1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai

78 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luậthình sự Việt Nam hiện hành về “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác” và “Những quy định đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI



LÊ THỊ THU HẰNG

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI



LÊ THỊ THU HẰNG

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ SỸ SƠN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của

cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Sỹ Sơn Các số liệu, ví dụ vàtrích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Lê Thị Thu Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 7

1.1 Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác 71.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 19

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 23

2.1 Quy định về định tội danh và quyết định hình phạt đối với người dưới 18tuổi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác người dưới 18 tuổi 232.2 Thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18tuổi thực hiện tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 38

Chương 3 YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG

ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 55

DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN 55

3.1 Yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thựchiện 55

Trang 5

3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18tuổi thực hiện 60

KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm, được pháp luậtquốc tế và pháp luật mỗi quốc gia thừa nhận, ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ vôđiều kiện; còn quyền được bảo hộ về sức khỏe là một trong các quyền cơ bản củacon người, của công dân Tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013, nhà làm luật nước tacũng quy định rằng mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đượcpháp luật bảo hộ về sức khỏe, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình haybất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm đến thân thể, sức khỏe

Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực,tinh thần, trí tuệ và nhân cách; có sự hạn chế về kinh nghiệm sống, kiến thứcpháp luật, dễ bị tác động, chi phối bởi điều kiện sống; thích bắt chước, đua đòi,muốn chứng tỏ bản thân, dễ nổi nóng, không kiềm chế được hành vi của mình.Nếu không được sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ từ gia đình, nhàtrường, nhà nước và xã hội dễ dẫn đến việc đối tượng này nhận thức lệch lạc,trong quá trình giao lưu xã hội sẽ dễ bị các đối tượng xấu lôi kéo, kích động, sangã, tham gia vào các băng nhóm tội phạm và vi phạm pháp luật

Thành phố Biên Hòa là đô thị loại I thuộc tỉnh Đồng Nai, có tốc độ đô thịhóa cao, kinh tế phát triển với nhiều khu công nghiệp đã thu hút đông đảo ngườilao động đến sinh sống và làm việc Điều này đã làm cho dân số tại thành phốBiên Hòa tăng cơ học nhanh [1, tr1] Trong những năm gần đây, bên cạnh nhữngchuyển biến tích cực về kinh tế, xã hội thì tình hình tội phạm diễn ra trên địa bànthành phố cũng rất phức tạp, trong đó có tội cố ý gây thương tích là tội phạm trựctiếp xâm hại đến sức khỏe của con người, gây mất an ninh, trật tự xã hội, là loạitội phạm điển hình và phổ biến Đặc biệt là tình trạng thanh thiếu niên tụ tập, mâuthuẫn, gây thương tích cho nhau hoặc cho người khác đang là vấn đề mà các cơquan bảo vệ pháp luật và chính quyền thành phố Biên Hòa lưu ý, quan tâm

Trang 8

BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về “TộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” tại Điều 134, đồng thờidành một chương về “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” -Chương X Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong xử lý người dưới

18 tuổi thực hiện tội phạm này cho thấy vẫn còn những vấn đề nhận thức khácnhau do có một số quy định còn chưa thống nhất và chưa phù hợp với thực tiễn

Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luậthình sự Việt Nam hiện hành về “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác” và “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”, thực tiễn

áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học cũng như đề xuất các giải pháp hoànthiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định đó không chỉ có ýnghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng mà còn là vấn đề cần thiết Đây cũng là lý do

luận chứng cho việc tác giả chọn đề tài “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” làm luận văn thạc sĩ luật học.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trước hết cần nhấn mạnh rằng, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện được phân biệt với tội CYGTT

do người đã thành niên thực hiện chủ yếu bởi độ tuổi của chủ thể thực hiện tộiphạm Bởi vậy, có một số điểm khác biệt trong định tội danh (theo CTTP mà ở đóchủ thể phải chịu TNHS) và trong quyết định hình phạt Tuy nhiên, tội CYGTThoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện là

đề tài ít được nghiên cứu Trong khi đó, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác (gắn với địa bàn cụ thể), lại được đề cập nghiên cứu khánhiều trong các công trình khoa học ở các cấp độ khác nhau Trước tiên, đó là

công trình nghiên cứu của GS.TS Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Ths.Đinh Văn Quế, Bình luận Bộ luật Hình sự năm

2015 (Phần thứ nhất về những quy định chung; Phần thứ hai về các tội

Trang 9

phạm Chương XIV: các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ, điển hình như: Lê Đình Tĩnh (2014), Các tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong Luật Hình sự Việt Nam; Dương Mai Phương (2017), Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn, Học viện Khoa học xã hội; Bùi Mạnh Trung (2016), Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, Học viện Khoa

học xã hội;…

Theo khảo sát của tác giả, các công trình nghiên cứu này đã phân tích nhữngvấn đề lý luận, thực trạng quy định và thực trạng áp dụng pháp luật về tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại các địa bàn khác nhau,nhưng không phải tại địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Rõ ràng, tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổithực hiện tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai chưa được đề cập nghiên cứu.Tuy nhiên, những kiến thức, cách tiếp cận nghiên cứu, những vấn đề được đề cậpnghiên cứu trong các công trình nghiên cứu nói trên được tác giả tiếp thu để thựchiện các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng mục đích vào làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật vềtội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thực tiễn áp dụngpháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, từ đó đềxuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội CYGTThoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

Để thực hiện luận văn, tác giả cần nghiên cứu những nội dung chủ yếu sauđây:

- Trình bày và phân tích những vấn đề lý luận về tội danh CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

- Phân tích quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội danh này; về xử

lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tạithành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Phân tích các yêu cầu và đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng phápluật hình sự đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dongười dưới 18 tuổi thực hiện

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội CYGTT hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác (gồm: khái niệm; các dấu hiệu pháp lýcủa tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, như: khách thể,mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan; những điểm giống nhau và khác nhaugiữa tội này với một số tội khác được quy định tại BLHS hiện hành;…) và thựctiễn áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam trong xử lý người dưới 18 tuổi phạm tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại thành phố Biên Hòa,tỉnh Đồng Nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung năm 2017) về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

và về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (có so sánh với các quyđịnh tương ứng của BLHS năm 1999)

Trang 11

Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện có nhiều nội dung.Tuy nhiên, trong phạm vi một luận văn thạc sĩ vốn bị giới hạn bởi số trang thựchiện, nên luận văn này chủ yếu tập trung vào hai nội dung chính của xét xử sơthẩm vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới

18 tuổi thực hiện, là định tội danh và QĐHP đối với người chưa thành niên phạmtội này

Các số liệu xét xử (về định tội danh và quyết định hình phạt) phục vụ choviệc nghiên cứu, được thu thập từ thực tiễn xét xử của TAND thành phố BiênHòa, tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2019

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài luận văn được nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh;Chủ trương, đường lối của Đảng; Chính sách, pháp luật của Nhà nước về tộiphạm, hình phạt, phòng, chống tội phạm, công lý, bảo vệ quyền con người, quyềncông dân, tư pháp, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện luận văn, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiêncứu khác như: so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp hoặc nghiên cứu án điểnhình…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần nhận thức sâu sắc và thống nhấttrong giới khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật hình sự nói riêng vềnhững vấn đề lý luận và pháp luật về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác và về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội này, từ

Trang 12

đó có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứukhoa học pháp lý hình sự.

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng cácquy định pháp luật hình sự về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác do người dưới 18 tuổi thực hiện ở nước ta Ngoài ra, kết quả nghiêncứu của luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các sinhviên, học viên cao học và nghiên cứu sinh, các cơ quan chức năng, cán bộ chuyênngành tư pháp hình sự trong quá trình nghiên cứu, đào tạo cũng như trong thựctiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện ở nước ta trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các nội dung như: mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảothì kết cấu của Luận văn gồm có:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam đối với tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổithực hiện tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình

sự đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do ngườidưới 18 tuổi thực hiện

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC

1.1 Những lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Để có thể xây dựng khái niệm về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác, trước hết cần nhận thức thế nào là tội phạm Tại khoản 1 Điều 8

BLHS năm 2015, nhà làm luật nước ta đã xác định khái niệm “Tội phạm là hành

vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [3, tr.13] Tại khoản 2 của Điều luật trên đây, nhà làm luật quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng

kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác” [3, tr.13].

Như vậy, BLHS năm 2015 ghi nhận khái niệm tội phạm với các dấu hiệu mangtính nội dung và các dấu hiệu mang tính hình thức của tội phạm bao gồm tínhnguy hiểm (đáng kể) cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi và tínhphải chịu hình phạt [10, tr.62], đồng thời từ nội hàm của khái niệm này đã giúpphân biệt những hành vi nguy hiểm cho xã hội được xem là tội phạm với nhữnghành vi không phải là tội phạm

Trang 14

Con người với tư cách là một thực thể tự nhiên và với tư cách là một cánhân được đặt trong mối quan hệ với gia đình và xã hội Con người là vốn quý, làgiá trị cao nhất của xã hội, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội “Conngười với tư cách nói trên có các quyền và tự do nhất định Các quyền và tự do

đó được Nhà nước bảo hộ và bảo vệ Trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới ngày 10/12/1948, tại Điều 3 quy định: “Mọi người đều có quyền sống, được tự do và bảo đảm an ninh” Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta cũng thống nhất thể

hiện việc bảo hộ và bảo vệ này thông qua các quy định tại Chương II về quyềncon người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong đó đặc biệt nhấn mạnh

“mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không

ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19) Bên cạnh đó, Điều 20 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rằng: “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”…”[19, tr 56].

Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sungnăm 2017) đã dành một chương riêng tiếp sau chương các tội xâm phạm an ninhquốc gia quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dựcủa con người, trong đó tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác được quy định tại Điều 134, Chương XIV Mặc dù vậy, BLHS nước ta vẫnchưa đưa ra khái niệm thế nào là tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác Trong khi đó, trong khoa học luật hình sự nước ta có khá nhiều quan

niệm về tội này Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng: “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác, gây thiệt hại cho sức khỏe dưới dạng thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong các trường hợp luật định” [6, tr.96,97] Theo một quan điểm khác, thì “Tội CYGTT là hành vi cố ý l à m cho người khác

bị thương, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người Hành vi

Trang 15

CYGTT bị coi là tội phạm, tội phạm đó được quy định tại BLHS” [4, tr.44] Cũng

có quan điểm cho rằng: “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe” [9, tr.126].

Từ những điều phân tích trên đây, kết hợp trong một tổng thể các quan niệmcủa các nhà khoa học, quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về khái niệm tộiphạm nói chung và về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác,

có thể hiểu “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành

vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người đủ độ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật thực hiện một cách cố

ý xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người, công dân, gây ra những thiệt hại nhất định về sức khỏe cho họ”.

Với tính cách là tội phạm (nói chung), tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác có các dấu hiệu cơ bản của một tội phạm, đó là: tính nguyhiểm (đáng kể) cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi và tính phảichịu hình phạt Là một tội phạm cụ thể, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác còn có những dấu hiệu pháp lý riêng của mình, cụ thể là:

- Về khách thể:

“Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo

vệ và bị tội phạm xâm hại” Khách thể của tội phạm là yếu tố bắt buộc của tội

phạm Không có khách thể bị xâm hại thì không thể có tội phạm [18, tr.131].Theo cách hiểu này, khách thể của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác đó là quyền bất khả xâm phạm, quyền được tôn trọng vàquyền được bảo hộ về sức khỏe của con người Với tư cách là thực thể tự nhiên

và chủ thể xã hội, người đang sống và tồn tại trong thế giới hiện thực khách quanchính là đối tượng tác động của tội phạm này

- Về mặt khách quan:

“Mặt khách quan của tội phạm là mặt biểu hiện bên ngoài của tội phạm, là

Trang 16

những biểu hiện của tội phạm ra thế giới khách quan, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành động và không hành động), hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội, công cụ, thủ đoạn, phương tiện phạm tội…” [18, tr.131] Theo đó, bất kỳ tội phạm nào cũng đều có những mặt biểu hiện bên ngoài ra thế giới khách quan, nếu không có những mặt

biểu hiện bên ngoài thì không thể có tội phạm

Mặt khách quan của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác vì vậy được hiểu là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm với các dấu hiệuđặc trưng là: hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm; hậu quả nguy hiểm cho

xã hội của tội phạm; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểmcho xã hội của tội phạm; thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, phương tiện, công cụphạm tội,…

+ Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác là hành vi gây thương tích hoặc tổn thương khác làm tổn hạiđến sức khỏe của con người Hành vi đó có thể là hành động hoặc không hànhđộng, có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện phạm tội hoặc không cócông cụ, phương tiện phạm tội hoặc có thể thông qua súc vật hay cơ thể ngườikhác nhằm đạt được mục đích mong muốn Hành vi khách quan của tội phạm này

có 03 đặc điểm, đó là: có tính nguy hiểm cho xã hội; có ý thức, có ý chí và tráipháp luật hình sự

+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác chủ yếu gây ra thiệt hại về sức khỏe của nạn nhân, nhưngcũng có một số trường hợp gây ra thiệt hại về vật chất và tinh thần cho nạn nhân.Theo quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hậuquả của tội phạm này là gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác mà tỷ lệ thương tích hoặc tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặcdưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp do BLHS quy định thì vẫn bị

Trang 17

truy cứu TNHS theo khoản 1 của Điều luật này.

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của

tội phạm là “mối quan hệ khách quan giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả đã xảy ra, trong đó hành vi nguy hiểm cho xã hội, xét về mặt thời gian xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội, chuẩn bị và xác định khả năng thực tế bên trong làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội và là nguyên nhân chính và trực tiếp tất yếu gây ra hậu quả đó”[18, tr.174, 175] Theo đó, mối quan hệ giữa

hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với hậuquả xảy ra là nạn nhân bị thương tích hay bị tổn hại đến sức khỏe với tỷ lệ nhấtđịnh và theo quy định của pháp luật hình sự

Do tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là cấu thànhtội phạm vật chất nên mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thương tích, gâytổn hại cho sức khỏe của người khác với hậu quả xảy ra là dấu hiệu bắt buộc củaCTTP này Điều đó có nghĩa là phải xác định chính hành vi gây thương tích, gâytổn hại cho sức khỏe của người khác đã gây ra thương tích hoặc tổn hại đó; nóicách khác, giữa hành vi khách quan gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác với hậu quả của tội phạm này luôn có mối quan hệ mật thiết vớinhau, hỗ trợ lẫn nhau; hành vi nguy hiểm cho xã hội đóng vai trò là nguyên nhân

và hậu quả nguy hiểm cho xã hội đóng vai trò là kết quả; hành vi phạm tội phảixảy ra trước hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khỏe, đồng thời hậu quảthương tích hoặc tổn hại sức khỏe xảy ra phải phù hợp với khả năng thực tế củahành vi làm phát sinh hậu quả đó

Ngoài các dấu hiệu đặc trưng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quảnguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội

và hậu quả do hành vi đó gây ra của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác thì mặt khách quan của tội phạm này còn có các biểu hiện bênngoài khác, như: thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội, công cụ, phương tiệnphạm tội, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, Tuy nhiên, những dấu hiệu đó

Trang 18

không phải là dấu hiệu bắt buộc (tức không phải là dấu hiệu định tội) của tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Về chủ thể:

Theo pháp luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm là thể nhân hoặcpháp nhân thương mại có đủ yếu tố của chủ thể của tội phạm Tuy nhiên, đối vớitội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chủ thể của tội phạmchỉ là thể nhân - con người cụ thể đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộiđược BLHS quy định là tội phạm trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt độtuổi nhất định do pháp luật quy định Bởi vậy, học viên chia sẻ với quan điểm cho

rằng: “Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là chủ thể của tội phạm, mà chỉ những người có năng lực TNHS mới là chủ thể của tội phạm” [8, tr.46] Nói cách khác, năng lực TNHS và đạt độ tuổi nhất định theo

luật định là các dấu hiệu bắt buộc để coi một người là chủ thể của tội phạm hay

không Vậy năng lực TNHS là gì? Đó là “Khả năng của một người ở thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện và điều khiển có ý thức hành vi đó” [18,

tr.182] Để có thể là người có năng lực TNHS, người đó phải là người không mắcbệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo làm mất khả năng nhận thức, khả năng điềuchỉnh hành vi của mình, tức là người đó phải nhận thức được tính chất, mức độnguy hiểm của hành vi mà mình sẽ thực hiện, biết được hành vi đó là đúng haysai, có phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội hay không Thực tiễn cho thấy,thông qua lao động, học tập, khả năng nhận thức của con người được hình thành,còn qua quá trình phát triển cơ thể của con người (tức phải ở độ tuổi nhất định)thì con người mới có khả năng điều khiển hành vi của chính mình Như vậy, phảiđạt đến độ tuổi nhất định thì con người mới có khả năng nhận thức và khả năngđiều khiển hành vi của mình

Về tuổi chịu TNHS của chủ thể của tội phạm là cá nhân (thể nhân), tại Điều

Trang 19

12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người từ đủ 16 tuổitrở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này cóquy định khác; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tộiphạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trongcác điều: 123; 134; 141; 142; 143; 144; 150; 151; 168; 169; 170; 171; 173; 178;248; 249; 250; 251; 252; 265; 266; 286; 287; 289; 290; 299; 303 và 304 [10,tr.85].

Từ quan điểm của nhà làm luật về chủ thể của tội phạm như nêu trên, có thểxác định chủ thể của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácđược quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phải làngười có năng lực TNHS và đạt độ tuổi do luật quy định, nghĩa là người đókhông mắc bệnh tâm thần hay các loại bệnh khác làm mất đi khả năng nhận thức,khả năng điều khiển hành vi của mình, đồng thời phải đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổitrở lên thì mới phải chịu TNHS về mọi hành vi phạm tội do mình gây ra, hoặc đạt

độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi mà phạm tội thì chỉ phải chịu TNHS được quyđịnh tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 134, còn những người dưới 16 tuổi phạmtội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 6 của Điều luật này thìkhông phải chịu TNHS

- Về mặt chủ quan:

Mặt chủ quan của tội phạm được hiểu là“mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện và với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả đó” [18, tr.197], bao gồm các dấu hiệu: lỗi, động cơ phạm tội và

mục đích phạm tội

+ Lỗi được hiểu là “thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội, đối với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc khả năng gây ra hậu quả đó, được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý” [18, tr.200] Lỗi

của người CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là lỗi cố ý Khi

Trang 20

thực hiện hành vi CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, ngườiphạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luậthình sự cấm bằng nguy cơ áp dụng hình phạt, gây ra hoặc có thể gây ra hậu quảnguy hiểm nhất định, song vẫn thực hiện và mong muốn cho hậu quả xảy ra (cố ýtrực tiếp) hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý gián tiếp).

+ Trong luật hình sự Việt Nam, động cơ phạm tội là “ động lực bên trong được quyết định bởi các nhu cầu và lợi ích đã được nhận thức thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm” [18, tr.212].

+ Mục đích phạm tội là “quan niệm của người phạm tội về những thay đổi trong thế giới khách quan mà người đó muốn đạt được bằng việc thực hiện tội phạm” [18, tr.212].

Khác với dấu hiệu lỗi, trong cấu thành tội phạm tội CYGTT hoặc gây tổnhại cho sức khỏe của người khác, dấu hiệu động cơ phạm tội và dấu hiệu mụcđích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc, tức dấu hiệu định tội của CTTP

1.1.2 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với một số tội cụ thể khác

1.1.2.1 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác trong trường hợp làm chết người với tội giết người

Thực tiễn cho thấy trong nhiều trường hợp, việc phân biệt tội CYGTT hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tội giết người là rất phức tạp; mỗinơi áp dụng một kiểu và ngay trong cùng một cơ quan THTT thì người này cóquan điểm giết người, còn người khác cho rằng chỉ CYGTT

Ngày 06/4/2016, Chánh án TAND tối cao đã ban hành Quyết định số220/QĐ-CA công bố án lệ vụ án về tội giết người và tội CYGTT dẫn đến chếtngười đã được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thông qua tại Án lệ số01/2016/AL Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống hai tội phạm này cũngcòn nhiều vấn đề chưa được lý giải, nhiều vụ án vẫn còn ý kiến khác nhau giữacác cơ quan THTT, người THTT và người bào chữa

Trang 21

Vì vậy, việc nghiên cứu và phân biệt giữa tội giết người quy định tại Điều

123 với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tạiĐiều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có ý nghĩa rất quan trọngtrong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Trên cơ sở các dấu hiệu đặc trưng củatội giết người và tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trongtrường hợp làm chết người, chúng ta có thể nhận định sự giống nhau và khácnhau cơ bản giữa hai tội này

* Về sự giống nhau, ở hai tội này, người phạm tội đều thực hiện hành vi là

do cố ý; đều thực hiện hành vi (hành động) tương tự như nhau (bắn, đâm, chém,đánh, đấm, đá,…); có hậu quả là nạn nhân chết

* Về sự khác nhau của hai tội này được thể hiện như sau:

Đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, ngườiphạm tội chỉ cố ý làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khỏe chứngười phạm tội không mong muốn cho nạn nhân bị chết hay bỏ mặc cho nạnnhân chết, muốn ra sao thì ra; còn việc nạn nhân chết là ngoài ý thức chủ quancủa người phạm tội

Đối với tội giết người, người phạm tội cố ý tước đoạt tính mạng của nạnnhân Nếu không phải là do cố ý trực tiếp (cố ý có dự mưu, cố ý xác định) thìcũng là cố ý gián tiếp (cố ý đột xuất hoặc cố ý không xác định), tức là không cầnquan tâm đến hậu quả, bỏ mặc cho nạn nhân chết cũng được, không chết cũngmặc

Hành vi tấn công của người phạm tội đối với tội giết người quyết liệt hơn,cường độ tấn công mạnh hơn, nhằm vào những nơi xung yếu của cơ thể như:vùng đầu (sọ não, gáy), ngực, ổ bụng…Còn đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác, người phạm tội tấn công nạn nhân không quyết liệt,

mà nếu có quyết liệt thì cũng chỉ tấn công vào những nơi khó gây ra cái chết chonạn nhân như: chân, tay, mông, nếu có tấn công vào nơi xung yếu của cơ thể thìcũng chỉ tấn công vào nơi đã định như mắt, mũi, tai, miệng

Trang 22

Thực tiễn, nhiều trường hợp người phạm tội chỉ khai không muốn làm nạnnhân chết Do đó, phải kết hợp với ý thức chủ quan của họ để xác định là giếtngười hay CYGTT, đồng thời phải căn cứ vào biên bản giám định pháp y vềnguyên nhân gây ra cái chết của nạn nhân.

1.1.2.2 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác trong khi thi hành công vụ

Tại Điều 137 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhà làm luậtquy định tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thihành công vụ là hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phéptrong khi thi hành công vụ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên

Qua nghiên cứu tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

và tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hànhcông vụ, dựa vào các yếu tố CTTP, chúng ta có thể phân biệt những điểm giống

và khác nhau giữa hai tội phạm này Hai tội này giống nhau về khách thể của tộiphạm và về lỗi của người phạm tội Sự khác nhau của hai tội này thể hiện ở chủthể của tội phạm, hành vi khách quan, hậu quả gây ra và động cơ phạm tội, cụ thểlà:

- Chủ thể của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kháctrong khi thi hành công vụ khác với chủ thể của tội phạm CYGTT hoặc gây tổnhại cho sức khỏe của người khác ở chỗ phải là người đang trong khi thi hànhcông vụ và đã thực hiện hành vi phạm tội do có hành vi trái pháp luật của nạnnhân

- Hành vi khách quan của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác trong khi thi hành công vụ khác với hành vi khách quan của tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đó là dùng vũ lực ngoài

Trang 23

những trường hợp pháp luật cho phép trong khi thi hành công vụ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Hậu quả của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kháctrong khi thi hành công vụ khác với hậu quả của tội CYGTT hoặc gây tổn hại chosức khỏe của người khác được thể hiện ở chỗ chỉ làm cho người bị hại bị thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị hại có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên mà không làm chết người hoặc không dẫn đến chết người

- Động cơ phạm tội của hai tội này khác nhau Đối với tội CYGTT hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ, động cơ củangười phạm tội là bảo vệ các lợi ích khác nhau trước sự xâm phạm của hành vitrái pháp luật của nạn nhân, còn đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác, dấu hiệu động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc (tức dấuhiệu định tội)

1.1.2.3 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác với các tội phạm khủng bố

Tại Điều 299 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội

khủng bố, đó là: “hành vi xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng hoặc xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc đe dọa thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần người khác” [19, tr.452].

Dựa vào những dấu hiệu pháp lý trong CTTP đối với tội CYGTT hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác và tội khủng bố, có thể đưa ra những điểmgiống nhau và những điểm khác nhau như sau:

* Những điểm giống nhau: gồm dấu hiệu lỗi và dấu hiệu chủ thể của tội

phạm Đối với dấu hiệu lỗi, cả hai tội phạm này đều có lỗi cố ý Về chủ thể của

Trang 24

tội phạm, hai tội này đều do bất kỳ ai là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổiluật định thực hiện hành vi phạm tội.

sở hữu của cơ quan, tổ chức và cá nhân

Sự khác nhau còn thể hiện ở mặt khách quan của tội phạm: Hành vi kháchquan của người phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

có tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn hành vi khách quan của tội khủng bố.Đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì hành vikhách quan của tội phạm là hành vi tác động vào cơ thể của người khác làm chongười đó bị thương tích hoặc bị tổn hại về sức khỏe chứ không làm cho nạn nhân

bị chết; nếu nạn nhân chết là ngoài ý muốn của người phạm tội Đối với tội phạmkhủng bố, hành vi khách quan của tội phạm này bao gồm các hành vi như: xâmphạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cánhân nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng; xâm phạm tự do thânthể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

đe dọa thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tàisản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong côngchúng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần của người khác

Hai tội nói trên còn khác nhau về mục đích phạm tội Mục đích của ngườiphạm tội khủng bố là nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, cònmục đích của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là làmcho nạn nhân bị tổn thương, làm mất hoặc suy giảm chức năng một bộ phận cơthể hay làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân

Trang 25

1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được BLHSnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tại Điều 134 với nhiều nội dung,tình tiết mới so với Điều 104 BLHS năm 1999 Cụ thể: Điều 104 BLHS năm

1999 quy định 4 khoản với 4 định mức tỷ lệ thương tật, đó là dưới 11%, từ 11%đến 30%, từ 31% đến 60%, trên 61%; còn Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung năm 2017) tuy vẫn giữ nguyên việc chia định mức tỷ lệ thương tật nhưng

đã được chia ra làm 6 khoản trong đó sửa đổi và bổ sung một số điểm mới đểhoàn thiện hơn những quy định về tội này Ngoài ra, nội dung chính của Điều 134BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là cơ cấu lại số khung hình phạt sovới Điều 104 BLHS năm 1999 và thay đổi mức hình phạt của từng khung chophù hợp với sự thay đổi của số khung, đồng thời sửa đổi, bổ sung các tình tiếtđịnh khung tăng nặng từ khoản 2 đến khoản 5, pháp điển hóa các hướng dẫn tạiNghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phánTAND tối cao (về các tình tiết quy định tại Điều 104 BLHS 1999) nhằm đảm bảocác quy định này được rõ ràng và thống nhất khi áp dụng vào thực tiễn Mặc dùtrong Điều 134 tăng về số lượng 02 khung hình phạt so với Điều 104 BLHS 1999nhưng mức hình phạt thấp nhất và cao nhất không thay đổi

Theo đó, đối chiếu với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác được quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999 thì Điều 134 BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) có nhiều điểm mới hơn, đó là:

Thứ nhất, so với khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999 thì khoản 1 Điều 134

BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định thêm một số tình tiết

đó là: “dùng vũ khí, vật liệu nổ hoặc dùng a xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt

tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đưa vào

cơ sở cai nghiện bắt buộc” hay quy định thêm các tình tiết khác như “gây thương

Trang 26

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê, đối với người chữa bệnh cho mình”; sửa đổi các tình tiết: “Đối với trẻ em” thành “Đối với người dưới 16 tuổi”; “phụ nữ đang có thai” thành “phụ nữ mà biết là có thai”;“Để cản trở người thi hành công vụ” thành “Đối với người đang thi hành công vụ” Những quy định này đã thể hiện sự tiến bộ rõ rệt của pháp luật hình sự

nhằm quy định rõ những định nghĩa mà trước nay vẫn còn chung chung

Thứ hai, về khoản 2, khoản 3 Điều 104 BLHS năm 1999, đã được chia

thành 04 khoản riêng biệt trong điều luật mới Như vậy, khung hình phạt cũngđược quy định cụ thể, không còn gộp chung như trước Việc quy định này tạođiều kiện cho Tòa án, Viện kiểm sát thuận lợi, dễ dàng hơn trong việc định tộidanh, quyết định hình phạt đối với người phạm tội Ngoài ra, quy định này cũng

đã chia giới hạn giữa tỷ lệ thương tật với các tình tiết tăng nặng trong CTTP đó làtuy tỷ lệ thương tật thấp nhưng nếu có tình tiết tăng nặng thì vẫn quy đồng vớimức tỷ lệ thương tật cao hơn

Thứ ba, khoản 5 Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã

cụ thể hóa khoản 4 Điều 104 BLHS năm 1999, như: tình tiết định tính “chết nhiều người”, “đặc biệt nghiêm trọng khác” đã được quy định thành từng điểm

rõ ràng: “Làm chết 02 người trở lên” hay “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Thứ tư, tại khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

còn quy định thêm về hành vi chuẩn bị phạm tội, cụ thể là: người chuẩn bị vũkhí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặcthành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặcphạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

Trang 27

Thứ năm, trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối

với tội quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999 và Điều 134 BLHS năm 2015 (sửađổi, bổ sung năm 2017) cũng khác nhau Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉphải chịu TNHS ở các khoản 3 và khoản 4 của Điều 104 BLHS năm 1999 trongkhi họ phải chịu TNHS tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 134 BLHS năm 2015 (sửađổi, bổ sung năm 2017)

Nhìn chung, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, bổsung đầy đủ, rõ ràng về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác,giúp cho việc thi hành pháp luật hình sự được chính xác hơn trong việc bảo vệtính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người

Trang 28

Kết luận Chương 1

Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi tráipháp luật của người có năng lực TNHS tác động đến thân thể của người khác làmcho người đó bị thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe mà tỷ lệ tổn thương cơ thểtheo luật định

Tại Chương 1, tác giả đã trình bày và phân tích khái niệm, các dấu hiệu cơbản của tội phạm nói chung và của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác nói riêng; trên cơ sở đó, phân biệt dấu hiệu pháp lý của tội CYGTThoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp làm chết ngườivới tội giết người, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kháctrong khi thi hành công vụ hay phân biệt tội này với các tội khủng bố Ngoài ra,tác giả còn phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tộidanh này, trong đó làm rõ những quy định mới được bổ sung so với tội CYGTThoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã được quy định trong BLHS ViệtNam năm 1999

Về thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối vớitội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổithực hiện tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai sẽ được trình bày trong Chương

2 của luận văn này

Trang 29

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ

Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN TẠI THÀNH

PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

2.1 Quy định về định tội danh và quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

2.1.1 Quy định về định tội danh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện

Trong lý luận và thực tiễn, định tội danh được hiểu là một quá trình logicnhất định, một hoạt động xác nhận và ghi nhận sự phù hợp của trường hợp phạmtội cụ thể đang xem xét với các dấu hiệu của một CTTP được quy định trong quyphạm pháp luật hình sự thuộc Phần các tội phạm của BLHS; hay, định tội danh làviệc đánh giá nhất định về mặt pháp lý đối với một hành vi nguy hiểm cho xãhội Trong khái niệm về định tội danh, hai nghĩa này có mối liên hệ mật thiết vớinhau Vì vậy, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm định tội danh.Tuy nhiên, xét trên nhiều phương diện, chúng tôi chia sẻ với quan điểm của

GS.TS Võ Khánh Vinh về khái niệm định tội danh, đó là “một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu CTTP với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định” [17, tr.26, 27].

Là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, định tội danh được tiếnhành đồng thời bởi ba quá trình:

Trang 30

Thứ nhất, cần phải xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế của vụ án.

Để giải quyết một vụ án hình sự, các cơ quan THTT cần phải xác định tất cảtình tiết cần thiết của vụ án phù hợp với hiện thực khách quan Muốn đạt đượcđiều này, cần phải áp dụng những biện pháp hợp pháp được BLTTHS cho phép

và không được dùng những biện pháp trái pháp luật để thu thập chứng cứ Saukhi thu thập được các chứng cứ của vụ án (chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội,chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gốc, chứng cứ sao chép, lời khai, vật chứng,…), các

cơ quan THTT phải nghiên cứu, đánh giá, phân tích các chứng cứ đó một cách vô

tư, không định kiến, suy diễn để tìm kiếm chân lý khách quan, chân lý vật chất về

vụ án - tức là xác định đầy đủ và chính xác các tình tiết cần thiết của hành viphạm tội

Thứ hai, cần phải nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS liên quan đến tội phạm đã thực hiện.

Cần nhấn mạnh rằng việc nhận thức đúng nội dung của BLHS quy định vềtừng loại tội và từng tội phạm cụ thể có ý nghĩa rất lớn đối với việc định tội danh.Mọi hành vi vi phạm pháp luật chỉ được coi là tội phạm nếu được quy định trongBLHS, tuy nhiên, không phải tất cả quy phạm pháp luật trong BLHS đều chi tiết

và phản ánh được hết các mặt của đời sống xã hội mà chỉ phản ánh những nét đặctrưng của nó Bởi vậy, khi giải quyết một vụ án hình sự, người THTT cần phải ápdụng đúng quy phạm pháp luật hình sự Điều này đòi hỏi hoạt động lập pháp vàhoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan THTT phải luôn chính xác và đúngđắn

Để bảo đảm các nguyên tắc của luật hình sự, nhất là nguyên tắc công bằng,định tội danh phải đúng Muốn định tội danh đúng, người THTT phải lựa chọnđúng quy phạm pháp luật và đối chiếu, so sánh đầy đủ, chính xác các dấu hiệu tộiphạm đã được quy định trong điểm, khoản của điều luật với các tình tiết của hành

vi phạm tội đã thực hiện Qua đối chiếu, so sánh, nếu có sự phù hợp giữa các tình

Trang 31

tiết của sự việc với các dấu hiệu của cấu thành được quy định trong luật thì có thểkết luận sự việc đã xảy ra phải được định theo điểm, khoản của điều luật đó.Song, trong một số trường hợp, các bước này được thực hiện đồng thời tronghoạt động nhận thức của người áp dụng pháp luật có khi không thể tách rời mộtcách độc lập, rõ ràng Không chỉ xác định đúng điểm, khoản, điều luật tương ứngcần áp dụng đối với hành vi phạm tội, người THTT còn phải xem xét các yếu tốkhác của hành vi đó như hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm tội

có tổ chức hay đồng phạm,…để áp dụng các quy phạm pháp luật tương ứng khiđịnh tội danh

Việc định tội danh phải đầy đủ những hành vi phạm tội được thực hiện, tức

là phải định tội danh đối với từng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thựchiện do các điều luật của BLHS quy định là tội phạm Khi định tội danh, ngườiTHTT không được thu hút hành vi phạm tội này vào hành vi phạm tội khác, hoặccoi hành vi phạm tội này là tình tiết tăng nặng của tội phạm kia nhằm tránh tìnhtrạng đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

Thứ ba, cần phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn về mối liên hệ giữa các tình tiết thực tế của hành vi và các dấu hiệu của CTTP được quy định trong luật.

Định tội danh là hoạt động của các cơ quan THTT nhằm thu thập, kiểm tra,đánh giá các chứng cứ xác định các tình tiết thực tế của vụ án và tìm hiểu, phântích các quy phạm pháp luật hình sự để nhận thức đúng đắn nội dung của nó Quátrình định tội danh được tiến hành trên cơ sở so sánh, đối chiếu các tình tiết thực

tế của vụ án đã được xác định với các dấu hiệu được chỉ ra trong quy phạm phápluật hình sự quy định về CTTP Theo đó, quá trình định tội danh phải trải qua bagiai đoạn sau đây:

- Giai đoạn thứ nhất, khi đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm

tội, có thể dựa vào các căn cứ như: tính chất của phương pháp, thủ đoạn,công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm; tính chất và mức độ thiệt hại dohành vi gây ra; hoặc tính chất của động cơ hay mức độ lỗi, nhân thân người

Trang 32

phạm tội.

- Giai đoạn thứ hai, những người tiến hành định tội danh làm rõ các dấu hiệu

của hành vi phạm tội, làm rõ hành vi đó thuộc loại tội phạm nào và được quyđịnh ở chương nào của BLHS

- Giai đoạn thứ ba, chỉ rõ CTTP về tội cụ thể nào được áp dụng: cấu thành cơ

bản, cấu thành giảm nhẹ hay cấu thành tăng nặng trong giới hạn của một điềuluật nào đó đã được lựa chọn

Cả ba giai đoạn trên có thể được thực hiện độc lập hoặc thực hiện đồng thờivới nhau, không phân chia được trong hoạt động nhận thức của người định tộidanh

Từ những điều phân tích khái quát trên đây, có thể đưa ra khái niệm định tộidanh tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18tuổi thực hiện là hoạt động điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan điều tra,Viện kiểm sát và Tòa án trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được mộtcách đầy đủ, khách quan và toàn diện trong sự so sánh, đối chiếu với các dấuhiệu pháp lý của CTTP tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác trong các quy định của pháp luật hình sự để xác định có hay không có tộiphạm và người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi đó để xử lý

Các giai đoạn của quá trình định tội danh, cơ sở của định tội danh, cáctrường hợp định tội danh tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác do người dưới 18 tuổi thực hiện cũng tương tự như định tội danh tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người từ đủ 18 tuổi trởlên thực hiện Tuy nhiên, khi định tội danh đối với người dưới 18 tuổi, cần đặcbiệt lưu ý đến tuổi chịu TNHS

Người dưới 18 tuổi là người đang trong giai đoạn hình thành và phát triển

về thể lực, trí lực và nhân cách, chưa có suy nghĩ chín chắn về các hành vi mà họlàm cũng như chưa có khả năng nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm củahành vi mà họ gây ra cho xã hội Ngoài ra, tâm lý của họ rất dễ bị tổn thương,

Trang 33

nhất là khi họ tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án Do đó, chínhsách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Nhà nước ta chủ yếu là giáodục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, đồng thời tạo điều kiện để họ phát triểnlành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tuổichịu TNHS, cụ thể như sau: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọitội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; người từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng quy định tại 28 điều luật của BLHS, trong đó có tội CYGTThoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134)

Trên cơ sở quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm2017), trong hoạt động xét xử, khi định tội danh đối với người dưới 18 tuổi phạmtội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì cơ quan Tòa ánphải xác định tuổi chịu TNHS của đối tượng này để từ đó xác định năng lực chịuTNHS của chủ thể của tội phạm Như vậy, trường hợp chủ thể thực hiện hành viCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà chủ thể đó được xácđịnh có độ tuổi dưới 14 tuổi thì họ không phải chịu TNHS về hành vi phạm tộicủa mình; trường hợp chủ thể thực hiện hành vi CYGTT hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác mà chủ thể đó có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thìphải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, đồng thờikhi đó Tòa án phải xác định tiếp tội mà chủ thể đó đã phạm thuộc khoản nào vàkhung hình phạt của khoản đó tương ứng với loại tội phạm nào theo quy định tạiĐiều 9 BLHS về phân loại tội phạm; chỉ khi tội phạm được thực hiện thuộc loạitội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì họ mới phải chịuTNHS Ngoài ra, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung năm 2017), nếu người từ đủ 16 tuổi trở lên thực hiện tội CYGTT hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì phải chịu TNHS về mọi tội phạm

Trang 34

2.1.2 Quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Quyết định hình phạt (QĐHP) là một trong những giai đoạn cơ bản vàchiếm vị trí đặc biệt trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự Khi QĐHP, Tòa

án nhân danh Nhà nước tuyên bố áp dụng hình phạt cụ thể đối với người hoặcpháp nhân thương mại phạm tội, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với họ vềviệc thực hiện tội phạm, đồng thời trừng trị họ

QĐHP là một hoạt động pháp lý tố tụng hình sự do Thẩm phán và Hội thẩmnhân dân tiến hành đối với người thực hiện tội phạm theo một trật tự pháp lý nhấtđịnh Để QĐHP, Tòa án phải dựa vào kết quả của các giai đoạn TTHS trước đó

và kết quả hoạt động của mình ở giai đoạn xét xử, bao gồm kết quả điều tra, kếtquả buộc tội, kết quả thẩm vấn, tranh luận; sau khi có được các kết quả này,những người QĐHP sẽ đối chiếu các tình tiết của một vụ án hình sự cụ thể vớicác dấu hiệu của một CTTP cụ thể gắn liền với việc đánh giá con người cụ thể đãthực hiện tội phạm để xác định một loại và một mức hình phạt cụ thể tối ưu nhấttrong việc cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm

QĐHP thể hiện ở hai nội dung sau đây:

Một là, Tòa án lựa chọn một trong các hình phạt cụ thể được quy định trong

khoản của điều luật được áp dụng để quyết định đối với bị cáo Hoạt động nàyđược gọi là xác định loại hình phạt

Hai là, Tòa án xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo.

Hai nội dung này được tiến hành theo trình tự trên, đồng thời được thựchiện khi áp dụng cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung Loại và mức hình phạtđược quyết định áp dụng đối với bị cáo phải được thể hiện trong bản án của Tòa

án và được công bố công khai khi tuyên án

Trong mọi trường hợp, QĐHP của Tòa án phải đúng pháp luật, bảo đảmcông bằng và cá thể hóa; đồng thời hình phạt được tuyên phải tương xứng vớitính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, với các đặc điểm

Trang 35

về nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, dưluận của xã hội về vụ án và ý thức pháp luật của người phạm tội Ngoài ra, hìnhphạt được quyết định áp dụng đối với bị cáo còn phải bảo đảm tính xác định, tínhlập luận và bắt buộc có lý do.

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về QĐHP Xét trên nhiều phươngdiện, chúng tôi chia sẻ quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh về QĐHP, đó là

"một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa

án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội" [18, tr.386].

Từ những lý luận về QĐHP nêu trên, có thể kết luận rằng: QĐHP đối với tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổithực hiện là việc Tòa án (HĐXX) lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể đượcquy định trong khoản điều luật để áp dụng đối với người dưới 18 tuổi đã thựchiện hành vi CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Khi QĐHP đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng hay phạm tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói chung, Tòa án khôngchỉ tuân thủ các nguyên tắc QĐHP như pháp chế xã hội chủ nghĩa, công bằng, cáthể hóa, nhân đạo, căn cứ vào các nguyên tắc xử lý chung đối với người phạm tộiđược quy định tại Điều 3 mà còn phải căn cứ vào Điều 50 (căn cứ QĐHP) và cácquy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XIIBLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể là:

Thứ nhất, mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh, theo đúng pháp luật [3, tr.7].

Phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh, đúng pháp luật đối vớimọi hành vi phạm tội không chỉ có ý nghĩa to lớn trong việc đấu tranh chống tộiphạm mà còn có ý nghĩa trong việc phòng ngừa Trên thực tế, có một số hành viphạm tội do được phát hiện kịp thời nên đã ngăn chặn hoặc giảm bớt tác hại do

Trang 36

tội phạm gây ra Mặt khác, việc phát hiện kịp thời hành vi phạm tội còn có ýnghĩa tuyên truyền, giáo dục cho mọi công dân về công tác phòng ngừa tội phạm,cảnh cáo người đang có ý định thực hiện tội phạm hãy từ bỏ ý định phạm tội nếukhông sẽ bị trừng trị Phát hiện kịp thời tội phạm còn có tác dụng chống nhữngnghi ngờ vào tình hình an ninh và trật tự an toàn xã hội, làm cho mọi người yêntâm lao động sản xuất, tin tưởng vào chế độ, vào Nhà nước và các cơ quan bảo vệpháp luật [8, tr.15, 16].

Như vậy, theo nguyên tắc này, trường hợp người dưới 18 tuổi thực hiện tộiphạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì các cơ quanTHTT phải có trách nhiệm phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh,đúng pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật của họ

Thứ hai, mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội [3, tr.7].

Nội dung của nguyên tắc trên thể hiện rõ tính công bằng trong việc xử lýngười phạm tội Theo nguyên tắc này, khi xử lý hành vi CYGTT hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác do người dưới 18 tuổi thực hiện thì các cơ quanTHTT, người THTT cần phải có thái độ bình đẳng, công bằng đối với ngườiphạm tội, đó là bình đẳng, công bằng trong việc vận dụng các dấu hiệu CTTP đốivới hành vi phạm tội, đối với hình phạt cũng như các biện pháp tư pháp khác vềngười phạm tội; tuyệt đối không được phân biệt đối xử giữa những người phạmtội là người dưới 18 tuổi nhưng có thành phần gia đình, địa vị xã hội, tôn giáo, tínngưỡng, giới tính khác nhau

Thứ ba, nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội [3, tr.8].

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện rõ thái độ của Nhà nước ta đối vớinhững đối tượng cần phải nghiêm trị, được liệt kê; đó là: người phạm tội là ngườichủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạmnguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội Như vậy, nếu người dưới

Trang 37

18 tuổi thực hiện tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác thuộc những đối tượng được liệt kê tại điểm c khoản 1, Điều 3 BLHS năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì cần phải nghiêm trị

Thứ tư, nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra [3, tr.8].

Nội dung của nguyên tắc nói lên tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội,quy mô của việc thực hiện tội phạm có đồng phạm và hậu quả do hành vi thựchiện tội phạm gây ra cho xã hội, chứ không phải đối với người phạm tội Theonguyên tắc này, khi QĐHP đối với người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạmCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà dùng thủ đoạn xảoquyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêmtrọng thì Tòa án cần phải cân nhắc loại và mức hình phạt để áp dụng cho phù hợpnhằm răn đe, phòng ngừa, cảnh báo cho mọi người biết, nếu cố tình phạm tộithuộc các trường hợp trên thì sẽ bị nghiêm trị; đồng thời áp dụng chính sáchkhoan hồng của Nhà nước đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tốgiác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệmtrong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hốicải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra

Thứ năm, đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục [3, tr.8].

Đây là nguyên tắc được cụ thể hóa từ nguyên tắc khoan hồng, tuy nhiênnguyên tắc này chỉ áp dụng đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng Đốivới người dưới 18 tuổi lần đầu thực hiện tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho

Trang 38

sức khỏe của người khác nhưng ít nghiêm trọng thì Tòa án cần phải quan tâm đếnnguyên tắc trong quá trình QĐHP, không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù, mà

có thể áp dụng các loại hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù như tuyên ngườiphạm tội được hưởng án treo hay áp dụng các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cảitạo không giam giữ đối với họ

Thứ sáu, đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện [3, tr.8].

Đây là nguyên tắc nhân đạo đối với người đã bị kết án và bị phạt tù giam.Theo nguyên tắc này, nếu người dưới 18 tuổi đã bị kết án và bị phạt tù giam dophạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuy bị hạnchế quyền tự do nhưng họ vẫn được hưởng các quyền con người của mình, đó làđược lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến

bộ thì được xét giảm việc chấp hành hình phạt tù để sớm trở về gia đình, hòanhập với cộng đồng xã hội

Thứ bảy, người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích [3, tr.8].

Đây cũng là nguyên tắc nhân đạo xã hội đối với người bị kết án, họ không bị

xã hội thành kiến đối với tội lỗi mà họ đã phạm Theo đó, người dưới 18 tuổi bịkết án do thực hiện hành vi CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác, sau khi đã chấp hành xong hình phạt, họ được Nhà nước và xã hội tạo điềukiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, được xóa án tích khi

có đủ điều kiện theo quy định pháp luật hình sự để xóa đi mặc cảm với chính bảnthân họ Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua, không ít cơ quan, tổ chức khôngmuốn nhận người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt vào làm việc, nhiều nơivẫn còn kỳ thị với người bị kết án, không tạo điều kiện để họ hòa nhập cộng

Trang 39

đồng Do đó, để nguyên tắc này đi vào cuộc sống thì trước hết các cơ quan nhànước, tổ chức xã hội và các doanh nghiệp phải thật sự loại bỏ tư tưởng kỳ thị đốivới người bị kết án; Nhà nước cần phải có chính sách khuyến khích đối với cácđơn vị, các tổ chức kinh tế nhận người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tùvào đơn vị, doanh nghiệp mình làm việc.

Theo quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vềcăn cứ QĐHP, khi QĐHP đối với người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm CYGTThoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tòa án phải dựa vào các quy địnhcủa BLHS của cả phần chung và phần các tội phạm có liên quan đến tội phạmnày mà người dưới 18 tuổi đã phạm; cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội được thể hiện thông qua các yếu tố CTTP (khách thể

bị xâm hại, hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, yếu tố lỗi,động cơ, mục đích,… của người phạm tội) để làm căn cứ phân loại tội phạm, xácđịnh khung hình phạt tương xứng; xem xét các yếu tố về nhân thân người phạmtội (trình độ văn hóa, nghề nghiệp, quá trình công tác, hoàn cảnh gia đình,…) vìtrong một số trường hợp các yếu tố này là yếu tố loại trừ TNHS, miễn hình phạt,định tội, định khung hình phạt,…và phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ hoặctình tiết tăng nặng TNHS để lựa chọn loại hình phạt, mức hình phạt buộc người

bị kết án phải chấp hành

Không chỉ căn cứ Điều 3, Điều 50 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm2017), khi QĐHP đối với người dưới 18 tuổi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác, Tòa án còn phải căn cứ các điều luật tại ChươngXII của Bộ luật này, mà trong đó quan trọng là Điều 91 quy định về các nguyêntắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cụ thể là:

Thứ nhất, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội Việc

xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức

Ngày đăng: 16/12/2020, 11:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w