1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(MN) một số giải pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số

22 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 139,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là giải pháp lần đầu tiên được áp dụng cho trẻ mẫu giáo dân tộc tại Trường Mầm non ............................ Sáng kiến này chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải thực hiện. Việc giúp trẻ dân tộc tăng cường tiếng Việt ở trường mầm non không phải là vấn đề mới. Nhưng vấn đề giúp trẻ mẫu giáo sử dụng Tiếng Việt một cách tích cực ở trường mầm non ........................... thì là lần đầu tiên tôi nghiên cứu và và đưa ra những nội dung mới, thiết thực để áp dụng thực hiện. Trước đó đề tài này chưa được Hội đồng sáng kiến các cấp công nhận. Là sáng kiến lần đầu áp dụng nên chưa được công khai trên các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuật.

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng chấm sáng kiến huyện

Tên tôi ghi dưới đây:

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo

PhóHT

Đại họcMầmnon

3 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 02 tháng 10 năm 2018.

4 Mô tả bản chất của sáng kiến:

Trang 2

cách tích cực ở trường mầm non thì là lần đầu tiên tôinghiên cứu và và đưa ra những nội dung mới, thiết thực để áp dụng thực hiện.Trước đó đề tài này chưa được Hội đồng sáng kiến các cấp công nhận.

Là sáng kiến lần đầu áp dụng nên chưa được công khai trên các văn bản,sách báo, tài liệu kỹ thuật

4.2 Tính khoa học:

Căn cứ Kế hoạch số 45 ngày 23/3/2017 của Ủy ban nhân dân

tỉnh , Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025” trên địa bàn tỉnh Với mục đích để trẻ Mầm

non vùng dân tộc thiểu số có đủ kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt vàhoàn thành Chương trình Giáo dục Mầm non, tạo tiền đề để trẻ học tập, lĩnh hộitri thức của các cấp học tiếp theo

Vì tiếng Việt rất quan trọng đối với mọi người dân Việt Nam Đặc biệt đối vớitrẻ dân tộc thiểu số Song trong thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa vùngdân tộc thiểu số, trước khi đến trường trẻ sống trong gia đình ở các thôn bản nhỏ,

trong môi trường tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc) Do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ

ở dạng khẩu ngữ Trẻ biết rất ít hoặc thậm trí không biết tiếng Việt Trong khi đótiếng Việt là ngôn ngữ chính dùng trong trường học và cơ sở giáo dục khác

Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hànhđộng vì những mục đích chung: lao động, học tập, xây dựng và phát triển xã hội.Không có ngôn ngữ con người không thể giao tiếp vì vậy ngôn ngữ chính là mộttrong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên của xã hội loàingười, là công cụ hữu hiệu để trẻ bày tỏ những nguyện vọng, suy nghĩ và đánhgiá của bản thân về những hiện tượng xung quanh

Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy và tư duy của con người có thểhoạt động được cũng chính là nhờ có ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mốiquan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của conngười không diễn ra được Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi và thamgia các hoạt động ở trường mầm non Thông qua các hoạt động học tập, vui chơi

Trang 3

và trò chuyện ở mọi lúc mọi nơi mà dần dần trẻ thành thạo tiếng Việt, như vậymọi hoạt động ở trường đều tạo cơ hội cho ngôn ngữ thứ hai của trẻ phát triển.

Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cầnthiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất Song với trẻ dân tộcthiểu số tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữ chính để trẻ học tập, vui chơi vàgiao tiếp với xã hội Do đó bắt buộc trẻ phải học ngôn ngữ thứ hai từ khi bướcvào ngưỡng cửa trường Mầm non với một hình thức giống với tiếng mẹ đẻ,nhưng với một môi trường hẹp hơn là lớp học, là cô giáo và các bạn Trẻ họcngôn ngữ tiếng Việt song song với việc học tri thức và bước đầu trẻ phải tập làmchủ ngôn ngữ thứ 2 để làm chủ tri thức, tư duy của mình

Sáng kiến “Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo” tại

trường Mầm non lần đầu áp dụng với các lớp mẫu giáo đã mang

lại hiệu quả rõ rệt Bằng các biện pháp: Giáo dục trẻ thông qua các chủ đề trongnăm học, tích hợp lồng ghép nội dung thông qua các hoạt động học, giáo dục trẻthông qua hoạt động khác trong ngày, và sự phối hợp chặt chẽ với phụ huynh Bêncạnh đó việc tạo môi trường cho học tập cho trẻ được tiếp cận thường xuyên vớingôn ngữ tiếng Việt đã mang lại kết quả cao trong việc tăng cường tiếng Việt chotrẻ tại trường Đề tài này đã trang bị cho các cháu vốn tiếng Việt cần thiết để trẻtiếp thu kiến thức một cách hiệu quả và cũng là hành trang cho trẻ mang theo suốtcuộc đời

Vận dụng những kiến thức kinh nghiệm đưa ra một số giải pháp giúp trẻđược phát triển ngôn ngữ tiếng Việt một cách đầy đủ và mạch lạc nhất ngay khitrẻ bước chân vào trường Mầm non, và trẻ tự tin bày tỏ cảm súc, suy nghĩ củamình với những người xunh quanh một cách tốt nhất Tôi mong rằng trẻ thànhthạo tiếng Việt sớm hơn và từ đó trẻ tiếp nhận tri thức một cách dễ ràng và đầy

đủ nhất và đó sẽ là một lý do để nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục, đâycũng là nền móng tốt cho trẻ phát triển toàn diện

4.3 Tính thực tiễn:

4.3.1 Thực trạng:

Trang 4

Trường Mầm non hiện nay số trẻ dân tộc thiểu số là108/420 chiếm 25,7,%, trẻ mẫu giáo 96/420 chiếm 23% Trong đó đa số trẻ làdân tộc Dao, một số trẻ chỉ nói tiếng Việt khi giao tiếp với cô giáo và các bạn,ngoài ra trẻ thường giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ nhất là khi trẻ ở gia đình Thực tếcho thấy đối với những trẻ thành thạo tiếng Việt việc giao tiếp và tiếp thu kiếnthức, thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất dễ dàng, song đối vớimột số trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòi hỏi nhà giáodục cần phải có những biện pháp phù hợp.

Thông qua các hội thi, các hoạt động trên lớp cho thấy trẻ dân tộc thiểu sốtrong nhà trường thiếu tự tin, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động vì vậykết quả tổ chức các hoạt động chưa cao và chất lượng giáo dục trẻ ở các lớpchưa đồng đều

Với nội dung tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi để chuẩn bị vào lớp 1như hiện nay theo tôi chưa đủ so với yêu cầu thực tế trong công tác giáo dục củanhà trường Bởi trong quá trình học ở các lớp dưới trẻ chưa thành thạo tiếngViệt nên việc nắm bắt kiến thức còn hạn chế, trẻ chưa hiểu hết những yêu cầuhay những cuộc trò chuyện của cô nên chưa phát huy hết tính tích cực, chủ độngcủa trẻ Trẻ nói không rõ ràng về ngôn ngữ và khả năng diễn đạt ngôn ngữ tiếngViệt của trẻ còn khó khăn

Thực tế tại nhà trường trẻ từ 0 – 2 tuổi đi học đạt khoảng 25 - 29%, còn lạitrẻ 3-5 tuổi ra lớp đạt 100% Một số cháu dân tộc bắt đầu đi học cũng là lúc bắtđầu học ngôn ngữ thứ hai Loại ngôn ngữ giúp trẻ giao tiếp, tiếp nhận tri thức,bày tỏ những quan điểm của riêng mình, song song cùng học ngôn ngữ là trẻ họctri thức, vì vậy có phát triển ngôn ngữ tiếng Việt mạch lạc càng sớm thì trẻ mớitiếp nhận tri thức một cách tốt nhất và đảm bảo nhất

Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa là yêucầu cấp thiết đặt ra cho công tác giáo dục nhà trường nhằm đảm bảo nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện sứng tầm mục tiêu phát triển giáo dục của huyện nhà Tôi

Trang 5

nhận thấy cần có những biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ tuổimẫu giáo bé.

Từ thực tế trên tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá mức độ hiểu ngôn ngữTiếng Việt của trẻ dân tộc ngay từ đầu năm học 2018-2019 kết quả như sau:

* Bảng 1: Khảo sát ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ dân tộc đầu năm học

Trẻ nói thành thạo tiếng Việt 13/96 = 13,5%Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động học và trò

Trẻ nghe và hiểu một số yêu cầu của cô 31/96 = 32,3%Trẻ biết một số từ đơn giản trong giao tiếp diễn đạt

những yêu cầu, mong muốn của bản thân như chào

cô, mời cô và các bạn ăn cơm, xin phép đi vệ sinh,

xin cô uống nước

+ Về phía giáo viên

Chưa có tài liệu dành riêng cho giáo viên dạy lớp có trẻ Dân tộc thiểu số.Trong khi đó giáo viên lại chưa được trang bị kiến thức về giáo dục trẻ dân tộc

Trang 6

Tỷ lệ trẻ trên lớp đông, đa số trẻ là người Kinh vì vậy giáo viên chưa chútrọng vào việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số dẫn đến kết quảđánh giá trẻ chưa đồng đều.

Từ những lý do nêu trên tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nângcao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ cho trẻ dân tộc thiểu số tại Trường Mầmnon qua việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ như sau:

4.3.2 Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số Trường Mầm non

Để khắc phục những khó khăn trên cho giáo viên tôi đã thực hiện như sau:

- Nắm vững những đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 3 – 5 tuổi

- Đưa ra các giải pháp hướng dẫn trẻ học tiếng Việt một cách linh hoạt, phùhợp với khả năng và điều kiện thực tế của nhà trường, phù hợp với địa phương

có hiệu quả vì vậy tôi đưa ra các giải pháp sau:

* Giải pháp1: Xây dựng kế hoạch, tạo môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

- Ngay từ đầu năm học giáo viên cần tìm hiểu đặc điểm trẻ dân tộc tronglớp mình cụ thể: Trong lớp có bao nhiêu trẻ dân tộc, là dân tộc gì? những khókhăn hạn chế của từng trẻ về tiếng Việt Giáo viên tìm hiểu về bản sắc văn hóacủa các dân tộc

- Trên cơ sở kế hoạch của nhà trường, từ đặc điểm của trẻ dân tộc tronglớp, giáo viên lên kế hoạch cho từng chủ đề xác định cần tăng cường tiếng Việtcho trẻ ở những kỹ năng nào: nói, nghe, từ vựng, ngữ pháp, khả năng giao tiếp

Trang 7

từ đó có kế hoạch cụ thể cho từng trẻ trong từng ngày, từng nội dung học mộtcách phù hợp.

- Giáo viên xây dựng các góc hoạt động khác nhau trong lớp, có gắn các từtiếng Việt nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ đượcnhiều hơn, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng hơn Để trẻ học tiếng Việtthực sự có hiệu quả, giúp trẻ tự khám phá và phát triển

- Giáo viên cần xây dựng các hoạt động học tiếng Việt phù hợp với mụctiêu và yêu cầu giáo dục theo chủ đề

- Sau khi xây dựng kế hoạch giáo viên cần chuẩn bị đồ dùng đồ chơi, họcliệu, tuyên truyền tới phụ huynh phối hợp với giáo viên xây dựng môi trườnghọc tập trong và ngoài lớp học Ngoài ra giáo viên cần sưu tầm các bài hát, tròchơi truyền thống của người dân tộc Dao, đồ dùng, trang phục, dụng cụ sinhhoạt của người Dao để xây dựng góc dân tộc

Giáo viên sưu tầm và sắp xếp đồ dùng, trang phục và hoạt động lễ hội củađồng bào dân tộc Dao, một số hình ảnh cuộc sống sinh hoạt và lễ hội của ngườiDao, tất cả các đồ dùng, vật thật, tranh ảnh trong góc dân tộc đều có chú thích,

tên gọi bằng tiếng Việt (chữ in thường) bên dưới hình ảnh để trẻ làm quen với

chữ tiếng Việt

Giải pháp 2: Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe- hiểu- thực hành

+ Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.

Bước vào ngưỡng cửa trường mẫu giáo trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữthứ hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt, tiếpthu kiến thức bằng tiếng Việt Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đềuthật khó đối với trẻ Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triểnkhả năng nghe hiểu lời nói của cô

Với mục đích trẻ trẻ hiểu ghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt Yêucầu đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói màkhông hiểu nghĩa Giáo viên thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hànhđộng với đồ vật, bằng ngôn ngữ tượng hình để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểunhất giúp trẻ một phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề

Trang 8

Ví dụ: Trẻ làm quen với tên các gọi các đồ dùng, đồ chơi: Cô giới thiệu quyển

sách, bút màu, cho trẻ xem và cho trẻ nói từ “quyển sách”; “bút màu” Khi cô

giới thiệu tên đồ dùng đồ chơi cho trẻ nghe sau đó cô hỏi lại để kiểm tra Cô giớithiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể: đứng lên, ngồi xuống, vỗ tay… kết hợp

sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ và câu, nhất là những từ trừu tượng,khó hiểu Giáo viên thường xuyên dùng những từ ngữ nhẹ nhàng để khen ngợi trẻ,nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe cô nói

Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâuchuỗi được vấn đề hơn:

Vi dụ: Cho trẻ quan sát hình ảnh “Gia đình bé” cô hỏi trẻ: “Đây là bức tranh gì”?; “Trong tranh có những ai”?; cho trẻ gọi tên từng người trong tranh

“bố”; “mẹ”; “anh” nếu trẻ không nói được, cô giáo nói cho trẻ nhắc lại:

Hình ảnh: Cô và trẻ lớp 3 tuổi trò chuyện về gia đình

Giáo viên luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ nói kèm tranhminh họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựachọn cầu từ ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trẻ Chú ý cung cấp từ mới cho trẻphải nhắc đi nhắc lại giúp trẻ nghe rõ và hiểu vấn đề một cách cụ thể

Tạo cho trẻ năng lực bắt chước kết hợp âm thanh, trẻ thường xuyên học nhắclại những gì nghe được từ cô và các bạn, đây cũng là một trong những biện pháp trẻ

dễ học dễ hiểu nhất: Ví dụ: Trong giờ học tôi đưa một bức tranh và hỏi trẻ cô có gì

Trang 9

đây? Một số trẻ trả lời “Tranh vườn hoa” cô khẳng định là đúng và cho trẻ bắt

chước nói giống cô và các bạn cứ như vậy trẻ học rất nhanh và hiệu quả

Nghe kết hợp với những hình ảnh: Các hình ảnh đính kèm những từngữ làm cho trẻ hiểu được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần

từ đó giúp trẻ nhận biết những điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thích thúcủa trẻ đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học

Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giaotiếp cùng trẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung

cô cần truyền đạt Cô giáo phải luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng,mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng

Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻLuôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tính phù hợp,chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm Đặc biệt khi lựa chọn

đề tài này cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảotính hiệu quả phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền

+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.

Các hoạt động thực tế như đóng kịch, trò chơi nhằm giúp trẻ tham giavào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không gượng ép Cáchoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng tronghọc tập và sử dụng tiếng Việt Từ những đặc điểm này yêu cầu giáo viênphải không ngừng học hỏi, sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí,thông tin đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theonội dung từng chủ điểm

Trang 10

Hình ảnh: Cô và trẻ lớp 5 tuổi trò chuyện về Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên

- Trò chơi cái bao bí ẩn: Cần một cái bao hoặc túi kín để không nhìn thấyđược những vật dụng bên trong túi Cho vào đó những đồ vật dạng hình tròn

(trứng, quả bóng nhỏ, sắc xô, cái hộp) Trước khi cô cho những vật trên vào bao,

hãy cho trẻ sờ chúng trước và gọi tên những vật đó Sau đó, đề nghị trẻ tìm vật

cần thiết qua cảm ứng: “Bàn tay con thật thần kỳ, con hãy dùng tay lấy cho cô quả bóng trong túi nào!” Cô hỏi trẻ về đồ vật trẻ lấy ra khỏi bao: “Đây là cái gì?”, “Có thể chơi bóng như thế nào nhỉ?”.

- Các tình huống gắn liền với hoạt động trong ngày cũng là những cơ hội

để giáo viên giúp trẻ tăng cường tiếng Việt cô giúp trẻ làm giàu thêm vốn từvựng của mình và giúp trẻ phát triển khả năng nghe, bằng cách yêu cầu trẻ nêutên tất cả những gì trẻ biết, bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên cô, tên các

đồ dùng đồ chơi

Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng xung quanh để trò chuyện

và mở rộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi

Trang 11

khác thường chẳng hạn: Hôm nay bạn Ngọc có váy mới; Đây là cây hoa hồng;Bông hoa màu đỏ.

* Giải pháp 3: Dạy trẻ học tiếng Việt thông qua phương pháp trực quan hành động.

Phương pháp này rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn

ngữ mới (ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới

một cách dễ dàng và tự nhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung haycăng thẳng Phương pháp này được áp dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiềuhình thức khác nhau Với phương pháp này, người học được sử dụng tíchcực các giác quan và vận động của cơ thể trong suốt quá trình tham giavào hoạt động học tập và thực hành ngôn ngữ mới Các kỹ năng nghe -

quan sát - phản hồi (bằng hành động của cơ thể) được sử dụng hiệu quả

trong quá trình học tập Phương pháp này giúp giáo viên và trẻ có thể ápdụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động dạy và học để đạt đượcnhững giờ học thực sự tích cực Sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, bắt mắt

đó cũng là cách làm trẻ tò mò xem đó là gì, thích được tham gia vào hoạtđộng với đồ dùng đó

Ví dụ: Các giờ hoạt động khám phá môi trường, ngoài việc cung cấpkiến thức cho trẻ cô cũng đồng thời tăng cường tiếng Việt cho trẻ mộtcách rất hiệu quả Thông qua những hình ảnh, mô hình, vật thật trẻ được

sờ, được nếm, được ngửi, được nghe cùng với những từ ngữ có chọn lọc

cô cung cấp kiến thức và từ mới cho trẻ: Với hoạt động ngoài trời, cô cho

trẻ ra quan sát vật thật, trò chuyện đặt câu hỏi cho trẻ trả lời “Đây là cây gì?”, “lá cây có màu gì?” Cô nhắc lại những đặc điểm rồi cho trẻ nhắc

lại cứ như vậy trẻ học từ mới một cách tự nhiên theo nhiều hướng khácnhau Với chương trình Giáo dục Mầm non thực hiện chủ đề nhánh theotuần vậy nên trong tuần trẻ được tiếp súc làm quen nhiều nhiều hình thức

Ngày đăng: 16/12/2020, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w