1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng lựa chọn nhà thầu xây lắp dự án vốn ODA tại ban quản lý dự án đê điều nghệ an

105 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 646,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: Với những kết quả đạt được theo định hướng nghiên cứu lựa chọn đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa, cập nhật và dần hoàn thiện cơ s

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Họ và tên: Đặng Quang Hà

Lớp cao học: 23QLXD13

Chuyên ngành: Quản lý xây dựng

Tên đề tài luận văn: “Nâng cao chất lượng lựa chọn nhà thầu xây lắp dự án ODA tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An”

Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Trong quá trình làm học viên có tham khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đặng Quang Hà

Trang 2

ii

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Dương Đức Tiến và những ý kiến quý báu về chuyên môn của các thầy cô giáo trong Khoa Công trình, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, các cán bộ tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài luận văn “Nâng cao chất lượng lựa chọn nhà thầu xây lắp dự án ODA tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An”, chuyên ngành Quản lý xây dựng Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các Lãnh đạo và đồng nghiệp trong Chi Cục Thủy lợi Nghệ An nơi tác giả công tác, phòng Quản lý xây dựng công trình và các phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT Nghệ An đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong việc thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên chia sẻ khó khăn và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn này

Do trình độ, kinh nghiệm cứu còn hạn chế cũng như thời gian nghiên cứu ngắn nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đặng Quang Hà

Trang 3

iii

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ vii

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY LẮP 5 1.1 Tình hình chung về hoạt động đấu thầu tại Việt Nam 5

1.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển công tác đấu thầu ở Việt Nam 5

1.1.2 Thực trạng công tác đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian qua 8

1.2 Đánh giá chung về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp công trình ở Việt Nam 14 1.2.1 Những thành tựu đã đạt được 14

1.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu 18

1.2.3 Kinh nghiệm về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp trên thế giới 28

1.3 Tình hình chung về đấu thầu xây lắp các dự án vốn ODA 35

1.3.1 Tình hình thực hiện đấu thầu xây lắp các dự án ODA trên thế giới 36

1.3.2 Tình hình thực hiện các dự án ODA ở Việt Nam trong thời gian qua 38

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY LẮP ĐỐI VỚI DỰ ÁN ODA 44

2.1 Nội dung và các quy định trong đấu thầu theo pháp luật Việt Nam 44

2.1.1 Về lựa chọn nhà thầu 44

2.1.2 Về các chủ thể liên quan đến hoạt động đấu thầu xây dựng 45

2.1.3 Về nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên lựa chọn nhà thầu 46

2.1.4 Về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 46

2.1.5 Về ưu đãi trong đấu thầu 46

2.1.6 Về trời gian trong đấu thầu xây dựng 47

2.1.7 Về bảo đảm trong đấu thầu 47

2.1.8 Về ngôn ngữ và đồng tiền sử dụng trong đấu thầu 47

2.1.9 Về hợp đồng xây dựng 47

2.2 Các hình thức, phương thức đấu thầu xây lắp theo quy định của pháp luật Việt Nam 48

Trang 4

iv

2.2.1 Các hình thức đấu thầu xây lắp, điều kiện áp dụng 48

2.2.2 Các phương thức đấu thầu xây lắp, điều kiện áp dụng 53

2.3 Các quy định về đấu thầu xây lắp các dự án sử dụng vốn ODA của nhà thài trợ WB 55

2.3.1 Các văn bản quy định về đấu thầu xây lắp của nhà tài trợ WB 55

2.3.2 Các phương pháp và thủ tục áp dụng trong đấu thầu xây lắp 56

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY LẮP DỰ ÁN ODA TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐÊ ĐIỀU NGHỆ AN 68 3.1 Giới thiệu khái quát về Ban Quản lý dự án Đê điều Nghệ An 68

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 68

3.1.2 Kết quả công tác quản lý dự án của Ban QLDA Đê điều Nghệ An những năm vừa qua 70 3.2 Thực trạng trong công tác đấu thầu các dự án vốn ODA tại Ban QLDA Đê điều Nghệ An 72

3.2.1 Kết quả thực hiện công tác đấu thầu những năm vừa qua 72

3.2.2 Phân tích quá trình thực hiện một số gói thầu xây lắp vốn ODA đã thực hiện73 3.2.3 Kết luận và đánh giá về đấu thầu xây lắp các dự ODA tại Ban 81

3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng lựa chọn nhà thầu xây lắp dự án vốn ODA tại Ban QLDA Đê điều Nghệ An 84

3.3.1 Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn đội ngũ thực hiện công tác đấu thầu thành lập tổ chuyên gia đấu thầu chuyên nghiệp của Ban 84

3.3.2 Nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu để tăng cường tính cạnh tranh, công khai, minh bạch trong đấu thầu 86

3.3.3 Tăng cường công tác xét thầu đảm bảo lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực để thực hiện gói thầu 89

3.3.4 Tăng cường công tác quản lý sau đấu thầu 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 5

v

Hình 1.1: Mức cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2006-2010 41

Hình 2.2: Sơ đồ các bước thực hiện NCB 57

Hình 2.3: Sơ đồ thực hiện chào hàng cạnh tranh 65

Hình 3.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy Ban QLDA Đê điều Nghệ An 69

Trang 6

vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Kết quả đấu thầu theo đánh giá chung 9

Bảng 1.2: Kết quả đấu thầu theo hình thức đấu thầu 9

Bảng 1.3: Kết quả đấu thầu theo đánh giá chung 12

Bảng 1.4: Kết quả đấu thầu theo hình thức đấu thầu 13

Bảng 1.5: Mức cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA qua các giai đoạn 40

Bảng 1.6: Quy mô dự án trung bình theo các giai đoạn 41

Bảng 3.7: Bảng tiêu chuẩn đánh giá nhà thầu xây lắp 88

Trang 7

vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

CĐT Chủ đầu tư CTXD Công trình xây dựng

DADT Dự án đầu tư

QLDA Quản lý dự án

XDCB Xây dựng cơ bản

XDCT Xây dựng công trình

CPO Ban Quản lý Trung ương các Dự án thủy lợi

DARD/Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp & phát triển nông

thôn

HSDT Hồ sơ dự thầu

HSMT Hồ sơ mời thầu

IBRD Ngân hàng tái thiết và phát triển Quốc tế

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước là đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, vì vậy trong những năm vừa qua, vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm một tỷ trọng rất lớn trong GDP, bình quân từ 25-30% Với số vốn đầu tư rất lớn như vậy thì hàng năm có hàng nghìn dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai

Thực tế ở nước ta, việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, công trình văn hoá được xây dựng mới, cải tạo, mở rộng thời gian qua trên phạm vi cả nước là những minh chứng cụ thể cho những thành tựu ấy

Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra rằng bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, đặc biệt là vấn đề chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình chưa cao trong đó có việc lựa chọn các nhà thầu đủ năng lực để thực hiện các gói thầu xây lắp Điều này được thể hiện trên thực tế

ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, việc đầu tư dàn trải vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, chất lượng công trình xây

dựng của không ít dự án còn thấp dẫn đến nhiều công trình mới xây dựng xong, chưa

sử dụng đã xuống cấp hoặc không sử dụng được

Thứ hai, chi phí đầu tư xây dựng công trình thường vượt tổng mức đầu tư, nhiều chi

phí phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng Đặc biệt là tình trạng lãng phí, thất thoát vốn đầu tư nhà nước xảy ra ở nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, gây ra nhiều hậu quả không tốt về mặt kinh tế và xã hội

Trang 10

2

Thứ ba, tình trạng nhiều dự án, nhiều công trình kéo dài thời gian do thiếu vốn, do

không giải phóng được mặt bằng vẫn diễn ra ở nhiều nơi kéo theo sự gia tăng chi phí

và giảm tính hiệu quả của dự án

Thứ tư, do công tác quản lý dự án trong giai đoạn thi công xây dựng công trình chưa

tốt, lựa chọn các nhà thầu không đủ năng lực, kinh nghiệm thực hiện các gói thầu lớn dẫn tới công trình bị chậm tiến độ, chất lượng công trình hoàn thành chưa tốt

Nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước chưa được quản lý tốt

từ khi nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi đến khi đưa công trình vào khai thác,

sử dụng mà các phương tiện thông tin đại chúng đã chỉ ra thời gian qua là những minh chứng cụ thể phản ánh chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình còn nhiều vấn đề tồn tại cần phải được nghiên cứu khắc phục

Trong các dự án đầu tư xây dựng công trình hiện nay, tác giả luận văn cho rằng cần đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình phục

vụ lợi ích công cộng thuộc chi phí công, nếu không quản lý chặt chẽ thường dễ đưa đến lãng phí, thất thoát, sử dụng không có hiệu quả, làm tăng nợ công luỹ tiến đưa đến mức vượt ngưỡng kiểm soát sẽ làm mất ổn định nền kinh tế và không đảm bảo an sinh

Trang 11

3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học:

Với những kết quả đạt được theo định hướng nghiên cứu lựa chọn đề tài sẽ góp phần

hệ thống hóa, cập nhật và dần hoàn thiện cơ sở lý luận về chất lượng công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp trong các dự án đầu tư xây dựng công trình, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dự án giai đoạn đấu thầu xây lắp trong các Ban quản lý dự án xây dựng Những kết quả nghiên cứu của luận văn đạt được sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn trong việc tăng cường hơn nữa hiệu quả chất lượng quản

lý đấu thầu xây lắp dự án vốn ODA không chỉ cho Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ

An mà còn cho các Ban quản lý dự án hoạt động trong lĩnh vực xây dựng

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài :

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng công tác lựa chọn các nhà thầu xây lắp trong các dự án ODA tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Luận văn được giới hạn nghiên cứu trong phạm vi sau:

Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp các dự án

sử dụng vốn ODA tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp dự án ODA của Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An từ năm 2010 đến 2015 và đề xuất giải pháp quản lý đấu thầu cho giai đoạn tiếp theo

6 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:

Trang 12

4

Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra thu thập thông tin;

- Phương pháp kế thừa, áp dụng mô hình quản lý thông qua sách báo và thông tin Internet nhưng có chọn lọc;

- Phương pháp thống kê, phân tích tính toán, tổng hợp số liệu;

- Phương pháp khảo sát thực tế;

- Phương pháp đối chiếu hệ thống văn bản pháp quy như: Nghị định, Thông tư, Luật xây dựng của nhà nước; và các văn bản khác có liên quan;

- Phương pháp tiếp cận thông tin dự án

7 Kết quả dự kiến đạt được:

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần phải nghiên cứu, giải quyết được những vấn đề sau:

Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, đi sâu vào công tác lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu xây lắp dự án ODA

Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu xây lắp

dự án ODA của Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An

Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng công tác lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu xây lắp có sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA và vốn vay WB)

Trang 13

5

XÂY LẮP

1.1 T ình hình chung về hoạt động đấu thầu tại Việt Nam

1.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển công tác đấu thầu ở Việt Nam

Quá trình hình thành và phát triển đấu thầu ở nước ta gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tế Trước năm 1945, Việt Nam còn là nước thuộc địa, nền kinh tế và các chính sách do chính phủ Pháp quản lý và chi phối Từ năm 1945 sau khi giành được độc lập và thành lập nước, nền kinh tế của Việt Nam đã hình thành và bước đầu phát triển, tuy nhiên từ 1946-1954 đất nước trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, thời

kỳ này nền kinh tế còn ở trong giai đoạn sơ khai, chưa có cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế

và chưa có hoạt động đấu thầu

Giai đoạn 1954-1975: Trong giai đoạn này, kinh tế miền Bắc phát triển bình quân năm

là 6% (GDP đầu người bình quân năm tăng khoảng 3%) Do chiến tranh lan rộng ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Kinh tế trong thời gian này tập trung phục vụ cho chiến trường với nhiệm vụ giải phóng đất nước Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung của nhà nước theo các kế hoạch kinh tế 5 năm, Nhà nước chỉ định cho các đơn vị thực hiện xây lắp tuỳ theo kế hoạch mà Nhà nước đề ra hoặc căn cứ vào mối quan hệ giữa các đơn vị đó với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không qua đấu thầu Với cơ chế này, không tồn tại khái niệm cạnh tranh trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nói chung và trong hoạt động đầu tư xây dựng nói riêng, từ đó tạo ra nhiều tiêu cực, sai lầm gây thất thoát lớn cho xã hội

Giai đoạn 1976-1986: Đường lối kinh tế chủ đạo của thời kỳ này là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động Thời kỳ này được nhắc đến với danh từ "bao cấp" Nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tập trung kế hoạch hóa Nhà nước lên kế hoạch cho mọi hoạt động kinh tế, các xí nghiệp nhà máy cứ theo kế hoạch nhà nước mà làm Thành phần kinh tế tư nhân bị cấm Nông dân làm việc trong các hợp tác xã Kinh tế giai đoạn này rất khó khăn, trì

Trang 14

to lớn, còn ở Việt Nam hình thức này còn rất mới Để tạo ra môi trường pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả của hình thức đấu thầu, cùng với việc tổ chức thực hiện, các văn bản có tính quy chế được xây dựng, bổ sung và sửa đổi ngày càng hoàn thiện

Hệ thống các văn bản của nhà nước đã ban hành chỉ đạo thực hiện công tác đấu thầu trong thời gian vừa qua:

- Trước những năm 1990, trong các văn bản quản lý đầu tư xây dựng đã xuất hiện “ Quy chế đấu thầu trong xây dựng” nhưng chưa rõ ràng

- Năm 1990, Bộ xây dựng ban hành Quy chế đấu thầu trong xây dựng tại Quyết định số 24/BXD-VKT ngày 12/ 2/1990 Văn bản này được coi là Quy chế đấu thầu đầu tiên, trong đó quy định tất cả công trình xây dựng nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách và hợp tác xã đều phải thực hiện đấu thầu

- Tháng 3/1994- Bộ Xây dựng ban hành “ Quy chế đấu thầu xây lắp” tại Quyết định

số 06/BXD-VKT thay cho Quyết định số 24/BXD-VKT Theo đó quy định tất cả công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước đều phải thực hiện đấu thầu

- Ngày 16/4/1994, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 183/TTg về Thành lập Hội đồng quốc gia xét chọn đơn vị trúng thầu các dự án đầu tư lớn Theo quyết định này, các dự án dùng vốn Nhà nước (bao gồm Ngân sách cấp, vốn vay, vốn viện trợ,

Trang 15

7

vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp) đều phải qua đấu thầu, kết quả đấu thầu có vốn đầu

tư trên 10 triệu USD phải thông qua Hội đồng xét thầu quốc gia thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và phê duyệt

- Năm 1996, Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định số

43/NĐ-CP ngày 16/7/1996 Văn bản này mang tính pháp lý cao hơn và phạm vi điều chỉnh rộng hơn, theo đó, “gói thầu” lần đầu tiên đã trở thành đối tượng quản lý của công tác đấu thầu Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ đã được thay thế bằng Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và Nghị định này đã được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định số 14/NĐ-CP ngày 5/5/2000 Từ năm 1999 đến năm 2003, công tác đấu thầu được điều chỉnh chủ yếu bằng Nghị định số 88/NĐ-CP và Nghị định số 14/NĐ- CP, so với cơ chế

cũ thì nhiều vấn đề đã sáng tỏ hơn, phương pháp đánh giá để đấu thầu đã khoa học hơn, chuẩn mực hơn

- Năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 66/NĐ-CP ngày 12/6/2003 sửa đổi

bổ sung Nghị định số 88/NĐ-CP và Nghị định số 14/NĐ-CP Với 45% số điều bổ sung Nghị định 88/CP và 13% số điều sửa đổi bổ sung, Nghị định 14/NĐ-CP đã tăng cường tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch trong đấu thầu, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dự

án, tăng cường một bước công tác thanh tra quản lý hoạt động đấu thầu và thực hiện hợp đồng, nâng cao công tác quản lý thông tin về đấu thầu và Nhà thầu

- Với những quy chế, quy định về Đấu thầu trong xây dựng được nói ở trên, vẫn chưa bao quát được hết được khối lượng công việc, tình huống xảy ra trong hoạt động đấu thầu và trách nhiệm, biện pháp xử lý các tình huống xảy ra trong đấu thầu Ngày

29 tháng 11 năm 2005 tại kỳ họp Quốc hội khóa XI năm 2005 đã thống nhất ban hành Luật đấu thầu là bước tiến quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đấu thầu, tạo tiền đề cho hoạt động đấu thầu ngày càng phù hợp với xu thế hội nhập toàn cầu Cùng với việc ban hành Luật đấu thầu, nhà nước cũng đã ban hành Nghị định 111/2006/NĐ-

CP ngày 29/9/2006, Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 05/05/2008, Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 về việc Hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu

và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng

Trang 16

sở sửa đổi toàn diện Luật đấu thầu năm 2005, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 Luật đấu thầu năm 2013 có

10 điểm mới căn bản là: Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đấu thầu; Quy định phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực trong nước; Mua sắm tập trung; Mua thuốc, vật tư y tế; Lựa chọn nhà đầu tư; Hợp đồng trong đấu thầu; Phân cấp trong đấu thầu; Giám sát về đấu thầu; Xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu

1.1.2 Thực trạng công tác đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian qua

1.1.2.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đấu thầu

Trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước Đây là một bước ngoặt trong quá trình phát triển kinh tế Sự ra đời của nhiều doanh nghiệp nhà nước và

tư nhân đã tạo nên môi trường kinh doanh cạnh tranh của nền kinh tế Các doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước cùng nỗ lực để phát triển, hoàn thiện, nâng cao năng lực để khẳng định vị trí của mình trên thị trường nhằm tìm kiếm việc làm cho mình Các dự án không còn được nhà nước giao cho một đơn vị thực hiện theo kế hoạch mà

có nhiều sự lựa chọn các cơ quan, đơn vị đủ điều kiện, năng lực thực hiện Đáp ứng nhu cầu đó nhà nước đã cho ra đời các quy định về đấu thầu, từ Quy chế đấu thầu trong xây dựng năm 1990 của Bộ xây dựng được xem là quy định đầu tiên về đấu thầu, sau đó là các văn bản quy phạm pháp luật khác về đấu thầu được ban hành để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, sự ra đời của Luật đấu thầu năm 2005 là một bước tiến lớn về thống nhất và hoàn thiện các quy định rời rạc, tản mát về đấu thầu thành một luật riêng quy định về đấu thầu Trong thời gian đó Công tác đấu thầu đã được triển khai và đã đem lại những kết quả đáng khích lệ Kết quả đấu thầu theo đánh giá chung như bảng 1.1

Trang 17

9

Bảng 1.1: Kết quả đấu thầu theo đánh giá chung

Chỉ tiêu Đơn vị 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Tổng số gói

hầ

Gói 9.632 10.179 28.644 32.150 30.269 28.069 Tổng giá gói thầu Triệu

Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nhận xét: Nhìn vào những số liệu tổng quát nhất về hoạt động đấu thầu của cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu (Vụ quản lý đấu thầu trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư), ta thấy tổng số gói thầu được thực hiện có sự tăng liên tục và rất nhanh từ năm

1994 đến năm 2002 nhưng lại có xu hướng giảm dần vào 2 năm tiếp theo 2003 và

2004 Trong khi đó tỉ lệ tiết kiệm thông qua đấu thầu qua các năm lại giảm liên tục và đều đặn, đặc biệt là vào năm 2004 Những số liệu này giúp chúng ta thấy sự giảm sút

về cả số lượng và chất lượng của hoạt động đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian trước khi có luật Đấu thầu Kết quả đấu thầu theo hình thức lựa chọn như bảng 1.2

Bảng 1.2: Kết quả đấu thầu theo hình thức đấu thầu

Chỉ tiêu Số gói thầu

Tổng giá gói thầu

(triệu USD)

Tổng giá trúng thầu

(triệu USD)

Tiết kiệm (%)

Số gói thầu

Tổng giá gói thầu

(triệu USD)

Tổng giá trúng thầu

(triệu USD)

Tiết kiệm (%)

Trang 18

10

Chỉ tiêu Số gói thầu

Tổng giá gói thầu

(triệu USD)

Tổng giá trúng thầu

(%)

Số gói thầu

Tổng giá gói thầu

(triệu USD)

Tổng giá trúng thầu

(triệu USD)

Tiết kiệm (%)

ĐT rộng rãi

Tỷ trọng

4.053 (13,39%)

1.372,56 (27,66%) 5.39

4.058 (14,45%) 1.096.57

1.040,34 (26,11%) 5.13

Chỉ định thầu

và tự thực hiện

Tỷ trọng

15.346 (50,7%)

347,29 (7%) 10.82

5.271 (18,79%) 272.25

249,41 (6,26%) 8.39

Nguồn: Báo cáo số liệu về hoạt động đấu thầu ở Việt Nam của Vụ Quản lý đấu thầu –

Bộ Kế hoạch và Đầu tư Theo số liệu ở bảng trên, tỷ lệ tiết kiệm thu được ở hình thức đấu thầu rộng rãi là lớn

nhất rồi đến đấu thầu hạn chế sau đó mới là chỉ định thầu và tự thực hiện

So với năm 2002, số lượng gói thầu được thực hiện ở các hình thức cũng như tỷ lệ tiết kiệm ở các hình thức đấu thầu có sự giảm xuống rõ rệt

Hình thức đấu thầu rộng rãi dù có nhiều ưu điểm và tạo tỷ lệ tiết kiệm lớn nhất nhưng vẫn chưa được áp dụng nhiều Tuy nhiên, cũng có một điểm đáng mừng là càng ngày

tỷ lệ các gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi càng chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các hình thức còn lại Nếu như vào các năm 2003 trở về trước, số lượng các gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế luôn lớn hơn so với đấu thầu rộng rãi thì đến năm 2004, số lượng gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi đã vượt qua đấu thầu hạn chế Nhưng số lượng các gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu và tự thực hiện còn lớn hơn rất nhiều (gấp khoảng 3 lần) so với các hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế, ngoài ra, tỷ lệ qua này qua các năm thay đổi không đáng kể Điều này là một hạn chế lớn cho Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới WTO và cũng gây thất

Trang 19

11

thoát rất lớn cho ngân sách quốc gia Các hình thức đấu thầu khác đấu thầu rộng rãi vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số các gói thầu (khoảng 80%), đây là những hình thức không có tính cạnh tranh hoặc tính cạnh tranh không cao trong đấu thầu Đây là nguyên nhân làm giảm hiệu quả của hoạt động đấu thầu, làm mất đi vai trò, chức năng của đấu thầu và là một nguy cơ cần được các nhà quản lý quan tâm điều chỉnh

Thời gian qua, những tiêu cực liên quan đến đấu thầu được biết đến nhiều hơn Liên tục xảy ra những sai phạm, tham nhũng, tiêu cực với số tiền thất thoát từ ngân sách nhà nước lên đến hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ đồng đã bị phanh phui và lên án Những tiêu cực này xảy ra ở hầu hết các ngành kinh tế mà tiêu biểu là ngành xây dựng - một trong những ngành áp dụng đấu thầu rộng rãi nhất

Những sai phạm nghiêm trọng này cũng là động lực thúc đẩy sự ra đời của Luật Đấu thầu năm 2005 sau thời gian dài thảo luận tại Quốc hội Trên thực tế, sự ra đời của Luật này dù còn chậm nhưng cũng rất cần thiết trong việc điều chỉnh, thúc đẩy sự phát triển đúng hướng, giảm thiểu những “chệch choạc” của hoạt động đấu thầu Nó giúp cho hoạt động này phát huy được những chức năng vốn có của mình trong việc tiết kiệm ngân sách quốc gia, giảm thiểu hiện tượng lợi dụng sơ hở của pháp luật và sự buông lỏng quản lý để trục lợi cá nhân từ ngân sách quốc gia

1.1.2.2 Giai đoạn sau khi có Luật Đấu thầu

Luật Đấu thầu ra đời đã tăng cường tính pháp lý của hoạt động đấu thầu; thống nhất các quy định của nhà nước về đấu thầu theo hướng là Luật gốc về đấu thầu sử dụng vốn nhà nước; khắc phục các tồn tại trong đấu thầu; tăng cường tính công khai, minh bạch, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường hậu kiểm; tăng cường hội nhập với quốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh giữa các nhà thầu trong nước Quốc hội đã ban hành lần lượt Luật số 61/2005/QH11, Luật số 38/2009/QH12 trong

đó sửa đổi 21 Điều của Luật Đấu thầu và Luật số 43/2013/QH13 ra đời đã làm cho hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản được hoàn thiện, thống nhất theo hướng tăng cường phân cấp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành các Thông tư hướng dẫn về đấu thầu thông suốt, thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện dự án, khắc

Trang 20

12

phục những khó khăn trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản Các mẫu hồ

sơ hướng dẫn trong công tác đấu thầu được ban hành ngày càng đầy đủ, chi tiết và đồng bộ đã tạo nên sự chuyên môn hóa trong công tác đấu thầu, giúp cho các cơ quan chức năng quản lý về đấu thầu ở địa phương, chủ đầu tư trong quá trình thực hiện được dễ dàng và nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượng của hồ sơ cũng như quá trình đấu thầu được công bằng, minh bạch hơn Ngoài ra việc ban hành các mẫu hồ sơ còn giúp hạn chế các sai sót và cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan chuyên môn, chủ đầu

tư và các đơn vị tư vấn Vì vậy hệ thống văn bản pháp luật đấu thầu thực sự đã theo hành lang pháp lý chung, các chủ đầu tư và nhà thầu đã dần từng bước chấp hành tốt những quy định trong Luật, không còn nhiều sai sót như thời gian trước

Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2006 Luật số 38/2009/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2009 tại Điều 2 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu Tiếp đó, Luật số 43/2013/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2013 có hiệu lực thi hành 01/7/2014 Các luật này cùng với một

số luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo thành một hệ thống pháp luật về đấu thầu tương đối đồng bộ, khả thi, tạo thuận lợi cho việc thống nhất quản lý công tác đấu thầu trong phạm vi cả nước Theo đó, việc thực hiện theo Luật Đấu thầu không chỉ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu mà còn giúp tiết kiệm được cho nguồn vốn của Nhà nước, số liệu cụ thể qua các năm được thể hiện ở bảng 1.3 như sau:

Bảng 1.3: Kết quả đấu thầu theo đánh giá chung Năm Tổng số gói thầu Tổng giá trị tiết kiệm (đồng)

Nguồn: Báo cáo số liệu về hoạt động đấu thầu ở Việt Nam của Vụ Quản lý đấu thầu –

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 21

Nguồn: Báo cáo số liệu về hoạt động đấu thầu ở Việt Nam của Vụ Quản lý đấu thầu –

Bộ Kế hoạch và Đầu tư Qua số liệu ở Bảng trên có thể thấy rằng trong giai đoạn 2008-2012, tổng giá trị các gói thầu sử dụng vốn ngân sách nhà nước (bao gồm các gói thầu thuộc dự án đầu tư phát triển và dự toán mua sắm thường xuyên) áp dụng hình thức chỉ định thầu chiếm

tỷ trọng lớn (915.108 tỷ đồng), bằng 82% tổng giá trị các gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi (1.108.701) và bằng 75% tổng giá trị các gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi và hạn chế; trong khi đó tỷ lệ tiết kiệm đạt được qua các hình thức đấu thầu cạnh tranh như rộng rãi và hạn chế cao hơn từ 2 đến 2,5 lần so với chỉ định thầu

Như vậy qua hơn 10 năm thực hiện Luật Đấu thầu, nguồn vốn của Nhà nước đã tiết kiệm được hàng trăm nghìn tỷ đồng và giá trị tiết kiệm đều tăng qua các năm, qua đó

Trang 22

từ đó là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh Đồng thời, chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu được nâng cao năng lực chuyên môn, có thêm kiến thức và kinh nghiệm, trở thành những người tiêu dùng ngày càng thông thái hơn, giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong quá trình chi tiêu công Các doanh nghiệp, nhà thầu được cọ xát, nâng cao năng lực cạnh tranh, từ cạnh tranh trong nước sẽ lớn mạnh

và dần tự tin bước vào hội nhập Quy định về đấu thầu của Việt Nam được xây dựng

cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế và các quy định của nhà tài trợ, trong đó đặc biệt

là đáp ứng yêu cầu về tính công khai, minh bạch, đã góp phần làm tăng uy tín và tạo niềm tin cho các nhà tài trợ đối với Việt Nam, là cơ sở để thu hút và giải ngân các nguồn vốn hỗ trợ cho phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Theo đó, các nhà tài trợ như

WB, ADB, JICA… đã tăng cường hỗ trợ Việt Nam cả về vật chất và tư vấn pháp luật, đóng góp quan trọng cho quá trình cải cách, đổi mới ở nước ta

Một số thành tựu nổi bật:

Một là: Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đã được hoàn thiện, thống nhất

theo hướng tăng cường phân cấp

Luật Đấu thầu ra đời và được đổi mới đã tăng cường tính pháp lý của hoạt động đấu thầu; thống nhất các quy định của nhà nước về đấu thầu theo hướng là Luật gốc về đấu thầu sử dụng vốn nhà nước; khắc phục các tồn tại trong đấu thầu; tăng cường tính công

Trang 23

15

khai, minh bạch, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường hậu kiểm; tăng cường hội nhập với quốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh giữa các nhà thầu trong nước

Luật cũng phân cấp mạnh hơn cho cấp cơ sở, cho các chủ đầu tư người trực tiếp sử dụng công trình Theo đó, vai trò của chủ đầu tư đã được thay đổi cơ bản trong quá trình quản lý, điều hành và quyết định các nội dung trong quá trình triển khai dự án (phê duyệt hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, xử lý tình huống trong đấu thầu) Việc tăng cường phân cấp cho chủ đầu tư đã tăng cường tính chủ động linh hoạt cho chủ đầu tư, thu hẹp được cấp trình duyệt trong quá trình lựa chọn nhà thầu nên thời gian lựa chọn nhà thầu cũng đã được rút ngắn đáng kể Người có

thẩm quyền - người quyết định đầu tư có thêm trách nhiệm xem xét quyết định hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu cấp bách thuộc các dự án do mình quyết định đầu tư và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình Đồng thời người có thẩm quyền cũng có thêm quyền trong việc hủy, đình chỉ đấu thầu, không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu sau khi đấu thầu

Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đã được hoàn thiện, thống nhất theo hướng tăng cường phân cấp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành một loạt Thông tư hướng dẫn về đấu thầu thông suốt, thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện

dự án, khắc phục những khó khăn trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản Các mẫu hồ sơ hướng dẫn trong công tác đấu thầu được ban hành ngày càng đầy đủ, chi tiết và đồng bộ đã tạo nên sự chuyên môn hóa trong công tác đấu thầu, giúp cho các cơ quan chức năng quản lý về đấu thầu ở địa phương, chủ đầu tư trong quá trình thực hiện được dễ dàng và nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượng của hồ sơ cũng như quá trình đấu thầu được công bằng, minh bạch hơn Ngoài ra việc ban hành các mẫu hồ sơ còn giúp hạn chế các sai sót và cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan

chuyên môn, chủ đầu tư và các đơn vị tư vấn Vì vậy hệ thống văn bản pháp luật đấu thầu thực sự đã theo hành lang pháp lý chung, các chủ đầu tư và nhà thầu đã dần từng bước chấp hành tốt những quy định trong Luật, không còn nhiều sai sót như thời gian trước

Hai là: Tiết kiệm cho nguồn vốn của Nhà nước

Trang 24

16

Luật Đấu thầu số 43/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2006 Tiếp đó, Luật số 38/2009/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2009 tại Điều 2 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu Mới nhất là Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 26/10/2013 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2014 Các đạo luật này cùng với một số luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo thành một hệ thống pháp luật về đấu thầu tương đối đồng

bộ, khả thi, tạo thuận lợi cho việc thống nhất quản lý công tác đấu thầu trong phạm vi

cả nước Theo đó, việc thực hiện theo Luật Đấu thầu và Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 không chỉ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu mà còn giúp tiết kiệm được cho nguồn vốn của Nhà nước

Ba là: Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã được chú trọng và triển khai trên diện rộng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu

Trong bối cảnh tăng cường phân cấp và năng lực của chủ đầu tư ở địa phương còn hạn chế, thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu, tăng cường hiệu lực và tính thực thi của pháp luật, chính sách về đấu thầu Trong thời gian qua, hầu hết các địa phương đã tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu nhằm sớm phát hiện các thiếu sót, hướng dẫn chủ đầu tư và bên mời thầu giải quyết theo đúng quy định và đúng thẩm quyền Do đó, hoạt động kiểm tra cũng đã giúp tăng cường nhận thức của các đối tượng được kiểm tra trong việc thực thi pháp luật

Theo báo cáo của các Bộ ngành và địa phương, qua các đợt kiểm tra, các đơn vị được kiểm tra đã nhận thấy được các thiếu sót, các nội dung cần được hoàn thiện hơn về trình tự, thủ tục khi tổ chức đấu thầu và lựa chọn nhà thầu Ngoài ra, kiểm tra, thanh tra về đấu thầu cũng đã góp phần ngăn ngừa các hành vi sai phạm nói chung và các quy định của pháp luật về đấu thầu nói riêng

Trên cơ sở Thông tư 01/2011/TT-BKHĐT ra đời đã quy định khá cụ thể và chi tiết quy trình kiểm tra trong công tác đấu thầu, đáp ứng được yêu cầu về việc thực hiện hoạt

Trang 25

nắm bắt và kiểm soát được tình hình thực hiện công tác đấu thầu tại các dự án Theo

đó, Thông tư kiểm tra đã góp phần nâng cao chất lượng công tác đấu thầu nói chung

Bốn là: Công tác đào tạo và hướng dẫn nghiệp vụ đấu thầu

Hầu hết các Bộ ngành, địa phương đã tổ chức các hội nghị tập huấn để quán triệt các quy định của pháp luật về đấu thầu Các Bộ và Tổng công ty thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về quản lý đầu tư xây dựng (trong đó đấu thầu là một nội dung chính) cho các cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào hoạt động đấu thầu Các Sở Kế hoạch

và Đầu tư đã rất chủ động trong việc chủ trì, điều phối và tổ chức các hoạt động đào tạo, tập huấn sâu rộng cho các Sở ban ngành ở địa phương, đặc biệt là chú trọng tới các cán bộ thuộc các ban quản lý dự án ở cấp huyện, cấp xã

Ngoài ra, công tác phổ biến, quán triệt nội dung của Luật Đấu thầu, các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ đã được thực hiện nghiêm túc thông qua nhiều hình thức như: phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức các lớp tập huấn về đấu thầu cho các đơn vị, chủ đầu tư, cơ quan tư vấn Đến nay, hầu hết các cán bộ tham gia trong lĩnh vực đấu thầu đều được cấp chứng chỉ tham gia các khóa đào tạo về đấu thầu Hiệu quả và tác động của các văn bản hướng dẫn được ban hành đối với việc quản lý đấu thầu trên địa bàn tỉnh giúp các chủ đầu tư cập nhật kịp thời thông tin để tham dự có hiệu quả, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng quản lý đấu thầu trên địa bàn Đến nay phần lớn các cán bộ tham gia công tác đấu thầu đều có chứng chỉ tham gia khóa học đấu thầu, nắm được về cơ bản nghiệp vụ và kỹ năng khi tham gia tổ chức đấu thầu nên việc tổ chức đấu thầu ở các Bộ, ngành và địa phương về

cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu

Năm là: Công khai hoá các thông tin về đấu thầu được tăng cường đáng kể

Việc công khai hóa thông tin về đấu thầu được tăng cường thể hiện qua việc gia tăng nhu cầu đăng tải thông tin Số lượng Báo Đấu thầu được phát hành đã tăng lên và tần

Trang 26

18

suất xuất bản đã đáp ứng được về tính kịp thời, rộng rãi đến các đối tượng có quan tâm tới công tác đấu thầu Báo Đấu thầu đã thực sự trở thành công cụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đấu thầu đối với cả nước

Song song với Báo Đấu thầu, trang thông tin điện tử về đấu thầu – Hệ thống đấu thầu

qua mạng - tại địa chỉ htttp://muasamcong.mpi.gov.vn được cập nhật hàng ngày, tận dụng các ưu thế của mạng internet trong việc tạo thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân đăng tải, truy cập và tìm kiếm thông tin đấu thầu ở mọi lúc, mọi nơi Đồng thời đây là kênh thông tin hữu ích cho cơ quản quản lý nhà nước về đấu thầu tiếp thu các góp ý đối với các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành

Ngoài ra, chuyên mục đường dây nóng ra đời từ tháng 6/2008 và chính thức trở thành một chuyên mục rất được đông đảo độc giả quan tâm từ tháng 8/2008 Bộ phận tiếp nhận thông tin phản ánh từ khắp cả nước về những việc làm trái quy định, không phù hợp, làm khó nhà thầu Từ những bài viết trên chuyên mục đường dây nóng, cơ quan chức năng vào cuộc yêu cầu các đơn vị bị phản ánh cần nghiêm túc thực hiện đúng Luật Đấu thầu

1.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu

Trong thời gian qua, có nhiều cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương

đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực quản lý đấu thầu nhờ đó

mà hiệu quả đầu tư và xây dựng trên cả nước đạt được những kết quả đáng kể Nhiều DAĐT XDCT được quản lý tốt, dự án hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng công trình cao, hiệu quả đầu tư của dự án được đảm bảo Tuy nhiên, trong thời gian qua cũng còn

có một số cơ quan quản lý nhà nước chưa làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật Công tác đấu thầu ở nhiều nơi đã không phát huy được hiệu quả bởi những bất cập trong quá trình mời thầu, tổ chức đấu thầu, trong xử lý vi phạm

và giải quyết tranh chấp của chính những người trong cuộc là chủ đầu tư, nhà thầu và

cơ quan quản lý nhà nước về công tác đấu thầu Họ tìm cách lách luật vì lợi ích cục bộ, nhưng lại gây ra những hậu quả lớn hơn cho lợi ích của các bên liên quan, thậm chí gây tổn hại đến lợi ích của nền kinh tế, của Nhà nước Một số bất cập trong đấu thầu trong thời gian qua đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lựa chọn nhà thầu xây lắp, cụ thể như sau:

Trang 27

19

1.2.2.1 Cơ chế chính sách liên quan đến đấu thầu của một số cơ quan Chính phủ chưa

được ban hành kịp thời và việc triển khai thực hiện còn hạn chế

Mặc dù Bộ KH&ĐT đã hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Mẫu tài liệu) nhưng một số cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ hướng dẫn một số nội dung về đấu thầu chưa thực hiện được việc sửa đổi, bổ sung các văn bản đã ban hành cho phù hợp với quy định mới của pháp luật về đấu thầu, chưa ban hành văn bản hướng dẫn theo nhiệm vụ được giao Vì vậy, các Bộ, ngành, địa phương đã gặp khó khăn trong quá trình đấu thầu

1.2.2.2 Tính chuyên môn, chuyên nghiệp về đấu thầu chưa đồng đều và còn hạn chế ở

một số địa phương

Trong Luật Đấu thầu đã thể hiện rất rõ tinh thần phân cấp, thực hiện phân cấp mạnh gắn liền với trách nhiệm và tăng cường công tác hậu kiểm Phân cấp mạnh giúp cho các chủ đầu tư chủ động hơn trong việc thực hiện và quyết định các nội dung của quá trình đấu thầu

Sau khi Nghị định 85/2009/NĐ-CP ban hành và có hiệu lực, chủ đầu tư được giao quyết định toàn bộ các bước trong đấu thầu, trong khi đó đội ngũ chuyên gia về công tác đấu thầu của các đơn vị tư vấn chưa có năng lực chuyên môn, trình độ đáp ứng yêu cầu để giúp chủ đầu tư trong quá trình lựa chọn nhà thầu Năng lực chủ đầu tư tại các đơn vị sự nghiệp công ích, cấp huyện, cấp xã còn yếu, chưa đáp ứng kịp với tình hình phân cấp mạnh của Luật sửa đổi dẫn đến lúng túng trong việc tổ chức đấu thầu

Quá trình đấu thầu từ khâu lập hồ sơ mời thầu đến ký hợp đồng phần lớn đều do chủ đầu tư tổ chức thực hiện, dẫn đến phát sinh tiêu cực trong đấu thầu ở một vài nơi do vai trò của chủ đầu tư rất lớn Công tác theo dõi, phát hiện kịp thời những sai sót hoặc tiêu cực trong quá trình đấu thầu của cấp có thẩm quyền cũng khó khăn do chế độ báo cáo về quá trình lựa chọn nhà thầu hiện nay chưa được quy định cụ thể

Việc phân cấp mạnh cho chủ đầu tư tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tốc độ xây dựng

cơ bản, tuy nhiên còn có một số chủ đầu tư năng lực còn hạn chế không theo kịp nhiệm vụ được giao, còn lúng túng trong khâu lập kế hoạch đấu thầu, thẩm định hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu Bên cạnh đó, nhiều chủ đầu tư còn chưa chủ động, còn

Trang 28

có kiến nghị

Bên cạnh đó năng lực chuyên môn của nhiều chủ đầu tư, bên mời thầu đặc biệt là ở cấp huyện, xã, khu vực vùng sâu, vùng xa, các bệnh viện, trường học còn hạn chế do các chủ đầu tư, bên mời thầu chưa có kinh nghiệm, tính chuyên môn chưa cao dẫn đến chất lượng của hoạt động đấu thầu chưa được đảm bảo

Chất lượng của một số đơn vị tư vấn ở địa phương còn hạn chế, đặc biệt là tư vấn đấu thầu Nhiều hồ sơ do các đơn vị tư vấn lập để chủ đầu tư phê duyệt không đạt yêu cầu,

có nhiều sai sót dẫn đến hồ sơ không đạt chất lượng và yêu cầu theo quy định, kéo dài thời gian thẩm định, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án

1.2.2.3 Bất cập trong quá trình mời thầu

Qua nghiên cứu, theo dõi thực tế hoạt động đấu thầu những năm qua, có thể dễ dàng nhận thấy những vấn đề bất cập nổi lên trong quá trình mời thầu như: Hiện tượng dàn xếp, thông đồng giữa các bên trong đấu thầu; “Vẽ ra” yêu cầu trong hồ sơ mời thầu để loại nhà thầu và hiện tượng quân xanh, quân đỏ Sau khi xác định được đúng vấn đề bất cập, chúng ta sẽ đi vào phân tích từng vấn đề, hiện tượng

Một là: hiện tượng dàn xếp, thông đồng giữa các bên trong đấu thầu:

Một trong những bất cập phổ biến và điển hình nhất trong quá trình mời thầu là hiện tượng dàn xếp, thông đồng giữa các bên trong đấu thầu và đang bị biến tướng dưới nhiều hình thức khác nhau, thông đồng giữa nhà thầu và chủ đầu tư, giữa nhà thầu với nhau, nhằm mục đích có lợi cho mình

Ngay từ khi mời thầu, một số chủ đầu tư đã có nhiều chiêu “chơi khó” nhà thầu, ví dụ như thách thức mang tên “đi tìm địa chỉ bán hồ sơ mời thầu” Việc đăng tải thông báo

Trang 29

21

mời thầu của chủ đầu tư ở một số nơi còn chưa thực hiện đúng quy định như chỉ đăng tải trên tờ báo địa phương mà không đăng tải trên Báo Đấu thầu theo quy định, đặc biệt là với những gói thầu quy mô nhỏ nhưng vẫn nằm trong hạn mức phải đăng tải thông báo mời thầu Ở bước chuẩn bị đấu thầu vẫn còn những hạn chế như việc không công khai bán hồ sơ mời thầu, không cho các nhà thầu đến mua hồ sơ bằng nhiều lý do khác nhau; thông tin về đấu thầu chưa được cung cấp đầy đủ để đăng tải công khai trên Báo Đấu thầu

Một số chủ đầu tư làm khó nhà thầu ngay từ khâu mua hồ sơ mời thầu (HSMT) bằng việc đăng tải địa chỉ bán HSMT một cách chung chung, không minh bạch, khiến nhà thầu “toát mồ hôi” cũng không thể tìm thấy địa chỉ, thậm chí là địa chỉ đó không tồn tại trong thực tế Ngoài ra, một “chiêu” khác được nhiều chủ đầu tư sử dụng là cung cấp các số điện thoại mà khi nhà thầu liên lạc thường máy chỉ đổ chuông, không có người nhấc máy; hoặc tổng đài sẽ thông báo số điện thoại đó “không có”, “không liên lạc được”

Ví dụ: Hiện tượng bán Hồ sơ mời thầu nhưng không rõ địa điểm

Một trong những trường hợp nêu trên là trường hợp của gói thầu Xây dựng nhà ăn và

ký túc xá, nhà xưởng thực hành, hạ tầng kỹ thuật, nhà bảo vệ, nhà để xe, hàng rào, bể nước mới (thuộc dự án Nâng cấp, bổ sung trang thiết bị Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân) Bên mời thầu là Hội Nông dân tỉnh Bắc Ninh và ủy quyền cho đơn vị tư vấn đấu thầu là Công ty CP Tư vấn đầu tư quản lý dự án CIM Địa chỉ phát hành HSMT gói thầu này đã được Bên mời thầu đăng tải trên Báo Đấu thầu (số báo 69, 70, 71), trong đó ghi: 194 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP

Hà Nội (địa chỉ của đơn vị tư vấn) Là gói thầu đấu thầu rộng rãi trong nước, nhưng

để các nhà thầu tìm được địa điểm phát hành hồ sơ mời thầu (HSMT) quả là một bài toán hóc búa và mất khá nhiều thời gian, bởi đây là địa chỉ chung cho một khu tập thể

có tới hơn 100 hộ dân Phải qua “ba tầng bảy lớp” mới mua được HSMT

Theo phản ánh của nhà thầu là Công ty CP Xây dựng 266 Hà Nội gửi tới Báo Đấu thầu ngày 19/4/2013, địa điểm phát hành HSMT gói thầu nói trên là không cụ thể và gây khó khăn cho việc tiếp cận HSMT Nhà thầu này cho biết, mong muốn tham gia

Trang 30

22

gói thầu trên, sáng thứ Năm ngày 18/4/2013, Công ty đã cử nhân viên đến địa điểm phát hành HSMT để mua hồ sơ Tuy nhiên, khi đến nơi thì địa chỉ này được đánh dấu chung cho một khu tập thể cũ với vài khu nhà cao tầng có khoảng hơn 100 hộ dân Nhân viên này đã hỏi những người dân sinh sống quanh đó về Công ty CP Tư vấn đầu

tư quản lý dự án CIM, nhưng không ai rõ vì không có số phòng cụ thể Sau khi được Báo Đấu thầu phản ánh, đại diện Bên mời thầu đưa ra hướng khắc phục: sẽ đính chính thông tin trên Báo Đấu thầu và dán giấy thông báo, trong đó nêu rõ địa chỉ cụ thể bán HSMT và cung cấp thêm tên cán bộ trực bán hồ sơ cùng với số điện thoại để liên hệ Như vậy, dù đã có hướng xử lý kịp thời, nhưng việc không cung cấp thông tin địa điểm phát hành HSMT đầy đủ, cụ thể và rõ ràng đã gây ra nhiều khó khăn cho các nhà thầu khi tiếp cận HSMT Đây cũng là bài học cần nghiêm túc rút kinh nghiệm cho các bên mời thầu khác cũng như các đơn vị tư vấn được bên mời thầu ủy quyền

(Lược trích từ Báo Đấu thầu số 83 ngày 25/4/2013)

Một thực tế khác đang diễn ra thường ngày là nhà thầu rất nhọc nhằn trong việc mua

hồ sơ mời thầu Sau khi vượt qua được cửa ải “tìm địa chỉ bán HSMT”, nhiều nhà thầu lại vấp phải những “chiêu trò” khác của chủ đầu tư trong việc mua HSMT Ví dụ, không ít chủ đầu tư đưa ra quy định nhà thầu phải có hồ sơ về năng lực tài chính thì mới được mua HSMT (trong khi pháp luật hiện hành về đấu thầu không có quy định này) Thực tế là, nhiều nhà thầu khi đi mua HSMT không chuẩn bị và mang theo hồ sơ

về năng lực tài chính nên dù có “trèo đèo lội suối” hàng trăm cây số thì vẫn phải ra về tay không

Chưa hết, sau khi vượt qua được bài toán về loại “giấy phép con” (hồ sơ về năng lực tài chính) này, nhà thầu còn bị một số chủ đầu tư bắt phải “xếp hàng” đăng ký vào danh sách nhà thầu có nhu cầu mua HSMT và hẹn lần sau đến mới bán HSMT Theo lời hẹn của chủ đầu tư, khi nhà thầu quay lại mua HSMT thì chủ đầu tư lại “năm lần bảy lượt” đưa ra các lý do chưa thể bán HSMT như: nhà thầu đăng ký mua HSMT nhiều quá, chủ đầu tư chưa sao chụp kịp, địa phương bị mất điện nên máy phô tô không hoạt động được; người được phân công phụ trách bán HSMT đi vắng, bận họp, làm việc kiêm nhiệm nên không phải lúc nào cũng trực bán HSMT… Chính vì những

Trang 31

do mất cơ hội tham gia đấu thầu và thực hiện các dự án một cách công bằng, minh bạch Người dân bị ảnh hưởng chất lượng cuộc sống vì phải sử dụng các công trình, sản phẩm không bảo đảm chất lượng mà nguyên nhân từ các nhà thầu làm ăn gian dối Hậu quả lâu dài là nền kinh tế bị ảnh hưởng về chất lượng và hiệu quả tăng trưởng do các hoạt động đầu tư, đấu thầu không bảo đảm chất lượng, nhất là đầu tư công bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Nguyên nhân của các hiện tượng dàn xếp, thông đồng trong đấu thầu trước tiên là do ý chí chủ quan của chủ đầu tư không muốn tổ chức đấu thầu một cách công khai, minh bạch để lựa chọn nhà thầu tốt nhất với chi phí thấp nhất Họ muốn lợi dụng cơ chế đấu thầu làm “vỏ bọc” công khai, minh bạch nhằm mục đích trục lợi riêng Vì phần lớn nguồn vốn thực hiện dự án là vốn nhà nước nên các chủ đầu tư “đục khoét” bằng mọi cách, trong đó có cách thông đồng với nhà thầu để hưởng lợi từ dự án Còn các nhà thầu thì muốn có việc làm, lợi nhuận nên cũng đồng tình với cách thức này và sẵn sàng

“chi hoa hồng” cho chủ đầu tư nếu được trúng thầu

Mặc dù Luật đấu thầu hiện hành đã có các quy định nhằm buộc các chủ đầu tư phải công khai quá trình mời thầu như đăng thông tin mời thầu trên Báo đấu thầu và trang thông tin điện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu với các thông

Trang 32

24

tin cụ thể như: kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, danh sách nhà thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu,…Tuy nhiên, với ý định “lách luật”, các chủ đầu tư chỉ thực hiện các quy định này mang tính hình thức và cố tình gây khó khăn cho nhà thầu khi nộp HSMT như các hiện tượng nêu trên

Hai là: Hiện tượng “Vẽ ra” yêu cầu trong hồ sơ mời thầu để loại nhà thầu

Đây là một hiện tượng đáng phê phán trong công tác đấu thầu hiện nay Theo các chuyên gia trong ngành xây dựng, việc “vẽ” ra yêu cầu trong HSMT là hàng rào ngầm, không lộ thiên như việc gây khó dễ trong mua HSMT mà chỉ có một số chủ đầu tư

“cao tay” mới có thể đưa ra được Hàng rào này có ý nghĩa gần như “đòn đánh hạ gục” hoặc nhằm ngăn cản các nhà thầu không có quan hệ ruột thịt với chủ đầu tư tiếp cận với gói thầu

Một trong những “hàng rào” ngầm được nhiều chủ đầu tư sử dụng là tự đặt ra những yêu cầu theo kiểu trên trời hoặc kiểu “đo người may áo” (lấy nhà thầu ruột làm mẫu hình chuẩn để ra “bài thi” và cũng chỉ có nhà thầu ruột mới có lời giải tương ứng) Bên cạnh đó, một số chủ đầu tư còn đưa ra những yêu cầu “ngất ngưởng” để hạn chế sự tham gia của các nhà thầu Chẳng hạn, tại HSMT gói thầu “Mua sắm 200 giường bệnh loại 2, trong đó 120 giường bệnh điều trị theo chế độ Bảo hiểm Y tế, Bệnh viện Đa khoa X TP HN”, phần yêu cầu về năng lực tài chính của nhà thầu quy định: “Doanh thu bình quân 3 năm 2008, 2009 và 2010 phải đạt 50 tỷ đồng trở lên”, trong khi đó giá gói thầu chỉ gần 900 triệu đồng (chưa đầy một tỷ)…

Một ví dụ khác là việc khi cần mua sắm những hàng hóa thông dụng, có nhiều trên thị trường, một số chủ đầu tư cũng đặt ra những yêu cầu hết sức cầu kỳ đối với những nhà thầu quan tâm như yêu cầu về bản gốc giấy phép bán hàng của nhà sản xuất, nêu yêu cầu cụ thể về nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa…

Hiện tượng này gây ra hậu quả là giảm số lượng hồ sơ dự thầu, hạn chế các nhà thầu tham gia đấu thầu vì các yêu cầu, tiêu chí mời thầu quá cao hoặc không phù hợp với thực tế hầu hết các nhà thầu không đáp ứng được Mục đích cuối cùng của chủ đầu tư

là đưa ra yêu cầu hồ sơ mời thầu sao cho chỉ có nhà thầu “ruột” mới có thể đáp ứng được, vì thế không phải cạnh tranh thực sự với các nhà thầu khác Với mục đích tư lợi,

Trang 33

25

trong trường hợp này các chủ đầu tư đã gây thiệt hại về kinh tế cho lợi ích của tập thể, của Nhà nước vì kết quả lựa chọn nhà thầu không đúng với thực chất dựa trên cạnh tranh, minh bạch, hậu quả là các nhà thầu có năng lực bị loại ngay từ khi nộp hồ sơ Thực chất hành vi này của chủ đầu tư đã vi phạm điều cấm của Luật đấu thầu hiện hành là cấu kết, thông đồng với các bên trong đấu thầu làm ảnh hưởng đến lợi ích của tập thể, lợi ích của quốc gia, cần phải được ngăn chặn, xử lý kịp thời Tuy nhiên, trong thực tế thì rất khó xử phạt hành vi này vì không có bằng chứng để chứng minh việc đưa ra yêu cầu mời thầu quá cao là hành vi cấu kết, thông đồng của chủ đầu tư với nhà thầu

Nguyên nhân của hiện tượng này là do mong muốn chủ quan của một số cá nhân muốn lợi dụng đấu thầu dự án từ nguồn vốn của Nhà nước để thu lợi bất chính, mà bản chất

là tham nhũng Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về đấu thầu và phòng, chống tham nhũng vẫn chưa có giải pháp triệt để giải quyết bất cập này Các cơ quan quản lý cũng không thể quản lý hết các thông tin cụ thể mà nhà đầu tư đưa ra có thực

sự cần thiết, chính đáng không Quy trình đấu thầu hiện nay chủ yếu vẫn giao trách nhiệm toàn bộ cho chủ đầu tư, nhưng lại thiếu các biện pháp kiểm tra, kiểm soát của

cơ quan quản lý đối với việc thực hiện của chủ đầu tư

Chính vì những nguyên nhân trên nên đồng thời với việc giao trách nhiệm cho chủ đầu

tư trong việc mời thầu, thì pháp luật về đấu thầu cũng cần bổ sung biện pháp bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu như quy định cụ thể nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc đưa

ra các yêu cầu mời thầu phù hợp với gói thầu, các cơ quan quản lý của chủ đầu tư có trách nhiệm kịp thời ngăn chặn chủ đầu tư có dấu hiệu vi phạm, đưa ra yêu cầu dự thầu quá cao, không hợp lý và có chế tài mạnh hơn đối với các chủ đầu tư vi phạm như đình chỉ đấu thầu, hủy thầu, thậm chí thay chủ đầu tư,…Bên cạnh đó, công tác quản lý của các cơ quan chức năng cũng cần bám sát thực tiễn, nắm bắt kịp thời các hoạt động của các cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư dự án, tổ chức đấu thầu Nếu phát hiện những hiện tượng tiêu cực thì cần có biện pháp xử lý kịp thời, quy trách nhiệm rõ ràng cho tập thể, cá nhân có vi phạm, nếu thấy có biểu hiện tham nhũng thì cần kiên quyết điều tra, xử lý theo quy định phòng, chống tham nhũng và pháp luật tố tụng hình sự

Trang 34

26

Ngoài ra, cần đẩy nhanh tiến độ về hoàn thiện xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về đấu thầu để đáp ứng nhu cầu của nhà thầu, chủ đầu tư Cơ sở dữ liệu này sẽ tạo thuận lợi trong quá trình đánh giá kinh nghiệm và năng lực nhà thầu vì đây là cơ sở để chủ đầu

tư, bên mời thầu kiểm tra tính xác thực trong thông tin khai báo của nhà thầu Việc này tiết kiệm nhiều thời gian và công sức, chi phí trong quá trình tổ chức, lựa chọn nhà thầu

Ba là: Hiện tượng “quân xanh, quân đỏ”

Tình trạng dàn xếp, thông đồng giữa các nhà thầu để một nhà thầu trúng thầu trong một gói thầu còn xảy ra ở một số nơi, nếu một chủ đầu tư nào đó muốn một hợp đồng của gói thầu rơi vào các nhà thầu “ruột” của chủ đầu tư để sau này cùng hưởng lợi, chủ đầu tư và nhà thầu ruột sẽ móc nối, tìm các nhà thầu khác yếu hơn nhà thầu “ruột” rồi

tổ chức đấu thầu Kết quả là nhà thầu “ruột” trúng Các nhà thầu không phải nhà thầu ruột được coi là "quân xanh" hay còn gọi là “chân gỗ”, còn nhà thầu “ruột” là "quân đỏ" Trong mua sắm thiết bị, thường xảy ra tình trạng chủ đầu tư lấy tối thiểu 3 báo giá của 3 nhà cung cấp để so sánh, trong đó có một báo giá “quân đỏ” có giá rẻ, chất lượng và 2 báo giá “quân xanh” đắt và kém chất lượng hơn Đương nhiên là "quân đỏ" thắng Ngược lại, một số chủ đầu tư không có kinh nghiệm cũng có thể bị rơi vào hoàn cảnh bị các nhà thầu liên tục “quây thầu” rồi thuê các nhà thầu khác làm “quân xanh” cho mình để thắng thầu

Hiện tượng “quân xanh, quân đỏ” đã xuất hiện từ lâu, là hiện tượng lợi dụng tổ chức đấu thầu để trúng thầu bằng việc dàn xếp, thông đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu hoặc giữa nhà thầu với nhau để trúng thầu Hậu quả rõ ràng của tình trạng này là các nhà thầu đủ năng lực thì không trúng thầu, nhà thầu trúng thầu thì có khi không đủ năng lực ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện dự án Nguyên nhân của hiện tượng này hoàn toàn do mong muốn chủ quan của chủ đầu tư, cố tình dàn xếp để nhà thầu “có quan hệ” trúng thầu hoặc do nhà thầu cố tình dàn xếp trong quá trình nộp hồ sơ tham

dự đấu thầu để loại các nhà thầu khác

Vì vậy, Luật đấu thầu cần có những biện pháp ngăn chặn tình trạng này, quy định chặt chẽ về thủ tục, hồ sơ mời thầu; quy định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, cơ quan quản

Trang 35

27

lý và chế tài xử lý vi phạm nếu cố tình dàn xếp, thông đồng để trục lợi Ngoài các biện pháp xử lý vi phạm của Luật đấu thầu như đình chỉ đấu thầu, hủy thầu, cấm tham gia đấu thầu,… cần có biện pháp xử lý mạnh hơn của cơ quan quản lý cấp trên đối với chủ đầu tư, đặc biệt là quy trách nhiệm cá nhân của người ra quyết định, hạn chế trách nhiệm tập thể không xử lý được vi phạm Để có thể xử lý, phát hiện kịp thời các vi phạm của chủ đầu tư trong quá trình mời thầu, hạn chế được những tiêu cực như hiện nay, cần nghiên cứu tổ chức cơ quan thanh tra, kiểm tra độc lập, chuyên nghiệp, đủ năng lực trong cơ quan quản lý về đấu thầu Bởi vì, hoạt động đấu thầu cần có chuyên môn nghiệp vụ cao, nên lực lượng thanh tra như hiện nay không đủ năng lực để phát hiện các dấu hiệu vi phạm trong thực tế ở nhiều lĩnh vực khác nhau Ngoài các biện pháp cưỡng chế, các cơ quan quản lý ở trung ương và địa phương cũng cần phối hợp chặt chẽ hơn với các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội nhà thầu để tuyên truyền, nâng cao ý thức cho các chủ đầu tư, nhà thầu trong việc tham gia đấu thầu công khai, minh bạch nhằm bảo đảm lợi ích lâu dài của nhà thầu, chủ đầu tư cũng như lợi ích kinh tế chung

1.2.2.4 Vấn đề quản lý sau đấu thầu còn chưa được thực hiện thường xuyên và chưa

được quan tâm đúng mức

Sản phẩm của quá trình đấu thầu cuối cùng là hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu trúng thầu Hiệu quả đạt được từ công tác đấu thầu phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện nghĩa vụ và ràng buộc giữa chủ đầu tư và nhà thầu như đã nêu trong hợp đồng Tuy nhiên, theo báo cáo của các địa phương thì trong một số trường hợp việc quản lý thực hiện hợp đồng còn chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là trong bối cảnh giá cả leo thang Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà thầu trong quá trình thi công chưa chặt chẽ, một số nhà thầu sau khi trúng thầu không bố trí đủ nhân lực, thiết bị, tài chính đảm bảo tiến độ thi công như HSDT và hợp đồng đã ký kết nhưng chủ đầu tư chưa có biện pháp tích cực xử lý chế tài đối với nhà thầu

Nhìn chung công tác đấu thầu chịu nhiều ảnh hưởng của tình trạng lạm phát kinh tế trong nước cũng như thế giới Do đó các nhà thầu có tâm lý e ngại tham gia đấu thầu, trong một số trường hợp ở các gói thầu xây lắp, nhà thầu có tâm lý thực hiện hợp đồng cầm chừng để được điều chỉnh giá trị hợp đồng khi có các thay đổi về chính sách của

Trang 36

28

nhà nước về tiền lương, giá ca máy, Trong một số trường hợp khác, nhà thầu khi thực hiện hợp đồng đã không đảm bảo được năng lực tài chính dẫn đến chậm trễ trong triển khai dự án

Ngoài ra, một số chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện công tác giám sát thi công, đôn đốc các nhà thầu xây lắp đảm bảo tiến độ đúng quy định và việc bảo đảm thực hiện hợp đồng theo quy định còn ít được các chủ đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật, một số nơi khi nhà thầu thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thực hiện hợp đồng không đúng với thời hạn của hợp đồng nhưng vẫn được chủ đầu tư bỏ qua

Bên cạnh đó, nhiều công trình đã lựa chọn được nhà thầu nhưng chưa hoàn thành bồi thường giải phóng mặt bằng, sau khi ký hợp đồng vẫn chưa có mặt bằng thi công hoặc quá trình thi công phải tạm dừng vì một số vị trí không giải phóng được mặt bằng theo tiến độ, gây khó khăn rất lớn cho nhà thầu, tiến độ thi công phải kéo dài, rất nhiều thủ tục kéo theo do phải bổ sung điều chỉnh dự án

1.2.2.5 Xu hướng đề nghị được áp dụng hình thức chỉ định thầu vẫn còn nhiều

Việc quyết định áp dụng hình thức chỉ định thầu của nhiều gói thầu là trách nhiệm của người có thẩm quyền (Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh…) Nhiều gói thầu không thuộc trường hợp được áp dụng chỉ định thầu quy định tại Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, Nghị định 63/2014/NĐ-CP, cần được tổ chức đấu thầu rộng rãi hoặc áp dụng các hình thức lựa chọn khác phù hợp theo quy định, nhưng một số Bộ ngành, địa phương vẫn chấp thuận áp dụng chỉ định thầu theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, từ đó dẫn đến kéo dài thời gian triển khai

dự án và không phù hợp với mục tiêu của công tác đấu thầu

1.2.3 Kinh nghiệm về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp trên thế giới

Xuất phát từ sự khác nhau về các đặc điểm đặc thù, trình độ tổ chức đấu thầu của các nước, các tổ chức quốc tế, các quy định về đấu thầu và kinh nghiệm tổ chức đấu thầu của các nước, các tổ chức quốc tế, hoạt động đấu thầu xây dựng của các tổ chức quốc

tế như: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và của các nước như Nga, Hàn Quốc thể hiện tính phong phú đa dạng của hoạt động đấu thầu xây dựng Nghiên cứu hoạt động đấu thầu xây dựng của các nước như Nga, Hàn Quốc và

Trang 37

29

Campuchia, một số tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), tác giả tổng hợp những kinh nghiệm quý báu đó làm những bài học cho các hoạt động đấu thầu xây lắp

ở Việt Nam và từ đó góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động này trong tương lai

1.2.3.1 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của các nước

1 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của nước Nga:

Ở Nga, để quản lý hoạt động đấu thầu, chính phủ ban hành Nghị định kèm theo quy chế đấu thầu về mua sắm hàng hoá, xây lắp công trình, dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Một trong những kinh nghiệm tổng quan chi phí hoạt động đấu thầu của nước Nga

là sự phù hợp cao của quy chế đấu thầu quốc tế Nó đảm bảo cho các hoạt động đấu thầu quốc tế diễn ra ở nước Nga không phải tốn nhiều công sức vào việc nghiên cứu tìm hiểu các quy định của các tổ chức quốc tế trước khi tiến hành chúng Do vậy, đây

là một trong những căn cứ quan trọng góp phần thực hiện một trong những yêu cầu của nâng cao chất lượng đấu thầu là tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu tư và tạo sự dễ dàng cho quá trình thực hiện Cơ chế quản lý, giám sát, xử phạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong các hoạt động đấu thầu ở nước Nga đảm bảo chấm dứt tình trạng lạm dụng quyền lực của các quan chức chính phủ trong việc đấu thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp và dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Có thể nói,

ở Nga, chính sách xử phạt thích đáng những cá nhân, tổ chức vi phạm quy chế đấu thầu đã thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu công bằng, bình đẳng trong đấu thầu; hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu vô tư của những người làm công tác xét thầu Đây là một kinh nghiệm quý báu chúng ta có thể nghiên cứu học tập để nâng cao chất lượng đấu thầu xây lắp hiện nay

2 Kinh nghiệm đấu thầu của Hàn Quốc:

Theo quy định của Hàn Quốc, “Luật hợp đồng” mà trong đó Nhà nước là bên tham gia

là luật điều chỉnh các hoạt động đấu thầu Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản

và thủ tục mua sắm công Trên cơ sở luật đó Tổng thống, Thủ tướng ban hành các hướng dẫn để thực hiện Bộ Kinh tế và Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Hệ thống mua sắm của Hàn Quốc là hệ thống tập trung thống nhất cao Hàn

Trang 38

30

Quốc có một cơ quan tập trung có tên viết tắt là Sarok có một số lượng cán bộ chuyên gia lớn lên tới hàng ngàn người có nhiệm vụ tổ chức thực hiện đấu thầu tất cả các nhu cầu mua sắm công lớn của đất nước Tuy nhiên, những nhu cầu mua sắm có giá trị nhỏ cũng được phân cấp Có thể nói nhiều nhà thầu Việt Nam đang có kỳ vọng đề nghị Chính phủ xem xét áp dụng kinh nghiệm này, vì việc tổ chức đấu thầu rất phân tán hiện nay ở nước ta có thể đã đẩy hoạt động này đi theo chiều hướng tạo thuận lợi cho các tệ nạn phát sinh như cục bộ, địa phương chủ nghĩa, áp dụng thiếu thống nhất, thiếu nhất quán giữa các địa phương, các ngành

3 Kinh nghiệm đấu thầu của Campuchia:

Campuchia là một nước có diện tích nhỏ, ở cạnh nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian qua Hơn nữa, Campuchia vừa mới gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), do vậy nghiên cứu Quy chế đấu thầu của Campuchia cũng có ý nghĩa đối với Việt Nam Cũng dễ nhận thấy rằng, Quy chế quản lý đấu thầu Nhà nước của Campuchia khá đơn giản, ngắn gọn Nó chỉ bao gồm 9 điều với độ dài không quá

10 trang khổ giấy A4, quy chế này quy định một cách khái quát các hình thức đấu thầu, quy trình đấu thầu tổng quát và quản lý, giám sát hoạt động đấu thầu Việc tổ chức đấu thầu ở Campuchia được tiến hành một cách tập trung thông qua một Hội đồng Có thể nói rằng, tính đơn giản, gọn nhẹ và tập trung là điểm nổi bật trong Quy chế Đấu thầu xây dựng ở Campuchia Điều này giải thích tại sao, các quy chế quản lý của Campuchia mặc dù rất đơn giản nhưng hiệu lực rất cao

1.2.3.2 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của một số tổ chức quốc tế

1 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Thế giới (WB):

Ngân hàng Thế giới là một tổ chức quốc tế quản lý các khoản cho vay với 185 nước thành viên Để quản lý các hoạt động mua sắm, Ngân hàng Thế giới ban hành hai văn bản quy định riêng rẽ Những quy định này được các nhà lập pháp Việt Nam tham khảo nhiều trong quá trình xây dựng quy chế đấu thầu và điều hành hoạt động đấu thầu ở Việt Nam từ những ngày đầu tiên cho đến bây giờ hai quy định riêng rẽ đó gồm:

Hướng dẫn mua sắm bằng vốn vay IBRD (Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế và

Trang 39

ở Việt Nam là các Công ty, doanh nghiệp trực thuộc ngành của một Bộ chủ quản có được tham gia đấu thầu các gói thầu do các Bộ đó tổ chức, giám sát, quản lý hay không? Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm yêu cầu vô tư, công bằng, bình đẳng giữa các Nhà thầu

Ngân hàng Thế giới quy định rõ các hình thức đấu thầu gồm đấu thầu cạnh tranh Quốc

tế (ICB) và các cách mua sắm khác, như Đấu thầu Quốc tế hạn chế (LIB), Đấu thầu cạnh tranh trong nước (NCB), Chào hàng cạnh tranh (Quốc tế và Trong nước); Hợp đồng trực tiếp hoặc tự làm Việc lựa chọn hình thức nào phải trên nguyên tắc đảm bảo phát huy khả năng có cạnh tranh đủ rộng về giá, gồm các Nhà thầu có đủ khả năng kết hợp, kinh tế và hiệu quả các hình thức đấu thầu được áp dụng cho từng gói thầu được xác định theo thoả thuận giữa ngân hàng và bên vay Kinh nghiệm thứ ba có thể học tập từ quy định cũng như thực hành đấu thầu của Ngân hàng Thế giới yêu cầu việc đấu thầu cạnh tranh quốc tế (ICB) phải thông báo mời thầu công khai trên tờ báo “Kinh doanh phát triển” của Liên Hợp Quốc (Development Business) Ngân hàng Thế giới quy định:Việc thông báo đúng lúc về các cơ hội đấu thầu cực kỳ quan trọng trong đấu thầu cạnh tranh Đối với các dự án mua sắm theo thể thức ICB, bên vay phải chuẩn bị

và nộp cho Ngân hàng một dự thảo Thông báo chung về mua sắm

Trang 40

Ngân hàng Thế giới cũng yêu cầu tránh nói đến tên nhãn hiệu trong hồ sơ mời thầu để tăng cường tính cạnh tranh trong đấu thầu:” Yêu cầu kỹ thuật phải dựa trên cơ sở các đặc tính kỹ thuật và hoặc yêu cầu về tính năng sử dụng Cần tránh nói đến các tên nhãn hiệu, số catalo hoặc các cách phân loại tương tự Nếu cần phải trích dẫn tên nhãn hiệu hoặc số catalo của một nhà sản xuất nào đó thì mới nêu rõ và đầy đủ yêu cầu kỹ thuật được thì phải, nói thêm “hoặc tương đương sau đó”

Những quy định rõ ràng về ngôn ngữ sử dụng, đồng tiền sử dụng và cách quy đổi từ các loại đồng tiền khác nhau về một đồng tiền chung theo tỷ giá hối đoái do cơ quan nào phát hành và thời điểm xác định tỷ giá chung là cơ sở thống nhất cho việc đánh giá các hồ sơ dự thầu Đây được xem là nhân tố quan trọng trong việc bảo đảm tính công bằng, minh bạch và hiệu quả

Tiêu chuẩn lựa chọn Nhà thầu trúng thầu để trao hợp đồng dựa trên tiêu chuẩn năng lực và có đơn dự thầu được xác định là: (i) về cơ bản đáp ứng hồ sơ mời thầu: và (ii)

có giá chào thầu được đánh giá là có chi phí thấp nhất” Người dự thầu sẽ không bị đòi hỏi phải chịu trách nhiệm về các công việc không mâu thuẫn nêu trong hồ sơ mời thầu hay buộc phải sửa đổi đơn dự thầu khác đi so với khi nộp lúc đấu thầu như là một điều kiện để được trúng thầu

Trong quy định của mình, Ngân hàng Thế giới cũng dành một chương mục cho việc quy định ưu đãi đối với Nhà thầu trong nước và hàng hoá sản xuất trong nước Theo Ngân hàng Thế giới, Đối với hợp đồng xây dựng được trao trên cơ sở ICB, khi được Ngân hàng đồng ý, các bên vay trong điều kiện đủ tiêu chuẩn hợp lệ có thể dành một mức ưu đãi 7,5% cho các Nhà thầu trong nước Điều đó có nghĩa là cộng thêm 7,5%

Ngày đăng: 16/12/2020, 21:19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w