đổ vào sông Nhật Lệ tại ngã
ba Trần Xá ở Cổ Hiền
Bản đồ hệ thống sông ngòi lưu vực sông Kiến Giang xem hình 1.2
Hình 1.2 Bản đồ hệ thống sông ngòi lưu vực sông Kiến Giang
Sông Nhật Lệ dài 17km, chảy qua thành phố Đồng Hới đổ ra biển tại cửa Nhật Lệ Sông Nhật Lệ có độ dốc nhỏ 0,03m/km Chiều rộng có chỗ đến 700-800m
Trang 31nhưng cũng có nơi thu nhỏ còn khoảng 300-400m làm ảnh hưởng tới khả năng thoát
lũ trên khu vực
Các suối đổ vào đồng bằng Lệ Thủy nhập lưu với nhánh sông Kiến Giang gồm có: An Sơn, Phú Hòa, Phú Kỳ, Hói Cùng, An Mã Các suối An Sơn, Phú Hòa, Phú Kỳ, Hói Cùng là các suối nhỏ dài từ 5-10km, bắt nguồn từ vùng núi thấp tả
2
P dài 25km, bắt nguồn từ các đồi núi phía Nam Lượng nước các suối đó tuy không lớn so với các nhánh sông chính nhưng do trực tiếp đổ vào vùng núi thấp nên cũng góp phần gây úng cho vùng đồng bằng
Do sông suối trên khu vực khá dốc, mưa tập trung nên nước lũ rất ác liệt, dòng chảy lũ lớn, nước lũ tập trung nhanh và mạnh ở vùng đồng bằng nơi có địa hình dạng lòng chảo nơi gặp nhau của hai nhánh sông Kiến Giang và Long Đại, cửa sông bị ngăn chặn bởi cồn cát cao lại gặp nước thủy triều dồn lên thường gây nên tình trạng ngập úng lớn Điển hình là vùng núi Lệ Thủy đây là nơi tập trung của dòng chính Kiến Giang, nước mưa trong nội địa và nước ngầm từ trong các đụn cát
1.4 MẠNG LƯỚI TRẠM ĐO VÀ TÌNH HÌNH SỐ LIỆU QUAN TRẮC
1.4.1 Mạng lưới quan trắc khí tượng và tình hình số liệu
Khu vực nghiên cứu thuộc vùng Trung Trung Bộ có lưới trạm khí tượng
Đồng Hới, ngoài ra còn có các trạm đo mưa: Phú Vinh, Tám Lu, Cẩm Ly, Kiến Giang, Lệ Thủy, Xuân Ninh, Phan Xá
Phần lớn các trạm này được quan trắc từ năm 1960 và hiện nay vẫn còn đang hoạt động Riêng trạm Đồng Hới có tài liệu quan trắc lâu năm (từ năm 1956 đến nay) có quan trắc đầy đủ các yếu tố như mưa, nhiệt độ, độ ẩm, gió Đây là trạm quan trắc cơ bản và đủ điều kiện đặc trưng cho khí hậu cả vùng nên được chọn làm trạm khí tượng đại biểu Danh sách các trạm đo mưa qua các thời kỳ trên khu vực nghiên cứu trình bày trong bảng 1.9
Trang 32Bảng 1.9 Danh sách trạm đo mưa qua các thời kỳ trong khu vực nghiên cứu
T (P
o
P
C)
τ (%)
V (m/s)
ZR p R
(mm)
X (mm)
1.4.2 Mạng lưới trạm thủy văn và tình hình số liệu
Toàn lưu vực có 02 trạm đo dòng chảy là trạm Kiến Giang trên sông Kiến Giang và trạm Tám Lu trên sông Long Đại có số liệu quan trắc lưu lượng từ năm
gia nhưng bị hạ cấp chỉ còn đo mực nước, còn trạm Tám Lu thì ngừng đo
Có 04 trạm thủy văn đo mực nước là Đồng Hới, Phú Vinh, Lệ Thủy và Xuân Ninh Hầu hết các trạm này đều sử dụng cao độ đường sắt
trạm chuyển lên Lương Yến cách vị trí cũ 6 km và đo đạc tới nay
- Trạm Lệ Thủy (Phan Xá): Xây dựng trạm từ năm 1960 nhưng đến năm
1964 mới có tài liệu, từ tháng 7/1968 - 7/1970 quan trắc tại tuyến sơ tán về phía thượng lưu sông, từ 1/8/1970 trở về vị trí cũ
Trang 33- Trạm Xuân Ninh: Xây dựng năm 1960 ngay đầu mối giao thông nên bị đánh phá liên miên, trạm di chuyển tới 4 lần đến năm 1969 trạm đóng cửa Ngoài ra còn có trạm An Mã mới đo được (1 - 2) năm
liệu Trạm này thuê công nhân tại chỗ nên mức độ tin cậy không cao, đặc biệt là những năm 1966-1967 do địch đánh phá ác liệt, đo đạc thất thường, không có tài liệu chỉnh biên Từ năm 1968 có thêm hai cán bộ nên tài liệu có khá hơn, đến hết năm 1978 thì trạm đóng cửa
1.5 TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN VÀO HỆ THỐNG SÔNG KIẾN GIANG
Thủy triều vùng lưu vực sông Kiến Giang mang tính chất bán nhật triều không đều, đôi khi tạp triều, nghĩa là trong 1 ngày triều xuất hiện 2 đỉnh và 2 chân
rõ rệt Đa số đỉnh triều lần 1 lớn hơn đỉnh triều lần 2 và chân triều cũng vậy Trên các sông vùng này cũng có lúc có bán nhật triều đều trong khoảng thời gian ngắn (1-3) ngày cuối tháng
Trên sông Kiến Giang triều ảnh hưởng khá sâu vào trong đất liền, còn trên sông Long Đại triều ảnh hưởng ít hơn Mức độ ảnh hưởng của thủy triều phụ thuộc vào độ dốc của lòng sông, sông Long Đại dốc hơn và lưu lượng nước sông lớn hơn
Càng vào sâu trong đất liền, biên độ triều càng giảm đi Biên độ triều tại Đồng Hới là (1,4÷1,5)m khi vào tới Phan Xá còn (0,1÷0,2)m, còn trên sông Long Đại tại Xuân Ninh biên độ triều chỉ còn khoảng 0,1m Trong năm biên độ triều về mùa lũ nhỏ hơn về mùa kiệt
Chênh lệch mực nước triều lên và triều xuống:
- Tại Lương Yến, chênh lệch HR triều Rlên trung bình nhỏ nhất vào tháng 3 là 102cm, lớn nhất vào tháng 12 là 121cm, còn chênh lệch HR triều Rxuống trung bình nhỏ nhất vào tháng 5 là 96cm và lớn nhất vào tháng 12 là 112cm
- Tại Xuân Ninh, chênh lệch triều lên trung bình nhỏ nhất vào tháng 2 là 88cm, lớn nhất vào tháng 9 là 185cm; chênh lệch triều xuống trung bình nhỏ nhất
Trang 34- Tại Phú Vinh, chênh lệch triều lên trung bình nhỏ nhất vào tháng 3 là 73cm, lớn nhất vào tháng 11 là 98cm; chênh lệch triều xuống trung bình nhỏ nhất vào tháng 3 và tháng 8 là 69cm và lớn nhất vào tháng 5 và tháng 6 là 84cm
Vào lúc triều cường, lũ trong sông Long Đại bị dồn vào sông Kiến Giang làm lũ trên sông Kiến Giang không thoát được gây ngập lụt, úng vùng đồng bằng
Lệ Thủy
Đồng bằng Lệ Ninh ngoài thiên tai lũ lụt còn bị nước biển tràn Các tháng chuyển mùa, do tác động của gió mùa gây triều cường, nước biển theo sông Nhật Lệ xâm nhập sâu vào vùng đồng bằng gây nhiễm mặn đồng ruộng
mặn có thể lên quá trạm thủy văn Phan Xá
Từ khi xây dựng cống Mỹ Trung, mặn được khống chế, cống Mỹ Trung có tác dụng gạn triều, tiêu úng cho vùng đồng bằng sông Kiến Giang tuy nhiên thiệt hại do mặn gây ra vẫn còn xảy ra ở các dạng:
khả năng ngăn mặn không triệt để, nước mặn vẫn còn xâm nhập vào đồng ruộng
tiềm tàng trong đất
Thiệt hại do mặn hàng năm ở đây chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng có ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế
1.6 CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XÃ HỘI
1.6.1 D ân cư và lao động
Vùng hạ lưu sông Kiến Giang thuộc đồng bằng Lệ Ninh bao gồm đất đai thuộc địa giới hành chính toàn bộ 28 xã, thị trấn của huyện Lệ Thủy, 12 xã huyện Quảng Ninh: Hàm Ninh, Duy Ninh, Võ Ninh, Gia Ninh, Tân Ninh, Hiền Ninh, Xuân Ninh, An Ninh, Vạn Ninh, Trường Xuân, Trường Sơn, Hải Ninh và xã Bảo Ninh của thành phố Đồng Hới
Trang 35Dân cư phân bố không đều, tập trung phần lớn ở đô thị và vùng đồng bằng, ở miền núi dân cư quá thưa Tổng hợp dân số trong vùng nghiên cứu bảng 1.10
Bảng 1.10 Tổng hợp dân số vùng Lệ Ninh năm 2010
Trang 36các chương trình trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ, phục hồi rừng và giao cho dân trồng và chăm sóc quản lý được thực hiện
1.6.2.3 Thuỷ sản
Những năm gần đây ngành thủy sản phát triển tương đối nhanh (cả trong đánh bắt và nuôi trồng) chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của vùng dự án:
ao, hồ, phá vào vào sản xuất và mô hình kết hợp sử dụng diện tích lúa tái sinh để nuôi trồng thủy sản nước ngọt
nuôi tôm công nghiệp trên cát đang được chú trọng phát triển
1.6.2.4 Công nghiệp
Công nghiệp được chú trọng phát triển nên ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có chiều hướng phát triển tích cực, tốc độ tăng trưởng bình quân năm đạt xấp xỉ 19% Đến năm 2010 toàn vùng có 3.188 cơ sở sản xuất, trong đó có 2 cơ
sở Trung Ương quản lý, 1 cơ sở tỉnh quản lý, 2 cơ sở tập thể, thu hút 6.808 lao động Tuy nhiên các cơ sở công nghiệp còn nhỏ bé, phân tán, công nghệ lạc hậu
1.6.2.5 Giao thông
Hệ thống giao thông trong vùng vùng Lệ Ninh tương đối thuận lợi, đường ô
tô đã đến được toàn bộ trung tâm của 41 xã trong vùng Các trục giao thông lớn liên tỉnh, liên huyện (đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 1A, tỉnh lộ 10) đi qua hầu hết các khu dân cư, các vùng có tiềm năng kinh tế Ngoài ra mạng lưới sông, kênh cũng được sử dụng làm đường giao thông thuỷ Tuy nhiên chất lượng nhiều tuyến đường chưa được cao thường bị sạt lở và ngập trong nước lũ
1.6.3 Các ngành dịch vụ và dịch vụ xã hội
1.6.3.1 Giáo dục
Tất cả các xã nằm trong vùng nghiên cứu đều có hệ thống các trường PTTH, các xã và các cụm xã đều có trường PTCS Toàn bộ 41 xã được công nhận xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Trang 371.6.3.2 Y tế
Mạng lưới y tế thời gian qua đã được xây dựng, củng cố, việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được chú trọng Toàn vùng có 70 cơ sở y tế với 915 giường bệnh, tất cả các xã đều có cơ sở y tế Tuy nhiên mạng lưới y tế cơ sở có cơ
sở vật chất, trang thiết bị còn nghèo nàn, trình độ chuyên môn hạn chế
1.6.3.3 Bưu điện
Đã có 41/41 xã có mạng lưới điện thoại với bình quân 3 máy điện thoại/100dân Mạng điện thoại di động từng bước được mở rộng, mạng lưới phát thanh, truyền hình phủ sóng hầu khắp, các xã đều có các trạm phát thanh và mạng lưới truyền thanh xuống cơ sở Các trạm thu để phát lại truyền hình cũng được chú trọng phát triển, đã xây dựng được một số cụm VTRO để tăng diện phủ sóng truyền hình
Các hoạt động văn hoá văn nghệ, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá được đẩy mạnh Công tác xóa đói giảm nghèo được thực hiện tích cực đã nâng cao được đời sống của nhân dân vùng sâu vùng xa
1.6.4 Định hướng phát triển kinh tế
1.6.4.1 Mục tiêu chung
Phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với nền kinh tế thị trường, xây dựng nền kinh tế ổn định có nhịp độ tăng trưởng cao Kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với bảo vệ môi trường sinh thái, củng cố quốc phòng, an ninh
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nông nghiệp toàn diện, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp tập trung và làng nghề truyền thống Tăng tỷ trọng dịch vụ du lịch
Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 8÷9% năm vào giai đoạn 2005÷2010 và 10÷11% vào 2010÷2020
1.6.4.2 Dân số, dân cư
dân số tự nhiên ở mức dưới 1,0% vào năm 2020 để quy mô dân số đến năm 2020 của toàn vùng nghiên cứu là 255.072 người Thống kê dân số hiện tại và dự báo đến năm 2020 của vùng dự án trình bày trong bảng 1.11
Trang 38Bảng 1.11 Dân số hiện tại và dự báo đến năm 2020 của vùng dự án
Đơn vị: người
lũ đồng thời tạo điều kiện cho công cuộc hiện đại hoá nông thôn
Trang 391.6.4.4 Định hướng phát triển nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, đảm bảo an toàn lương thực trong mọi tình huống Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng nhanh giá trị cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị hàng hoá, dịch vụ trên 1ha canh tác, giảm dần tỷ trọng của trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi Xây dựng vùng chuyên canh lúa xuất khẩu với các giống lúa đặc sản có năng suất chất lượng cao ở đồng bằng Quảng Ninh, Lệ Thủy quy mô 5,5÷7,6 nghìn ha Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân năm đạt 4,6÷4,7% đưa tỷ trọng chăn nuôi lên 40% trong toàn bộ ngành nông nghiệp
1.6.4.5 Định hướng phát triển lâm nghiệp
Khoanh nuôi bảo vệ diện tích rừng hiện có, đặc biệt là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng nhằm phủ xanh toàn bộ diện tích đất trống, đồi núi trọc và bãi cát ven biển, đưa độ che phủ rừng lên 55% vào năm 2020 Chỉ tiêu phát triển lâm nghiệp trong vùng nghiên cứu như trình bày trong bảng 1.13
Bảng 1.13 Chỉ tiêu phát triển lâm nghiệp Chỉ tiêu
Quảng Ninh
1.6.4.5 Định hướng phát triển thuỷ sản
Tổ chức khai thác tốt các nguồn lợi thủy sản, đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, chuyển một số diện tích ruộng trũng sang khai thác theo mô hình lúa Đông Xuân và lúa tái sinh và nuôi cá, tăng cường diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ trên cát
Trang 40Phấn đấu đến năm 2020 diện tích nuôi trồng thuỷ sản trong vùng dự án là 5.350ha trong đó nuôi trồng nước ngọt là 4.000ha, mặn lợ là 1.350ha
1.6.4.6 Định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Tập trung phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm hải sản, sản xuất hàng tiêu dùng, phát triển thủ công nghiệp khôi phục, mở rộng các ngành nghề truyền thống, xây dựng thành các làng nghề Xây dựng khu công nghiệp tập trung với quy mô: Áng Sơn 300ha, Bang 500ha Định hướng phát triển công nghiệp đến năm 2020 như trình bày trong bảng 1.14
Bảng 1.14 Định hướng phát triển công nghiệp đến 2020
Cơ sở công nghiệp
Địa điểm xây dựng
Loại sản phẩm
Sản lượng qua các năm
I Những xí nghiệp dự kiến mở rộng nâng công suất
1.XN đóng tàu Nhật Lệ
QuảngNinh
Tầu thuyền
2 XN 1/5 + XN Áng
3 Cty Nước khoáng
Bang
Lệ Thủy Nước khoáng (10P
- Bưu điện, phát thanh, truyền hình: Hoàn thiện, mở rộng điện thoại cố
định, phủ sóng phát thanh, truyền hình đến toàn bộ các điểm dân cư trong lưu vực
- Giáo dục, y tế: Năm 2010 phổ cập xong giáo dục tiểu học, trẻ em đến tuổi
đều được đi học Cải tạo nâng cấp trạm xá xã và các thôn bản đều có y tá