Ngoài nguyên nhân khách quan do sự biến động rất lớn theo thời gian của nguồn nước đến với 70-75% lượng nước tập trung trong 3 tháng mùa lũ X-XII, còn lại trong 9 tháng mùa kiệt chỉ có
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài
Trà Khúc là một lưu vực sông lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi có diện tích lưu vực
3240 km2 chiếm khoảng 55% diện tích tự nhiên của tỉnh So với các lưu vực sông khác trong vùng ven biển miền Trung lưu vực sông Trà Khúc có nguồn nước đến thuộc loại rất phong phú với mô đuyn dòng chảy năm trung bình nhiều năm tới trên
70 l/s.km2, tuy nhiên ở khu vực hạ lưu từ đập Thạch Nham ra đến cửa sông, nhất là đoạn sông chảy qua thành phố Quảng Ngãi trong những năm gần đây luôn xảy ra tình trạng cạn kiệt và thiếu nguồn nước trong các tháng mùa kiệt Điều đó đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội của thành phố Quảng Ngãi và dân cư ở khu vực hạ lưu
Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng suy thoái cạn kiệt nguồn nước ở khu vực hạ lưu như trên Ngoài nguyên nhân khách quan do sự biến động rất lớn theo thời gian của nguồn nước đến với 70-75% lượng nước tập trung trong 3 tháng mùa
lũ (X-XII), còn lại trong 9 tháng mùa kiệt chỉ có 25-30% lượng nước của sông, còn
có các nguyên nhân chủ quan do các hoạt động phát triển KTXH chưa hợp lý con người gây ra, thí dụ như khai hoang một cách quá mức đất ở thượng lưu của dân cư
để lấy đất trồng sắn đã làm suy giảm đáng kể diện tích rừng ở thượng nguồn hoặc việc lấy quá mức nguồn nước đến tự nhiên của sông để sử dụng cho tưới và các yêu cầu khác của đập Thạch Nham khiến cho ở hạ lưu không còn đủ nước phân bổ cho duy trì hệ sinh thái và môi trường dòng sông
Nguồn nước của sông Trà Khúc có vai trò vô cùng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ngãi nên cần phải khai thác sử dụng một cách hợp lý đáp ứng các nhu cầu sử dụng của con người và cả cho môi trường
Việc nghiên cứu đánh giá nguồn nước và các nhu cầu sử dụng nước từ đó xem xét các phương án điều hòa nguồn nước và phân bổ một cách hợp lý nguồn nước đến đập Thạch Nham cho các nhu cầu sử dụng ở hạ lưu và cho môi trường là
Trang 22
rất cần thiết để lập lại sự cân bằng giữa nguồn nước đến, các nhu cầu sử dụng và từng bước khắc phục suy thoái cạn kiệt nguồn nước ở khu vực hạ lưu
Luân văn với tiêu đề “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dưng giải pháp phân
bổ và điêu hòa nguồn nước bảo vệ môi trường khu vực hạ du sông Trà Khúc” đã được xây dựng và thực hiện để giải quyết vấn đề trên, góp phần cho khai thác sử dụng hợp lý và bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông, đặc biệt là khu vực hạ du
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn có các mục đích nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu đưa ra được cơ sở khoa học cho giải quyết bài toán phân bổ, điều hoà nguồn nước đến đập Thạch Nham cho sử dụng ở khu vực hạ du như là xây dựng bài toán, đề xuất các nguyên tắc phân bổ nguồn nước, đánh giá khả năng bổ sung nguồn nước cho đập Thạch Nham
- Nghiên cứu đưa ra được giải pháp điều hoà và phân bổ hợp lý nguồn nước đến đập Thạch nham cho sử dụng ở khu vực hạ du, từng bước khắc phục tình trạng suy thoái cạn kiệt nguồn nước như hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu và công cụ sử dụng
Phương pháp nghiên cứu
1) Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
2) Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
3) Phương pháp phân tích thống kê
4) Phương pháp tính toán cân bằng nước
Trang 33
5 Nội dung của luận văn
Luận văn gồm các nội dung chủ yếu sau:
(1) Đánh giá tài nguyên nước và khai thác sử dụng nước lưu vực sông trà khúc và xây dựng bài toán phân bổ và điều hòa nguồn nước của lưu vực sông cho
Luận văn được trình bày trong 82 trang đánh máy, bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung gồm 3 chương với các tiêu đề các chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu lưu vực sông Trà Khúc và yêu cầu nghiên cứu chia sẻ, phân bổ nguồn nước
Chương 2: Nghiên cứu cơ sở khoa học về phân bổ và điều hòa nguồn nước đến đập Thạch Nham cho sử dụng ở khu vực hạ lưu sông Trà Khúc
Chương 3: Nghiên cứu giải pháp phân bổ nguồn nước đến Thạch Nham cho các nhu cầu sử dụng và bảo vệ môi trường nước khu vực hạ du sông Trà Khúc
Trang 44
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LƯU VỰC SÔNG TRÀ KHÚC VÀ YÊU
CẦU NGHIÊN CỨU CHIA SẺ PHÂN BỔ NGUỒN NƯỚC 1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Bắt nguồn từ vùng núi cao KonPlong tỉnh Kon Tum ở độ cao 1500m, hệ thống sông Trà Khúc là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi, với diện tích lưu vực 3240km2(chiếm khoảng 55% diện tích tự nhiên của tỉnh)
Lưu vực sông Trà Khúc nằm trên các huyện Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng, Ba
Tơ, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, thị xã Quảng Ngãi và một phần huyện Kon Plong tỉnh Kon Tum Ranh giới lưu vực phía Bắc giáp lưu vực sông Trà Bồng, phía Nam giáp lưu vực sông Vệ, phía Tây giáp lưu vực sông Sê San, phía Đông giáp Biển Đông (bản đồ lưu vực hình 1.1) Phần trung và thượng nguồn sông Trà Khúc được tính từ vùng núi cao KonPlong đến Thạch Nham, có dạng địa hình chủ yếu là đồi núi, chảy theo hướng Nam-Bắc, đến Thạch Nham chảy theo hướng Tây-Đông,
đổ ra biển qua cửa Cổ Lũy Phần hạ lưu sông được tính từ đập Thạch Nham đến cửa biển, có dạng địa hình đồng bằng, chiếm 1/3 diện tích lưu vực Sông có chiều dài
135 km, diện tích lưu vực 3240 km2, diện tích tính đến Thạch Nham 2840 km2, mật
độ lưới sông 0,39 km/km2, độ cao bình quân lưu vực 550m, chiều dài lưu vực 123
km, chiều rộng trung bình lưu vực 26,3 km, độ dốc bình quân lưu vực 18,5%
Trang 5Có thể chia địa hình ra làm 4 vùng:
Trang 66
- Vùng núi: Nằm phía Tây của tỉnh, chiếm một phần lớn diện tích chạy dọc ranh giới tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi Địa hình phân cách mạnh, sông suối trong khu vực có độ dốc lớn, lớp phủ thực vật dầy
- Vùng đồng bằng: Trải dài ven biển và tiếp giáp với vùng đồi gò, có độ dốc
từ Tây sang Đông Địa hình vùng đồng bằng chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên toàn lưu vực Đây là vùng đất có cao độ từ 2m – 20m, nằm trên địa bàn các huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa hành, Bình Sơn và Mộ Đức thuộc khu vực hạ lưu
Một đặc điểm về địa hình đáng lưu ý trong lưu vực là dãy Trường Sơn nằm ở phía Tây lưu vực, đóng vai trò chính trong việc làm lệch pha mùa mưa so với cả nước Các dãy núi đều nằm ở phía Tây đã tạo thành hành lang chắn gió, tăng cường
độ mưa trong mùa mưa và tăng tính khắc nghiệt trong mùa khô
- Vùng cát ven biển: Cồn cát, đụn cát phân bố thành một dải hẹp ven biển Dạng địa hình này được hình thành do sông ngòi mang vật liệu từ núi xuống bồi lắng ven biển, sóng đẩy dạt vào bờ và gió thổi vun cao thành cồn, đụn
Đặc điểm thổ nhưỡng
Lưu vực gồm có 9 loại đất sau:
- Đất cát ven biển : tập trung ở vùng ven biển thuộc các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức và Đức Phổ với diện tích nghiên cứu là 6290 ha
Trang 7- Nhóm đất Glây: Nhóm đất này thường gặp ở các vùng địa hình trũng ở đồng bằng, thường xuyên ẩm ướt của các huyện Sơn Tịnh, Mộ Đức, Tư Nghĩa , diện tích 2.052 ha
- Nhóm đất xám: có diện tích lớn nhất vùng nghiên cứu (286.909 ha) được phân bố rải rác ở tất cả các huyện Tuy nhiên, diện tích tập trung nhiều ở các huyện
Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây
- Nhóm đất đỏ: Nhóm đất đỏ phân bố chủ yếu ở hai huyện Sơn Tịnh và Bình Sơn Diện tích của nhóm đất này trong vùng là 6.106 ha
- Nhóm đất đen: Đất đen xuất hiện ở Bình Sơn và Sơn Tịnh Gồm có đất đen
và đất nâu thẫm phát triển trên đá bazan Diện tích nhóm đất đen là 2.398 ha
- Nhóm đất nứt nẻ: Nhóm đất này có diện tích không đáng kể trong vùng (234 ha) nghiên cứu Đây là loại đất hình thành do sản phẩm của núi lửa và chỉ gặp duy nhất ở huyện Bình Sơn
- Nhóm đất mòn trơ sỏi đá: Nhóm đất mòn trơ sỏi đá phân bố ở hầu hết các huyện không tốt cho sản xuất nông nghiệp.Diện tích đất mòn trơ sỏi đá là 6348 ha
Trang 8Nhìn chung trong lưu vực lượng mưa có xu hướng giảm dần từ Bắc vào Nam
và từ Đông sang Tây Vùng mưa lớn tập trung ở các vùng núi cao như Ba Tơ, Gia Vực từ 3200- 4000 mm/năm, vùng đồng bằng ven biển lượng mưa nhỏ hơn nhiều chỉ đạt từ 2300- 2700 mm/năm
Mùa mưa ở đây kéo dài 4 tháng, từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm từ 70-80% tổng lượng mưa cả năm Mưa đặc biệt lớn vào 2 tháng 10 và 11, lượng mưa trong 2 tháng này chiếm tới 40-50% tổng lượng mưa năm Cường độ mưa lớn thường xuất hiện vào các tháng 10 và 11, là nguyên nhân sinh ra lũ lụt và xói mòn trên lưu vực
Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chiếm từ 20-35% tổng lượng mưa năm Tháng có lượng mưa nhỏ nhất thường là tháng 2 Trong các tháng 5 và 6 trong vùng xuất hiện các đợt mưa phụ, càng về phía Tây của vùng các đợt mưa phụ càng rõ nét hơn, tuy nhiên giá trị mưa bình quân các tháng này cũng không vượt qúa giá trị mưa bình quân các tháng trong năm
Độ ẩm
Độ ẩm tương đối của không khí trung bình nhiều năm trong vùng khoảng 85% Vào các tháng mùa mưa độ ẩm không khí vùng đồng bằng ven biển đạt 85 - 88%, vùng núi có thể đạt 90 - 95% Các tháng mùa khô độ ẩm thấp hơn, vùng đồng bằng ven biển dưới 80%, vùng núi 80 - 85%.Vào những tháng mùa khô, trong một vài ngày cá biệt độ ẩm có thể xuống dưới 30 - 40%
Số giờ nắng
Khu vực nghiên cứu có số giờ nắng phong phú, vùng núi khoảng 2000 giờ/năm, vùng đồng bằng nắng nhiều hơn khoảng 2200 giờ/năm Nắng nhiều vào các tháng 4, tháng 5, nắng ít vào tháng 12
Bốc hơi
Trang 99
Lượng bốc hơi trong vùng không lớn so với các vùng khác trong nước Vùng đồng bằng ven biển có khả năng bốc hơi từ 800- 900 mm/năm, càng lên cao khả năng bốc hơi càng giảm, chỉ từ 750-800 mm/năm
Gió
Chế độ gió mùa gồm hai mùa gió chính trong năm: gió mùa đông và gió mùa
hạ Mùa hạ từ tháng 5 tới tháng 9 hướng gió thịnh hành nhất là hướng Đông Nam và Tây Nam, về mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 hướng gió thịnh hành nhất là hướng Đông và Đông Bắc
Tốc độ gió trung bình hàng năm ở vùng nghiên cứu khoảng 1,3 m/s Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được ở Ba Tơ và Quảng Ngãi là 40 m/s do bão lớn gây ra
Chế độ nhiệt
Lưu vực có nền nhiệt cao do ảnh hưởng của chế độ bức xạ mặt trời nhiệt đới với cán cân bức xạ dương Nhiệt độ trong vùng có xu hướng thay đổi theo độ cao, các vùng núi cao nhiệt độ thấp hơn vùng đồng bằng Vùng đồng bằng có nhiệt độ trung bình 250C – 260C, tương đương với tổng nhiệt độ năm 9000 – 95000C Vùng núi có nhiệt độ trung bình 240c – 250C, tương đương tổng nhiệt độ năm 8700 –
là 74,8 l/s/km2 và tổng lượng dòng chảy 6,1 tỷ m3 nước
b) Phân phối dòng chảy trong năm
Theo chỉ tiêu vượt trung bình, mùa lũ bao gồm những tháng liên tục có lượng dòng chảy vượt quá 8% lượng dòng chảy năm với xác suất xuất hiện ≥ 50%, mùa cạn bao gồm những tháng còn lại trong năm Theo chỉ tiêu này thì mùa mưa lũ ở lưu vực sông Trà Khúc kéo dài 3 tháng từ tháng 10 tới tháng 12, mùa kiệt kéo dài 9
Trang 1010
tháng, từ tháng 1 đến tháng 9 Mùa mưa ở đây kéo dài 4 tháng, nhưng mùa lũ chỉ có
3 tháng và thường mùa lũ chậm hơn mùa mưa 1 tháng Vào tháng 9 hàng năm, tuy
đã bước vào mùa mưa thực sự nhưng do lưu vực vừa trải qua một thời kỳ nắng nóng, lượng mưa rơi xuống chủ yếu tăng độ ẩm lưu vực, dòng chảy chỉ tăng thêm chút ít, phải sang tháng 10 lượng mưa lớn dồn tập trung lúc đó mới thực sự bước vào mùa lũ
Trong năm, dòng chảy phân bố không đều, lượng dòng chảy mùa lũ chiếm 70% - 75% tổng lượng dòng chảy cả năm trong khi đó lượng dòng chảy mùa kiệt từ tháng 1 tới tháng 9 chỉ chiếm 25% - 30 %, hai thời kỳ kiệt xảy ra vào tháng 4 và tháng 8 Tháng kiệt nhất lượng dòng chảy chỉ chiếm xấp xỉ 2% lượng nước cả năm Những năm kiệt nhất, lưu lượng tháng 4 chỉ đạt 21,6 m3/s (4/1983) với mô đuyn 8,9 l/s/km2 tại Sơn Giang
Sự phân phối dòng chảy khá bất lợi và không đồng đều trong năm nên việc sử dụng khai thác nguồn nước tự nhiên phục vụ dân sinh kinh tế gặp rất nhiều khó khăn
c) Dòng chảy lũ
+ Lũ sớm: xảy ra từ cuối tháng 8 đến trung tuần tháng 10, biên độ lũ không lớn và thường là lũ đơn một đỉnh Có Qmax tại Sơn Giang đạt 6650 m3/s
+ Lũ muộn: xảy ra vào nửa đầu tháng 12 đến nửa đầu tháng 1 năm sau Có
Qmax tại Sơn Giang là 3410 m3/s
+ Lũ tiểu mãn: xảy ra vào các tháng 5 và 6, lũ tiểu mãn không lớn nhưng ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp vì đây là thời kỳ đầu vụ hè thu Trị số lớn nhất quan trắc được tại Sơn Giang là 1.690 m3/s vào tháng 5 năm 1986
d) Dòng chảy kiệt
Về mùa kiệt dòng chảy trong sông nhỏ, nguồn cung cấp cho sông chủ yếu là nước ngầm Mùa kiệt kéo dài từ tháng 1 đến tháng 9 với tổng lượng dòng chảy từ 25-30% tổng lượng dòng chảy năm Trong năm có hai thời kỳ kiệt, kiệt nhất vào tháng 4 với Qbq = 50,3 m3/s, thời kỳ kiệt thứ hai là tháng 8 với Qbq= 61,0 m3/s Lưu lượng kiệt nhỏ nhất rơi vào tháng 4 với Qmin = 21,6 m3/s
Trang 1111
e) Dòng chảy bùn cát
Lượng vận chuyển bùn cát vào các tháng mùa lũ khá lớn, lớn nhất vào tháng
11 đạt tới trị số 1590 g/m3, mùa khô hàm lượng bùn cát nhỏ, nhiều ngày bằng 0 g/m3 vào các tháng 3 và 4
Độ mặn thay đổi theo thời gian và không gian, thay đổi theo chu kỳ triều và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chế độ triều vùng cửa sông, độ dốc lòng sông, lưu lượng dòng chảy thượng nguồn ngoài ra quá trình xâm nhập mặn vào các sông còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: chế độ gió, sóng và các công trình khai thác nước, điều tiết nước trên sông Mặn lớn nhất xảy ra vào tháng 5, 7 và 8 Tháng
7 có mức độ xâm nhập mặn lớn nhất Theo số liệu đo đạc tháng 4/2002 độ mặn tại Tịnh Long (cách Cổ Luỹ 3,2km) là 1,9‰ và 0,2‰
1.1.2 Kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Dân số - Dân tộc
Theo niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2010, dân số toàn tỉnh Quảng Ngãi là 1.237.564 người, trong đó trong lưu vực sông Trà Khúc có 1.000.946 người Mật độ dân số trung bình là 248 người/ km2, song phân bố không đều, các huyện đồng bằng mật độ lên tới gần 550 người/ km2, trong khi đó miền núi chỉ khoảng 60 người/ km2, tập trung lớn nhất là ở thị xã Quảng Ngãi, mật độ lên tới trên 3.000 người/ km2
Trang 12Thành Thị
Nông thôn Thành Thị 8.335
Trang 1313
Từ bảng trên ta thấy, dân số nông thôn chiếm tới gần 90% tổng số dân, dân
sống bằng nông nghiệp khoảng 85% Dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng
50%, trong đó làm việc trong các cơ quan nhà nước là 15.268 người
Trong vùng có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống như người Kinh, Xơ Đăng,
Hrê, Cor và các dân tộc khác Người Kinh sống tập trung ở các huyện đồng bằng và
chiếm tới hơn 99% dân số Trong khi đó, ở các huyện miền núi Sơn Hà, Sơn Tây,
Ba Tơ, dân tộc Xơ Đăng và Hrê chiếm từ 84-88%
1.1.2.2 Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội
Nông Nghiệp
Nông nghiệp là ngành nghề sản xuất chính ở hạ du bởi hầu hết diện tích
đất là nông nghiệp Các cây lương thực phổ biến là lúa, màu, cây công nghiệp
ngắn ngày
Nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp, tỉnh Quảng Ngãi đã đầu tư
xây dựng hệ thống kênh thủy lợi Thạch Nham khu vực hạ du sông Trà Một số vùng
sản xuất tập trung chuyên canh đã hình thành, sản lượng lương thực nhìn chung
tăng dần, tương đối ổn định và có khả năng đáp ứng được cơ bản về nhu cầu tại chỗ
Bên cạnh ngành trồng trọt ngành chăn nuôi đã được quan tâm và cũng có sự tăng
trưởng khá
Theo thống kê năm 2009 trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ngãi, diện tích trồng
cây lương thực thực phẩm khá lớn, các hộ dân tập trung chăn nuôi trâu bò nhiều
hơn nuôi lợn
Bảng 1.2 Diện tích trồng cây lương thực, chăn nuôi
TT Cây trồng, con vật nuôi Diện tích(ha)/ số con
Trang 1414
Lâm Nghiệp
Hiện tại trong lưu vực sông Trà Khúc có diện tích đất lâm nghiệp là 154.130
ha trong đó rừng tự nhiên là 125.694 ha và rừng trồng là 28.435ha So với các tỉnh trong cả nước thì vốn rừng của Quảng Ngãi nói chung và lưu vực sông Trà Khúc nói riêng là ít, chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo Tuy nhiên, trữ lượng rừng cao hơn mức trung bình của cả nước
Rừng trong lưu vực chủ yếu tập trung ở vùng thượng nguồn trên các vùng núi cao, độ dốc lớn Do quá trình khai thác bừa bãi, chưa hợp lý nên hiện đang có
xu thế giảm rừng giàu và trung bình, tăng diện tích rừng nghèo
Công Nghiệp
Công nghiệp không phải là ngành phát triển kinh tế chính của tỉnh Tuy nhiên, hiện nay tỉnh đang thay đổi cơ cấu kinh tế và được tập trung phát triển Đặc biệt là một số lĩnh vực như công nghiệp chế biến nông – lâm – thuỷ sản và sản xuất vật liệu xây dựng Nhiều nhà máy, xí nghiệp mới ra đời như nhà máy bao bì, sữa, chế biến bột mỳ, rau quả, may mặc, gạch tuy nen, gạch xây dựng điển hình
là một số khu công nghiệp như Khu công nghiệp Quảng Phú bắt đầu hoạt động từ năm 2000, có 42 dự án được cấp phép đầu tư, trong đó có 32 dự án đang xây dựng
và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng nguồn vốn đăng ký 1.050 tỷ đồng, với diện tích 147,34 ha; Khu công nghiệp Dung Quất diện tích 24.280ha; Khu công nghiệp Tịnh Phong thuộc địa phận xã Tịnh Phong huyện Sơn Tịnh, có diện tích 141,72 ha, ngành nghề sản xuất chính là vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, lắp ráp cơ khí, thiết bị vận tải, hàng tiêu dùng và các nhà máy sản xuất bao bì sản xuất hàng xuất khẩu…hiện nay đã có 23 dự án đang hoạt động ở quy
Trang 1515
tại Thị trấn Sơn Tịnh- huyện Sơn Tịnh- tỉnh Quảng Ngãi, có diện tích 2,5 ha, chuyên sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp, chế biến gỗ, mây tre đan…
Đến nay, toàn vùng đã có 60 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, gần 12.000
cơ sở và hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 14,8%/năm, chiếm tỷ trọng 21% trong nền kinh tế của tỉnh
Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá cao và diễn ra ở tất cả các ngành nghề, bình quân mỗi năm công nghiệp khai thác mỏ tăng 14,6%, công nghiệp chế biến tăng 15,1% và công nghiệp điện nước khí đốt tăng 21%
Thủy sản
Sông Trà Khúc đổ ra biển tại cửa Cổ Lũy, tại đây ngành nuôi trồng, đánh bắt thủy sản khá phát triển với diện tích khoảng 599ha, hình thức nuôi trồng chủ yếu là bán thâm canh và quảng canh Đánh bắt trong phạm vi sông chỉ trong mùa nước lớn, các hộ dân chủ yếu sắm ghe, thuyền để đánh bắt xa bờ Trong thời gian gần đây, các hộ dân tập trung đầu tư phát triển tàu thuyền có công suất lớn để đánh bắt
xa bờ nên sản lượng cao, đạt 66.000 tấn
1.2 Tình hình khai thác sử dụng nước và suy thoái nguồn nước hạ lưu sông Trà Khúc
1.2.1 Tình hình khai thác sử dụng nước
Nguồn nước được sử dụng cho nhiều mục đích đa dạng, trong đó nước cấp cho nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chính
1) Nước cho nông nghiệp
Đây là ngành dùng nước nhiều nhất trên toàn lưu vực, nhiều công trình thủy lợi được xây dựng nhằm đáp ứng các nhu cầu về nước của ngành
Với 249 công trình thủy lợi nhỏ tưới được khoảng 8570 ha và hệ thống thủy lợi Thạch Nham tưới được 30.900 ha thì các công trình thủy lợi trên lưu vực hiện
nay đã tưới được gần 40.000 ha trong đó chủ yếu là lúa nước hai vụ Đông xuân và
Hè thu Với hệ thống các công trình thủy lợi đã có trên lưu vực sông Trà Khúc, nhất là ở khu vực hạ lưu, các công trình đã đáp ứng phần lớn lượng nước tưới cho
Trang 161985 đến 1991, đến nay dự án đập Thạch Nham đã chính thức đi vào khai thác
Hình 1.2 Đập dâng Thạch Nham – nhìn từ hạ lưu
Đập Thạch Nham là đập lớn nhất hiện nay trên lưu vực sông Trà Khúc Với tổng chiều dài tuyến kênh là 1200km chiếm 75% tổng chiều dài kênh mương trong tỉnh, đập cắt ngang dòng chính của sông, cách cửa biển khoảng 30km về phía thượng lưu thuộc địa bàn huyện Tư Nghĩa Công suất tưới thiết kế có thể cung cấp nước tưới cho 50.000 ha, đập sử dụng dòng chảy tự nhiên trong mùa kiệt để tưới đảm bảo cung cấp nước trưới cho các huyện và thị xã Quảng Ngãi Đập có vai trò đóng góp rất lớn làm gia tăng sản lượng của các cây trồng, đồng thời đảm bảo một phần cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp
Trang 1717
Ngoài đập Thạch Nham, phía thượng lưu cũng đã xây dựng được khoảng 60
hồ chứa và các đập dâng nhỏ để cung cấp nước tưới theo yêu cầu tại chỗ phục vụ sản xuất nông nghiệp ở các huyện miền núi như: Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng, Ba
Tơ và các huyện khác trong tỉnh, trong đó phải kể đến đập Xã Điệu (1977, tưới thiết
kế là 350ha nhưng thực tế là 70ha), đập Cù Và trên sông Giang (1989, tưới cho 300ha)
Tại khu vực hạ lưu đập cũng có 58 công trình thủy lợi vừa và nhỏ gồm 22 hồ chứa và 38 đập dâng phục vụ tưới cho diện tích nông nghiệp của xã, huyện
Để đáp ứng nhu cầu nước sử dụng ngày càng tăng cho sinh hoạt và công nghiệp, điều tiết nước cho lấy nước tưới của đập Thạch Nham làm giảm bớt tình trạng cạn kiệt nước ở hạ lưu, dự án xây dựng hồ chứa Nước trong ở phía thượng lưu trên nhánh suối Nước trong được khởi công xây dựng từ cuối năm 2009 Hồ chứa nước Nước trong có tổng diện tích 460km2, diện tích mặt hồ gần 12km2, dung tích chứa được gần 300 triệu mét khối nước, có tổng vốn đầu tư gần 1.900 tỉ đồng, bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ Dự kiến dự án hồ chứa nước Nước Trong sẽ hoàn thành, đưa vào sử dụng vào năm 2015
Công trình này khi đưa vào sử dụng sẽ giải quyết tốt hơn bài toán tạo nguồn cho đập Thạch Nham và tạo thêm nguồn nước cho duy trì môi trường hạ lưu đập Thạch Nham Tuy nhiên do dung tích hiệu dụng hồ chỉ có 220 triệu m3 nên cũng mới chỉ đáp ứng ở mức độ nhất định lượng nước thiếu ở phía hạ lưu của các ngành
sử dụng
2) Nước cho sinh hoạt, công nghiệp
Riêng thành phố Quảng Ngãi và một số thị trấn thuộc huyện Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, khu công nghiệp Quảng Phú thì nước cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp đươc lấy từ nguồn nước tại nhà máy nước đặt tại khu vực cầu Trà Khúc với công suất lên tới 19.000 m3/ng.đêm
Nước phục vụ cho sinh hoạt và công nghiệp khu vực hạ du được lấy từ hệ thống kênh tưới đập Thạch Nham và một số được lấy trực tiếp từ nước ngầm thông qua các giếng khoan Các hộ dân phía hạ lưu thuộc vùng tưới Thạch Nham chủ yếu
Trang 183) Nước cho giao thông thủy
Giao thông thủy trên sông Trà Khúc hiện nay không còn do công trình đập Thạch Nham làm mực nước trong sông thay đổi thường xuyên Đặc biệt vào mùa kiệt, tại hạ lưu đập dòng chảy bị đứt đoạn không thể di chuyển phương tiện đường sông, chỉ có thể di chuyển được ở một số đoạn sông nhất định
4) Nước cho thủy sản
Loài thủy sản được nuôi trồng ở thượng và hạ lưu có sự khác nhau cơ bản Ở khu vực thượng lưu, thủy sản được nuôi trồng chủ yếu là thủy sản nước ngọt trong các ao hồ tự nhiên, hoặc trên các lồng dọc sông
Khu vực hạ lưu tập trung vào nuôi trồng thủy sản nước lợ như tôm chân trắng, cua, cá với nguồn nước cấp từ bổ cập nước mặt cửa sông
5) Nước cho thủy điện
Hiện nay, ở thượng lưu chỉ có một số công trình thủy điện nhỏ, chưa có công trình thủy điện nào có công suất lắp máy trên 10MW nào được xây dựng Tuy nhiên, để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi, theo quy hoạch có một số công trình thủy điện tương đối lớn như công trình thủy điện Dakrinh sẽ được xây dựng tại khu vực thượng lưu trong tương lai
6) Nước cho môi trường
Trong các thời gian vừa qua nước cho duy trì HST và môi trường dòng sông
ở khu vực hạ lưu chưa được chú ý đảm bảo Có thể thấy rõ điều này qua công trình đập Thạch Nham cấp nước đáp ứng cho các nhu cầu nước khác như tưới tiêu, phục
vụ cấp nước các khu công nghiệp lân cận Với công suất lấy nước lên tới 50m3/s, vào mùa kiệt, nhiều ngày lượng nước đến không đủ cho lấy nước của đập, dẫn đến không có nước tràn xuống hạ lưu sông Trà Khúc, làm cạn kiệt nguồn nước, không đảm bảo cho HST và môi trường dòng sông
Trang 1919
1.2.2 Suy thoái tài nguyên nước và hệ sinh thái thủy sinh hạ lưu sông Trà Khúc
1.2.2.1 Tình hình suy thoái nguồn nước hạ lưu sông Trà Khúc
Nguồn nước trên lưu vực sông Trà Khúc vốn được đánh giá là dồi dào với lượng mưa lớn, mô đuyn dòng chảy trung bình nhiều năm đạt trên 70 l/s.km2 Tuy nhiên, theo kết quả điều tra khảo sát thực tế, khu vực hạ lưu sông Trà Khúc đang đứng trước tình hình suy thoái cả về số lượng, chất lượng, đặc tính thủy văn, thủy lực, đặc biệt từ đoạn sông chảy qua thành phố Quảng Ngãi ra tới vùng cửa sông
Ảnh hưởng từ cạn kiệt dòng chảy thường xuyên dẫn tới hàng loạt các đặc trưng lưu vực bị thay đổi Lượng nước được đánh giá là dồi dào nhưng lại chủ yếu tập trung vào ba tháng mùa lũ Lượng nước trên lưu vực trong chín tháng mùa kiệt chỉ chiếm khoảng 30% lượng dòng chảy cả năm Hơn nữa, từ khi đập đi vào hoạt động, để đáp ứng các nhu cầu tưới tiêu và cấp nước cho các ngành trong khu vực, đặc biệt do yêu cầu lấy nước của đập trong các tháng mùa cạn thường lớn hơn dòng chảy đến, phần lớn dòng chảy bị tích lại, nước bổ sung cho dòng chảy hạ lưu chỉ là lượng nước ít ỏi từ các trận lũ tiểu mãn và bổ sung từ dòng chảy ngầm nên dòng chảy mùa kiệt ở hạ lưu là rất nhỏ Điều này duy trì trong thời gian dài đã làm thay đổi đặc trưng lưu vực như: lòng sông thu hẹp có những chỗ bị đứt dòng; mực nước
hạ thấp; vào mùa kiệt giao thông thủy không lưu thông được; phá hủy hệ sinh thái vốn có của sông; nhiễm mặn và ô nhiễm nước
Hình 1.3 Dòng sông hạ lưu sông Trà Khúc cạn vào mùa kiệt
Trang 2020
Khu vực hạ lưu sông Trà Khúc từ Quảng Ngãi ra đến biển hiện đang bị cạn kiệt nguồn nước tương đối nghiêm trọng trong các tháng mùa kiệt Tại khu vực cầu Trà khúc nhiều thời gian mực nước quá thấp người dân có thể lội qua sông được mà không ướt quần áo Các bãi cồn cát trên sông cũng xuất hiện ngày càng nhiều, tạo nên khuynh hướng thu hẹp dòng chảy trong mùa cạn Tình trạng cạn kiệt nguồn nước cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt, đời sống, kinh tế và các thói quen sống của người dân bên sông, sinh vật thủy sinh và làm xấu cảnh quan thiên nhiên vốn có của sông ở khu vực hạ lưu
Tình trạng này được xác định do những nguyên nhân khác nhau (thời tiết, biến đổi khí hậu toàn cầu, ý thức người dân,…), trong đó tình trạng suy thoái bề mặt lưu vực thượng nguồn cũng góp phần suy giảm nguồn nước Suy thoái bề mặt thượng lưu sông Trà Khúc do hiện tượng mất rừng, đã khiến chế độ thủy văn trên
hạ lưu sông thay đổi, suy giảm dòng chảy mùa cạn ở khu vực hạ lưu đồng thời tăng nhanh cường suất và mức độ ác liệt của lũ
Tình trạng trên cũng còn do vận hành lấy nước không hợp lý của đập Thạch Nham, trong đó có những thời gian dòng chảy đến đập rất hạn chế với lưu lượng chỉ
từ 20-30 m3/s nhưng đập đã lấy hết toàn bộ lượng nước của sông đáp ứng yêu cầu cho tưới và các nhu cầu sử dụng khác trong khu tưới của hệ thống, không còn nước chảy qua đập tràn xuống hạ lưu, đã khiến cho ở hạ lưu, nhất là đoạn sông chảy qua thành phố Quảng Ngãi ra đến cửa sông bị cạn kiệt nghiêm trọng Sông rất rộng chỉ còn từ 5-7 m3/s nước do nước hồi quy và nhập lưu địa phương của các nhánh suối hai bên chảy vào Cạn kiệt nguồn nước ở hạ lưu đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của dân cư ven sông và phát triển kinh tế xã hội của thành phố Quảng Ngãi và hai huyện Sơn Tịnh và Tư Nghĩa nằm hai bên sông
1.2.2.2 Suy thoái hệ sinh thái thủy sinh hạ lưu sông Trà Khúc
Quần xã thuỷ sinh vật sông Trà Khúc tương đối đa dạng Theo kết quả phân tích các mẫu thủy sinh vật và điều tra thực tế của trường Đại học Thủy Lợi vào năm
2010 và 2011 cho thấy trên lưu vực sông Trà Khúc có 96 loài thủy sinh vật thuộc 6 ngành tảo; 61 loài và nhóm động vật nổi; loài động vật đáy thuộc các nhóm trai, ốc,
Trang 2121
hến và tôm, cua; 96 loài cá thuộc 33 họ, 9 bộ Trong nhóm cá, có 3 loài cá ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 Trong thành phần cá kinh tế ở sông Trà, các loài cá Niên, cá Bống cát được xem như là sản vật của sông Trà Khúc
Tuy nhiên, hệ sinh thái thủy sinh vốn đa dạng đó đang bị suy giảm rõ rệt do tình trạng cạn kiệt nguồn nước ở khu vực hạ lưu do vận hành lấy nước quá mức của đập Thạch Nham như đã nêu ở trên Để lấy lại cân bằng và phục hồi các giá trị sinh thái, đòi hỏi phải có giải pháp tạo thêm nguồn nước và chia sẻ phân bổ nước cả cho
hệ sinh thái và môi trường khu vực hạ lưu
1.3 Yêu cầu nghiên cứu về phân bổ, điều hòa nguồn nước, bảo vệ môi trường khu vực hạ lưu sông Trà Khúc
1.3.1 Mâu thuẫn trong khai thác sử dụng nước
Nguồn nước trên một lưu vực sông là hữu hạn, việc quá ưu tiên cấp nước cho một hoặc hai ngành trọng điểm sẽ làm giảm khả năng cấp nước cho các ngành khác hoặc không còn đủ nước cho HST và môi trường dòng sông Điều này làm nảy sinh mâu thuẫn và các xung khắc trong sử dụng nước của các nghành cũng như bức xúc cho dân cư và kinh tế xã hội của khu vực
Trên lưu vực sông Trà Khúc, vào mùa mưa lũ, lượng dòng chảy trong sông rất dồi dào thường đáp ứng các nhu cầu sử dụng của các ngành và môi trường nên không có mâu thuẫn trong sử dụng nước nảy sinh
Vào mùa kiệt, yêu cầu sử dụng nước ở khu vực hạ lưu của các ngành tăng lên rất lớn khiến cho nguồn nước đến của sông không thể đáp ứng nên mâu thuẫn trong sử dụng nước sẽ nảy sinh và yêu cầu phải giải quyết
Hai loại mẫu thuẫn cần phải xem xét giải quyết ở khu vực hạ lưu liên quan đến nguồn nước sử dụng của đập Thạch Nham đó là:
- Mâu thuẫn giữa lượng nước lấy vào của đập Thạch nham cho các nhu cầu
sử dụng trong hệ thống với lượng nước cho duy trì hệ sinh thái và môi trường dòng sông ở khu vực hạ lưu Khi nguồn nước đến đập hạn chế nếu đập Thạch Nham lấy hết nước thì sẽ không còn nước cho duy trì HST và môi trường hạ du
Trang 2222
Ngược lại nếu đảm bảo đủ nước cho HST và duy trì môi trường sông ở khu vực hạ
du thì sẽ không đủ nước cho các nhu cầu sử dụng trong hệ thống kênh tưới Mâu thuẫn này cần giải quyết như thế nào là một vấn đề đặt ra trong thực tế hiện nay
Có thể thấy mâu thuẫn này là nổi trội hơn cả trong thời điểm hiện nay
- Mâu thuẫn trong sử dụng lượng nước đã lấy vào đập Thạch Nham để cung cấp cho các nhu cầu sử dụng trong HTTL Thạch Nham, thí dụ cung cấp cho tưới, cung cấp cho công nghiệp của các KCN Tịnh Phong (trong khu tưới – thuộc địa phận huyện Tư Nghĩa), KCN Dung Quất (thuộc lưu vực sông Trà Bồng ) và các nhu cầu khác như chăn nuôi, thủy sản khi mà lượng nước lấy vào hệ thống còn thiếu không đủ như nhu cầu Trường hợp này cần phải dựa vào nguyên tắc ưu tiên để phân bổ lượng nước sử dụng cho các ngành được hợp lý
1.3.2 Yêu cầu nghiên cứu giải pháp chia sẻ, phân bổ hợp lý nguồn nước
Mâu thuẫn trong sử dụng nước của đập Thạch Nham đã thấy rất rõ như đã phân tích ở trên nhất là khi mà nguồn nước đến của sông bị hạn chế trong những năm ít nước
Hậu quả của việc khai thác sử dụng nguồn nước quá mức hay quá ngưỡng cho phép như lấy nước của đâp Thạch Nham trong những năm vừa qua đã và đang
để lại tình trạng suy thoái cạn kiệt nguồn nước ở mức nghiêm trọng ở khu vực hạ lưu, một hậu quả khó có thể chấp nhận nếu muốn phát triển bền vững kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ngãi
Nếu muốn giải quyết vấn đề trên, không có gì khác là cần phải nghiên cứu về phân bổ và điều hòa nguồn nước của lưu vực sông Trà Khúc cho sử dụng hiệu quả ở khu vực hạ lưu nhưng không làm suy thoái cạn kiệt nguồn nước Vấn đề đó là yêu cầu rất cấp thiết hiện nay
1.3.3 Cơ hội, khó khăn và thách thức
Cơ hội
Nghiên cứu giải quyết vấn đề phân bổ và điều hòa nguồn nước để sử dụng trên lưu vực sông là một trong những nội dung trọng tâm để khai thác sử dụng
Trang 2323
tổng hợp và hiệu quả nguồn nước các lưu vực sông của nước ta Vấn đề này đã được nêu lên và cần phải từng bước thực hiện trong Chiến lược quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020 và quy định cụ thể trong Nghị định 120/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý lưu vực sông Các văn bản phát luật đó là cơ sở pháp lý
và tạo ra cơ hội rất thuận lợi cho thực hiện việc nghiên cứu, cụ thể cho lưu vực sông Trà Khúc
Khó khăn, thách thức
Phân bổ và điều hòa nguồn nước của lưu vực sông đã có nhiều nghiên cứu đối với các lưu vực sông trên thế giới, tuy nhiên ở nước ta vấn đề này còn rất mới Các kết quả nghiên cứu cũng như phương pháp luận để giải quyết bài toán này nói chung còn rất ít và đang trong bước ban đầu nên việc đặt ra nghiên cứu giải quyết bài toán này của luận văn sẽ có nhiều khó khăn, và để giải quyết được cũng là thách thức rất lớn
Cần phải xả nước qua đập Thạch nham để duy trì nước cho môi trường ở hạ lưu sông trà Khúc theo quy định pháp luật hiện hành là cần thiết và cũng sẽ được đưa vào xem xét trong phương án phân bổ nguồn nước của đập Thạch Nham Tuy nhiên, việc hạn chế nguồn nước lấy vào hệ thống để dành một phần nước cho môi trường ở hạ lưu, trong thực tế không phải là có thể làm được ngay, khi mà chưa có công trình bổ sung nguồn nước đến đập
Việc làm cho các cơ quan quản lý, cộng đồng dân cư và các thành phần liên quan hiểu và nhận thức được sự cần thiết phải phân bổ nguồn nước để duy trì HST
và môi trường dòng sông qua đó nhất trí với phương án phân bổ nguồn nước trong thực tế cũng không phải là công việc dễ dàng và cũng là một thách thức đối với thực hiện trong thực tế
Cũng từ các lý do trên luận văn không đặt ra yêu cầu nghiên cứu tất cả các
cơ sở khoa học cần thiết cũng như giải quyết trọn vẹn bài toán phân bổ, điều hòa nguồn nước đến đập Thạch Nham cho sử dụng ở hạ lưu, mà trong nghiên cứu chỉ để cập đến một số vấn đề chủ yếu để đưa ra các ý kiến ban đầu để giải quyết bài toán
Trang 2424
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN BỔ VÀ ĐIỀU HÒA NGUỒN NƯỚC ĐẾN ĐẬP THẠCH NHAM CHO SỬ
DỤNG Ở KHU VỰC HẠ LƯU 2.1 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước và vấn đề chia sẻ, phân bổ và điều hòa nguồn nước đến đập Thạch Nham
2.1.1 Khái quát về quản lý tổng hợp tài nguyên nước và vấn đề thực hiện ở nước ta
và trên lưu vực sông Trà Khúc
2.1.1.1 Khái niệm Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Để đối phó với những thách thức ngày càng tăng về sự khan hiếm nước, tình trạng ô nhiễm, suy thoái của các lưu vực sông và hệ sinh thái, nước và các tài nguyên có liên quan cần phải được phối hợp quản lý Quản lý tổng hợp Tài nguyên nước (QLTHTNN) là một tiến trình nhằm cải thiện việc lập kế hoạch, bảo tồn, phát triển và quản lý nước, đất, rừng và các nguồn lực dưới nước trong phạm vi lưu vực sông, nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không làm tổn hại đến tính bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực sông QLTHTNN hướng đến các mối quan tâm quản lý cả số lượng và chất lượng nước ở trên mặt đất và trong lòng đất cũng như các cơ hội phối hợp sử dụng nước mặt và nước ngầm
QLTHTNN là một quá trình trong đó khái niệm “quản lý” được hiểu theo nghĩa rộng gồm “phát triển và quản lý” nhằm tới ba mục tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội và môi trường
Đối với nước và các nhân tố môi trường liên quan đến nước QLTHTNN xem xét tới các khía cạnh như: Quản lý tổng hợp tất cả các thành phần nguồn nước; Quản lý tổng hợp tất cả các ngành sử dụng nước (tưới, phát điện, cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp, nước cho giao thông thủy, phát triển thuỷ sản, nghỉ ngơi, giải trí ); Quản lý tổng hợp cả số lượng nước và chất lượng nước; Quản lý cả cung cấp nước và nhu cầu nước; Quản lý sử dụng nước trong nước trong mối liên quan với sử dụng đất và các nhân tố sinh thái khác trên lưu vực sông; Quản lý tổng hợp việc
Trang 25vị cơ sở của quản lý nước hay gọi là quản lý nước theo lưu vực sông; Quản lý theo phương thức từ dưới lên bắt đầu từ cộng đồng dân cư và những người hưởng lợi; Quản lý đảm bảo lợi ích cho tất cả các thành phần tham gia đặc biệt là người dùng nước, thông qua đảm bảo quyền dùng nước, sự công bằng trong dùng nước;
Quản lý nước có sự tham gia của tất cả các thành phần liên quan, đặc biệt là cộng đồng dân cư trong tất cả các lĩnh vực, kể cả trong quy hoạch và ra quyết định Qua đó nâng cao sự tham gia của cộng đồng đặc biệt là của phụ nữ trong quản lý sử dụng và bảo vệ nguồn nước
2.1.1.2 Thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên các lưu vực sông ở nước ta
Thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên các lưu vực sông ở nước ta
Cũng như các nước trên thế giới, việc khai thác sử dụng và quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam chia thành hai giai đoạn với hai khái niệm về quản lý tài nguyên nước là: (1) Quản lý tài nguyên nước theo cách thức/ phương thức truyền thống, và (2) Quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp
Quản lý tài nguyên nước theo phương thức truyền thống là cách thức quản lý tài nguyên đã hình thành từ lâu đời Cách quản lý này phù hợp với các nền kinh tế chưa phát triển, nhu cầu sử dụng nước không lớn nên nguồn nước của các sông suối
dư thừa so với nhu cầu sử dụng của con người, vì vậy các tổ chức và cá nhân sử dụng nước có thể tự do khai thác và sử dụng nguồn nước mà không gặp trở ngại gì
Năm 2002, công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước được gắn với công tác thủy lợi do Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đảm nhiệm Từ năm 2002 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài
Trang 26- Nghị định số 120/2008/NĐ-CP ngày 1/12/2008 về quản lý lưu vực sông;
- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 hướng dẫn việc thi hành Luật Tài nguyên nước;
- Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 ban hành quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu thông tin về tài nguyên nước;
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 quy định việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước
Các địa phương, theo thẩm quyền, cũng đã ban hành một số quyết định hướng dẫn cụ thể hóa công tác quản lý tài nguyên nước ở địa phương mình Tuy nhiên có thế thấy rằng quản lý tài nguyên nước hiện nay vẫn còn nhiều yếu kém, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước còn thiếu và chưa đồng
bộ, kết quả thực thi Luật còn hạn chế
Nước ta đang từng bước thực hiện quá trình quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp và thống nhất, nhưng gặp những thách thức không nhỏ do những tồn tại trong cơ chế quản lý nước truyền thống Nổi bật hơn cả là những hạn chế sau:
- Công tác quản lý tài nguyên và tài nguyên thiên nhiên theo phương thức truyền thống có hạn chế về mặt môi trường Các tài nguyên được nhìn dưới góc độ riêng rẽ hoặc theo ngành kinh tế, các thành phần của môi trường hầu như được xem xét riêng rẽ, cô lập nhau
Trang 27và sự công bằng trong dùng nước Các ngành khai thác, sử dụng nước chỉ chú trọng đến lợi ích của ngành mình là chủ yếu, thiếu sự quan tâm đầy đủ đến lợi ích các ngành khác dẫn tới sự mâu thuẫn giữa các ngành trong sử dụng tài nguyên nước
- Quan điểm nước là tài nguyên, nước là hàng hóa chưa được thể chế hóa thành cơ chế, chính sách, nhất là các chính sách kinh tế, tài chính một cách đầy đủ
để tạo nội lực và động lực phát triển bền vững, đảm bảo khai thác nước hợp lý, cung ứng nước thỏa mãn các nhu cầu của xã hội, tạo cơ sở để sử dụng nước tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ tốt tài nguyên nước
Các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành các quy định về quyền và nghĩa vụ tài chính trong khai thác tài nguyên nước, cung ứng và sử dụng dịch vụ nước theo Luật tài nguyên nước chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ Ngân sách Nhà nước vẫn phải gánh chịu hầu hết các khoản vốn đầu tư phát triển và chi phí vận hành các công trình cấp, thoát nước
- Khai thác, sử dụng đa mục đích tài nguyên nước chưa hiệu quả, phân phối nước chưa hợp lý, chưa kết hợp với việc phát triển nguồn nước
Thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên lưu vực sông Trà Khúc
Cũng như các lưu vực sông khác ở nước ta, trên lưu vực sông Trà Khúc cũng đang trong bước đầu chuyển đổi để thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước, tuy nhiên kết quả thu được còn rất hạn chế Trong quản lý nguồn nước hiện nay vẫn còn mang nặng cách thức quản lý truyền thống chưa thấy các thay đổi nào là đáng kể Một số điểm chủ yếu còn tồn tại như là:
- Trong khai thác sử dụng nước vẫn chưa có cơ chế cho việc phối hợp giữa các ngành, chưa quan tâm đến đảm bảo nước cho hệ sinh thái và môi trường dòng sông
Trang 282.1.2 Phân bổ và điều hòa nguồn nước lưu vực sông
2.1.2.1 Phân bổ nguồn nước
Phân bổ nguồn nước là một vấn đề quan trọng trong sử dụng tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông, đó là phân bổ hợp lý nguồn nước hiện có của lưu vực sông giữa các ngành dùng nước với nhau để sử dụng nhằm đảm bảo lợi ích cho tất
cả người sử dụng hoặc chia sẻ hợp lý nguồn nước của sông cho các lưu vực lân cận thông qua các dự án hay công trình chuyển nước
Nguồn nước của một lưu vực sông là một số lượng hữu hạn được biểu thị qua tiềm năng nguồn nước đến lưu vực trong thời gian một năm Lượng nước này được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, như cung cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp, cung cấp nước cho tưới tiêu phục vụ nông nghiệp, nước dùng nuôi thủy sản, giao thông thủy và các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, dịch vụ du lịch trên lưu vực sông
Trên thực tế, cạnh tranh trong sử dụng nước trên lưu vực sông giữa các ngành dùng nước, các hộ dùng nước là điều không thể tránh khỏi Hiện nay xu thế chung là các hộ dùng nước đều cố gắng khai thác triệt để các điều kiện có thế để đáp ứng nhu
Trang 2929
cầu dùng nước của mình Do đó trong thời kỳ sông cạn nước hay khi các nguồn nước
bị hạn chế, các mâu thuẫn, xung đột về nước dễ dàng xảy ra với mức độ có thể nghiêm trọng, làm phức tạp các mối quan hệ giữa các hộ sử dụng nước
Trong cạnh tranh, các hộ dùng nước lớn có năng lực tài chính và nguồn vốn đầu tư vào các công trình nhằm đáp ứng nhiều nhất nhu cầu sử dụng của mình và thu lợi từ việc sử dụng nước Các hộ dùng nước nhỏ, nhất là các cộng đồng dân cư nhỏ lẻ sống hai bên sông thường dễ mất dần quyền sử dụng vốn có trước đây, giảm dần các lợi ích và không có điều kiện trong cuộc cạnh tranh này
Hậu quả của tình trạng trên là giảm sự công bằng trong sử dụng nước cũng như sự hiệu quả của việc thực thi quyền sử dụng nước Nguồn nước sông không được sử dụng tổng hợp mà sử dụng một cách tùy tiện, riêng rẽ của các ngành sẽ khiến cho hiệu quả của sử dụng nguồn nước lưu vực sông bị hạn chế Khi bị khai thác và sử dụng quá mức so với khả năng cho phép, nước sông sẽ ngày càng cạn kiệt hơn, hệ sinh thái nước sẽ bị suy thoái đồng thời suy giảm giá trị môi trường của dòng sông
Trên lưu vực sông nếu nguồn nước được phân chia rõ ràng, hợp lý cho tất cả các nhu cầu sử dụng thì sẽ giảm bớt mâu thuẫn trong sử dụng nước và quyền sử dụng nước chính đáng của các hộ dùng nước mới được bảo vệ
Phân bổ nguồn nước vì thế là một nội dung cần nghiên cứu và giải quyết của quản lý lưu vực sông, trong đó cần đưa ra các nguyên tắc về phân bổ nguồn nước,
tổ chức quản lý và giải quyết các mâu thuẫn trong sử dụng nước khi nó có nảy sinh
Hiện nay, phân bổ nguồn nước đặc biệt quan trọng đối với những sông có nguồn nước bị bạn chế so với yêu cầu sử dụng của các ngành, trong thời gian gay cấn (như trong thời gian nguồn nước đến sông bị cạn kiệt) Nó cung cấp giải pháp để điều hòa sự mất cân đối giữa cung và cầu, mang lại lợi ích cho các hộ dùng nước, công bằng xã hội, hiệu quả kinh tế cho người dùng và bền vững về môi trường
Giải quyết vấn đề phân bổ nguồn nước không chỉ bao gồm việc nghiên cứu
để đưa ra các nguyên tắc phân bổ lượng nước cho các ngành dùng nước như là mỗi ngành có thể sử dụng bao nhiêu phần trăm lượng nước của sông trong những điều
Trang 3030
kiện ràng buộc của nguồn nước đến, mà còn phải đi sâu giải quyết các vấn đề liên quan khía cạnh về thể chế, luật pháp, kỹ thuật, kinh tế tài chính, công trình, sự tham gia của người dùng,…trong việc sử dụng nước, thí dụ như:
- Về thể chế: xác định trách nhiệm cơ quan nhà nước, tư nhân trên lưu vực sông trong việc thực hiện các quy tắc về phân bổ hoặc chia sẻ nguồn nước
- Về kỹ thuật: tính toán và đánh giá nguồn nước, mô hình hóa đặc tính và quá trình sử dụng nước, cân bằng nước, kỹ thuật vận hành, giám sát chất lượng nước
- Về công trình: thiết kế, quy trình vận hành các công trình cung cấp và điều tiết nước, dẫn tới các hộ dùng nước hoặc chuyển nước sang lưu vực lân cận
- Về kinh tế tài chính: tính toán các chi phí và lợi ích của sử dụng nước, xác định giá nước hợp lý trên cớ sở coi nước là hàng hóa có giá trị kinh tế để đánh giá hiệu quả kinh tế cho các phương pháp phân bổ nước
- Sự tham gia của người dùng: cơ chế phù hợp cho sự tham gia của tất cả các thành phần liên quan và các ngành dùng nước trong việc phân bổ nguồn nước
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn chỉ đề cập đến nghiên cứu cơ sở khoa học đưa ra giải pháp phân bổ nguồn nước qua việc đề cập đến tính chất kỹ thuật tài nguyên nước, nghĩa là tính toán, đánh giá tài nguyên nước, tìm hiểu nhu cầu sử dụng từ đó đưa ra phương án phân bổ cho hiệu quả cao nhất về kinh tế mà vẫn đảm bảo dòng chảy môi trường lưu vực sông
2.1.2.2 Điều hòa nguồn nước
Nguồn nước của lưu vực sông thường phân bố không đều theo không gian Trên lưu vực sông trà khúc, nguồn nước đến do mưa chủ yếu tập trung ở khu vực thượng lưu nơi có lượng mưa năm trung bình nhiều năm lớn hơn 3500 nn, còn hạ lưu nhu cầu nước rất lớn nhưng do lượng mưa chỉ 2000 mm nên lượng nước đến lưu vực do mưa thấp hơn nhiều
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước đòi hỏi phải điều hoà nguồn nước của lưu vực sông ở khu vực thượng lưu để sử dụng cho khu vực hạ lưu Muốn vậy trên lưu vực sông cần phải xem xét các phương án xây dựng các hồ chứa ở thượng nguồn để
bổ sung nguồn nước cho hạ lưu Thí dụ trên lưu vực sông Trà Khúc là bổ sung
Trang 31Trên lưu lưu vực sông Trà Khúc, nguồn nước phân bổ rất không đều theo không gian, ở thượng lưu lượng nước dồi dào, nhu cầu nước dùng ít trong khi khu vực hạ lưu nguồn nước tại chỗ ít nhưng nhu cầu dùng nước lại lớn như đã nói ở trên nên yêu cầu phân bổ và điều hòa nguồn nước của sông cho sử dụng hiệu quả ở khu vực hạ du là rất cần thiết
2.1.3 Các cơ sở pháp lý đối với thực hiện phân bổ và điều hòa nguồn nước ở nước ta
Phân bổ và điều hoà nguồn nước là yêu cầu cấp thiết hiện nay Vấn đề này đã được quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật và thể chế chính sách quản lý tài nguyên nước của nước ta, thí dụ như trong các Nghị định, thông tư hướng dẫn của Chính phủ
1) Luật tài nguyên nước 1998
Luật tài nguyên nước của quốc hội số 08/1998/QH10 ban hành ngày 20 tháng 5 năm 1998 quy định việc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra
Điều 20 – luật tài nguyên nước số 08/1998/QH10 nêu cụ thể như sau: “Việc điều hoà, phân phối tài nguyên nước cho các mục đích sử dụng phải căn cứ vào quy hoạch lưu vực sông, tiềm năng thực tế của nguồn nước, bảo đảm nguyên tắc công bằng, hợp lý và ưu tiên về số lượng, chất lượng cho nước sinh hoạt„ Vì vậy, để có
được giải pháp hợp lý để điều hòa và phân bổ nguồn nước, cần nắm rõ về quy hoạch và quản lý lưu vực sông
Đặc biệt, trong luật tài nguyên nước đã nêu rõ việc ưu tiên cấp nước cho sinh
hoạt tại điều 20 “Trong trường hợp thiếu nước, việc điều hoà, phân phối phải ưu tiên cho mục đích sinh hoạt; các mục đích sử dụng khác được điều hòa, phân phối
Trang 3232
theo tỷ lệ quy định trong quy hoạch lưu vực sông và bảo đảm nguyên tắc công bằng, hợp lý„
2) Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020
Để thực hiện QLTHTNN, Đảng và Nhà nước đã đưa ra những mục tiêu được
nêu trong “Chiến lược về tài nguyên nước đến năm 2020” như là:
Về bảo vệ tài nguyên nước
Về khai thác và sử dụng tài nguyên nước
Về phát triển tài nguyên nước
Về giảm nhẹ các thiệt hại do nước gây ra
Về nâng cao năng lực quản lý tài nguyên nước
Trong các mục tiêu tổng quát trên thì “phân bổ chia sẻ nguồn tài nguyên nước hài hòa, hợp lý giữa các ngành, các địa phương, ưu tiên sử dụng nước cho sinh hoạt, sử dụng nước mang lại lợi ích kinh tế cao, đảm bảo dòng chảy môi trường” là một trong những mục tiêu cụ thể được đặt ra trong vấn đề khai thác và
sử dụng tài nguyên nước
3) Một số nghị định liên quan tới phân bổ, điều hòa nguồn nước
a) Nghị định 120/2008/NĐ-CP
Nghị định 120/2008/NĐ-CP ban hành ngày 01 tháng 12 năm 2008 về quản lý lưu vực sông và phân bổ tài nguyên nước lưu vực sông trong điều 14 – nghị định 120/2008/NĐ-CP đã nêu nội dung chủ yếu của quy hoạch phân bổ tài nguyên nước lưu vực sông như sau:
- Đánh giá số lượng, chất lượng, dự báo xu thế biến động tài nguyên nước, hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với từng nguồn nước
- Xác định nhu cầu nước, các vấn đề tồn tại trong việc khai thác sử dụng tổng hợp tài nguyên nước và lập thứ tự ưu tiên giải quyết, khả năng đáp ứng các nhu cầu nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, thủy điện, thủy sản, công nghiệp, giao thông,
du lịch, các hoạt động kinh tế - xã hội khác và bảo vệ môi trường đối với từng nguồn nước
Trang 3333
- Xác định thứ tự ưu tiên và tỷ lệ phân bổ tài nguyên nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho cấp nước sinh hoạt, cho các mục đích sử dụng nước khác bao gồm cả nhu cầu cho bảo vệ môi trường trong trường hợp hạn hán, thiếu nước
- Xác định mục đích sử dụng nước, dòng chảy tối thiểu cần duy trì trên các đoạn sông trong lưu vực và các biện pháp cần thực hiện để giải quyết các vấn đề đã xác định tại khoản 2 Điều này
- Kiến nghị mạng giám sát tài nguyên nước, giám sát sử dụng nước, việc điều chỉnh các thông số hoặc điều chỉnh quy trình vận hành hiện tại của các công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước (nếu cần)
- Xác định nhu cầu chuyển nước giữa các tiểu lưu vực trong lưu vực; nhu cầu chuyển nước với lưu vực sông khác (nếu có)
- Đề xuất biện pháp công trình phát triển tài nguyên nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước để phát triển kinh tế - xã hội trong lưu vực
- Giải pháp và tiến độ thực hiện Quy hoạch
Điều 26 của Nghị định cũng quy định về lập kế hoạch điều hòa, phân bổ tài nguyên nước lưu vực sông bao gồm như sau:
- Kế hoạch điều hòa, phân bổ tài nguyên nước lưu vực sông được lập theo
Trang 34- Kế hoạch điều hòa, phân bổ tài nguyên nước phải được công bố công khai, lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương liên quan, các tổ chức kinh tế liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước và đại diện cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn lưu vực sông
b) Nghị định 112/2008/NĐ-CP
Nghị định 112/2008/NĐ-CP ban hành ngày 20 tháng 10 năm 2008 về Quản
lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thủy lợi, thủy điện
Điều 4 nghị định 112/2008/NĐ-CP quy định rõ về yêu cầu trong việc xây dựng, khai thác sử dụng tài nguyên các hồ chứa, công trình thủy lợi : “Việc khai
thác, sử dụng tài nguyên và môi trường các hồ chứa phải bảo đảm an toàn hồ chứa, dòng chảy tối thiểu, không ảnh hưởng đến các mục tiêu, nhiệm vụ của hồ chứa đã
được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và đáp ứng các yêu cầu về phòng, chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra trên lưu vực hồ chứa và hạ du hồ chứa”
“Dòng chảy tối thiểu” được quy định trong Nghị định “là dòng chảy ở mức
thấp nhất cần thiết để duy trì dòng sông hoặc đoạn sông, bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh và bảo đảm mức tối thiểu cho hoạt động khai thác,
sử dụng tài nguyên nước của các đối tượng sử dụng nước theo thứ tự ưu tiên đã được xác định trong quy hoạch lưu vực sông”
Trang 3535
2.1.4 Thực hiện phân bổ và điều hòa nguồn nước đối với lưu vực sông Trà Khúc
2.1.4.1 Tại sao phải thực hiện phân bổ nguồn nước sông Trà Khúc
Sự phân bổ không đồng đều giữa các mùa trong năm làm cho việc sử dụng nước cho các ngành khu vực ở hạ lưu vào mùa kiệt trở nên khó khăn Cộng thêm
đó là việc sử dụng không hợp lý nguồn nước giữa các ngành, vận hành công trình thủy lợi Thạch Nham không hợp lý nước cho sinh hoạt và môi trường khu vực hạ
du gây nên tình trạng mâu thuẫn sử dụng nước trở nên gay gắt Để dẫn tới tình trạng này là do chưa có một chế tài quản lý về vận hành hoạt động của đập dâng Thạch Nham và chưa có nguyên tắc ưu tiên sử dụng nước trong mùa kiệt đối với lưu vực sông Trà Khúc
Đặc biệt, tình trạng thiếu nước khu vực hạ lưu sông Trà Khúc ngày càng trầm trọng, dẫn tới hàng loạt các hệ lụy như biến đổi đặc trưng lòng sông (xuất hiện các cồn cát, đụn cát, chế độ dòng chảy thay đổi, chất lượng nước suy giảm ) thì tình hình sử dụng nước phía thượng lưu (trước đập Thạch Nham) lại có phần lãng phí và không hiệu quả
Nguồn nước đến mùa kiệt không đủ cho nhu cầu dùng nước, trong khi đó nhu cầu dùng nước đối với sinh hoạt và các ngành kinh tế đều có chiều hướng tăng nhanh Trung tâm phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi là thành phố Quảng Ngãi lại nằm trên khu vực hạ lưu sông, nếu cứ để tình trạng khai thác sử dụng nước bừa bãi diễn ra sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế toàn tỉnh
Qua điều tra thực tế cho thấy, dòng sông phía hạ lưu lưu vực đã có những biểu hiện suy thoái rõ rệt và những tác động tiêu cực tới đời sống, kinh tế nơi đây Điều này nếu không được khắc phục kịp thời sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng Vì vậy, cần thực hiện phân bổ và điều hòa nguồn nước khu vực
2.1.4.2 Lợi ích mang lại của thực hiện chia sẻ, phân bổ và điều hòa nguồn nước
1) Lợi ích về môi trường
Một trong những nguyên tắc trong phân bổ, điều hòa nguồn nước là phải đảm bảo nước cho môi trường, nghĩa là đảm bảo dòng chảy tối thiểu dòng sông Vì
Trang 3636
vậy, thực hiện phân bổ, điều hòa nguồn nước sẽ đảm bảo dòng sông có dòng chảy tối thiểu khu vực hạ du, nghĩa là đảm bảo sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh đoạn sông hạ lưu lưu vực Như vậy, môi trường nơi đây sẽ được phục hồi tổn thương trong thời gian vừa qua và khôi phục lại trạng thái cân bằng
2) Lợi ích về kinh tế
Tình trạng phân bổ nước không hợp lý giữa các ngành dẫn tới tình trạng môi trường nước khu vực hạ du bị ảnh hưởng nghiêm trọng, kéo theo đó là thiệt hại về kinh tế một số ngành sử dụng nước khu vực hạ du (cá chết hàng loạt của ngành thủy sản, xâm nhập mặn kéo theo sản xuất nông nghiệp hạ lưu giảm năng suất…) nếu khắc phục được tình trạng này thì kinh tế khu vực hạ du sẽ ổn định hơn
Mặt khác phân bổ sử dụng hợp lý nguồn nước giúp cho duy trì được các giá trị sinh thái, hiệu quả sử dụng tổng hợp sẽ cao hơn
Thực hiện điều hòa, phân bổ nguồn nước là “coi nước là một giá trị hàng hóa” Bất cứ mục đích sử dụng nước nào của con người cần phải mua bán nước theo đúng nghĩa nước là một “hàng hóa” Đánh đòn vào giá trị kinh tế sẽ là phương thức nhanh nhất giúp các hộ sử dụng nước có ý thức tiết kiệm nước dùng và cũng được coi là một nguồn thu cho việc bảo vệ môi trường
3) Lợi ích về xã hội
Việc đảm bảo nước dùng cho sinh hoạt được đánh giá cao trong các yếu tố, góp phần cho chất lượng cuộc sống tăng lên Đó cũng góp phần tăng cường tính công bằng xã hội, thực hiện quyền dùng nước và đảm bảo tính hợp lý của nhu cầu
sử dụng nước Là nguyên nhân gián tiếp giúp phát triển kinh tế xã hội
2.1.4.3 Những công việc cần làm để thực hiện chia sẻ, phân bổ nguồn nước
Trong Nghị định 120/2008/NĐ-CP có chỉ rõ phân bổ và điều hòa nguồn nước phải dựa trên quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông, từ đó xây dựng và thực hiện kế hoạch phân bổ, điều hòa nguồn nước Nội dung cụ thể bao gồm:
(1) Đánh giá lại số lượng, tình hình khai thác sử dụng nước
(2) Xác định nhu cầu nước các ngành và nước cho môi trường mà cụ thể ở đây là dòng chảy tối thiểu
Trang 3737
(3) Từ các kết quả được xác định ở (1) và (2) xem xét thứ tự ưu tiên
(4) Nếu sông có yêu cầu chuyển nước thì cần xem xét vấn đề này, xác định
cụ thể khả năng chuyển nước của lưu vực sông
(5) Xây dựng giải pháp phân bổ, điều hòa (có phương án và lựa chọn phương
án từ đó đưa ra kế hoạch phân bổ)
(6) Sau khi có kết quả đã được thông qua, cần công bố lấy ý kiến và làm cơ
đề xuất ý kiến ban đầu để giải quyết phân bổ, điều hòa nguồn nước của lưu vực sông Nội dung nghiên cứu cụ thể phân bổ, điều hòa nguồn nước khu vực hạ lưu sông Trà Khúc trong phần này cụ thể như sau:
(1) Đánh giá nguồn nước đến;
(2) Đánh giá tình hình lấy nước;
(3) Tính toán xác định nhu cầu;
(4) Phân tích đề xuất nguyên tắc cho khai thác phân bổ trong đó đặc biệt là nguyên tắc thứ tự ưu tiên;
(5) Từ các tính toán, phân tích nguồn nước đến, tình hình lấy nước và nhu cầu dùng nước luận văn tiếp tục nghiên cứu đề xuất giải pháp phân bổ và điều hòa nguồn nước
Bốn nội dung đầu sẽ được trình bày trong các phần tiếp sau của chương này, còn nội dung thứ 5 sẽ được thực hiện ở chương 3
Trang 3838
2.2 Đánh giá nguồn nước đến đập Thạch Nham cho sử dụng ở khu vực hạ lưu
2.2.1 Tình hình quan trắc số liệu KTTV lưu vực sông Trà Khúc
Mạng lưới quan trắc thu thập số liệu khí tượng thuỷ văn trên lưu vực sông Trà Khúc đã được tiến hành từ rất sớm nhưng không đều Từ những năm 1907, 1930 đã quan trắc lượng mưa tại thị xã Quảng Ngãi, các hạng mục khí tượng khác dần dần được quan trắc từ các năm về sau Sau năm 1975, việc tổ chức mạng lưới trạm và quan trắc các yếu tố khí tượng thuỷ văn mới thực sự được tiến hành đầy đủ hơn
Hình 2.1 Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn lưu vực sông Trà Khúc Lưới trạm khí tượng: Hiện nay trên lưu vực sông Trà Khúc có trạm khí
tượng cơ bản là trạm khí tượng Quảng Ngãi và Batơ Trạm đo đầy đủ các yếu tố khí hậu là: mưa, mây, nắng, gió, nhiệt độ không khí, nhiệt độ đất, độ ẩm, bốc hơi và các hiện tượng thời tiết…Các yếu tố khí hậu được đo đạc trong thời gian dài và khá đầy
đủ, liên tục từ năm 1977 đến nay
Lưới trạm quan trắc mưa: trên lưu vực có 5 trạm đo mưa là: Giá Vực, Sơn Giang, Trà Khúc, Sơn Hà, Cổ Lũy Tuy nhiên, trạm Cổ Lũy đã ngừng quan trắc từ năm 1989
Trang 3939
Lưới trạm thủy văn: trên lưu vực đã có 1 trạm thủy văn cơ bản đo lưu lượng
nước là Sơn Giang, và 2 trạm thủy văn đo mực nước là Sơn Giang và Trà Khúc
Nhìn chung lưới trạm khí tượng thuỷ văn trên lưu vực còn thiếu, nhất là trạm thuỷ văn và trạm đo mưa trên các sông nhánh ở đầu nguồn và núi cao
Các trạm đo khí tượng, thuỷ văn được sử dụng để tính toán các đặc trưng thuỷ văn của lưu vực sông Trà Khúc được thể hiện trong bảng 2.1 dưới đây:
Bảng 2.1 Danh sách trạm khí tượng thủy văn trên lưu vực sông Trà Khúc
Vị trí
TT Tên trạm Loại trạm
Kinh độ Vĩ độ
Thời gian quan trắc
Hạng mục
đo
3 Quảng Ngãi Khí tượng 108o47' 15o07' 1907 1977 ÷ ÷ 1941, nay X,T,Z,U,V
5 Ba Tơ Khí tượng 108o45' 14o45' 1930 1977 ÷ ÷ 1941, nay X,T,Z,U,V
2.2.2 Tính toán các đặc trưng nguồn nước đến
2.2.2.1 Phân mùa
Mùa mưa
Theo báo cáo quy hoạch thủy lợi tỉnh Quảng Ngãi năm 2010 cho ta kết quả
về mùa mưa như sau:
Bảng 2.2 Phân mùa mưa trong năm tại lưu vực sông Trà Khúc
Trang 4040
Như vậy, mùa mưa trên lưu vực sông Trà Khúc xuất hiện muộn, thường kéo dài từ tháng IX đến tháng XII hàng năm Ở đồng bằng, có một mùa mưa chính là từ tháng IX-XII còn miền núi ngoài một mùa mưa chính còn có sự bổ sung nước từ mưa tiểu mãn do có ảnh hưởng của dải Trường Sơn gây ra vào tháng V-VIII
Mùa dòng chảy
Dựa vào chỉ tiêu “vượt trung bình” để phân mùa dòng chảy, mùa lũ bao gồm các tháng liên tục trong năm có lượng dòng chảy tháng lớn hơn hay bằng Qtb với mức độ ổn định lớn hơn 50%, còn lại là mùa cạn Như vậy, dựa vào chuỗi số liệu dòng chảy trạm Trà Khúc xác định được mùa lũ trên lưu vực sông Trà Khúc kéo dài
từ tháng X đến tháng XII, còn lại là mùa cạn từ tháng I đến tháng IX hàng năm
Ngoài ra, ở vùng núi lưu vực Trà Khúc còn có lũ tiểu mãn (xảy ra vào tháng V-VI) đóng góp đáng kể lượng dòng chảy cho mùa kiệt trên lưu vực
2.2.2.2 Dòng chảy năm
a) Dòng chảy năm trung bình nhiều năm
Lưu vực sông Trà Khúc chỉ có trạm Sơn Giang là trạm quan trắc số liệu đầy
đủ từ năm 1977 đến nay Trạm thủy văn Sơn Giang (Flv=2440 km2) nằm trong lưu vực Trà Khúc, phía trước Thạch Nham, vì thế có thể căn cứ vào chuỗi số liệu của trạm Sơn Giang để bổ sung, kéo dài số liệu lưu lượng tại tuyến đập Thạch Nham
Để kéo dài, bổ sung số liệu cho trạm Thạch Nham (Flv = 2840 km2), tiến hành xây dựng nội suy dòng chảy theo phương pháp tỷ lệ diện tích trong đó có xem xét tới biến đổi lượng mưa Căn cứ vào quan hệ tương quan này, xác định được phương trình tương quan lưu lượng giữa 2 trạm Sơn Giang – Thạch Nham: QTN =
QSG KF KX Tính toán được phương trình: QTN = 0,95x1,16xQSG để kéo dài dòng chảy tại tuyến đập Thạch Nham
Tính toán chuỗi dòng chảy trung bình năm lưu vực sông Trà Khúc tại vị trí đập Thạch Nham cho kết quả thể hiện trong phụ lục số 01 và đặc trưng thủy văn tại trạm Thạch Nham và Sơn Giang