Nói cách khác: Quản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong các giai đoạn từ
Trang 1i
Họ và tên học viên: Nguyễn Hoàng Anh
Lớp: 23QLXD21
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Tên đề tài nghiên cứu luận văn: “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý chất lượng các công trình thủy lợi do Công ty TNHH MTV thủy lợi Tam Đảo quản lý”
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn của tôi là do tôi làm Những kết quả nghiên cứu là trung thực.Trong quá trình làm tôi có tham khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài Các tài liệu trích dẫn rõ nguồn gốc và các tài liệu tham khảo được thống kê chi tiết Tôi không sao chép từ bất kỳ nguồn thông tin nào, nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Nguyễn Hoàng Anh
Trang 2ii
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn
tận tình của GS.TS Vũ Đình Phụng cùng những ý kiến về chuyên môn quý báu của các
giảng viên trong khoa Công trình, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng trường Đại
Do trình độ, kinh nghiệm, năng lực cũng như thời gian còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
H ọc viên
Nguyễn Hoàng Anh
Trang 3iii
M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG CÔNG TRÌNH 4
1.1 Quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công công trình 4
1.1.1 Qu ản lý chất lượng công trình 4
1.1.3.2 Ý nghĩa của quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình thủy lợi 9
1.1.4 Sơ đồ quan hệ giữa các tổ chức trong quá trình xây dựng công trình 10
Hình 1-1 Sơ đồ quan hệ giữa các tổ chức trong quá trình xây dựng công trình 10 Trong đó: 10
A: Ch ủ đầu tư 10
1.1.5 M ối quan hệ giữa các thành viên 10
1.1.6 Quyền hạn và nghĩa vụ các bên tham gia trong giai đoạn thi công xây dựng công trình [1] 11
1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý thi công trong vấn đề chất lượng công trình xây dựng hiện nay 14
1.2.1 Vai trò c ủa ngành xây dựng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [1][2] 14
1.2.2 Tình hình chất lượng công trình xây dựng nói chung hiện nay ở nước ta 15 1.3 Sự cố công trình do nhân tố quản lý chất lượng thi công 20
1.3.1 Sự cố công trình 20
1.3.2 M ột số sự cố liên quan đến công tác QLCL 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC NHẰM NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG 25
2.1 Hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất lượng công trình trong giai đonạ thi công 25
2.1.1 H ệ thống văn bản pháp luật 25
Trang 4iv
2.1.2 Các tiêu chu ẩn, quy chuẩn [3] 28
2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 29
2.2.1 Ch ỉ tiêu đánh giá về quản lý con người 29
2.2.2 Chỉ tiêu về quản lý vật tư 29
2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá về quản lý chất lượng máy móc, thiết bị 30
2.2.4 Ch ỉ tiêu đánh giá về quản lý thi công 30
2.3 Phân tích những nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý chất lượng thi công công trình thủy lợi 32
2.3.1 Nguyên nhân gián ti ếp 32
2.3.2 Nguyên nhân trực tiếp 33
2.4 Các yêu cầu đảm bảo cho chất lượng công trình trong giai đoạn thi công 35
2.4.1 Yêu cầu về kiểm soát vật tư 35
2.4.2 Yêu c ầu về kiểm soát máy móc, thiết bị thi công 38
2.4.3 Yêu c ầu về quản lý chất lượng kỹ thuật thi công 39
2.5 Một số công tác chính về chất lượng ở các khâu liên quan đến thi công, xây dựng công trình thủy lợi 40
2.5.1 Công tác quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình 40
2.5.2 Công tác quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình 41
2.5.3 Công tác qu ản lý an toàn lao động và môi trường trên công trường xây d ựng 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CÔNG TY TNHH MTV THỦY LỢI TAM ĐẢO 45
3.1 Giới thiệu về Công ty TNHH MTV thủy lợi Tam Đảo” 45 Huyện Tam Đảo có tổng diện tích tự nhiên là 36.560ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 8.140ha, đất canh tác là 6.263ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 7293 ha, đất cây lâu năm 1.877ha, nuôi trồng thủy sản 61.35 ha, diện tích được tưới là 5179 ha, còn khoảng 1514
ha còn khó khăn về nguồn nước Ranh giới khu tưới bao gồm: Toàn bộ huyện Tam Đảo và
một phần huyện Tam Dương, Bình Xuyên Nguồn nước cung cấp chính cho hệ thống là mạng
Trang 5v
lưới sông suối bắt nguồn từ dãy Tam Đảo, nguồn sinh thủy tương đối tốt Về vụ mùa nguồn
nước dồi dào, về vụ chiêm nguồn nước vẫn khó khăn 45
3.2 Thực trạng đầu tư xây dựng công trình trong những năm qua của Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tam Đảo 49
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Tam Đảo” 60
3.3.1 Nhóm giải pháp về quản lý 60
3.3.1.1 Đối với Chủ đầu tư: 60
3.3.1.2 Đối với nhà thầu khảo sát xây dựng: 60
3.3.1.3 Đối với nhà thầu thiết kế xây dựng công trình: 61
3.3.1.4 Đối với nhà thầu tư vấn giám sát: 61
3.3.1.5 Đối với nhà thầu tư vấn quản lý dự án: 61
3.3.1.6 Đối với nhà thầu thi công xây dựng công trình: 61
3.3.1.7 Quản lý nhà nước tại địa phương: 62
- Sở NN&PTNT là cơ quan chuyên môn nhà nước về lĩnh vực xây dựng phục vụ cho nông nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương do đó cần thường xuyên phổ biến các chính sách pháp luật về xây dựng thủy lợi cho các đơn vị, doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn 62
3.3.2 Nhóm giải pháp kỹ thuật 62
3.3.2.1 Công tác thi công đắp đập: 62
3.3.2.2 Thực hiện giám sát hiện trường thi công xây dựng 66
3.3.3.3 Công tác nghiệm thu 67
Căn cứ văn bản pháp lý của nhà nước và trên cơ sở phân tích thực trạng các ưu, nhược điểm trong công tác quản lý chất lượng các công trình thủy lợi trong những năm vừa qua do Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tam Đảo thực hiện, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng của Công ty như sau: 73
Kết luận: 74
Kiến nghị: 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6vi
Hình 1.2 Sự cố vỡ đập Thủy điện Ia Krel 2 21Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tam Đảo 46Hình 3.2: sơ đồ cơ cấu tổ chức của BQLDA 47
Trang 7vii
Bảng 3.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Công ty giai đoạn 2009 – 2016 49
Bảng3.2: Hiện trạng công trình tưới - hệ thống Tam Đảo 50
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC CHỮ KÝ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ATLĐ: An toàn lao động BQL: Ban quản lý
BQLDA: Ban quản lý dự án CĐT: Chủ đầu tư
CLCT: Chất lượng công trình CPĐD: Cấp phối đá dăm HĐXD: Hoạt động xây dựng TVGS: Tư vấn giám sát XDCT: Xây dựng công trình TNHH: Trách nhiệm hữu hạn MTV: Một thành viên
Trang 91
1 Tính c ấp thiết của đề tài:
* Lý do chọn đề tài
Tỉnh Vĩnh Phúc thuộc Vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ
và vùng Thủ đô Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.370,73 km2 Vĩnh Phúc có
một thành phố, một thị xã, 7 huyện với 137 xã, phường, thị trấn Vĩnh Phúc có nhiều tuyến giao thông quốc gia Vĩnh Phúc là vùng đất có bề dày lịch sử – văn hóa lâu đời,
với hàng trăm di tích lịch sử – văn hóa gắn với các danh lam cảnh thắng nổi tiếng Người dân Vĩnh Phúc có truyền thống lao động cần cù, hiếu học, thông minh, năng động và sáng tạo
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và miền núi phía bắc, có tọa độ: từ 21O 08’ đến 210 34`(tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo) vĩ độ bắc;
từ 1050
09’ (xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) đến 105o
47’ (xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên) kinh độ đông
Địa giới hành chính:
Phía Bắc: Giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang
Phía Nam: Giáp tỉnh Hà Tây (cũ)
Phía Đông: Giáp thành phố Hà Nội
Phía Tây: Giáp tỉnh Phú Thọ
Vĩnh Phúc nằm trong vùng đồng bằng thuộc châu thổ sông Hồng, là một trong 7 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Việt Nam
Diện tích tự nhiên, tính đến 31/12/2008 là 1.231,76 km2
, dân số 1.014.488 người, gồm
9 đơn vị hành chính: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc với 113 xã, 24 phường và thị trấn Trong đó thành phố Vĩnh Yên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 25km, cách Cảng biển: Cái Lân - Tỉnh Quảng Ninh, cảng Hải Phòng - Thành phố Hải Phòng khoảng 150 km
Trang 10gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của Quốc gia
và Quốc tế thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng, QL2 Việt Trì -
Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV Thành phố Hà Nội Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối vùng KTTĐ Bắc Bộ, đặc biệt đối với Thủ đô Hà Nội: Kinh tế Vĩnh Phúc phát triển sẽ góp phần cùng Thủ đô Hà Nội thúc đẩy tiến trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm, giảm sức ép
về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du lịch, dịch vụ của thủ đô Hà Nội
Vĩnh Phúc đang phấn đấu “Đến năm 2020 xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 30 của thế kỷ XXI” Mục tiêu đó đòi hỏi tỉnh Vĩnh Phúc phải khai thác và phát
huy tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng Như vậy với chức năng, nhiệm vụ khá đa dạng từ các công tác chuyên môn về quản lý nhà nước đến các hoạt động quản lý các dự án tu bổ, sửa chữa các công trình thủy lợi trong khi lực lượng cán bộ kỹ thuật khá mỏng Do đó để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ về quản lý Nhà nước cũng như quản lý dự án thì ban quản lý dự án cần có
những giải pháp về quản lý chất lượng công trình nhằm nâng cao hiệu quả công việc
và đảm bảo chất lượng công trình Vì vậy tác giả chọn đề tài : “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng các công trình thủy lợi do Công ty TNHH MTV thủy lợi Tam Đảo quản lý”
2 M ục đích của đề tài:
Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng thi công xây dựng tại
Công ty TNHH một thành viên thủy lợi Tam Đảo”
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
a) Ý nghĩa khoa học:
Công ty TNHH MTV thủy lợi Tam Đảo là cơ quan chuyên môn trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm tham mưu giúp Giám đốc Sở thực
Trang 113
hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực quản lý các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đảo và Bình Xuyên Thực hiện chức năng quản lý đầu tư và dự án: Xây dựng tu bổ, sửa chữa các công trình Thủy lợi trên địa bàn Tam Đảo và Bình Xuyên thuộc các nguồn vốn khi được cấp có thẩm quyền quyết định Để hoàn thành
tốt các chức năng nhiệm vụ về quản lý nhà nước cũng như quản lý các dự án cần có
những giải pháp trong công tác quản lý Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các giải pháp
quản lý chất lượng thi công xây dựng tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Tam Đảo
b) Ý nghĩa thực tế:
Luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công trình từ đó đưa ra được các giải pháp quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công nhằm nâng cao chất lượng công trình và nâng cao hiệu quả công tác quản lý các dự án mà ban quản lý dự án
Thủy lợi được phân công
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu là quản lý các dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn ngân sách nhà nước dưới góc độ của cơ quan quản lý
5 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp so sánh, các phương pháp thống kê
kết hợp với khảo sát thực tế
- Vận dụng đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước về quản lý chất lượng thi công xây dựng theo văn bản quy phạm ban hành
- Nghiên cứu số liệu các tài liệu thống kê, báo cáo các dự án đầu tư, hồ sơ, công tác
quản lý, dự án đầu tư xây dựng hiện thời
6 K ết quả dự kiến đạt được:
Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công tại ban quản lý dự án Thủy
lợi;
Đề xuất nhằm hoàn thiện một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng thi công xây dựng
tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Tam Đảo
Trang 124
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG
1.1 Quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công công trình
1.1.1 Qu ản lý chất lượng công trình
Công trình xây dựng
Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết
bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với nền đất, bao gồm phần trên và dưới
mặt đất, phần trên và dưới mặt nước và được xây dựng theo thiết kế Công trình xây
dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác [1]
Chất lượng công trình xây dựng
Theo quan niệm hiện đại, chất lượng công trình (CLCT) xây dựng, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng, CLCT xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo về thời gian phục vụ của công trình
Theo cách nhìn rộng hơn, CLCT xây dựng được hiểu không chỉ từ góc độ bản thân sản
phẩm xây dựng và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà bao gồm cả quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề liên quan khác Một số vấn đề cơ bản liên quan đến CLCT xây dựng là:
- CLCT xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình (XDCT), từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ CLCT xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng dự án ĐTXD công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế
- CLCT tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện,
chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị đưa vào công trình mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng (HĐXD)
Trang 13- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư (CĐT)
phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho cho các nhà đầu tư thực
hiện các hoạt động dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công xây
dựng
Ngoài ra, CLCT xây dựng cần chú ý vấn đề môi trường không chỉ từ góc độ tác động
của dự án tới các yếu tố môi trường mà cả tác động theo chiều ngược lại của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án
Tóm lại: CLCT xây dựng là đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong những điều kiện nhất
định Nó thể hiện sự phù hợp về quy hoạch, đạt được độ tin cậy trong khâu thiết kế, thi công, vận hành theo tiêu chuẩn quy định, có tính xã hội, thẩm mỹ và hiệu quả đầu tư cao, thể hiện tính đồng bộ trong công trình, thời gian xây dựng đúng tiến độ
Quản lý chất lượng công trình
Quản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và
thực hiện các yêu cầu, quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm
bảo chất lượng, cải tiến chất lượng Hoạt động quản lý CLCT xây dựng chủ yếu là công tác giám sát và tự giám sát của CĐT và các chủ thể khác
Nói cách khác: Quản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn vị
có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng.[2]
Nội dụng của quản lý chất lượng công trình xây dựng theo giai đoạn dự án
Hoạt động xây dựng bao gồm: lập quy hoạch xây dựng, lập dự án ĐTXD công trình,
khảo sát xây dựng, thiết kế XDCT, thi công XDCT, giám sát thi công XDCT, quản lý
dự án đầu tư XDCT, lựa chọn nhà thầu trong HĐXD và các hoạt động khác có liên quan đến XDCT
Trang 14Nếu xem xét ở một khía cạnh Hoạt động quản lý CLCT xây dựng, thì chủ yếu là công
tác giám sát của CĐT và các chủ thể khác Có thể gọi chung công tác giám sát là giám sát xây dựng Nội dung công tác giám sát và tự giám sát của các chủ thể có thể thay đổi tuỳ theo nội dung của HĐXD Có thể tóm tắt nội dung hoạt động của các chủ thể giám sát trong các giai đoạn của dự án xây dựng như sau:
Trong giai đoạn khảo sát: ngoài sự giám sát của CĐT, nhà thầu khảo sát xây dựng phải
có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát;
Trong giai đoạn thiết kế: nhà thầu tư vấn thiết kế tự giám sát sản phẩm thiết kế theo các quy định và chịu trách nhiệm trước CĐT và pháp luật về chất lượng thiết kế XDCT CĐT nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu;
Trong giai đoạn thi công XDCT: có các hoạt động QLCL và tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công XDCT và công tác nghiệm thu của CĐT; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế XDCT và ở một số dự án có sự tham gia giám sát của
cộng đồng;
Trong giai đoạn bảo hành công trình CĐT, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng CTXD, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa
chữa, thay thế, giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa chữa đó;
Bên cạnh sự giám sát, tự giám sát của các chủ thể, quá trình triển khai XDCT còn có
sự tham gia giám sát của nhân dân, của các cơ quan QLNN về CLCT xây dựng
Tất cả các hoạt động giám sát nêu trên đều góp phần đảm bảo chất lượng của CTXD
Kết quả của hoạt động giám sát được thể hiện thông qua hồ sơ QLCL, bao gồm các văn bản phê duyệt, biên bản nghiệm thu và bản vẽ hoàn công, nhật ký giám sát của CĐT, nhật ký thi công của nhà thầu, các thông báo, công văn trao đổi, văn bản thống
nhất, Việc thực hiện các hoạt động giám sát chất lượng, lập và lưu trữ hồ sơ QLCL được gọi chung là công tác QLCL
1.1.2 Quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công xây dựng công trình thủy
lợi
Trang 157
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng công trình
Ở giai đoạn thi công xây dựng, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình, trong đó có nhân tố chủ quan như năng lực quản lý (của Chính quyền, của Chủ đầu tư), năng lực của Tư vấn, Nhà thầu tham gia xây dựng Đồng thời có nhân tố khách quan như: các điều kiện môi trường tự nhiên: nắng mưa, sự thay đổi nhiệt độ, mực nước
biển dâng do hiệu ứng nhà kính, các tai biến địa chất: động đất, sạt lở, lũ quét…
1, Điều kiện khởi công xây dựng công trình
Điều kiện khởi công xây dựng công trình là: có giấy phép xây dựng, có mặt bằng xây
dựng, có bản vẽ thiết kế được phê duyệt, có hợp đồng xây dựng, có đủ nguồn vốn; có
biện pháp đảm bảo vệ sinh môi trường Trong khi đó trình tự thủ tục cấp phép và quy trình bồi thường giải phóng mặt bằng tái định cư phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng đến điều kiện khởi công của dự án
2, Điều kiện năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình
Điều kiện năng lực của nhà thầu là: có đăng ký kinh doanh, có đủ năng lực hoạt động tương ứng, chỉ huy trưởng công trường có năng lực hành nghề phù hợp, có thiết bị thi công đáp ứng yêu cầu Hiện nay, không ít nhà thầu thi công năng lực kém, thi công đa ngành, chỉ huy trưởng thiếu kinh nghiệm, máy móc thiết bị cũ lạc hậu, lao động tay nghề cao không đáp ứng yêu cầu như trong hồ sơ dự thầu, quá trình thi công ảnh hưởng đến chất lượng công trình
3, Điều kiện năng lực của Ban quản lý dự án
Điều kiện năng lực của ban quản lý dự án là: năng lực giám đốc ban, năng lực của bộ
máy ban quản lý được quy định rõ ràng Hiện nay, có rất nhiều Ban quản lý dự án được thành lập, trong khi công việc quản lý dự án thường phức tạp, phân tán, dàn trải, nhân lực quản lý dự án chưa đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến quá trình quản lý dự án thường chưa đáp ứng mục tiêu và yêu cầu đề ra
4, Quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu, các
tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng,
bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình xây dựng Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình có các hoạt động quản lý chát lượng và tự giám sát của nhà thầu
Trang 168
thi công xây dựng; giám sát thi công xây dựng công trình và nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình
5, Sự tham gia của giám sát cộng đồng
Sự tham gia của giám sát cộng đồng trong việc đảm bảo an toàn công trình, phòng
chống cháy nổ, an toàn vệ sinh môi trường còn hạn chế Sau khi khởi công công trình Nhà thầu triển khai thi công môi trường ảnh hưởng đến người dân trong khu vực như:
tiếng ồn; khói, bụi ô nhiễm, vệ sinh; an toàn an ninh; an toàn lao động; an toàn giao thông nhưng nhiều người dân và chính quyền địa phương không lên tiếng, sợ “đụng
chạm” quyền lợi, trách nhiệm
6, Điều kiện khách quan
Do hiệu ứng nhà kính dẫn đén mực nước biển dâng, lũ lụt, động đất và các tai biến địa
chất như sụt lở lũ quét ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, tiến độ thi công công trình,
tiềm ẩn nhiều PR trong quá trình thi công
1 1.3 Đặc điểm, ý nghĩa của quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình thủy
l ợi
1.1.3.1 Đặc điểm của quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình thủy lợi
*Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
Các công trình thủy lợi – thủy điện thường được xây dựng trên các sông, suối của các vùng đồi núi và thi công ngoài trời Vì vậy việc tổ chức thi công gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp và chịu ảnh hưởng rất lớn của các điều kiện tự nhiên trong vùng xây
dựng như: điều kiện địa hình, điều kiện địa chất và địa chất thủy văn
* Kết cấu công trình đặc biệt
Các công trình thủy lợi thường được xây dựng trong những điều kiện địa hình, địa
chất, khí hậu thủy văn trên mỗi địa điểm xây dựng hoàn toàn khác nhau với các thông số thiết kế như lưu lượng, cột nước, công suất nhà máy thủy điện, dung tích hồ
Trang 179
* Mức độ cơ giới hóa, công nghiệp hóa và tự động hóa trong xây dựng
Muốn hoàn thành xây dựng công trình thủy lợi có nhiều dạng công tác với khối lượng
rất lớn đúng thời hạn quy định thì phải tiến hành thi công với cường độ cao, mức độ
cơ giới hóa lớn và sử dụng nhiều máy móc, thiết bị thi công hiện đại, có năng suất cao Đồng thời phải tiến tới công nghiệp hóa và tự động hóa trong sản xuất và thi công với mức độ cần thiết có thể, nhất là đối với những công việc nặng nhọc, khó khăn, nguy hiểm
Quá trình quản lý chất lượng dễ bị giãn đoạn do khoảng cách lớn, do thời tiết xấu và
do không tìm được công trình gối đầu Việc duy trì chất lượng kỹ thuật trong thời gian dài là rất khó khăn
1.1.3.2 Ý nghĩa của quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình thủy lợi
- Công trình xây dựng thủy lợi – thủy điện thường chiếm một khu vực rất rộng, trong
đó bao gồm các công trình chính và các công trình phụ phục vụ cho việc xây dựng công trình chính; các công việc xây dựng thường có liên quan mật thiết và khống chế lẫn nhau, đòi hỏi phải xây dựng theo một trình tự nhất định và phải tập trung vốn đầu
tư, nhân lực, vật lực và thiết bị, máy móc thi công vào xây dựng công trình Mặt khác, trong quá trình thi công thường gặp những khó khăn đột xuất do tình hình cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị máy móc không đúng kế hoạch, do tình hình mưa, lũ lụt, Đồng thời lại phải thường xuyên xử lý những tình huống phức tạp như nước ngầm, cát chảy, địa chất thay đổi, thiết bị máy móc bị hư hỏng, chất lượng thi công kém, không đúng quy phạm và cả vấn đề về tài chính v v…
- Nếu không phát hiện và khắc phục kịp thời những khó khăn trong thi công thì không thể đảm bảo hoàn thành đúng kế hoạch tiến độ thi công như ý muốn Vì vậy, công trường cần phải tổ chức quản lý thi công chặt chẽ, phải có sự phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt và chủ động giữa các bộ phận thi công và các phòng, ban trên công trường thì mới có thể đảm bảo chất lượng thi công xây dựng công trình
- Công tác quản lý chất lượng thi công làm được tốt sẽ đảm bảo chất lượng thi công công trình xây dựng tốt, ổn định và bền vững trong khai thác, tăng được tuổi thọ công trình
Trang 1810
1.1.4 Sơ đồ quan hệ giữa các tổ chức trong quá trình xây dựng công trình
a D
c 1
C: Nhà thầu tư vấn giám sát
D: Nhà thầu tư vấn thiết kế
1.1.5 M ối quan hệ giữa các thành viên
1 Quan h ệ CĐT/ đại diện Chủ đầu tư với các nhà thầu (nhà thầu xây dựng, nhà
th ầu TVGS và TVTK) là quan hệ Hợp đồng kinh tế
2 Quan h ệ giữa nhà thầu TVGS và XDCT
- Nhà thầu TVGS thay mặt Chủ đầu tư QLHD đã ký lết giữa CĐT với nhà thầu xây
dựng đảm bảo chất lượng, tiến độ, khối lượng, ATLĐ & VSMT kể từ khi bắt đầu XDCT cho đến khi đưa công trình vào khai thác, sử dụng
3 Quan h ệ giữa nhà thầu XD và TVTK là quan hệ quyền tác giả
Trang 1911
4 Quan h ệ giữa TVGS & TVTK là quan hệ phối hợp thông tin, thông báo nhằm
đảm bảo NTXD thi công đúng thiết kế, đảm bảo chất lượng, khối lượng và thời gian
của cong trình đã được ký kết giữa CĐT và NTXDCT
1.1.6 Quy ền hạn và nghĩa vụ các bên tham gia trong giai đoạn thi công xây dựng công trình [1]
1.1.6.1 Chủ đầu tư
Trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình chủ đầu tư phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình nhằm đảm bảo chất lượng công trình xây dựng đạt kết
quả cao nhất
- Chủ đầu tư có các quyền sau:
+ Tự thực hiện thi công xây dựng công trình khi có đủ năng lực hoạt động thi công xây
dựng công trình phù hợp hoặc lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng;
+ Đàm phán, ký kết hợp đồng thi công xây dựng, giám sát và yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết;
+ Đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng với nhà thầu thi công xây dựng theo quy định của pháp luật và của hợp đồng xây dựng;
+ Dừng thi công xây dựng công trình, yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng khắc phục
hậu quả khi vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn và bảo vệ môi trường;
+ Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp để thực hiện các công việc trong quá trình thi công xây dựng công trình;
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật
- Chủ đầu tư có các nghĩa vụ sau:
+ Lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động thi công xây dựng phù hợp
với loại, cấp công trình và công việc thi công xây dựng;
+ Phối hợp, tham gia với Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc bồi thường thiệt hại,
giải phóng mặt bằng xây dựng để bàn giao cho nhà thầu thi công xây dựng;
+ Tổ chức giám sát và quản lý chất lượng trong thi công xây dựng phù hợp với hình
thức quản lý dự án, hợp đồng xây dựng;
Trang 2012
+ Kiểm tra biện pháp thi công, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường;
+ Tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán công trình;
+ Thuê tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình khi cần thiết;
+ Xem xét, quyết định các đề xuất liên quan đến thiết kế của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng;
+ Lưu trữ hồ sơ xây dựng công trình;
+ Chịu trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc của vật tư, nguyên liệu, vật liệu, thiết bị,
sản phẩm xây dựng do mình cung cấp sử dụng vào công trình;
+ Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và hành vi vi phạm khác do mình gây ra; + Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
1.1.6.2 N hà thầu xây dựng
Nhà thầu tổ chức thi công dựa vào sự sắp xếp của thiết kế tổ chức thi công, tổng tiến
độ Các đơn vị liên quan phối hợp giám sát tốt quá trình thi công, đảm bảo cho việc
thực hiện mục tiêu chất lượng, tiến độ, giá thành, an toàn, tiết kiệm, môi trường Quản
lý tốt hiện trường thi công, thực hiện thi công văn minh, thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng thầu thi công Theo đó nhà thầu thi công công trình xây dựng có trách nhiệm: [2]
- Tiếp nhận và quản lý mặt bằng xây dựng, bảo quản mốc định vị và mốc giới công trình
- Lập và thông báo cho chủ đầu tư và các chủ thể có liên quan hệ thống quản lý chất lượng, mục tiêu và chính sách đảm bảo chất lượng công trình của nhà thầu Hệ thống quản lý chất lượng công trình của nhà thầu phải phù hợp với quy mô công trình, trong
đó nêu rõ sơ đồ tổ chức và trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với công tác quản lý chất lượng công trình của nhà thầu
- Trình chủ đầu tư chấp thuận các nội dung sau:
+ Kế hoạch tổ chức thí nghiệm và kiểm định chất lượng, quan trắc, đo đạc các thông
số kỹ thuật của công trình theo yêu cầu thiết kế và chỉ dẫn kỹ thuật;
Trang 2113
+ Biện pháp kiểm tra, kiểm soát chất lượng vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị được
sử dụng cho công trình; thiết kế biện pháp thi công, trong đó quy định cụ thể các biện pháp, bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị và công trình;
+ Kế hoạch kiểm tra, nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận (hạng mục) công trình xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng;
+ Các nội dung cần thiết khác theo yêu cầu của chủ đầu tư và quy định của hợp đồng
- Bố trí nhân lực, thiết bị thi công theo quy định của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan,
- Thực hiện trách nhiệm quản lý chất lượng trong việc mua sắm, chế tạo, sản xuất vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị được sử dụng cho công trình theo quy định tại Điều
24 Nghị định 46/2015/NĐ-CP và quy định của hợp đồng xây dựng [2]
- Thực hiện các công tác thí nghiệm kiểm tra vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ trước và trong khi thi công xây dựng theo quy định của hợp đồng xây dựng
- Thi công xây dựng theo đúng hợp đồng xây dựng, giấy phép xây dựng, thiết kế xây dựng công trình Kịp thời thông báo cho chủ đầu tư nếu phát hiện sai khác giữa thiết
kế, hồ sơ hợp đồng xây dựng và điều kiện hiện trường trong quá trình thi công Tự kiểm soát chất lượng thi công xây dựng theo yêu cầu của thiết kế và quy định của hợp đồng xây dựng Hồ sơ quản lý chất lượng của các công việc xây dựng phải được lập theo quy định và phù hợp với thời gian thực hiện thực tế tại công trường
- Kiểm soát chất lượng công việc xây dựng và lắp đặt thiết bị; giám sát thi công xây dựng công trình đối với công việc xây dựng do nhà thầu phụ thực hiện trong trường hợp là nhà thầu chính hoặc tổng thầu
- Xử lý, khắc phục các sai sót, khiếm khuyết về chất lượng trong quá trình thi công xây dựng (nếu có)
- Thực hiện trắc đạc, quan trắc công trình theo yêu cầu thiết kế Thực hiện thí nghiệm, kiểm tra chạy thử đơn động và chạy thử liên động theo kế hoạch trước khi đề nghị nghiệm thu
- Lập nhật ký thi công xây dựng công trình theo quy định
Trang 2214
- Lập bản vẽ hoàn công theo quy định
- Yêu cầu chủ đầu tư thực hiện nghiệm thu công việc chuyển bước thi công, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng
- Báo cáo chủ đầu tư về tiến độ, chất lượng, khối lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường thi công xây dựng theo quy định của hợp đồng xây dựng và yêu cầu đột xuất của chủ đầu tư
- Hoàn trả mặt bằng, di chuyển vật tư, máy móc, thiết bị và những tài sản khác của mình ra khỏi công trường sau khi công trình đã được nghiệm thu, bàn giao, trừ trường
hợp trong hợp đồng xây dựng có thỏa thuận khác
1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý thi công trong vấn đề chất lượng công trình xây dựng hiện nay
1.2.1 Vai trò c ủa ngành xây dựng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [1][2]
Để quản lý tốt chất lượng công trình xây dựng ngoài áp dụng đúng và tuân thủ đầy đủ theo các quy định, văn bản quy phạm luật, nghị định, thông tư của chính phủ và các bộ ban hành ra còn phải nắm rõ các chính sách nhà nước quy định trong công tác quản lý xây dựng để thực hiện tốt công việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Quản lý tốt dự án trong từng giai đoạn đầu tư là công việc chính để kiểm soát và quản
lý tốt chất lượng công trình xây dựng cho toàn dự án
1.2.1.1 Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng
Công tác quản lý CLCT xây dựng có vai trò to lớn đối với nhà nước, CĐT, nhà thầu và các doanh nghiệp xây dựng nói chung, cụ thể như:
- Đối với Nhà nước: Công tác QLCL tại các CTXD được đảm bảo sẽ tạo được sự ổn định trong xã hội, tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực xây dựng, hạn chế được những rủi ro, thiệt hại cho những người sử
dụng CTXD nói riêng và cộng đồng nói chung
- Đối với chủ đầu tư: Đảm bảo và nâng cao CLCT sẽ thoả mãn được các yêu cầu của CĐT, tiết kiệm được vốn cho Nhà nước hay nhà đầu tư và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội Ngoài ra, đảm bảo và nâng cao chất lượng tạo lòng tin, sự ủng
Trang 2315
hộ của các tổ chức xã hội và người hưởng lợi đối với CĐT, góp phần phát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài
- Đối với nhà thầu: Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng CTXD sẽ tiết kiệm nguyên
vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động Nâng cao CLCT xây
dựng có ý nghĩa quan trọng tới nâng cao đời sống người lao động, thuận lợi cho việc
áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ đối với nhà thầu CLCT xây dựng gắn với an toàn
của thiết bị và nhân công nhà thầu trong quá trình xây dựng Ngoài ra, CLCT đảm bảo cho việc duy trì và nâng cao thương hiệu cũng như phát triển bền vững của nhà thầu
1.2.1.2 Ý nghĩa của việc quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý CLCT xây dựng là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sức quan tâm Nếu công tác quản lý CLCT xây dựng thực hiện tốt sẽ không xảy ra sự cố,
tuổi thọ công trình đáp ứng thời gian quy định trong hồ sơ thiết kế, phát huy hiệu quả
dự án, đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ theo quyết định phê duyệt Do vậy, việc nâng cao công tác quản lý CLCT xây dựng không chỉ là nâng cao CLCT mà còn góp phần chủ động phòng chống tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng
Theo thực tế, ở đâu tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước về quản lý CLCT thì ở đó CLCT tốt và hạn chế được tiêu cực trong xây dựng CTXD khác với
sản phẩm hàng hoá thông thường khác vì CTXD có phạm vi ảnh hưởng tương đối
rộng, được thực hiện trong một thời gian dài, do nhiều người tham gia, gồm nhiều vật
liệu tạo nên thường xuyên chịu tác động bất lợi của thời tiết và điều kiện tự nhiên Cũng vì đặc điểm đó, việc nâng cao công tác quản lý CLCT xây dựng là rất cần thiết,
bởi nếu xảy ra sự cố thì sẽ gây ra tổn thất rất lớn về người và của, tác động xấu đến môi trường vùng hưởng lợi, đồng thời cũng rất khó khắc phục hậu quả
Nâng cao công tác quản lý CLCT xây dựng là góp phần nâng cao chất lượng sống cho con người Mỗi công trình được xây dựng có CLCT bảo đảm, tránh được xảy ra những
sự cố đáng tiếc thì sẽ tiết kiệm được đáng kể cho ngân sách quốc gia Số tiền đó sẽ được dùng vào công tác đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần nâng cao đời
sống nhân dân, hoặc dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo
1.2.2 Tình hình ch ất lượng công trình xây dựng nói chung hiện nay ở nước ta
1.2.2.1 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững Đặc biệt ở
Trang 2416
nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng
rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng Vì vậy để tăng cường quản lý dự án, chất lượng công trình xây dựng, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương đã:
- Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy
phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý
chất lượng công trình xây dựng
- Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật
liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng
- Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các
Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định
- Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001 -
2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành
Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp
quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng công trình xây
dựng Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan cấp trên chủ đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý, các nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, xây lắp) thực hiện đầy đủ các chức năng
của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng
1.2.2.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình
Chủ đầu tư, tổ chức tư vấn (giám sát, thiết kế, khảo sát, thẩm định), nhà thầu xây lắp là
3 chủ thể trực tiếp quản lý chất lượng công trình xây dựng Thực tế đã chứng minh
rằng dự án, công trình nào mà 3 chủ thể này có đủ trình độ năng lực quản lý, thực hiện đầy đủ các quy định hiện này của nhà nước tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý chất lượng trong các hợp đồng kinh tế, đặc biệt trong trường hợp các
tổ chức này độc lập, chuyên nghiệp thì tại đó công tác quản lý chất lượng tốt và hiệu
quả
Trang 2517
- Chủ đầu tư - Ban quản lý: Chủ đầu tư là người chủ động vốn bỏ ra để đặt hàng công trình xây dựng, họ là người chủ đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình lập dự án, khảo sát, thiết kế, đến giai đoạn thi công xây
lắp vận hành bảo trì, vì vậy họ là chủ thể quan trọng nhất quyết định chất lượng công trình xây dựng
Đối với chủ đầu tư là vốn của tư nhân, của nước ngoài (nhà tư bản) đồng tiền bỏ ra từ túi tiền riêng của họ nên việc quản lý dự án nói chung cũng như quản lý chất lượng nói riêng của cả quá trình được hết sức quan tâm, từ quá trình thẩm định, duyệt hồ sơ thiết
kế đến cả giai đoạn thi công xây lắp, bảo trì Trừ công trình nhỏ lẻ họ tự quản lý còn
đa số các dự án họ đều thuê tổ chức tư vấn chuyên nghiệp thực hiện quản lý chất lượng công trình thông qua các hình thức: Tổ chức tư vấn quản lý dự án, tổ chức tư vấn giám sát độc lập để kiểm tra chất lượng công trình suốt vòng đời của dự án
Trường hợp vốn đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước thì chủ đầu tư là ai? Các chủ đầu tư
hiện nay không phải là chủ đồng tiền vốn đầu tư, thực chất chủ đầu tư được Nhà nước
uỷ nhiệm để quản lý vốn đầu tư xây dựng, họ không phải chủ đầu tư “thực sự”, được thành lập thông qua quyết định hành chính.Thực trạng hiện nay nhiều chủ đầu tư không có đủ năng lực, trình độ, thiếu hiểu biết về chuyên môn xây dựng, nhiều trường
hợp làm kiêm nhiệm, vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn rất
hạn chế
Vì vậy nhiều ý kiến đề nghị nghiên cứu việc tách chức năng chủ đầu tư là ông chủ đồng vốn nhà nước đồng thời là người trực tiếp quản lý sử dụng công trình với tư vấn
quản lý dự án (là đơn vị làm thuê) thông qua hợp đồng kinh tế Tổ chức tư vấn quản lý
dự án, tư vấn giám sát là tổ chức chuyên nghiệp, độc lập (trừ các dự án có quy mô nhỏ, đơn giản)
- Tổ chức tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế: Với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của nhà nước và của các thành phần kinh tế,
của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế tăng rất nhanh, lên đến hàng nghìn đơn vị Bên cạnh một số các đơn vị tư vấn,
khảo sát thiết kế truyền thống lâu năm, có đủ năng lực trình độ, uy tín, còn nhiều tổ
chức tư vấn khảo sát thiết kế năng lực trình độ còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý
chất lượng nội bộ Mặt khác kinh phí cho công việc này còn thấp, dẫn đến chất lượng
của công tác lập dự án, khảo sát, thiết kế chưa cao, còn nhiều sai sót
+ Đối với giai đoạn lập dự án
Trang 2618
Khảo sát chưa kỹ, lập dự án theo chủ quan của chủ đầu tư
Khâu thẩm định dư án chưa được coi trọng Các ngành tham gia còn hình thức, trình
độ năng lực của cán bộ thẩm định còn hạn chế
+ Đối với lĩnh vực khảo sát, thiết kế
Khảo sát phục vụ thiết kế còn sơ sài, thiếu độ tin cậy
Hệ thống kiểm tra nội bộ của tổ chức khảo sát thiết kế chưa đủ, chưa tốt còn tình trạng khoán trắng cho cá nhân, tổ đội
Công tác thẩm định còn sơ sài, hình thức
- Tổ chức tư vấn giám sát (của chủ đầu tư hoặc thuê tổ chức tư vấn giám sát độc lập)
Là người thay mặt cho chủ đầu tư trực tiếp giám sát, nghiệm thu các công việc trong
suốt quá trình xây dựng thông qua việc kiểm tra công việc hàng ngày, ký các biên bản nghiệm thu từng phần, từng bộ phận công trình
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới thường sử dụng tổ chức tư vấn giám sát chuyên nghiệp, độc lập Các cán bộ làm vịêc trong tổ chức tư vấn giám sát này thường
là những cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm cao, có đạo đức nghề nghiệp, lương khá cao Do vậy việc thực hiện việc giám sát chất lượng rất chặt chẽ, bài bản Đối với công trình trong nước là công trình trọng điểm, quan trọng có đơn vị tư vấn giám sát độc lập, có đủ năng lực và uy tín thì ở đó việc quản lý chất lượng chắc chắn
sẽ tốt hơn
Tuy nhiên, do tốc độ phát triển xây dựng rất nhanh, lớn trong khi chưa có các công ty
tư vấn giám sát chuyên nghiệp, tình trạng chung là các công ty tư vấn thiết kế mới bổ sung thêm nhiệm vụ này, đã thế lực lượng cán bộ tư vấn giám sát thiếu và yếu, trình độ năng lực, kinh nghiệm thi công còn rất hạn chế, ít được bồi dưỡng cập nhật nâng cao trình độ về kỹ năng giám sát, về công nghệ mới, chế độ đãi nghộ hạn chế, do phí quản
lý giám sát còn thấp nên hạn chế đến công tác quản lý tổ chức tư vấn giám sát
-Nhà thầu thi công xây lắp
Đây là chủ thể quan trọng, quyết định đến việc quản lý và đảm bảo chất lượng thi công công trình xây dựng
Trang 2719
Thời gian qua các nhà thầu trong nước đã phát triển rất nhanh cả về số lượng và chất lượng Nhận rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng và thương hiệu, là uy tín của đơn vị mình, là vấn đề sống còn trong cơ chế thị trường, nên nhiều Tổng Công
ty, công ty đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
Tuy nhiên, thời gian qua lại có không ít công trình thi công không đảm bảo chất lượng gây lún sụt, sập đổ nhiều công trình thấm, dột, bong bộp, nứt vỡ, xuống cấp rất nhanh
mà nguyên nhân của nó là:
Còn khá nhiều nhà thầu không thực hiện nghiêm những quy định hiện hành của Nhà nước là phải có hệ thống quản lý chất lượng theo yêu cầu, tính chất quy mô công trình xây dựng, trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân đồng thời mọi công việc
phải được nghiệm thu nội bộ trước khi mời giám sát nghiệm thu ký biên bản Trong
thực tế nhiều đơn vị không thực hiện các quy định này; không bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, thậm chí còn khoán trắng cho các đội thi công và phó mặc cho giám sát của
chủ đầu tư
Một điều rất quan trọng đối với các nhà thầu là việc lập biện pháp tổ chức thi công công trình, đặc bệit đối với các công trình lớn, trọng điểm, nhiều công việc có khối lượng lớn, phức tạp, ứng dụng nhiều công nghệ mới, nếu làm tốt công việc này thì đã
bảo đảm phần rất quan trọng để quản lý chất lượng công trình Rất tiếc rằng thời gian qua công việc này chưa được các nhà thầu quan tâm đúng mức dẫn đến các sai phạm,
sự cố công trình (ví dụ biện pháp thi công cầu Cần Thơ, thi công đầm lăn Thuỷ điện Sơn La, hầm Thủ Thiêm…)
Nhiều đơn vị đã xây dựng và được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000 nhưng khi triển khai vẫn còn hình thức, chủ yếu là ở văn phòng công ty mà thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện trường xây dựng
Đội ngũ cán bộ, công nhân của các nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu các đốc công giỏi, thợ đầu đàn Nhiều đơn vị sử dụng công nhân không qua đào tạo, công nhân
tự do, công nhân thời vụ, đã thế việc tổ chức hướng dẫn huấn luyện công nhân tại chỗ
rất sơ sài Việc tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân rất nhiều
hạn chế
Một số nhà thầu, do những nguyên nhân khác nhau, đã hạ giá thầu một cách thiếu căn
cứ để có công trình hoặc do phải “chi” nhiều khoản ngoài chế độ (tiêu cực) cho đối tác
Trang 28sử dụng được theo thiết kế (Khoản 29, Điều 3) [2]
- Cấp sự cố được chia thành ba cấp theo mức độ hư hại công trình và thiệt hại về người, bao gồm sự cố cấp I, cấp II, cấp III như sau: (Theo Điều 4, Chương 6) [2]
• Sự cố cấp I bao gồm:
- Sự cố công trình xây dựng làm chết từ 6 người trở lên
- Sập, đổ công trình, hạng mục công trình cấp I trở lên hoặc hư hỏng có nguy cơ gây
sập, đổ công trình, hạng mục công trình cấp I trở lên;
• Sự cố cấp II bao gồm:
- Sự cố công trình xây dựng làm chết từ 1 đến 5 người;
- Sập, đổ công trình, hạng mục công trình cấp II, cấp III hoặc hư hỏng có nguy cơ gây
sập, đổ công trình, hạng mục công trình cấp II và cấp III
Sự cố cấp III bao gồm:
Các sự cố còn loại ngoài các sự cố công trình xây dựng quy định theo Nghị định 46 [2]
1.3.2 M ột số sự cố liên quan đến công tác QLCL
1, S ự cố vỡ đập điển hình
• Sự cố vỡ đập Thủy điện Ia Krel 2 tại Gia Lai năm 2013
Trang 2921
Hình 1.2 Sự cố vỡ đập Thủy điện Ia Krel 2
- Nguyên nhân: Khi thực hiện công tác quản lý đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng công trình, chủ đầu tư đã làm sai các quy định về quản lý đầu tư xây dựng và quản lý
chất lượng công trình trong quá trình triển khai xây dựng dự án
Về thi công hạng mục bị sự cố: chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan thi công không đúng theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật
Riêng bản vẽ thi công, cống dẫn dòng thi công không đúng theo hồ sơ thiết kế, nên bê tông mặt trên cống bị vỡ khi chịu tải, do đó khi bê tông cống dẫn dòng bị vỡ kéo theo lõi đập bị sụt lún dẫn đến nước thấm nhanh vào thân đập làm đập bị vỡ ngay vị trí cống dẫn dòng
- Hậu quả: 121 hộ dân bị ảnh hưởng, thiệt hại trên 3 tỷ đồng Khắc phục từ tháng 6/2013 đến 6/2014
- Gây sạt lở nghiêm trọng và gây nguy hiểm đến đồng ruộng, hoa màu cũng như đời
sống bà con nhân dân trong khu vực
2 Một số sự cố công trình điển hình khác [13]
2.1 Vỡ đập Suối Hành ở Khánh Hoà
Đập Suối Hành có một số thông số cơ bản sau:
Trang 3022
- Dung tích hồ: 7,9 triệu m3nước
- Chiều cao đập: 24m
- Chiều dài đập: 440m
- Khảo sát: do 1 công ty tư nhân tên là Sơn Hà ở TP Hồ Chí Minh khảo sát
- Thiết kế: do xí nghiệp KSTK thuộc Sở Thuỷ lợi Khánh Hoà thiết kế
- Thi công: do Công ty Xây dựng Thuỷ lợi 7, Bộ Thuỷ lợi
Đập được khởi công từ tháng 10/1984, hoàn công tháng 9/1986 và bị vỡ vào 2h15 phút đêm 03/12/1986
Thiệt hại do vỡ đập:
- Trên 100 ha cây lương thực bị phá hỏng
- 20 ha đất trồng trọt bị cát sỏi vùi lấp
- 20 ngôi nhà bị cuốn trôi
- 4 người bị nước cuốn chết
Nguyên nhân: Khi thí nghiệm vật liệu đất đã bỏ sót không thí nghiệm 3 chỉ tiêu rất quan trọng là độ tan rã, độ lún ướt và độ trương nở, do đó đã không nhận diện được tính hoàng thổ rất nguy hiểm của các bãi từ đó đánh giá sai lầm chất lượng đất đắp đập Công tác khảo sát địa chất quá kém, các số liệu thí nghiệm về đất bị sai rất nhiều
so với kết quả kiểm tra của các cơ quan chuyên môn của Nhà nước như Trường Đại học Bách khoa TP HCM, Viện Khoa học Thuỷ lợi Miền Nam
Vật liệu đất có tính chất phức tạp, không đồng đều, khác biệt rất nhiều, ngay trong một bãi vật liệu các tính chất cơ lý lực học cũng đã khác nhau nhưng không được mô
tả và thể hiện đầy đủ trên các tài liệu
Thiết kế chọn chỉ tiêu trung bình của nhiều loại đất để sử dụng chỉ tiêu đó thiết kế cho toàn bộ thân đập là một sai lầm rất lớn Tưởng rằng đất đồng chất nhưng thực tế là không Thiết kế γk = 1,7T/m3 với độ chặt là k = 0,97 nhưng thực tế nhiều nơi khác có loại đất khác có γk = 1,7T/m3 nhưng độ chặt chỉ mới đạt k = 0,9
Do việc đất trong thân đập không đồng nhất, độ chặt không đều cho nên sinh ra việc lún không đều, những chỗ bị xốp đất bị tan rã khi gặp nước gây nên sự lún sụt trong thân đập, dòng thấm nhanh chóng gây nên luồng nước xói xuyên qua đập làm vỡ đập Việc lựa chọn sai lầm dung trọng khô thiết kế của đất đắp đập là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự cố vỡ đập Kỹ sư thiết kế không nắm bắt được các đặc tính cơ bản của đập đất, không kiểm tra để phát hiện các sai sót trong khảo sát và thí nghiệm nên đã chấp nhận một cách dễ dàng các số liệu do các cán bộ địa chất cung cấp
Không có biện pháp xử lý độ ẩm thích hợp cho đất đắp đập vì có nhiều loại đất khác nhau có độ ẩm khác nhau, bản thân độ ẩm lại thay đổi theo thời tiết nên nếu ngưới thiết kế không đưa ra giải pháp xử lý độ ẩm thích hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả đầm nén và dung trọng của đất Điều này dẫn đến kết quả trong thân đập tồn tại nhiều γk khác nhau
Trang 3123
Lựa chọn kết cấu đập không hợp lý Khi đã có nhiều loại đất khác nhau thì việc xem đập đất là đồng chất là một sai lầm lớn, lẽ ra phải phân mặt cắt đập ra nhiều khối có các chỉ tiêu cơ lý lực học khác nhau để tính toán an toàn ổn định cho toàn mặt cắt đập Khi đã có nhiều loại đất khác nhau mà tính toán như đập đồng chất cũng là 1 nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự cố đập Suối Hành
Trong thi công cũng có rất nhiều sai sót như bóc lớp đất thảo mộc không hết, chiều dày rải lớp đất đầm quá dày trong khi thiết bị đầm nén lúc bấy giờ chưa được trang bị đến mức cần thiết và đạt yêu cầu, biện pháp xử lý độ ẩm không đảm bảo yêu cầu chất lượng, xử lý nối tiếp giữa đập đất và các mặt bê tông cũng như những vách đá của vai đập không kỹ cho nên thân đập là tổ hợp của các loại đất có các chỉ tiêu cơ lý lực học không đồng đều, dưới tác dụng của áp lực nước sinh ra biến dạng không đều trong thân đập, phát sinh ra những kẽ nứt dần dần chuyển thành những dòng xói phá hoại toàn bộ thân đập
2.2 Vỡ đập Suối Trầu ở Khánh Hoà
Đập Suối Trầu ở Khánh Hoà bị sự cố 4 lần:
- Lần thứ 1: năm 1977 vỡ đập chính lần 1
- Lần thứ 2: năm 1978 vỡ đập chính lần 2
- Lần thứ 3: năm 1980 xuất hiện lỗ rò qua đập chính
- Lần thứ 4: năm 1983 sụt mái thượng lưu nhiều chỗ, xuất hiện 7 lỗ rò ở đuôi cống Đập Suối Trầu có dung tích 9,3triệu m3nước
- Chiều cao đập cao nhất: 19,6m
- Chiều dài thân đập: 240m
- Đơn vị tư vấn thiết kế: Công ty KSTK Thuỷ lợi Khánh Hoà
- Đơn vị thi công: Công ty công trình 4-5, Bộ Giao thông Vận tải
Nguyên nhân của sự cố:
Về thiết kế: xác định sai dung trọng thiết kế Trong khi dung trọng khô đất cần đạt γ
= 1,84T/m3 thì chọn dung trọng khô thiết kế γk = 1,5T/m3 cho nên không cần đầm, chỉ cần đổ đất cho xe tải đi qua đã có thể đạt dung trọng yêu cầu, kết quả là đập hoàn toàn
bị tơi xốp
Về thi công: đào hố móng cống quá hẹp không còn chỗ để người đầm đứng đầm đất
ở mang cống Đất đắp không được chọn lọc, nhiều nơi chỉ đạt dung trọng khô γk = 1,4T/m3, đổ đất các lớp quá dày, phía dưới mỗi lớp không được đầm chặt
Trang 32- Khảo sát xác định sai chỉ tiêu của đất đắp đập, không xác định được tính chất tan
rã, lún ướt và trương nở của đất nên không cung cấp đủ các tài liệu cho người thiết kế
để có biện pháp xử lý
- Thiết kế không nghiên cứu kỹ sự không đồng nhất của các bãi vật liệu nên vẫn cho rằng đây là đập đất đồng chất để rồi khi dâng nước các bộ phận của đập làm việc không đều gây nên nứt nẻ, sụt lún, tan rã, hình thành các vết nứt và các lỗ rò
- Thi công không đảm bảo chất lượng, đầm đất không đạt dung trọng nên khi hồ bắt đầu chứa nước, đất không được cố kết chặt, gặp nước thì tan rã
Trong chương 1, tác giả đã tổng quan về các khải niệm cơ bản liên quan đến quản lý
chất lượng công trình trong giai đoạn thi công cũng như vai trò, ý nghĩa quan trọng
của quản lý chất lượng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình, chủ động phòng chống tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng, ngăn chặn được các sự cố đáng tiếc xảy ra, tạo nên sự ổn định an sinh chính trị đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế của Đất nước
Ở nước ta, trong những năm vừa qua cùng với sự hội nhập kinh tế, lĩnh vực đầu tư xây
dựng công trình đã có những bước phát triển mạnh mẽ, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ngày càng được quan tâm và hoàn thiện hơn; tuy nhiên vẫn còn
những tồn tại nhiều điểm yếu trong khâu quản lý làm giảm chất lượng công trình xây
dựng nói chung và xây dựng thủy lợi nói riêng, gây tổn thất kinh tế không nhỏ của đất nước
Trong chương 2 của Luận văn, tác giả sẽ nêu và phân tích cơ sở khoa học trong công tác quản lý chất lượng công trình giai đoạn thi công, làm cơ sở đưa ra những đề xuất cho vấn đề nghiên cứu
Trang 3325
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC NHẰM NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN
ĐOẠN THI CÔNG
2.1 Hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất lượng công trình trong giai đonạ thi công
2.1.1 H ệ thống văn bản pháp luật
2.1.1.1 Luật Xây dựng [1]
Đây là văn bản luật có tính pháp lỷ cao nhất quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức, cá nhân và quản lý nhà nước trong hoạt dộng đau tư xây dựng Trong lĩnh vực quản lý chất lượng công trình xây dựng giai đoạn thi công, Luật xây
dựng quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc thi công xây dựng công trình, cụ thể như sau:
- Chủ đầu tư có các quyền sau:
+ Tự thực hiện thi công xây dựng công trình khi có đủ năng lực hoạt động thi công xây
dựng công trình phù hợp hoặc lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng;
+ Đàm phán, ký kết hợp đồng thi công xây dựng; giám sát và yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết;
+ Đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng với nhà thầu thi công xây dựng theo quy định của pháp luật và của hợp đồng xây dựng;
+ Dừng thi công xây dựng công trình, yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng khắc phục
hậu quả khi vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn và bảo vệ môi trường;
+ Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp để thực hiện các công việc trong quá trình thi công xây dựng công trình;
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật
- Chủ đầu tư có các nghĩa vụ sau:
+ Lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động thi công xây dựng phù họp
với loại, cấp công trình và công việc thi công xây dựng;
Trang 3426
+ Phối hợp, tham gia với Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc bồi thường thiệt hại,
giải phóng mặt bằng xây dựng để bàn giao cho nhà thầu thi công xây dựng;
+ Tổ chức giám sát và quản lý chất lượng trong thi công xây dựng phù hợp với hình
thức quản lý dự án, hợp đồng xây dựng;
+ Kiểm tra biện pháp thi công, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường;
+ Tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán công trình;
+ Thuê tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình khi cần thiết;
+ Xem xét, quyết định các đề xuất liên quan đến thiết kế của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng;
+ Lưu trữ hồ sơ xây dựng công trình;
+ Chịu trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc của vật tư, nguyên liệu, vật liệu, thiết bị,
sản phẩm xây dựng do mình cung cấp sử dụng vào công trình;
+ Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và hành vi vi phạm ki
hác do mình gây ra; + Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Một số Điều khoản khác có liên quan trực tiếp đến chủ đầu tư được thể hiện trong Luật xây dựng như:
- Về an toàn trong thi công xây dựng công trình quy định tại Điều 115:
+ Trong quá trình thi công xây dựng, chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm bảo đảm an toàn cho cồng trình, người lao động, thiết bị, phương tiện thi công làm việc trên công trường xây dựng
+ Chủ đầu tư phải bố trí người có đủ năng lực theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định về an toàn của nhà thầu thi công xây dựng; tạm dừng hoặc đình chỉ thi công khi phát hiện có sự cố gây mất an toàn công trình, dấu hiệu vi phạm quy định về an toàn;
phối hợp với nhà thầu xử lý, khắc phục khi xảy ra sự cố hoặc tai nạn lao động; thông báo kịp thời với cơ quan chức năng có thẩm quyền khi xảy ra sự cố công trình, tai nạn lao động gây chết người
+ Nhà thầu thi công xây dựng phải đề xuất, thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị, tài sản, công trình đang xây dựng, công trình ngâm và các
Trang 3527
công trình liền kề; máy, thiết bị, vật tư phục vụ thi công có yêu câu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được kiểm định về an toàn trước khi đưa vào sử dụng
- Bảo vệ môi trường trong thi công xây đựng công trình quy định tại Điều 116:
Trong quá trình thi công xây dựng công trình, nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm:
+ Lập và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình thi công xây dựng bao gồm môi trường không khí, môi trường nước, chất thải rắn, tiếng ồn và yêu cầu khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
+ Bồi thường thiệt hại do vi phạm về bảo vệ môi trường do mình gây ra
Và các Điều khoản có liên quan khác
2.1.1.2 Nghị định 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ về QLCL công trình xây dựng và bảo hành, bảo trì công trình [2]
Đây là văn bản dưới luật hết sức quan trọng, gắn liền với công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
Về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư, được thể hiện trong Chương IV của Nghị dịnh với các Điều khoản như: [2]
Điều 23 Trình tự quản lý chất lượng thi công xây dựng
Điều 24 Quản lý chất lượng đối với vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị sử dụng cho công trình xây dựng
Điều 27 Nghiệm thu công việc xây dựng
Điều 29 Thí nghiệm đối chứng, kiểm định chất lượng, thí nghiệm khả năng chịu lực
của kết cấu công trình trong quá trỉnh thi công xây dựng
Điều 30 Nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng Điều 31 Nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng đưa vào sử
dụng
Điều 33 Lập và lưu trữ hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng
Điều 34 Bàn giao hạng mục công trình, công trình xây dựng
Trang 3628
Và các Điều khoản liên quan khác
2.1.1.3 Các văn bản pháp luật hiện hành khác
- Luật đấu thầu số số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013
- Luật đất đai số 45/2013/QH11 ngày 29/11/2013
- Luật đầu tư số: 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP, ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình
- Nghị định 32/2015/NĐ-CP, ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
- Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 của Chính phủ: Qui định chi tiết về
hợp đồng xây dựng
- Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 của Chính phủ: Qui định chi tiết một
số nội dung về quy hoạch xây dựng
- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành mốt số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu
- Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009 của Bộ Xây dựng về việc công bố định
mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư XDCT
- Thông tư số 06/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng về xác định và quản
lý chi phí đầu tư xây dựng
- Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/05/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Quy định chi tiết lập Hồ sơ mời thầu xây lắp
2.1.2 Các tiêu chu ẩn, quy chuẩn [4]
- TCVN 4055:2012: Công trình xây dựng - Tổ chức thi công
- TCVN 4091:1985: Nghiệm thu các công trình xây dựng
- TCVN 5637:1991: Quản lý chất lượng xây lắp CTXD Nguyên tắc cơ bản
- TCVN 4447:2012: Công tác đất Thi công và nghiệm thu
- TCVN 9361:2012: Công tác nền móng - Thi công và nghiệm thu
Trang 37- TCVN 4085:1985: Kết cấu gạch đá Thi công và nghiệm thu
2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình
2.2.1 Ch ỉ tiêu đánh giá về quản lý con người
a) So sánh tỷ lệ số cán bộ quản lý, kỹ thuật có trình độ chuyên môn so với tổng số lao động trong đơn vị Nếu tỷ lệ này nhỏ thì chứng tỏ đơn vị đã tuyển dụng không tốt, trình độ của cán bộ quản lý, kỹ thuật thấp thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu công
việc Tất nhiên điều này sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công trình;
b) Tỷ lệ số cán bộ quản lý, kỹ thuật làm việc không đúng với chuyên ngành được học
so với tổng số cán bộ trong đơn vị Nó cho biết hiệu quả công tác quản lý nguồn nhân
lực trong công ty Nếu các cán bộ quản lý, kỹ thuật được phân công làm việc đúng với chuyên ngành học của họ thì chắc chắn hiệu quả công việc sẽ cao hơn;
c) Tỷ lệ cán bộ quản lý kỹ thuật so với số lượng công trình thi công phải hợp lý để đảm bảo chất lượng công trình Do khả năng quản lý của con người có hạn, vì vậy tỷ lệ cán bộ quản lý kỹ thuật so với số lượng các công trình cần quản lý ít nhiều sẽ ảnh hưởng tới hiện quản công tác quản lý chất lượng Điều này đặc biệt quan trọng khi mà công tác kiểm tra chất lượng trong xây lắp đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải có mặt tại công trường Tỷ lệ này cũng phản ánh phần nào năng lực của cán bộ quản lý kỹ thuật;
d) Tỷ lệ số cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật được cử đi học nâng cao trình độ chuyên môn hàng năm so với tổng số cán bộ quản lý kỹ thuật, công nhân
kỹ thuật trong đơn vị Chỉ tiêu này cho thấy công tác đào tạo có được chú trọng hay không Tỷ lệ càng cao thì chứng tỏ công tác đào tạo được tổ chức thực hiện rất tốt, điều này cho thấy chất lượng cán bộ, công nhân trong đơn vị luôn được đảm bảo, nó sẽ giúp nâng cao hiệu quả công việc lên rất nhiều
2.2.2 Ch ỉ tiêu về quản lý vật tư
1) Tỷ lệ vi phạm chất lượng vật tư (Kvpcl):
- Kvpcl = (Số lần phát hiện vi phạm/tổng số lần nhập vật tư về công trình) x 100%
Trang 3830
Chỉ tiêu này trực tiếp phản ánh hiệu quả công tác quản lý chất lượng nguyên vật liệu đầu vào tốt hay không
Kvpcl càng thấp thì hiệu quả quản lý vật tư càng lớn
2) Trong điều kiện nước ta hiện nay cần phấn đấu nhằm giảm tỷ lệ này xuống
dưới 3%
2.2.3 Ch ỉ tiêu đánh giá về quản lý chất lượng máy móc, thiết bị
1) Chủng loại máy móc, máy móc, thiết bị
- Phải đảm bảo đúng các máy móc, thiết bị dùng với hợp đồng quy định= tên thiết bị,
nước sản xuất
Biên bản kiểm tra chất lượng thiết bị của các cơ quan có thẩm quyền
2) Tỷ lệ số lần sửa chữa máy móc thiết bị so với kế hoạch đặt ra;
3) Tỷ lệ số lần bảo dưỡng máy móc thiết bị so với kế hoạch đặt ra
2.2.4 Ch ỉ tiêu đánh giá về quản lý thi công
1) Về tiến độ: Đánh giá các hạng mục công trình được hoàn thành đúng tiến độ theo kế
hoạch đã được Chủ đầu tư phê duyệt trong hợp đồng
2) Về quản lý chất lượng:
- Kiểm tra các biểu mẫu, hồ sơ cho công tác kiểm tra ở hiện trường của tất cả các hạng
mục công trình
3) Về định vị công trình; công tác đất và các loại vật liệu sử dụng trong công trình
Kiểm tra từng bộ phận của kết cấu công trình như bộ phận móng (cọc và các loại móng khác), cột, dầm, sàn, tường chịu lực ;
Kiểm tra công tác lập hồ sơ quản lý chất lượng công trình về độ chính xác, rõ ràng, đầy đủ;
Kiểm tra chất lượng vật liệu, cấu kiện và chất lượng thi công kết cấu công trình;
Kiểm tra chất lương bằng thí nghiệm hiện trường( nếu có)
Trang 3931
Chất lượng công tác hoàn thiện bề mặt công trình, nội thất công trình, sự đảm bảo về
khả năng chống thấm, cách nhiệt, cách âm tình trạng vật liệu gỗ, kính, sơn, khoá cửa sử dụng vào công trình phù hợp với yêu cầu tính năng kỹ thuật thiết kế;
Qua đó sẽ đánh giá được về: Số công trình thi công đảm bảo đúng tiêu chuẩn nghiệm thu công trình; Số công trình sau khi đưa vào sử dụng mới phát hiện thấy các vấn đề
về nảy sinh về cấu tạo làm ảnh hưởng đến mỹ quan công trình Các vấn đề đó như là:
trần nhà bị thấm nước, tường nhà bị nứt nhưng không nhiều, cống thoát nước không thông …
c) Về an toàn lao động và vệ sinh môi trường:
Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp an toàn cho người và công trình trên công trường xây dựng Trường hợp các biện pháp an toàn liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận
– Các biện pháp an toàn, nội quy về an toàn phải được thể hiện công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành; những vị trí nguy hiểm trên công trường phải bố trí người hướng dẫn, cảnh báo đề phòng tai nạn
– Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư và các bên có liên quan phải thường xuyên kiểm tra giám sát công tác ATLĐ trên công trường Khi phát hiện có vi phạm về ATLĐ thì phải đình chỉ thi công xây dựng Người để xảy ra vi phạm về ATLĐ thuộc phạm vi quản lý của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
– Nhà thầu xây dựng có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn, phổ biến các quy định vể ATLĐ Đối với một số công việc yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ thì người lao động phải có giấy chứng nhận đào tạo ATLĐ Nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được đào tạo và chưa được hướng dẫn về ATLĐ
– Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm cấp đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động, ATLĐ cho người lao động theo quy định khi sử dụng lao động trên công trường
– Khi có sự cố về ATLĐ, nhà thầu thi công xây dựng và các bên có liên quan có trách nhiệm tổ chức xử lý và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về ATLĐ, đồng thời chịu trách nhiệm khắc phục và bồi thường những thiệt hại do nhà thầu không bảo đảm ATLĐ gây ra
– Nhà thầu thi công xây dựng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm về môi trường cho người lao động trên công trường và bảo vệ môi trường xung quanh, bao gồm có biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và thu dọn hiện trường Đối với những công trình xây dựng trong khu vực đô thị, phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải đưa đến đúng nơi quy định
Trang 40về môi trường có quyển đình chỉ thi công xây dựng và yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng biện pháp bảo vệ môi trường
– Người để xảy ra các hành vi làm tổn hại đến môi trường trong quá trình thi công xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra
2.3 Phân tích những nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong công tác quản
lý chất lượng thi công công trình thủy lợi
Sự phát trển kinh tế xã hội trở thành nguồn lực to lớn thúc đẩy sự phát triển đô thị về
mặt hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở, đặc biệt là nhà chung cư cao tầng, tòa nhà văn phòng, bệnh viện, trường học, khu vui chơi, giải trí…Bên cạnh sự phát triển như vậy, vấn đề chất lượng công trình xây dựng là yếu tố then chốt mang tính quyết định cần phải được chú trọng một cách kịp thời và sâu sắc Hiện nay, trong phạm vi cả nước, các phương tiện thông tin đại chúng đã có nhiều cảnh bảo về sự xuống cấp nhanh chất lượng của một số công trình xây dựng như: nhà ở chung cư, bệnh viện, trường học,…Lẽ tự nhiên, xã hội không chấp thứ phẩm, hoặc phế phẩm trong việc thi công xây dựng Công trình cần đảm bảo chất lượng và an toàn khi sử dụng Tuổi thọ
và tính hiệu quả của công trình phụ thuộc vào chất lượng xây dựng công trình Bất cứ
sự yếu kém về chất lượng xây dựng, không đảm bảo an toàn trong sử dụng đều có thể gây thiệt hại về người và tài sản
2.3.1 Nguyên nhân gián ti ếp
1 Bộ máy quản lý nhà nước
Bộ máy quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng còn thiếu năng lực: Ở cấp
tỉnh, các Sở có bộ phận quản lý về công trình xây dựng chuyên ngành chưa có bộ phận chuyên trách đủ số lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý chất lượng Ở
cấp huyện, tỷ lệ kỹ sư có chuyên ngành về xây dựng chưa tới 50%, số cán bộ trái ngành nghề chiếm tới 20% Ở cấp xã, không có cán bộ chuyên môn kỹ thuật, người
phụ trách kiêm nhiều lĩnh vực, không được đào tạo nghiệp vụ