ĐÀO THANH HẢI NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ CHỐNG THẤM NGƯỢC ĐỂ XỬ LÝ RÒ RỈ VÀ THẤM NƯỚC CHO CÁC CẤU KIỆN BÊ TÔNG TRONG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT... Sau quá trình thu
Trang 1ĐÀO THANH HẢI
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ CHỐNG THẤM NGƯỢC ĐỂ XỬ LÝ RÒ RỈ VÀ THẤM NƯỚC CHO CÁC CẤU KIỆN BÊ TÔNG TRONG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
ĐÀO THANH HẢI
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ CHỐNG THẤM
CẤU KIỆN BÊ TÔNG TRONG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
Chuyên ngành : Xây dựng công trình thủy
Mã số : 60 – 58 – 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.DƯƠNG ĐỨC TIẾN
PGS.TS.LÊ MINH
Hµ Néi - 2010
Trang 3TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT HÀ NÔI 2010
Ví dụ:
PHẠM VĂN THẮNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT HÀ NÔI 2010
Trang 4Sau quá trình thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay luận văn Thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành Xây dựng công trình thủy với đề tài
“Nghiên cứu áp dụng công nghệ chống thấm ngược để xử lý rò rỉ và thấm nước cho các cấu kiện bê tông trong công trình thủy lợi” được hoàn thành
với sự giúp đỡ tận tình của Quý thầy cô giáo trong Khoa Công trình, Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học, Bộ môn Thi công, cán bộ trường Đại học Thủy lợi cùng các đồng nghiệp và bạn bè
Tác giả xin chân thành cảm ơn Quý cơ quan, các thầy, các cô và đồng nghiệp đã tạo nhiều thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Tiến sỹ Dương Đức Tiến và Phó giáo sư, Tiến sỹ Lê Minh đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện để tác giả vượt qua khó khăn, trở ngại và hoàn thành luận văn
luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện cho tác giả về mọi mặt trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu vừa qua
Tuy đã có những cố gắng nhất định, nhưng do thời gian và trình độ có hạn, luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Kính mong Quý thầy cô, Quý đồng nghiệp và bạn bè góp ý xây dựng để tác giả có thể tiếp tục học tập
và nghiên cứu hoàn thiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2010
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ……… 4
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
nước
37
poliuretan chế tạo bằng phương pháp một giai đoạn
40
poliuretan
41
bêtông
42
nứt có bề rộng khác nhau (1-0,3mm; 2-0,5mm; 3-1,0mm)
46
Trang 9TT Tên hình vẽ Trang
của xi măng
53
Trang 10của hồ
53
polyme đến độ dẻo của vữa:
55
Trang 11TT Tên bảng Trang
Trang 12MỞ ĐẦU
Trong quá trình xây dựng các công trình nói chung, đặc biệt là công
trình chịu áp lực nước như thủy lợi, thủy điện nói riêng, hiện tượng thấm, rò rỉ
thường xảy ra trong cả khi thi công và quá trình quản lý vận hành, sử dụng
Hiện tượng thấm với công trình đang thi công xảy ra ở các công trình thủy
công, công trình thủy điện, công trình tích chứa, các tunel, collector, công
trình ngầm là chủ yếu Có thể nói các nguyên nhân đầu tiên là thiết kế biện
pháp thi công không phù hợp, tổ chức thi công không đảm bảo, do bảo dưỡng
bê tông, do giải quyết bài toán ứng suất nhiệt đối với bê tông khối lớn không
hợp lý Đôi khi là do vật liệu bê tông và vật liệu cấu tạo chống thấm không
phù hợp, hoặc thiết kế chống thấm không phù hợp Hiện tượng này có thể
được phát hiện ngay khi thi công hạng mục đó, cũng có khi hạng mục đó bắt
đầu đưa vào làm việc với yêu cầu chống thấm Khi đó cần xác định chính xác
nguyên nhân, ngăn ngừa các phát sinh tương tự và thực hiện xử lý chống
thấm xong mới tiếp tục thi công tiếp
Hiện tượng thấm thường xảy ra ở phần nền và vai đập do khoan phụt,
xử lý chưa tốt, phần khe co giãn giữa các đốt thi công, phần khe co, mạch
ngừng thi công bê tông, phần đáy của hố thu nước, có thể thấm do chất lượng
hoặc mác chống thấm bê tông không đảm bảo như bê tông bị rỗ, nứt Cũng có
thể do bảo dưỡng bê tông không tốt gây nứt Đôi khi do thiết kế lựa chọn các
lớp áo chống thấm không phù hợp, hoặc cấu tạo không phù hợp Hiện tượng
này có thể nói xảy ra ở hầu hết các công trình với các mức độ khác nhau
Xong đối với công trình thủy công, thủy điện, cần đặc biệt coi trọng công tác
đánh giá và phải sửa chữa triệt để thấm, tránh nguy cơ gây sự cố lớn
Đối với công trình đã sử dụng một thời gian mà bị thấm, nguyên nhân
cần xem xét là các nguyên nhân biến dạng dưới tải trọng: Lún, chênh lún, có
các tải trọng phụ gia tăng quá mức, tải trọng biến đổi, phương tác dụng của tải
Trang 13trọng thay đổi; nguyên nhân thứ 2 là các nguyên nhân về sự làm việc của kết
cấu bê tông trong điều kiện môi trường: các công trình qua khai thác, sử dụng
nhiều năm chịu tác động của sự thay đổi độ ẩm, nhiệt độ, gió, bức xạ mặt trời,
môi trường nước, tải trọng tác động ở mỗi mùa, mỗi vùng khác nhau, tác
động trực tiếp lên công trình, cụ thể như: co cứng gây nứt, phản ứng kiềm
silic, rỉ cốt thép, ăn mòn sunphát, biến dạng do thay đổi nhiệt độ, độ ẩm của
môi trường,…; nguyên nhân thứ 3 do hư hỏng lớp vật liệu chống thấm bổ
sung: thủng, rách, lão hóa, bị bong rộp, bị rỉ các gioăng, bị mối ăn thủng
gioăng, các vật liệu chèn khe hết đàn hồi và khả năng bám dính
Hiện tượng thấm, rò rỉ trong công trình gây nhiều bất lợi trong quá
trình khai thác, quản lý vận hành như ảnh hưởng đến độ an toàn, tuổi thọ công
trình, ảnh hưởng đến an toàn lao động, tâm lý, sức khỏe của công nhân vận
xử lý khắc phục trong công tác sửa chữa, quản lý vận hành tốn kém
Vì vậy trong ngành xây dựng, chuyện thấm dột được ví là bệnh “ung
thư” Chỉ tính trong 10 năm qua, đã có hàng trăm hội thảo quy mô khác nhau
để bàn về chủ đề này Gần đây, tháng 12.2006 tại Hà Nội có hội thảo khoa
học toàn quốc về “Bệnh nhiệt đới của công trình kiến trúc - công nghệ và giải
pháp” do Viện kiến trúc nhiệt đới, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và Bộ
Xây dựng tổ chức, việc xử lý chống thấm đã được nêu ra Việc bị tác động và
triển mạnh trong 5 năm trở lại đây Ông Cao Thành Thái, Phó giám đốc điều
năm làm chống thấm và nhận thấy: “hầu hết các công trình xây trong 10 năm
cuối thế kỷ trước đều đã bị thấm”
Thực tế các công trình đã được xây dựng thủy điện, thủy lợi, đường
hầm đã chứng minh đa số các công trình đã xảy ra các hiện tượng rò rỉ, thấm
Trang 14Tình trạng nước thấm với mức độ nước thấm nhiều ít khác nhau, nhẹ thì thấm
từng mảng hoạc rò rỉ ướt bề mặt, nặng thì nước phun từng dòng qua lỗ rỗng
hoặc vết nứt với lưu lượng khác nhau Phương pháp thường dùng để xử lý rò
rỉ, thấm trước đây là hạ mực nước xung quanh, đục bỏ phần bê tông xấu để
trát lớp vữa mới sau đó khoan phụt xi măng để tăng chống thấm Ở những chỗ
rò rỉ mạnh, việc sửa chữa chống thấm theo phương pháp thông thường như
phụt vữa xi măng, trát chống thấm không đạt hiệu quả Đối với một số công
trình ngầm như tuynen, cống dưới đập, tầng ngầm trạm bơm, buồng xoắn của
tuốc bin thủy điện, đặc biệt đối với các công trình dưới sâu, việc khai móng
hoặc phá dỡ một phần công trình để, việc tháo cạn nước phía thượng lưu để
sửa chữa là không cho phép hoặc rất khó khăn, phức tạp, tốn kém và mất
nhiều thời gian làm ảnh hưởng tới hiệu quả phục vụ sản xuất của công trình
Ở nước ta, công nghệ xử lý chống thấm công trình phát triển qua các
thời kỳ như sau: Từ 1990 trở về trước chủ yếu dùng công nghệ khoan phụt xi
măng, từ năm 1990 trở lại đây bắt đầu nghiên cứu giải pháp chống thấm
ngược Đối với kết cấu bê tông và bê tông cốt thép chịu áp lực nước thường
sử dụng các phương pháp: Công nghệ bơm ép hồ xi măng, công nghệ bơm
vữa xi măng, công nghệ chặn nước bằng vữa cứng rất nhanh Các phương
điểm là chỉ thích hợp xử lý các kết cấu chịu áp lực nước thấm thấp, thời gian
thi công kéo dài
Vì vậy việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp, công nghệ chống thấm mới
khắc phục các nhược điểm trên để ứng dụng trong xử lý chống thấm, rò rỉ
nước cho các cấu kiện bê tông, bê tông cốt thép chịu áp lực nước cao là rất
cần thiết Việc sử dụng công nghệ mới để chống thấm cho công trình nhằm
khắc phục những khó khăn, hạ thấp chi phí và rút ngắn thời gian trong công
tác sửa chữa công trình đã được các nhà khoa học nghiên cứu và đề ra đó là
Trang 15phương pháp xử lý chống thấm ngược Xử lý chống thấm ngược là xử lý rò rỉ,
thấm có thể tiến hành từ phía hạ lưu mà không cần hạ thấp mực nước phía
thượng lưu Nó ngược với quy trình chống thấm thông thường (chống thấm từ
phía thượng lưu), nên chúng ta gọi là phương pháp chống thấm ngược
Hiện nay công nghệ phụt chặn nước bằng poliuretan và trát thấm bằng
vữa đặc biệt đã được công ty SCOTT VIKE giới thiệu tại Việt Nam từ năm
1996 song với chi phí nhập khẩu thiết bị và vữa cho công nghệ lớn cho nên
chưa được áp dụng rộng rãi ở nước ta Đến nay các nhà khoa học trong nước
đã nghiên cứu thành công việc chế tạo thiết bị trong công nghệ nói trên bằng
các nguồn vật liệu trong nước kết hợp với nhập khẩu Về giá thành chế tạo
thiết bị phụt có thể giảm giá 50-60%, về chế tạo vữa trát có thể giảm giá
khoảng 80% so với nhập khẩu Vì vậy việc áp dụng rộng rãi công nghệ phụt
chặn nước bằng poliuretan và trát thấm bằng vữa đặc biệt để xử lý rò rỉ và
thấm nước đối với công trình thủy lợi nói chung và các công trình chịu áp lực
nước nói riêng là rất hiệu quả, góp phần nâng cao tuổi thọ công trình, đảm
bảo vệ sinh, an toàn trong công tác quản lý vận hành, phát huy hiệu quả sản
xuất của công trình cần được triển khai thực hiện
Trang 16CHƯƠNG 1:
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Mục tiêu của đề tài
Công nghệ chống thấm ngược đã được một số công ty nước ngoài giới
thiệu tại Việt Nam Sau khi dùng thử chúng tôi thấy có kết quả tốt Tuy vậy,
do toàn bộ vật liệu, thiết bị phải nhập ngoại từ nước ngoài nên giá thành cao,
lại không chủ động được thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ thi công và sửa
chữa
Ở nước ta, từ năm 2005 các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học Thủy
chế tạo và thử nghiệm thành công vữa trát chống thấm và thiết bị phụt
poliuretan để xử lý rò rỉ và thấm nước Tuy nhiên, hiện nay công nghệ này
chưa được áp dụng rộng rãi trong công tác sửa chữa các công trình chịu áp
lực nước nói chung và công trình thủy lợi nói riêng
Vì vậy, mục tiêu của đề tài là nghiên cứu áp dụng nghệ chống thấm
ngược đối với điều kiện nước ta để xử lý các công trình chịu áp lực nước mà
không cần hạ mực nước thượng lưu, góp phần hiện đại hóa, đẩy nhanh tiến độ
thi công, nâng cao hiệu quả xử lý, tiết kiệm chi phí trong công tác sửa chữa,
nâng cấp, kéo dài tuổi thọ của công trình
1.2 Nội dung nghiên cứu
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
Trang 17- Phương pháp tổng hợp phân tích: Dựa vào các tài liệu tham khảo, các
catalo của các công ty nước ngoài và kinh nghiệm sửa chữa công trình của
Việt Nam để chọn lựa thiết bị chống thấm ngược phù hợp với điều kiện ở Việt
Nam
phòng thí nghiệm, xác định được các thông số về tỷ lệ vật liệu phụt, chế độ
phụt, thành phần vữa trát chống thấm bề mặt…để đưa ra áp dụng công trình
thực tế
Thiết bị sử dụng cho nghiên cứu là các thiết bị có sẵn trong phòng thí
nghiệm Vật liệu xây dựng và thí nghiệm hóa của Viện Khoa học Thủy lợi và
Viện Hóa quân sự
Các thí nghiệm tính chất vật liệu đầu vào như: Xi măng, cát đá, phụ
gia…cũng như tính chất của bê tông và vữa được tiến hành theo tiêu chuẩn
Việt Nam hoặc tiêu chuẩn Ngành Trường hợp không có tiêu chuẩn, phương
pháp thí nghiệm sẽ được trình bày ở từng phần có liên quan
Tiêu chí để đánh giá kết quả xử lý chống thấm là bề mặt bê tông sau
khi xử lý trở nên khô trắng như các vùng bê tông không bị hư hỏng
Hiệu quả kinh tế kỹ thuật của biện pháp xử lý được đánh giá trên các
mặt: tính khả thi trong điều kiện Việt Nam, thời gian thi công, giá thành
Trang 18CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT BỊ
DÙNG ĐỂ CHỐNG THẤM NGƯỢC 2.1 Tình hình nghiên cứu chống thấm ngược ở nước ta
Trên thế giới, trong các loại vật liệu xây dựng con người làm ra, bê
tông thuộc loại sản phẩm được sử dụng rộng rãi nhất Các loại công trình dân
dụng, giao thông, thủy lợi, thủy điện v.v… bằng bê tông và bê tông cốt thép
có ở khắp nơi Hàng năm trên trái đất, lượng bê tông sản xuất ra khoảng tấn
trên trung bình mỗi đầu người Trong tương lai bê tông và bê tông cốt thép
vẫn là loại vật liệu chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng
nghìn tỷ đô la Mỹ cho công tác sửa chữa công trình bê tông Như vậy có thể
thấy rằng, còn rất nhiều vấn đề tồn tại xung quanh việc chế tạo và sử dụng
chúng: từ góc độ tư vấn –thiết kế, trình độ thi công, đến việc lựa chọn vật liệu
xây dựng và khả năng thích ứng của chúng trước các loại môi trường ăn
mòn.v.v…
Trong tổng thể đó, các công việc phục hồi, sửa chữa các công trình bê
tông bị thoái hóa hay hư hỏng và kéo dài tuổi sử dụng của chúng đã ngày
càng có tỷ trọng lớn hơn Ở các nước Bắc Mỹ, đầu tư từ lĩnh vực này đã tăng
từ 25% lên 50% kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, trong 4 thập kỷ vừa qua
Tình hình trên ở các nước cũng đúng với hoàn cảnh của nước ta Nó
còn cấp bách hơn ở chỗ sau rất nhiều năm chiến tranh và nhiều năm xây dựng
trong điều kiện kinh tế khó khăn, số phần trăm công trình bê tông và bê tông
cốt thép bị hư hỏng hoặc bị thoái hóa của chúng ta có nhiều hơn họ và chúng
ta lại chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong công tác sửa chữa
Trang 19Về tình hình xây dựng các công trình thủy lợi ở nước ta: theo những tài
liệu thống kê mà chúng tôi thu thập được, tính đến cuối năm 1995, nước ta đã
có 75 hệ thống công trình thủy lợi lớn và trung bình (chưa kể một số hệ thống
do Tổng Công ty Điện lực Việt Nam quản lý như Thác Bà, Hòa Bình, Trị An
) gồm 650 đập vừa và lớn, trên 3.500 hồ đập nhỏ, 1.000 công trình tưới tiêu
lớn, 2.000 trạm bơm với công suất lắp máy 250.000 Kw, đồng bằng sông Cửu
Long có hàng ngàn ki lô mét kênh rạch, bờ ao chống lũ Tài sản cố định ước
tính khoảng hơn 20.000 tỷ đồng theo thời giá năm 1992 Trong tài sản đó, dễ
dàng thấy giá trị các công trình bằng bê tông và bê tông cốt thép là rất lớn
Dựa vào nhiệm vụ và đặc điểm kết cấu, có thể chia các công trình bê
Đập dâng được xây dựng trên có sông suối nhằm dâng cao mức nước
tự nhiên, chuyển một phần hoặc toàn bộ dòng chảy vào hệ thống kênh tưới Ở
nước ta, ngoài các dập dâng vừa và nhỏ xây dựng trên các nhánh sông suối ở
miền núi, có 8 hệ thống Thủy lợi lớn và đầu mối là đập dâng, gồm:
Tổng diện tích tưới do các hệ thống này đảm nhiệm khoảng 250.000ha
Tổng số các đập trên, có 2 đập Cầu Sơn và Đồng Cam là kết cấu đá
xây, số còn lại là các đập bê tông Hệ thống Thác Huống có 2 đập dâng là
Trang 20Thác Huống và Đá Gân Trừ đập Thạch Nham mới được xây dựng, các đập
đều đã được đưa vào khai thác 60 ÷ 70 năm Kết cấu đập thường là ở dạng
đập Ôphixêrôp không chân không
Do làm nhiệm vụ dâng nước, các đập thường xuyên phải chịu áp lực
cao; chịu tác động trực tiếp của dòng chảy mặt – đặc biệt trong mùa lũ, sự va
đập của vật nổi và tác động của dòng thấm qua đập Một số đập trong thời
gian nước kiệt không có dòng chảy tràn qua đỉnh đập, bê tông mặt đập chịu
tác động trực tiếp của nắng, mưa, nhiệt độ và các tác nhân phong hóa khác
Về mặt kết cấu, duy chỉ có ở đập Đô Lương, các hầm phao có kết cấu
mỏng, các đập khác đều ở dạng khối, tảng, đặc, chắc
Bên cạnh các đập lớn, ở các tỉnh miền núi và các tỉnh duyên hải miền
Trung còn có nhiều đập dâng nhỏ Đồng thời dạng công trình này còn đang
được phát triển mạnh mẽ theo tốc độ kiên cố hóa các công trình tạm ở các
tỉnh miền núi
Hồ chứa nước là công trình thủy lợi khai thác tổng hợp được xây dựng
nhiều ở nước ta Chỉ tính riêng các hồ chứa cung cấp nước tưới đã đưa vào
khai thác, tính đến năm 1993 cả nước có khoảng 450 hồ (loại W trữ lượng > 1
Các cống lấy nước thường được xây dựng dưới đập đất, đặt trực tiếp trên nền
(đất, đá) tự nhiên Hầu hết công trình đều có tháp trong đó bố trí cửa van điều
tiết và thiết bị đóng mở, mặt cắt ngang thường là các đường ống tròn d = (1 ÷
kiểm tra Ở loại cống này chế độ chảy thường là có áp và cửa van điều tiết
được bố trí ở hạ lưu
Do có chiều dài lớn, thân cống được cắt thành các đoạn từ 15 ÷ 20m
được ghép nối bằng các khớp nối kín nước
Trang 21Cống lấy nước dưới đập thường chịu tác động trực tiếp của dòng chảy
với vận tốc lớn; của dòng thấm với áp lực cao; của các yếu tố xâm thực của
nước hồ Đoạn cống sau tháp cống chịu rung động và đôi khi bị phá hoại do
hình thành áp lực chân không trong quá trình cống làm việc
Các loại tràn xả lũ của các hồ chứa được xây dựng ở nước ta thường
gồm 3 bộ phận:
- Phần tiêu năng: Có thể là bể tiêu năng hoặc tiêu năng kiêm mũi
phun tạo hố xói sau tràn
Đặc trưng làm việc của tràn xả lũ biểu hiện ở 3 yếu tố:
Với các hồ đã được xây dựng ở nước ta (do ngành Thủy lợi quản lý) có
hồ trang bị cửa van điều tiết ở tràn xả lũ
Với trên 5.500km đê sông và khoảng 2.000km đê biển, ở nước ta đã có
trên 1.000 cống dưới đê lớn làm nhiệm vụ lấy nước tưới, tiêu nước hoặc tưới
tiêu kết hợp Ngoài ra còn có rất nhiều các cống điều tiết, cống thông nước
trên các hệ thống kênh mương Các cống có thể là cống lộ thiên hoặc ở dạng
cống ngầm Về điều kiện làm việc, các cống dưới đê thường phải chịu tác
động của nước lũ, các cống dưới đê biển và vùng cửa sông chịu tác động của
nước mặn
5 Các công trình dẫn nước trên kênh: Cầu máng, cống luồn, tuynen
6 Các trạm bơm
Trang 22Nước ta hiện đã có trên 2.000 trạm bơm tưới, tiêu cố định Nhà các
trạm bơm lớn thường có kết cấu bằng bê tông cốt thép (gồm nhà trạm, bể hút,
bể xả) Trừ một số trạm bơm lớn của hệ thống thủy nông Bắc Nam Hà, công
trình trạm bơm được bố trí theo kết cấu khối tảng bể xả liền tường nhà máy
3
P/ha, bể xả tách rời tường nhà máy Với các trạm bơm lớn, tường nhà máy buồng bơm luôn chìm sâu dưới
mức nước cần được gia cố chống thấm
Trong các công trình bê tông và bê tông cốt thép nói trên, nhiều cái đã
xây dựng từ lâu (có cái từ thời Pháp và đã hơn 70 năm), nhiều cái chịu bom
đạn chiến tranh, nhiều cái đã xây dựng từ lâu (có cái từ thời Pháp và đã hơn
70 năm), nhiều cái chịu bom đạn chiến tranh, nhiều cái xây dựng trong các
điều kiện khó khăn nhiều mặt hoặc thi công kém nên số lượng các công
phải ít
Trang 23Hình 2.2: Ảnh bê tông bị bào mòn
Để tiếp tục khai thác các công trình đã có, trong đó các công trình bê
tông và bê tông cốt thép thường là các công trình đầu mối của hệ thống, có vị
trí khá cốt yếu Từ đó, có thể thấy là công tác theo dõi, vận hành, sửa chữa kịp
thời các hư hỏng trong các công trình bê tông và bê tông cốt thép để có thể
kéo dài tuổi làm việc của chúng nói riêng, của các hệ thống công trình thủy
lợi nói chung, có ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật rất quan trọng
2.1.2 Thấm và nguyên nhân gây thấm trong công trình
a) Thấm trong công trình
Hiện tượng thấm với công trình đang thi công xảy ra với các công trình
thủy công, công trình thủy điện, công trình tích chứa, các tunel, collector,
công trình ngầm là chủ yếu Có thể nói các nguyên nhân đầu tiên là thiết kế
biện pháp thi công không phù hợp, tổ chức thi công không đảm bảo, do bảo
dưỡng bê tông, do giải quyết bài toán ứng suất nhiệt đối với bê tông khối lớn
không hợp lý Đôi khi là do vật liệu bê tông và vật liệu cấu tạo chống thấm
không phù hợp, hoặc thiết kế chống thấm không phù hợp Hiện tượng này có
thể được phát hiện ngay khi thi công hạng mục đó, cũng có khi hạng mục đó
bắt đầu đưa vào làm việc với yêu cầu chống thấm Khi đó cần xác định chính
Trang 24xác nguyên nhân, ngăn ngừa các phát sinh tương tự và thực hiện xử lý chống
thấm xong mới tiếp tục thi công tiếp
Hiện tượng thấm thường xảy ra ở phần nền và vai đập do khoan phụt,
xử lý chưa tốt, phần khe co giãn giữa các đốt thi công, phần khe co, mạch
ngừng thi công bê tông, phần đáy của hố thu nước, có thể thấm do chất lượng
hoặc mác chống thấm bê tông không đảm bảo như bê tông bị rỗ, nứt Cũng có
thể do bảo dưỡng bê tông không tốt gây nứt Đôi khi do thiết kế lựa chọn các
lớp áo chống thấm không phù hợp, hoặc cấu tạo không phù hợp Hiện tượng
này có thể nói xảy ra ở hầu hết các công trình với các mức độ khác nhau
Xong đối với công trình thủy công, thủy điện, cần đặc biệt coi trọng công tác
đánh giá và phải sửa chữa triệt để thấm, tránh nguy cơ gây sự cố lớn
Đối với công trình đã sử dụng một thời gian mà bị thấm, nguyên nhân
cần xem xét là các nguyên nhân biến dạng dưới tải trọng: Lún, chênh lún, có
các tải trọng phụ gia tăng quá mức, tải trọng biến đổi, phương tác dụng của tải
trọng thay đổi; nguyên nhân thứ 2 là các nguyên nhân về sự làm việc của kết
cấu bê tông trong điều kiện môi trường cụ thể: co cứng gây nứt, phản ứng
kiềm silic, rỉ cốt thép, ăn mòn sunphát, biến dạng do thay đổi nhiệt ẩm của
môi trường,…; nguyên nhân thứ 3 do hư hỏng lớp vật liệu chống thấm bổ
sung: thủng, rách, lão hóa, bị bong rộp, bị rỉ các gioăng, bị mối ăn thủng
gioăng, các vật liệu chèn khe hết đàn hồi và khả năng bám dính
Để sửa chữa cũng cần đánh giá chính xác nguyên nhân để đề xuất biện
kiện làm việc của kết cấu chống thấm Việc chống thấm khi công trình đã làm
việc là khó khăn, tốn nhiều thời gian và kinh phí Có thể ảnh hưởng đến sự
làm việc bình thường của công trình, và phải do những đơn vị chuyên ngành
thực hiện
Trang 25b) Phân tích các nguyên nhân gây thấm trong công trình bê tông và bê
tông cốt thép
“Tính bền chắc” (Durability) của bê tông là từ quy ước nói về khả năng
duy trì yêu cầu làm việc của một sản phẩm, một cấu kiện, một bộ phận công
trình hay của cả công trình, trải dài qua thời gian thiết kế quy định Tính thấm
nước được xác định là chìa khóa để bê tông có tính bền Vì vậy, các yếu tố
ảnh hưởng đến tính bền chắc của bê tông có thể được xem là nguyên nhân gây
4 loại chính là: 1- Do công tác thi công; 2- Do nguyên nhân thiết kế; 3-Do
tính chất vật liệu; 4- Do điều kiện tiếp xúc môi trường Sau đây chúng ta đi
sâu vào phân tích cụ thể các yếu tố trên:
1 Do công tác thi công
Quy trình thi công không đúng hoặc sơ suất đều dẫn đến bê tông kém
chất lượng Các yếu tố về vận chuyển, đổ bê tông, kỹ thuật hoàn thiện, cách
bảo dưỡng không hợp cách nằm trong nhóm này
Lún của móng do trước đó không gia cố đủ, di chuyển của ván khuôn
do lắp ráp không tốt, đầm không hợp cách, có thể dẫn đến nứt trong bê tông
cứng hóa
Nứt do lún cục bộ tại móng phát sinh nếu có các túi mềm ở tầng phía
dưới chỗ đổ bê tông
Nứt do ván khuôn di chuyển xảy ra trong thời kỳ bê tông bắt đầu cứng
hóa cho đến khi nó hoàn toàn cứng hóa Các nứt này thường ở trong, không
thể thấy được khi kiểm tra bê tông mặt và là các vị trí tiềm ẩn và phát sinh suy
thoái
Nứt do bê tông đầm xấu, không đủ chặt, không có các lớp liên kết giữa
động trong quá trình ninh kết bê tông là loại hay gặp
Trang 26Sau đổ bê tông lúc đầu, đầm và hoàn thiện, bê tông có khuynh hướng
tiếp tục cố kết hoặc lún xuống Vì bề mặt bê tông sẽ cứng hóa trước, nếu nó bị
kìm chế cục bộ bởi các thép hay ván khuôn thì dễ phát sinh lỗ rỗng hay nứt ở
gần sát với chỗ có lực kiềm chế Nếu cốt thép đặt dày thì thay vì nứt mặt lại
còn có thể sinh ra mặt phân cách không tốt cho việc bảo vệ cốt thép khỏi bị ăn
mòn
Làm bê tông có độ sụt cao mà dùng hỗn hợp ướt quá cũng như việc đổ
thêm nước vào khi thi công có thể làm bề mặt bê tông yếu và sẽ có khuynh
hướng bị mủn nhỏ Dùng tỷ lệ nước /xi măng cao dễ sinh ra hiện tượng tách
nước, phân tầng làm tăng độ rỗng trong bê tông, về lâu dài sẽ làm bê tông
không chống chịu tốt trước các tác nhân ăn mòn Công tác hoàn thiện bề mặt
không làm tốt là tiền đề của bong, tróc, mủn bề mặt, nứt về sau Thiếu dưỡng
hộ tốt làm cho dễ có nứt do co khô, bề mặt kém chịu mài mòn v.v…
Hỗn hợp bê tông bị tiết nước nhiều, công tác hoàn thiện bề mặt làm quá
sớm khiến bề mặt bê tông chịu khô quá nhanh, không được dưỡng hộ đủ, chịu
tông sau này bị bụi bẩn
Việc kết cấu bê tông chịu quá tải khi thi công, phải làm việc trước tuổi,
dỡ cốp pha vận chuyển cấu kiện trước hạn định đều là nguy hiểm, dễ sinh
nứt.v.v…
2 Do nguyên nhân thiết kế
Nhiều chi tiết thiết kế được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn đã không
làm việc tốt được trong thực tế Việc kiểm tra công trình chỉ ra rằng hư hỏng
đã xảy ra lặp đi lặp lại với một số chi tiết hoặc là một số hiệu quả đã xảy ra
không như thiết kế lường trước Một thiết kế không thỏa đáng, không tính đến
từ biến trong một kết cấu chịu lực (thí dụ như võng của sàn) sẽ dẫn đến chỗ
Trang 27truyền tải sang kết cấu không chịu lực (thí dụ như tường phân cách, panen lắp
chen) và hư hỏng sẽ xảy ra
Trong thiết kế mà không tính đủ đến các việc bố trí tiêu thoát nước thì
có thể vừa làm hại vẻ đẹp của kết cấu do tù đọng nước, ố bẩn, vừa làm giảm
tuổi thọ của bê tông như có thể bị xâm nhập ẩm quá mức
Thiếu sót có thể gây ra nứt gồm việc thiết kế thiếu tỉ mỉ các góc lõm,
dầm, các cấu kiện đúc sẵn; chọn lọc và bố trí cốt thép không thích hợp; có sự
kiềm chế các kết cấu phải chịu biến đổi thể tích Bố trí không hợp lý, không
đủ các khe hở sẽ làm phát sinh nứt giữa panen ở các mặt cắt chữ T của các
khe Cũng phải bố trí đủ các khe co để thích ứng được sự co khô và các
chuyển động nhiệt, khu trú các nứt lớn vào các vị trí lường trước
Thiết kế phải bao gồm cả chỉ dẫn thực hiện bê tông có khả năng chống
chịu điều kiện môi trường khi làm việc Muốn vậy người thiết kế phải có
thông tin đầy đủ về các đặc tính môi trường để chọn lựa thích đáng loại bê
tông phù hợp
3 Do tính chất của vật liệu
Chất lượng của bê tông theo góc độ bền chắc được đo bằng khả năng
chống thấm Tính chất này của bê tông đã cứng hóa được quyết định bởi hệ
thống lỗ rỗng và nó là cơ sở cho phép chống chịu được các xâm nhập hóa học
từ bên ngoài (như a xít, các bon dioxit, sunphát…), từ bên trong (như của
tương tác kiềm cốt liệu, của xi măng không tốt) và từ các tác động xấu của
môi trường có liên quan đến xâm nhập ẩm (như đóng băng, tan băng, thấm
nước…) Tính thấm bị ảnh hưởng bởi (1) Chất lượng của xi măng và cốt liệu;
(2) tỷ lệ nước/xi măng và mức độ thủy hóa; (3) Hiệu quả của sự làm chắc đặc
bê tông; (4) Kéo dài bảo dưỡng; (5) Có hay không có nứt
Phản ứng tác động lên tính thấm có thể coi như có hai loại lớn là phản
ứng bề mặt hay phản ứng bên trong Các tác động bề mặt gây phá hoại các vi
Trang 28cấu trúc bề ngoài của bê tông và vữa thường là do hiệu quả có hại của các môi
trường ăn mòn Phá hoại bên trong có thể sinh ra bởi cốt liệu chịu tác động
của nở lớn cùng xi măng Phá hoại bên trong này còn có thể phát sinh nếu xi
măng kém chất lượng hoặc chứa nhiều canxi oxit hoặc manhê oxit
cọ mòn, xói mòn, khí thực và trạng thái ứng suất của dạng truyền sóng (sóng
va vật lý) Khả năng chống chịu các lực này phụ thuộc vào chất lượng của bê
tông Bê tông có cường độ cao, mật độ cao, tính rỗng thấp, tính thấm thấp có
khả năng chống chịu tốt tác động vật lý và ít hư hỏng nhiều năm
4 Do điều kiện tiếp xúc môi trường
Điều kiện tiếp xúc môi trường (exposure conditions) là kể từ các loại
công trình công sở, văn phòng có bao che cho đến các môi trường khắc
nghiệt, nóng, tích muối Người tư vấn thiết kế và người thi công phải biết về
các điều kiện làm việc sau này của công trình, các yếu tố ảnh hưởng của môi
trường và chỉ khi đó mới thiết kế được loại bê tông làm việc tốt, bền chắc
Chống thấm nước là một trong những yêu cầu đầu tiên của bê tông các
công trình ngầm Phương pháp chống thấm tốt nhất cho bê tông là làm cho nó
được kín nước bằng cách giảm khả năng thấm nước của nó Để cho bê tông
khó khả năng chống thấm nước tốt tức là phải tạo ra một loại bê tông có độ
đặc chắc cao ngay từ khi thiết kế, ngoài việc lựa chọn cấp phối thành phần
hạt cốt liệu hợp lý, sử dụng phụ gia siêu dẻo và những phụ gia khoáng mịn
hoạt tính để lấp đầy các lỗ rỗng, tăng cường độ ở tuổi dài ngày thì phải cần
khống chế tỷ lệ N/X sao cho thấp nhất có thể Tuy vậy, bê tông các công trình
ngầm khi làm việc thứờng xuyên tiếp xúc với nước, những chỗ gián đoạn như
các khớp nối sẽ là cửa ngõ để nước dễ thâm nhập vào Tuỳ thuộc vào mức độ
khắc nghiệt của môi trường xung quanh mà bê tông sẽ bị xâm thực và dẫn đến
Trang 29hư hỏng Mặt khác trong quá trình vận hành của các công trình ngầm thường
hay xảy ra các hiện tượng hư hỏng như nứt, tiết vôi rồi sau nước sẽ thấm
thành dòng Các khe nứt bắt đầu được mở rộng Chính vì vậy các công trình
xây dựng, nhất là công trình ngầm cần phải được sửa chữa các hư hỏng càng
sớm càng tốt…
Xử lý chống thấm nói chung và xử lý chống thấm ngược nói riêng cho
các kết cấu bê tông và bê tông cốt thép các công trình ngầm đã và đang được
phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của ngành hoá chất, vật liệu
xây dựng và kỹ thuật thi công sửa chữa các công trình Giải pháp sửa chữa
chống thấm cho các công trình ngầm là giải pháp chống thấm ngược và được
xem như một giải pháp giải quyết tương đối tổng thể nhất hiện nay Tuy nhiên
với công nghệ sửa chữa chống thấm và bê tồng cốt thép lại cần phải có các
loại vật liệu đặc biệt phù hợp cho từng công nghệ
Định kỳ có Hội nghị quốc tế về áp dụng công nghệ tiên tiến để sửa
chữa, nâng cấp các kết cấu công trình khác nhau
Ở nước ta, công nghệ sửa chữa chống thấm công trình phát triển qua
các mốc sau đây:
Thời kỳ từ 1990 trở về trước: Xử lý chống thấm kết cấu bê tông và bê
tông cốt thép chủ yếu dùng khoan phụt vữa xi măng để tăng độ đặc chắc, kết
hợp với xử lý trát chống thấm bề mặt bằng các loại vữa xi măng cát mác cao
Từ 1990 trở lại đây, nhờ tiếp cận với công nghệ tiên tiến chúng ta bắt
đầu nghiên cứu sử dụng các vật liệu và thiết bị của nước ngoài để sửa chữa
chống thấm cho các công trình khác nhau theo phương pháp chống thấm
ngược
Đối với kết cấu bê tông và bê tông cốt thép chịu áp lực nước, cho đến
nay chúng ta thường sử dụng các phương pháp sau đây:
Trang 30a) Công nghệ bơm ép hồ xi măng
Công nghệ này gồm các bước như sau: (hình 2.3)
đường dẫn thoát nước
trì áp lực không cho nước đẩy hồ xi măng trôi ra cho tới khi hồ đóng rắn
Trong công nghệ bơm ép hồ xi măng thường dùng xi măng PC30 với tỷ
lệ N/X=0,6, độ chảy của hồ 20-25cm Hiện nay thường pha thêm phụ gia nở
vào lớp bê tông phản áp và hồ xi măng để tránh nứt tách do co ngót hoặc
dùng kết hợp với cả phụ gia siêu dẻo để tăng độ chảy, tăng khả năng thâm
nhập của hồ vào các chỗ nứt, rỗng của bê tông Áp lực bơm ép khoảng từ 3
đến 8atm Cường độ của hồ sau khi đóng rắn ở tuổi 28 ngày xấp xỉ
2
P
B¦ í C 3 B¦ í C 4
THIÕT BÞ B¥ M
VÕT NøT
Rç -Há NG B£ T¤ NG
V1
V2
Trang 31Ưu điểm: Công nghệ đơn giản, sử dụng thiết bị khoan phụt hồ xi măng
vết nứt nhỏ, thấm ẩm hoặc thấm ướt bề mặt Bề rộng vết nứt từ 0,2-0,5mm
Nhược điểm: Thời gian thi công lâu do phải chờ hồ xi măng đóng rắn
mới có thể chặn được nước để thi công các bước tiếp theo Không phù hợp để
chống thấm khi có áp lực cao, nước phun thành tia
Hiện nay Việt Nam đã hoàn toàn làm chủ công nghệ này
Các bước tiến hành sửa chữa cũng tương tự như bơm ép hồ xi măng
Điểm khác biệt là vật liệu hồ xi măng được thay bằng vữa xi măng cát mịn có
siêu dẻo để làm tăng độ chảy của vữa, phụ gia hoạt tính để làm tăng độ đặc
chắc (muội silic hoặc tro trấu), phụ gia nở để chống co ngót nứt tách giữa vữa
mới với bê tông cũ Khi dùng xi măng PC40, cường độ của vữa dùng để bơm
Thiết bị dùng bơm ép vữa xi măng là máy bơm tay kiểu pít tông hoặc
máy bơm màng, đảm bảo áp lực trung bình từ 3-5atm, tối đa 6-10atm, lưu
lượng bơm 5-20 lít/phút Nếu sửa chữa lớn, có thể dùng loại bơm guồng xoắn
đạt áp lực bơm tối đa là 25atm, lưu lượng bơm lớn
Ưu điểm: Sử dụng vật liệu sẵn có trên thị trường (xi măng và các loại
phụ gia) Thiết bị bơm tay gọn nhẹ, cơ động, dễ len lỏi vào các ngóc ngách
công trình Phù hợp cho sửa chữa các khuyết tật, rỗng hổng lớn hoặc vết nứt
trên 0,5mm, nước thấm thành dòng yếu
Nhược điểm: Giống như bơm ép hồ xi măng, công nghệ bơm ép vữa xi
măng cũng phải chờ cho vữa xi măng đóng rắn, nên thời gian chặn nước kéo
Trang 32dài tùy theo tốc độ đóng rắn của vữa xi măng nên rất khó thi công khi xử lý,
sửa chữa những chỗ thấm có dòng chảy mạnh
Đây là công nghệ một số công ty nước ngoài giới thiệu tại Việt Nam
trong vòng 10 năm gần đây Các bước tiến hành sửa chữa như sau: (hình 2.4)
thoát nước
chống thấm bề mặt các vùng xung quanh
nút ống bằng vữa cứng rất nhanh, không co ngót hoặc nở
Vật liệu là một loại xi măng đặc biệt cứng rất nhanh, kết thúc ninh kết
trong vòng 30 phút Cường độ sau 1 ngày có thể đạt 300 daN/cmP
2
P, ví dụ:
SIKA 102, BARRA RAPIT410T
Ưu điểm: Thi công đơn giản, không đòi hỏi thiết bị đặc biệt Thích hợp
chặn nước ở những chỗ lỗ thấm nhỏ, tập trung, lưu lượng không lớn
Trang 33d) Công nghệ phụt chặn nước bằng poliuretan và trát chống thấm bằng
vữa đặc biệt
Có rất nhiều công nghệ và vật liệu để sửa chữa bê tông và bê tông cốt
thép công trình ngầm như: CAF System Conclinic Advanced Fibrwrap
System; TYFO Fibrwrap System; Surtreat System; CAUW System Conclinic
Advanced Underwater Retrofit System; ARC System Acrylic Resin Chemical
System ASG Activated Silicate Grouting…Tuy nhiên công nghệ phụt chặn
nước bằng dung dịch Poliuretan và trát vữa chống thấm đặc biệt của hãng
Việt Nam Công nghệ này thích hợp cho việc sửa chữa các hư hỏng thấm
nước của các công trình ngầm chịu áp nước mà không có điều kiện hạ mực
nước bên ngoài Các loại vật liệu phục vụ cho công nghệ này đều có bán sẵn
tại Việt Nam
Tại Việt Nam, công nghệ này được công ty SCOTT VIKER giới thiệu
từ năm 1996 Bản chất của công nghệ này là sử dụng tính chất của poliuretan
trương nở khi gặp nước tạo thành nút đàn hồi chặn nước tức thời
Các bước tiến hành phụt poliuretan chặn nước như sau:
giây, poliuretan sẽ tác dụng với nước, trương nở tạo thành nút chặn dòng
Trang 34Thiết bị dùng để phụt poliuretan là các loại bơm tay kiểu pittông (hình
theo dõi áp lực khi bơm
Vật liệu tạo màng bám dính giữa bêtông và vữa chống thấm mới là các
dung dịch polime dạng sữa, ví dụ SIKALATEC (của hãng SIKA- Thụy Sỹ),
Vữa trát chống thấm đặc biệt là vữa khô trộn sẵn, đóng bao 25kg/bao
có pha phụ gia polime để tăng chống thấm (ví dụ BARRA MORTAR) Trong
trường hợp cần tăng khả năng chịu kéo để chống nứt, có thể dùng vữa có độn
vi sợi (Ví dụ: SIKA MONOTOP-R) Trong quá trình thi công, vữa cần dùng
đến đâu trộn với nước đến đó Cường độ chịu nén của vữa ở trên 28 ngày đạt
2
P Độ co ngót của vữa gần bằng 0
Ưu điểm:
- Thời gian thi công rút ngắn đáng kể do sử dụng poliuretan có khả
năng chặn nước gần như tức thời sau khi bơm phụt vào vùng rò rỉ
Trang 35- Thích hợp để xử lý chặn nước ở những nơi chịu áp lực cao, rò rỉ mạnh
thành dòng, thành tia
Hạn chế:
hỏi trình độ tay nghề khá cao
độ và ảnh hưởng đến thi công
Đối với công nghệ khoan phụt poliuretan chặn nước và trát vữa chống
thấm chúng ta đã có những tiền đề sau đây:
thiết bị để thi công phụt poliuretan chặn nước
chúng ta sẽ chủ động được một phần vật liệu phụt
vữa chống thấm, làm tiền đề cho việc chế tạo vữa đặc biệt để chống thấm bề
mặt trong công nghệ chống thấm ngược
poliuretan Từ đó có thể chế tạo ra thiết bị này ở Việt Nam với giá thành rẻ
hơn nhập ngoại
Với kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình sử dụng vật liệu và thiết
bị nhập ngoại để sửa chữa chống thấm công trình, đã đến lúc chúng ta cần
nghiên cứu sâu hơn để khắc phục các hạn chế nói trên và làm chủ công nghệ
chống thấm ngược tiên tiến này
2.2 Tính chất của poliuretan và sử dụng poliuretan trong thực tế
Trang 36Hóa học về poliuretan dựa trên nền tảng vào năm 1849 khi Wurtz và
Hofmann lần đầu tiên báo cáo về phản ứng giữa isocyanate và một hợp chất
hydroxy Nhưng mãi cho đến năm 1937 khi Otto Bayer và các cộng sự tại
phòng thí nghiệm I.G Farnen, Đức, tìm ra được ứng dụng thương mại dựa
trên phản ứng giữa hexamethylene diisocyanate và butanediol, sản phẩm có
tính chất cơ lý tương tự nylon (polyamides), ngày nay vẫn còn được sử dụng
để làm các sợi cho bàn chải Sự thiếu trầm trọng nguyên vật liệu trong chiến
tranh thế giới II (1937 – 1945) đã giúp đẩy mạnh sự phát triển nguyên liệu
poliuretan cho ngành sợi, sơn và mút xốp Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ
của lĩnh vực này xảy ra vào những năm 1950 khi người ta tìm ra nguyên liệu
mới Toluene diisocyanate (TDI) và polyester polyol để sản xuất mút mềm ở
Đức Sự nhảy vọt thực sự vào năm 1957 khi có nhiều loại polyether polyols
(poly ete) được cho vào công thức mút xốp Chúng không chỉ có giá cạnh
tranh hơn mà mút tạo ra còn có tính chất cơ lý tốt hơn các sản phẩm từ
polyester polyol (poly este) Sự phát triển mạnh mẽ hơn còn nhờ vào nhu cầu
lớn mạnh từ thị trường Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản Ngày nay poliuretan đứng
hàng thứ 6 trong tổng lượng tiêu thụ các loại polymer, với khoảng 6% thị
trường tiêu thụ Phần ứng dụng lớn nhất của uretan là mút xốp mềm (khoảng
44%), mút cứng (khoảng 28%), còn lại 28% cho ứng dụng trong sơn, keo dán,
gioăng phớt và dạng PU đàn hồi (số liệu về thị phần ứng dụng có thể khác
nhau tùy theo vùng, nước, khu vực)
Không giống như những polymer khác như là polyethylene,
polystyrene hay polyvinyl chloride … được tạo nên từ các monomer ethylene,
styrene hay vinyl chloride (vinyl clorua) , poliuretan không được tạo nên từ
các đơn vị uretan theo cách thông thường mà dựa trên phản ứng từ các
polyhydroxy như là polyether polyol với các isocyanate Nói ngắn gọn
poliuretan là những polymer chứa nhóm liên kết (-NH-CO-O-)
Trang 37Đặc trưng sản xuất và sử dụng poliuretan là có thể tạo ra những loại
mút từ rất mềm đến mềm hay mút cứng hoặc bán cứng và dạng đàn hồi
Chúng có thể tạo ra dạng khối lớn hay đổ vào các khuôn có hình dạng và kích
thước khác nhau
Nguyên liệu chính để tạo thành poliuretan là isoxyanat Cơ sở lý thuyết
về hóa học các hợp chất isoxyanat và những dẫn xuất của chúng
Các hợp chất isoxyanat chứa nhóm –N=C=O (-NCO) có mức độ chưa
no cao nên dễ dàng tham gia phản ứng với nhiều hợp chất khác (nước,
polyeste, polyete, rượu, amin, axit cacboxylic ) và có thể tự phản ứng với
nhau Dưới đây trình bày vắn tắt phản ứng hóa học của isoxyanat với các chất
liên quan trong quá trình tạo thành poliuretan
Nước có trong thành phần polyeste và các chất khác khi gặp isoxyanat
sẽ tạo ra phản ứng tạo thành amin và thoát ra khí COR 2 R Amin ngay lập tức lại
phản ứng với isoxyanat với tốc độ lớn hơn so với nước, tạo thành dẫn xuất urê
Trang 38Phản ứng (4) xảy ra chậm nhưng có khả năng khâu mạng các mạch
bị xốp
Phản ứng của axít cacboxylic (thường có trong thành phần polyeste
amin bị thế:
Phản ứng isoxyanat với nhóm hydroxyl của ancohol tạo thành uretan là
phản ứng cộng hợp:
0
P
C
của rượu bậc 2 chậm hơn 3 lần, của rượu bậc 3 chậm hơn 2.000 lần so với
rượu bậc 1
isoxyanat, nhưng kém hơn urê bị thế Phản ứng của uretan với isoxyanat có
tốc độ tương đối
RNCO + RNHCOOR’ → RNCOOR’
CONHR Toàn bộ các phản ứng từ (1) đến (7) được xúc tác bởi kiềm và amin
bậc 3
Từ các phản ứng tạo thành poliuretan đã trình bày ở trên cho thấy
poliuretan có thể chứa các nhóm rất khác nhau như: uretan, este, axit, ete, urê
và gốc hydrocacbon thơm, hydrocacbon không no Các nhóm este làm cho
mạch polime mềm dẻo, còn gốc thơm tạo ra độ cứng Các nhóm este và gốc
Trang 39thơm trong mạch phân tử lớn có lực tương tác giữa các phân tử vừa phải, còn
nhóm uretan và urê tạo khả năng lực tương tác giữa các đại phân tử rất lớn
2.2.3 Ứng dụng poliuretan trong thực tế
Ban đầu poliuretan được dùng phổ biến làm keo dán Keo poliuretan
được sử dụng lần đầu tiên ở Đức trong chiến tranh thế giới thứ II, tiếp đó nó
được nghiên cứu và phát triển mạnh ở Đức, Mỹ, Anh và Liên Xô cũ Keo PU
có độ bền và tính bám dính rất cao, được dùng để dán các kim loại với nhau
và hàng loạt vật liệu phi kim loại trong ngành hàng không và nghiên cứu vũ
trụ
Hiện nay trên thế giới có hơn 3.000 sản phẩm PU được sử dụng rộng
rãi vào nhiều lĩnh vực khác nhau, tùy theo thành phần hóa học và tính chất cơ
Trang 40TT Lĩnh vực ứng dụng Số sản
phẩm
Trong khai thác mỏ người ta dùng poliuretan để gia cố các hầm lò, gắn
kết các khối đá, than bị vỡ, phun chống thấm bề mặt đường hầm lò để ngăn
Ở Việt Nam, các sản phẩm poliuretan được dùng nhiều trong lĩnh vực
sản xuất giầy dép, làm keo dán, làm đệm giường, bao bì Toàn bộ nguyên vật
liệu đầu vào phải nhập ngoại, người ta sử dụng chúng để pha chế tạo thành
các sản phẩm khác nhau tùy theo yêu cầu Việc sử dụng PU trong sửa chữa
công trình hầu như chưa được chú ý
Qua khảo sát chúng tôi thấy hiện nay ở nước ta có đủ nguồn nguyên
liệu để pha chế tạo thành sản phẩm PU dùng cho khoan phụt chặn nước
Để phụt chặn nước người ta dùng loại PU xốp Nguyên liệu chính để
chế tạo PU xốp là:
và 20% đồng phân 2,6 toluendiisoxyanat)
và điều chỉnh kích thước xốp
điều chỉnh kích thước xốp (thường sử dụng dầu silicon L-520)