Hoạt động của ngành y tế ở miền Bắc trong giai đoạn lịch sử đầy biến độngnày đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được công bố ở các mức độ khác nhaunhư: lịch sử ngành y tế nói chun
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ DUNG HUYỀN
Y TẾ DÂN SỰ Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 4
5 Đóng góp của luận án 5
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 5
7 Bố cục của luận án 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu chung, trong đó có đề cập đến y tế ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 7
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về hoạt động y tế miền Bắc 9
1.2 Những nội dung luận án kế thừa và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 18
1.2.1 Những nội dung luận án kế thừa 18
1.2.2 Những nội dung luận án cần làm rõ 19
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN Y TẾ DÂN SỰ Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965 21
2.1 Tình hình miền Bắc và chủ trương của Đảng và Nhà nước về y tế 21
2.1.1 Khái quát y tế dân sự trước năm 1954 21
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội sau khi miền Bắc được giải phóng 26
2.1.3 Chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng ngành y tế 29
2.2 Tổ chức, xây dựng hệ thống y tế dân sự 32
2.2.1 Hệ thống tổ chức 32
2.2.2 Đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ y tế 45
2.3 Hoạt động y tế dân sự ở miền Bắc 50
2.3.1 Vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch 50
2.3.2 Khám và chữa bệnh cho nhân dân 54
2.3.3 Sản xuất và phân phối thuốc 58
2.3.4 Hoạt động hợp tác quốc tế 63
Trang 3Chương 3 CHUYỂN HƯỚNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA Y TẾ
DÂN SỰ Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975 70
3.1 Tình hình miền Bắc và chủ trương chuyển hướng tổ chức và hoạt động của y tế dân sự 70
3.1.1 Tình hình miền Bắc 70
3.1.2 Chủ trương chuyển hướng tổ chức và hoạt động của y tế dân sự ở miền Bắc 72
3.2 Chuyển hướng tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ y tế dân sự ở miền Bắc 75
3.2.1 Chuyển hướng tổ chức 75
3.2.2 Mở rộng đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ y tế 81
3.3 Hoạt động của y tế dân sự miền Bắc 87
3.3.1.Thực hiện nhiệm vụ y tế phòng không nhân dân thời chiến 87
3.3.2 Phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch 98
3.3.3 Chi viện cho chiến trường miền Nam 104
3.3.4 Tiếp nhận sự hỗ trợ của các nước XHCN 108
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 114
4.1 Thành tựu 114
4.2.Hạn chế 136
4.3 Một số kinh nghiệm 141
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 168
Trang 4BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân CHDCND
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa CHXHCN
Trang 5DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
thích
1 Sơ đồ Sơ đồ bố trí của hệ thống cấp cứu điều trị 93
2 Bảng 3.1 Tỉ lệ vết thương do các tuyến xử lí ở miền Bắc (1965-1968) 95
3 Bảng 3.2 Cơ cấu bệnh tật và thương tổn tại các cơ sở điều trị dân sự 96
ở miền Bắc từ năm 1969 đến năm 1971
4 Bảng 3.3 Khối lượng hàng của các nước XHCN viện trợ cho Việt 109
Nam trong 3 năm 1965-1966-1967
5 Bảng 3.4 Số lượng cán bộ y tế Việt Nam DCCH sang học tập tại 111
CHDC Đức từ năm 1966 đến năm 1971
6 Sơ đồ Hệ thống tổ chức của y tế dân sự ở miền Bắc (1954-1975) 117
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, y tế là một trong nhữnglĩnh vực quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đối với sự tiến bộ và phát triển bền vữngcủa xã hội Xuất phát từ tầm quan trọng đó, trong thời kì cận – hiện đại, các quốcgia đều chú trọng đầu tư vào xây dựng hệ thống y tế, nhất là y tế phục vụ nhân dân
để phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Sau thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 mà đỉnhcao là chiến dịch Điện Biên Phủ, thực dân Pháp phải kí Hiệp định Genève, lập lạinền hoà bình ở miền Bắc Việt Nam (7-1954) Hòa bình lập lại, miền Bắc bước vàothời kì khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, từng bước thực hiện nhiệm vụ xâydựng chủ nghĩa xã hội Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, ngành y tế đã nỗ lực thiếtlập, củng cố hệ thống tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhânviên y tế và hoạt động không ngừng hướng đến mục tiêu lấy quần chúng nhân dânlao động làm đối tượng phục vụ Với lực lượng cán bộ y tế được bổ sung từ nhiềunguồn khác nhau, ngành y tế dân sự đã xây dựng mạng lưới y tế phát triển rộngkhắp và hoạt động thống nhất từ tuyến Trung ương đến tuyến địa phương, có nhiềuđóng góp lớn đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Từ năm 1954 đến năm 1975 là khoảng thời gian miền Bắc Việt Nam có nhiềubiến đổi cả về chính trị và xã hội Khoảng thời gian này, ở miền Bắc hòa bình -chiến tranh rồi chiến tranh - hòa bình đan xen, đòi hỏi Trung ương Đảng, Chính phủ
và bản thân ngành y tế phải nhạy bén điều chỉnh về tổ chức, hoạt động để phù hợpvới tình hình, triển khai thực hiện nhiệm vụ một cách đồng bộ, hiệu quả, đáp ứngyêu cầu của từng giai đoạn, từng điều kiện hoàn cảnh Đặc biệt, trong khoảng thờigian Mỹ tiến hành chiến tranh đánh phá miền Bắc, ngành y tế đã thực hiện chuyểnhướng mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến để thực hiện nhiệm vụ chăm sócsức khỏe của nhân dân Với phương châm “lấy thương binh làm mệnh lệnh, lấygiường bệnh làm chiến trường, lấy kết quả làm chiến công”, đội ngũ y bác sĩ, nhânviên y tế đã có nhiều đóng góp quan trọng trong hoạt động cấp cứu điều trị chonhững người bị thương bởi chiến tranh hoặc bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học.Nhiều bệnh viện, bệnh xá, nhà thương, trạm y tế dã chiến… ở các tuyến được khôiphục, xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân và phục vụchiến đấu Có thể nói, đây là giai đoạn ngành y tế hoạt động không ngừng nghỉ, độingũ cán bộ y bác sĩ được thử thách, rèn luyện qua lửa đạn chiến tranh, không quảnngại hy sinh gian khổ, thực sự là những “chiến sỹ áo trắng” được nhân dân tin yêu,cảm phục Chính vì vậy, nghiên cứu y tế dân sự ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1954đến năm 1975 là yêu cầu cần thiết nhằm làm rõ vị trí, vai trò và những đóng góp củangành y tế trong tiến trình lịch sử dân tộc
Trang 7Hoạt động của ngành y tế ở miền Bắc trong giai đoạn lịch sử đầy biến độngnày đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được công bố ở các mức độ khác nhaunhư: lịch sử ngành y tế nói chung, lịch sử của các bệnh viện, các viện nghiên cứu,các cơ sở đào tạo cán bộ y tế, Các công trình này đã nêu được một số thành tựunổi bật, khái quát được vai trò, hạn chế và bước đầu khẳng định vai trò, vị trí củangành y tế ở miền Bắc trong hoạt động chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh cho nhândân, thực hiện nghĩa vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam Bêncạnh đó, đã có nhiều công trình tập trung nghiên cứu sự kết hợp giữa quân y và dân
y, tuy nhiên, các tác giả mới chỉ tập trung phân tích hệ thống tổ chức và hoạt độngcủa ngành quân y, trong khi đó, hệ thống tổ chức và hoạt động của y tế dân sự đóngvai trò rất lớn trong hoạt động chăm sóc sức khỏe, cứu thương cho nhân dân lạichưa được các nhà khoa học tập trung tìm hiểu Chính vì vậy, chủ đề nghiên cứu cơcấu tổ chức và hoạt động của ngành y tế dân sự ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm
1975 cần được triển khai nghiên cứu nhằm bổ khuyết một khoảng trống lớn trongmảng nghiên cứu về văn hóa - xã hội ở miền Bắc thời kì 1954-1975, đồng thời táihiện chân thực, đầy đủ hoạt động của ngành y tế dân sự với những đóng góp to lớncủa ngành đối với sự phát triển của xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành y tế ViệtNam đang tồn tại một số hạn chế, yếu kém cả về tổ chức, hoạt động, chất lượng độingũ cán bộ, nhân viên viên y tế, về quy hoạch, phân bổ lực lượng cũng như công tácquản lý khám chữa bệnh Những hạn chế đó là mối quan tâm của xã hội, trở thànhnhững lực cản của quá trình phát triển ngành y tế dân sự Chính vì vậy, nghiên cứuthành công đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lí luận và thực tiễncủa chiến lược phát triển y tế nói chung, y tế dân sự nói riêng; từ đó góp phần thiếtthực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành y tế Việt Nam trong thời kì đổimới và hội nhập quốc tế hiện nay
Xuất phát từ các mục đích trên, với mong muốn tìm hiểu đầy đủ, toàn diện vàsâu sắc hơn y tế dân sự miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 nhằm thấy rõ vị trí,vai trò, tầm quan trọng và những nỗ lực to lớn của ngành y tế dân sự đối với nhiệm
vụ xây dựng và củng cố hậu phương miền Bắc, tác giả chọn đề tài “Y tế dân sự ơ
miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975” làm đề tài nghiên cứu cho luận án
chuyên ngành lịch sử Việt Nam của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ cấu tổ chức và hoạt động củangành y tế dân sự, từ đó rút ra nhận xét về thành tựu, hạn chế và đưa ra một số kinh nghiệm trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc, đấu tranh thống nhất Tổ quốc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Sưu tầm, hệ thống nguồn tài liệu liên quan đến đề tài luận án
Trang 8- Làm rõ tình hình kinh tế, xã hội miền Bắc và Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với y tế dân sự
- Phân tích cơ cấu tổ chức của y tế dân sự bao gồm: các tổ chức y tế ở tuyếnTrung ương, tuyến địa phương (tỉnh, huyện, xã, và tổ y tế hợp tác xã) nhằm làm rõ những bước chuyển hợp lí trong cơ cấu tổ chức để phù hợp với điều kiện lịch sử
- Phân tích quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ y tế của ngành y tế dân sự ở miền Bắc
- Trình bày hoạt động của y tế dân sự thông qua các nội dung: công tác vệ sinh phòng bệnh; hoạt động khám và điều trị; sản xuất và cung cấp thuốc; hợp tác quốc tế,
- Đánh giá về thành tựu, hạn chế, kinh nghiệm của y tế dân sự ở miền Bắc ViệtNam từ năm 1954 đến năm1975
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ cấu tổ chức và hoạt động của y tế dân
sự ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Từ năm 1954 khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc đến năm
1975 khi đất nước thống nhất; trong đó có bước ngoặt là năm 1965 Mỹ mở rộngchiến tranh ra toàn miền Bắc và ngành y tế bắt đầu thực hiện sự chuyển hướng trong
tổ chức và hoạt động để phù hợp với tình hình mới của đất nước
Về không gian: Đề tài giới hạn không gian ở miền Bắc Việt Nam bao gồm các
tỉnh: Bắc Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Đông, Hà Giang, Hà Nam, HảiDương, Hải Ninh, Hoà Bình, Hưng Yên, Kiến An, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai,Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Yên, Sơn La, Sơn Tây, Thái Bình, TháiNguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, haithành phố Hà Nội, Hải Phòng, đặc khu Hòn Gai và khu vực Vĩnh Linh
Về nội dung nghiên cứu: Tác giả trình bày quá trình xây dựng và phát triển y
tế dân sự trên một số nội dung sau đây:
- Cơ cấu tổ chức của y tế dân sự gồm các tổ chức y tế tuyến Trung ương và tuyến địa phương (tỉnh, huyện, xã và tổ y tế hợp tác xã);
- Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế dân sự;
- Hoạt động của y tế dân sự trên các nội dung: vệ sinh phòng dịch, khám và điều trị, sản xuất và phân phối thuốc, hợp tác quốc tế…
Một số khái niệm liên quan trong luận án:
- Y tế để chỉ lĩnh vực thực hiện phòng, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe.
- Dân sự chỉ những việc liên quan đến nhân dân.
- Y tế dân sự là lĩnh vực thực hiện chuyên môn phòng bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho đối tượng hướng đến là nhân dân Hay còn gọi là y tế nhân
dân Sử dụng khái niệm y tế nhân dân để phân biệt với y tế phục vụ quân nhân.
Trang 94 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu về y tế dân sự ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975, tác giả
đề tài dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩaMác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, đường lối, chủ trương củaĐảng và Nhà nước để tìm hiểu các vấn đề của y tế dân sự nằm trong mối liên hệ vớivăn hóa - xã hội ở miền Bắc Từ đó, lý giải cho các hiện tượng lịch sử, mục tiêu,chính sách, cơ cấu tổ chức, hoạt động của y tế phục vụ nhân dân trong giai đoạn1954-1975
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng chủ yếu là các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử,
cơ bản là những phương pháp sau:
- Phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử được tác giả luận án sử dụngkhi đặt đối tượng nghiên cứu chính trong sự phát triển chung của lịch sử kinh tế - xãhội miền Bắc Các sự kiện được tác giả mô tả, dựng lại theo đồng đại, lịch đại nhằmlàm rõ quá trình xây dựng, củng cố về tổ chức và hoạt động của y tế dân sự ở miềnBắc qua hai giai đoạn 1954-1965 và 1965-1975, từ đó tác giả có những đánh giátoàn diện, khoa học về y tế dân sự trong giai đoạn này
- Phương pháp logic giúp tác giả tìm được mối liên hệ giữa hoàn cảnh lịch sử,yêu cầu đặt ra để thiết lập cơ cấu tổ chức và hoạt động y tế dân sự phù hợp với từnggiai đoạn Thông qua việc điều chỉnh về tổ chức và hoạt động, tác giả rút ra đượcnhận xét về thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm của y tế dân sự trong giai đoạn này
Bên cạnh đó, tác giả kết hợp chặt chẽ với các phương pháp nghiên cứu khác như:
phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu được sử dụng để thu thập, phân tích và thẩm
định nguồn tài liệu sưu tầm được từ các nguồn: tài liệu lưu trữ, tài liệu báo cáo củangành, của các địa phương, sách, báo, tạp chí và các kết quả nghiên cứu liên quan đến
nội dung nghiên cứu của đề tài; phương pháp thống kê có vai trò quan trọng trong việc
thống kê và xử lý các số liệu thu được từ các tài liệu lưu trữ có liên quan đến số lượng
cơ sở khám chữa bệnh, đội ngũ y bác sĩ, hệ thống cơ sở vật chất,…; phương pháp mô
tả được áp dụng trong việc khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu lưu trữ, cố gắng mô
tả một cách cụ thể, sống động các nguồn tài liệu đã khai thác được; phương pháp so
sánh được sử dụng để so sánh hoạt động của y tế dân sự ở miền Bắc trong hai giai
đoạn: giai đoạn có chiến tranh và giai đoạn hòa bình; phương pháp chuyên gia (nhờ
sự tư vấn, trao đổi với các nhà nghiên cứu chuyên sâu về giai đoạn lịch sử này)
4.3 Nguồn tài liệu
- Thực hiện đề tài, tác giả khai thác nguồn tài liệu gốc tại các phông Phủ Thủtướng, Bộ Y tế, Ủy ban kế hoạch nhà nước, Cục Chuyên gia, thuộc Trung tâm lưutrữ quốc gia III Đó là những văn bản được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y
tế, Cục chuyên gia, Sở, Ty Y tế các tỉnh ban hành gồm các nội dung: tổ chức, hoạt
Trang 10động của Bộ Y tế, các Viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo cán bộ y tế, cơ sở điều trị,
cơ sở sản xuất và phân phối thuốc Đây là nguồn tài liệu gốc, có độ tin cậy về mặt
sử liệu giúp tác giả có thế đối chiếu với các nguồn tài liệu khác
- Các công trình đã nghiên cứu về y tế hoặc có liên quan đến hoạt động y tếbao gồm những cuốn sách viết về lịch sử Việt Nam, các cuốn viết về lịch sử ngành y
tế, lịch sử các bệnh viện, các viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo
- Nguồn tài liệu điền dã: thực hiện đề tài, tác giả đã có những cuộc khảo sát tạicác cơ sở y tế như trường Đại học Y Hà Nội, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện ViệtĐức, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương,
5 Đóng góp của luận án
- Hệ thống hóa và cung cấp nguồn tài liệu mới công bố có liên quan đến ngành
y tế nói chung, ngành y tế dân sự nói riêng ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975
- Gợi ý một hướng nghiên cứu chuyên sâu, đó là lĩnh vực y tế trong tổng thể các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền Bắc trong giai đoạn 1954-1975
- Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả luôn đặt vấn đề nghiên cứu trong bốicảnh của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam để xemxét, đánh giá những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng tổ chức và hoạt độngcủa y tế dân sự trong thời kì 1954-1975 Từ đó, kế thừa, mở rộng, so sánh cơ cấu tổchức và hoạt động của y tế dân sự trong các giai đoạn lịch sử trước và sau nó
- Làm rõ những thành tựu và hạn chế của y tế dân sự trong việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân nói riêng và sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc nói chung
- Đưa ra một số kinh nghiệm để hoạch định chính sách y tế trong sự nghiệp đổi mới và phát triển y tế ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Nghiên cứu đề tài ngoài bổ sung kiến thức về thực trạng hoạt động y tế trước năm
1954 còn cung cấp thêm thông tin về quá trình tiếp quản các cơ sở y tế dân sự ở miềnBắc, đây là yếu tố quan trọng giúp ngành y tế kế thừa về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ
để củng cố hệ thống tổ chức trong giai đoạn tiếp theo Nếu giải quyết được các yêu cầuđặt ra, ngoài việc làm rõ cơ cấu tổ chức của ngành y tế dân sự với hai tuyến Trung ương
và địa phương đề tài còn phân tích sự phối hợp nhịp nhàng, gắn kết giữa các tuyếntrong việc thực hiện mục tiêu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Hơn nữa, nghiên cứuthành công đề tài sẽ cung cấp thêm tư liệu về chương trình và hoạt động đào tạo chuyênmôn của các cơ sở đào tạo trong các giai đoạn lịch sử Riêng đối với lịch sử ngành y tếViệt Nam, nghiên cứu thành công đề tài sẽ cung cấp một số kinh nghiệm trong quátrình xây dựng và thiết lập hệ thống tổ chức từ tuyến Trung ương đến tuyến
địa phương trong những giai đoạn lịch sử tiếp theo.Và cuối cùng, đề tài là loại hìnhnghiên cứu lịch sử của một lĩnh vực hoạt động, đó là ngành y tế, chính vì vậy nó có ýnghĩa quan trọng đối với lịch sử ngành y khoa ở Việt Nam Bởi vậy, nghiên cứu y tếdân sự ở miền Bắc trong giai đoạn này phải được nhìn nhận cả dưới góc độ sử học và y
Trang 11tế Cách nhìn biện chứng đó là câu trả lời rõ nhất để lí giải một số câu hỏi về vănhóa xã hội, nhất là về tính nhân văn, tình yêu thương con người của đội ngũ cán bộ
y tế đối với nhân dân trong những hoàn cảnh đặc biệt
Về ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu cơ cấu tổ chức và hoạt động của y tế dân sự
ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975 sẽ cung cấp nhiều bài học kinh nghiệm trong quátrình củng cố, xây dựng và phát huy hơn nữa vai trò của hệ thống y tế Việt Nam đốivới hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mặc dù đã có một số công trình viết về y tế miền Bắc trong thời kì này nhưngchủ yếu mới điểm qua hoặc chỉ mới đề cập một cách chung chung, mà ở đó cơ cấu
tổ chức, hoạt động, vị trí và vai trò của y tế dân sự ở miền Bắc chưa được đề cậpđến Trên cơ sở các công trình có đề cập đến hoạt động y tế ở miền Bắc, đề tài chiacác công trình thành các nhóm vấn đề chủ yếu sau đây:
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu chung, trong đó có đề cập đến y tế ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975
Công trình Lịch sử Việt Nam 1965-1975 của tập thể nhóm tác giả Cao Văn Lượng
(chủ biên), Văn Tạo, Trần Đức Cường, Đinh Thị Thu Cúc, Nguyễn Văn Nhật, TrầnHữu Đính do Nxb Khoa học Xã hội xuất bản năm 2002 Đây là kết quả của đề tài cấpTrung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia1 do PGS Cao Văn Lượng làm chủnhiệm đề tài Dựa vào nguồn tài liệu mới, đồng thời kế thừa những kết quả nghiên cứutrước đó, công trình đã phác họa lại quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, xã hộitrong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh Trong phần I, từ trang 50 đến trang 54, các tácgiả đã khái quát hoạt động của ngành y tế ở miền Bắc với những nét cơ bản nhất, trongđó xác định nhiệm vụ của ngành y tế trong hoàn cảnh có chiến tranh là vừa phục vụ sảnxuất, vừa phục vụ chiến đấu Ngoài ra, các tác giả còn nêu được tầm quan trọng vàchức năng của từng tuyến y tế, trong đó chú trọng đến tuyến huyện, xã Trong phần III,
từ các trang từ 446 đến 449, các tác giả đã cung cấp nguồn số liệu về số lượng cơ sởkhám chữa bệnh; số lượng cán bộ y tế được phân bổ ở các tuyến Trung ương và địaphương, đặc biệt là bổ sung các số liệu về số lượng nhà hộ sinh, số lượng phụ nữ đượcthăm khám thai; số lượng nhà trẻ, nhóm trẻ;… Qua nguồn số liệu đó, các tác giả nêulên một trong những thành tựu của ngành y tế dân sự trong giai đoạn này là đã xâydựng được một mạng lưới y tế phủ khắp miền Bắc, nhất là ở khu vực nông thôn Tuynhiên, đây là công trình mang tính thông sử nên hoạt động y tế mới chỉ được đề cậpdưới dạng thống kê số liệu mà chưa có nhiều điều kiện phân tích cơ cấu tổ chức cũngnhư hoạt động chuyên môn của ngành y tế dân sự trong giai đoạn này
Công trình Lịch sử Việt Nam, tập 4 (1945-2005) của tác giả Lê Mậu Hãn,
Nguyễn Đình Lê, Trương Thị Tiến, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2013 Công trình đượcbiên soạn nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử ViệtNam trong hệ thống giáo dục đại học, góp phần nâng cao hiểu biết về lịch sử đất
1Nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Trang 13nước, truyền thống dân tộc, cung cấp những bài học kinh nghiệm của lịch sử choquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công trình được tập thể tác giả nghiên cứu
và trình bày lịch sử Việt Nam đầy đủ, toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội, y tếtrong suốt tiến trình lịch sử từ nguồn gốc cho đến năm 2000 theo một hệ thống nhấtquán, cập nhật những thành tựu và phương pháp nghiên cứu mới Đây là công trìnhmang tính thông sử, vì vậy các tác giả chưa có điều kiện đi sâu phân tích các vấn đề
cụ thể, do vậy, dung lượng nghiên cứu về hoạt động y tế còn ít
Trong tập 12 (1954-1965) của Bộ Lịch sử Việt Nam do tập thể tác giả Trần
Đức Cường (chủ biên), Nguyễn Hữu Đạo, Lưu Thị Tuyết Vân biên soạn, Nxb Khoahọc xã hội, Hà Nội, in lần đầu vào năm 2014 và tái bản lần thứ nhất vào năm 2017.Công trình được thực hiện trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu lịch sử ViệtNam của nhiều tác giả, đồng thời cập nhật, bổ sung thêm nhiều tư liệu mới trên tất
cả các lĩnh vực Với dung lượng hơn 500 trang, các tác giả đã dành hơn 14 trang đểnêu và phân tích những nét cơ bản nhất của hoạt động y tế qua các giai đoạn lịch sử1955-1960 và 1961-1965 Trong giai đoạn 1955-1960, với dung lượng gần 4 trang(từ trang 119 đến trang 122), công trình đề cập đến các nội dung như cơ sở vật chất,trang thiết bị y tế, trình độ y học và đội ngũ cán bộ y tế… Trong giai đoạn 1961-
1965, các tác giả dành 10 trang (từ trang 353 đến trang 363) để phân tích nhữngthành tựu đạt được trong hoạt động khám và chữa bệnh, thực hiện chăm sóc sứckhỏe nhân dân của ngành y tế Tuy nhiên, đây là một công trình mang tính thông sửnên các tác giả nghiên cứu hoạt động y tế ở miền Bắc với một số nét cơ bản màchưa đi sâu phân tích cơ cấu tổ chức và vai trò, vị trí của y tế đối với lịch sử dân tộc
Công trình Lịch sử Việt Nam, tập 13 (1965-1975) do tác giả Nguyễn Văn Nhật
(chủ biên), Đỗ Thị Nguyệt Quang, Đinh Quang Hải, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
in lần đầu vào năm 2014 và tái bản lần thứ nhất vào năm 2017 Công trình đã giớithiệu một cách hệ thống từ âm mưu, kế hoạch xâm lược của Mỹ đến chủ trương xâydựng đường lối kháng chiến của Đảng; nhất là nêu được quá trình xây dựng và bảo
vệ miền Bắc, đấu tranh của nhân dân miền Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị,kinh tế, văn hóa, y tế, quân sự, ngoại giao, Đây cũng là giai đoạn mà ngành y tế có
sự chuyển hướng và hoạt động tích cực, có nhiều đóng góp lớn cho cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước Trong tập này, các tác giả nhấn mạnh đến một trongnhững thành tựu của ngành y tế dân sự là xây dựng được mạng lưới
y tế phát triển rộng khắp với nhiều số liệu cụ thể Tại các trang 91, trang 247, trang
427 và 428 đã cung cấp các số liệu về số lượng cơ sở y tế, số lượng giường
điều trị, đội ngũ cán bộ nhân viên y tế… Ngoài bổ sung các số liệu cần thiết, trongchương III các tác giả còn nhấn mạnh đến một trong những thành tựu lớn của
Trang 14ngành y tế dân sự từ năm 1973 đến năm 1975 là đã chú trọng đến công tác bảo vệsức khỏe bà mẹ và trẻ em Tuy nhiên, do đây là công trình thông sử nên các số liệu
về ngành y tế mới chỉ ở dạng thống kê mà chưa phân tích sâu đến hoạt động chuyênmôn cũng như vị trí, vai trò của của ngành y tế nói chung, y tế dân sự nói riêngtrong giai đoạn lịch sử đầy biến động ở miền Bắc Việt Nam Chính vì vậy, đây làkhoảng trống mà luận án cần đi sâu nghiên cứu
Ngoài các cuốn thông sử, năm 2016, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh đã chủ biên
công trình “Chính sách xã hội ơ miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975” Đây
là công trình chuyên khảo nghiên cứu về chính sách xã hội ở miền Bắc từ năm 1954đến năm 1975, tác giả đã đi sâu phân tích các lĩnh vực như văn hóa, xã hội, y tế
ở miền Bắc theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể Công trình gồm có 3 chương, trongđó nội dung chính được tập trung ở chương 2 gồm: tình hình miền Bắc sau năm
1954 và vấn đề đặt ra đối với xã hội miền Bắc; phân tích quá trình thực hiện cácchính sách xã hội ở miền Bắc qua từng thời kì Phân theo từng thời kì lịch sử, tácgiả đã nêu lên được những thành tựu của ngành y tế trên các nội dung như số lượng
y bác sĩ, trang thiết bị y tế, các cơ sở y tế,… trong tổng thể chung của xã hội miềnBắc Thông qua nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh, tác giả luận án có thểchắt lọc, kế thừa nguồn tư liệu có giá trị về hoạt động của ngành y tế
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về hoạt động y tế miền
Bắc * Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử quân y
Nghiên cứu về y tế dân sự, tác giả tham khảo một số công trình viết về lịch sửquân y để đối chiếu, so sánh và thấy rõ hơn bức tranh về hoạt động y tế nói chungtrong thời kì này, ví như:
Công trình Lịch sử 40 năm phục vụ của ngành quân y quân khu 3 (1945-1985)
của bác sĩ Dương Bình, Nxb Quân đội nhân dân xuất bản năm 1990 Dưới cái nhìn củangười trực tiếp tham gia công tác quân y, tác giả đã nêu được quá trình hoạt động củangành quân y quân khu III theo tiến trình lịch sử dân tộc Công trình gồm có 6 chương,trong đó chương III và chương IV tác giả viết trực tiếp về hoạt động của ngành quân yquân khu III trong các giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1964 và từ năm 1965 đến năm
1975 Trong chương III, tác giả đã phác thảo những nét cơ bản nhất về hoạt động củaquân y quân khu III trong giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1964 trên các nội dung: thựchiện cuộc vận động vệ sinh phòng bệnh, chấn chỉnh mạng lưới điều trị để tiếp nhậnthương binh, tổ chức các lớp bổ túc văn hóa và chuyên môn cho cán bộ, Trongchương IV, nhiệm vụ của ngành quân y quân khu III trong giai đoạn 1965-1975 đượcxác định gồm: thực hiện nhiệm vụ cấp cứu và điều trị, công tác vệ sinh phòng bệnh vàbảo đảm sức khỏe của bộ đội để tập luyện và công tác; thực hiện
Trang 15khám tuyển nghĩa vụ quân sự để đảm bảo yêu cầu của chiến trường về tiêu chuẩn độtuổi và thể lực, Từ đó, tác giả có những nhận định, đánh giá về vị trí, vai trò củaquân y quân khu III Tuy nhiên, công trình mới đi sâu phân tích nhiệm vụ chăm sócsức khỏe của bộ đội trong các chiến trường là chủ yếu.
Công trình Lịch sử quân y quân đội nhân dân Việt Nam, tập II (1954-1968),
tập III (1969-1975) của Tổng cục hậu cần xuất bản 5-1991 Công trình là một tập tư
liệu có hệ thống liên quan đến hoạt động của ngành quân y trong từng thời kì lịch
sử Tập II của công trình gồm có 3 chương, ở mỗi chương hoạt động của ngànhquân y được các tác giả đi sâu mô tả khá chi tiết theo từng bước phát triển của lựclượng quân đội nhân dân Cụ thể: chương I, mô tả chi tiết hoạt động của ngành quân
y trong giai đoạn xây dựng quân đội nhân dân tiến lên chính quy, hiện đại trên miềnBắc, giữ gìn phát triển lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam (1954-1960);chương II, mô tả khá chi tiết về hoạt động của ngành quân y trong công cuộc xâydựng quân đội nhân dân tiến lên chính quy hiện đại trên miền Bắc, phát triển bộ độichủ lực ở miền Nam, cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của
đế quốc Mỹ (1960-1965); chương III, mô tả về hoạt động và vai trò của ngành quân
y trong giai đoạn quân đội nhân dân Việt Nam vừa xây dựng vừa chiến đấu cùngtoàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1965-1968).Trong tập III (1969-1975), đây là thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nướcbước vào giai đoạn quyết liệt, thực hiện mục tiêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụynhào”, giành thắng lợi trọn vẹn, thực hiện giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.Trong tập III, các tác giả đã chia làm 3 chương, trong đó chương I và II đã phản ánhnhững hoạt động của quân y ở các cấp chiến lược, chiến trường và chiến dịch tronggiai đoạn này Cụ thể: chương I, các tác giả khắc họa chi tiết hoạt động của ngànhquân y trong quá trình phục vụ tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, cùngtoàn dân đánh bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ (1969-1972); chương II đã mô tả hoạt động của ngành quân y trong nhiệm vụ thành lậpcác quân đoàn, khẩn trương chuẩn bị cùng toàn quân tiến hành cuộc tổng tiến công
và nổi dậy mùa xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước (1973-1975) Tham khảo công trình này, tác giả luận án tiếp cận và sửdụng được nguồn tư liệu khá mới, chi tiết, đặc biệt là dựa vào những nhận định,đánh giá về cơ cấu tổ chức, hoạt động của lực lượng quân y trong giai đoạn nàygiúp tác giả luận án có thể khẳng định được vị trí, vai trò của ngành y tế nói chung,
y tế dân sự nói riêng đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhân dân, góp phầnxây dựng hậu phương vững mạnh để đảm đương nhiệm vụ cao cả với chiến trườngmiền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 16Công trình Lịch sử Học viện quân y (1949-1999) (lưu hành nội bộ) của Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1999 Công trình trình bày về sự ra đời, trưởng thành và phát
triển của Học viện Quân y từ những ngày đầu thành lập với tiền thân là trường Quân y
sĩ Việt Nam Trong chương I, công trình đã khái quát hoạt động của trường Quân y sĩViệt Nam trong giai đoạn (1949-1957), trong đó có 5 năm trong cuộc kháng chiếnchống Pháp và 2 năm trong hoàn cảnh hòa bình Chương II, công trình đã khái lượcđược hoạt động của trường Sĩ quan Quân y - Viện nghiên cứu y học quân sự trongnhững năm miền Bắc xây dựng CNXH và bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước (1957-1966) Trong giai đoạn này, công trình đã nêu lên một trong những thànhtựu đạt được của trường là phối hợp với trường Đại học Y dược khoa tổ chức các lớp ycao đầu tiên nhằm đào tạo đội ngũ bác sĩ đa khoa Chương III, nêu được quá trình hoạtđộng của trường Đại học Quân y trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đótác giả nhấn mạnh một trong những đặc điểm của nhà trường trong giai đoạn này là
“nhà trường gắn liền với chiến trường“, đồng thời nêu được đây là giai đoạn trường Đạihọc Quân y mở những lớp đào tạo học viên quân y đầu tiên giúp nước bạn Lào Nhưvậy, công trình đã khái quát được cơ cấu tổ chức, hoạt động của trường qua nhiều lầnthay đổi tên gọi với những nét cơ bản nhất Từ đó, khẳng định được vai trò của trườngđối với công tác đào tạo cán bộ y tế cho quân đội để phối hợp với lực lượng dân y thựchiện chăm sóc sức khỏe nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Công trình Lịch sử Viện quân y 103 (1950-2000) do Học viện quân y biên
soạn, được Nxb Quân đội Nhân dân; Hà Nội ấn hành năm 2000 Công trình đã ghilại những hoạt động chính với những bước ngoặt, những sự kiện quan trọng màbệnh viện quân y 103 đã trải qua Nội dung của công trình gồm: sự ra đời của Việnquân y với cơ sở ban đầu là đội điều trị 3 được xây dựng và trưởng thành trong cuộckháng chiến chống Pháp; hoạt động của Viện quân y trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc, thống nhất nước nhà Có thể nói, công trình giúp tác giảtham khảo các hoạt động khám và điều trị của viện, từ đó làm rõ hơn nữa hoạt độngcủa ngành y tế ở miền Bắc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Công trình Lịch sử bệnh viện phòng không không quân (lưu hành nội bộ) của
Nxb Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 2000 Công trình ghi lại quá trình xâydựng và trưởng thành trong phục vụ chiến đấu, điều trị thương bệnh binh của bệnhviện phòng không, không quân trong suốt chặng đường lịch sử với nhiều biến động
và đã giành được nhiều thắng lợi Tác giả khẳng định sự trưởng thành và phát triểncủa bệnh viện gắn với tiến trình lịch sử của dân tộc, từ đó khẳng định được vị thếcủa bệnh viện với nhiệm vụ chăm sóc và chữa trị cho thương, bệnh binh trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 17Công trình “Lịch sử bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (1951-2001) (lưu
hành nội bộ); Tổng cục hậu cần Bệnh viện Trung ương quân đội 108; Nxb Quân đội
Nhân dân; Hà Nội, 2001 Cuốn sách khắc họa lại quá trình xây dựng và trưởngthành của Bệnh viện 108 với nhiều lần thay đổi tên gọi Tiền thân của bệnh viện
108 là bệnh viện Thủy Khẩu2, sau đó được đổi thành phân viện 8 phục vụ chiếndịch Biên Giới Thu Đông 1950, bệnh viện Đồn Thủy và trở thành bệnh viện 108.Công trình dành 2 chương (chương II và chương III) để khắc họa quá trình xâydựng tổ chức và hoạt động của bệnh viện Trong chương II, các tác giả đã khái quátđược cơ cấu tổ chức và hoạt động của bệnh viện trong điều kiện hòa bình Các tácgiả khẳng định trong 10 năm (1951-1961), bệnh viện đã xây dựng tổ chức từ sơ khaiđến chính quy, từ cơ sở điều trị quy mô nhỏ tiến tới thành một bệnh viện lớn Trảiqua 10 năm xây dựng, bệnh viện 108 đã thiết lập được tổ chức thích hợp, phongphú, đa khoa và đã tích lũy được nhiều kiến thức kinh nghiệm chuyên môn, từngbước giải quyết được nhiều loại chấn thương, nhiều bệnh nguy hiểm bằng những kĩthuật phức tạp Trong chương III, quá trình chấn chỉnh tổ chức, nâng cao trình độchuyên môn, đáp ứng nhiệm vụ trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai ở miềnBắc và chi viện cho chiến trường miền Nam của bệnh viện được các tác giả tậptrung làm rõ Chính vì vậy, tham khảo công trình, tác giả có thể sử dụng được nguồn
sử liệu có giá trị về hoạt động chăm sóc sức khỏe của bộ
đội và nhân dân, nhất là những thành tựu y tế đạt được của bệnh viện 108 trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Công trình Lịch sử kết hợp quân dân y Việt Nam (1945-2000) của Nxb Y học; Hà
Nội, 2006 Đây là công trình nghiên cứu khoa học của Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng phốihợp nhằm làm rõ hoạt động phối hợp giữa ngành y tế quân đội nhân dân (quân y) và y
tế nhân dân (dân y) trong tiến trình lịch sử dân tộc Công trình được chia thành 4chương, mỗi chương các tác giả chia thành các mục nhỏ để đi sâu phân tích sự phốihợp giữa quân y và dân y trong mỗi giai đoạn lịch sử Trong mỗi mục, các tác giả tậptrung phân tích sự phối hợp giữa quân y và dân y trên các nội dung như: phối hợp tronghoạt động đào tạo, trong hoạt động khám và điều trị Theo đó, mỗi một giai đoạn lịch
sử, sự phối hợp quân dân y được thực hiện khác nhau nhưng đều hướng đến một mụctiêu chung là khám chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân Công trình đã mang lại nhữnggiá trị khoa học giúp tác giả tiếp cận chi tiết một số sự kiện y tế đặc biệt trong giai đoạnnày ở miền Bắc, từng bước cải thiện cách đánh giá phiến diện của các tác giả
2 Thủy Khẩu (tiếng Tày là Pác Nậm, nghĩa là miệng nước) là một xã nhỏ thuộc huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc sát biên giới Việt Trung, cách bản Nà Lạn của Việt Nam khoảng 7km, nhưng do quân đội Việt Nam giải phóng trước khi Hồng quân Trung Quốc tiến sát biên giới, sau đó đã bàn giao lại cho nước bạn.
Trang 18* Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử dân y
Năm 1960, Bệnh viện Bạch Mai xuất bản cuốn “Đặc san bệnh viện Bạch
Mai” để kỉ niệm 15 năm thành lập nước Việt Nam DCCH và chào mừng Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ III Công trình là tập hợp các bài viết của các giáo sư, bác
sĩ, cán bộ bệnh viện viết về cơ cấu tổ chức và hoạt động của bệnh viện trong 5 nămđầu xây dựng CNXH ở miền Bắc Các bài viết tập trung phân tích những sự kiệnnhư Chính phủ tiếp quản bệnh viện, tiến hành cải tổ, tổ chức lại cơ cấu, hoạt động
và nêu một số kết quả trong hoạt động khám, chữa bệnh của bệnh viện Bạch Maisau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Công trình đã cung cấp nguồn tưliệu phong phú về cơ sở vật chất, hoạt động khám chữa bệnh, số lượng cán bộ y tế,
số bệnh nhân được khám và chữa bệnh lưu động, Trên cơ sở nguồn tư liệu tiếp cậnđược, tác giả luận án có thể tham khảo những thành tựu trong hoạt động khám vàđiều trị của bệnh viện Bạch Mai - một trong các cơ sở khám chữa bệnh có quy môlớn tuyến Trung ương trong hệ thống y tế dân sự ở miền Bắc
Công trình “Bốn mươi năm xây dựng ngành y tế”; Nxb Y học, Hà Nội, 1985 là
công trình tập hợp 10 bài viết đề cập đến những thành tựu của ngành y tế trong 40năm (từ năm 1945 đến năm 1985) trên các nội dung: công tác khám và điều trị,công tác vệ sinh phòng dịch, hoạt động đào tạo cán bộ y tế, công tác dược,… Cácbài viết đã được các bác sĩ đầu ngành viết để đánh giá, tổng kết quá trình xây dựng
và phát triển của ngành y tế trên nhiều nội dung Từ những thành tựu đạt được, một
số kinh nghiệm và phương hướng phát triển của ngành y tế trong thời gian tiếp theocũng được các tác giả đặt ra Chính vì vậy, tham khảo công trình tác giả luận án cóthể kế thừa nguồn tư liệu về hoạt động của ngành y tế, từ đó khái quát được nhữngthành tựu lớn nhất và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng vàphát triển ngành y tế dân sự trong giai đoạn 1954-1975 Không chỉ kế thừa số liệu
về hoạt động y tế, tham khảo công trình còn giúp tác giả hiểu thêm được nhiệm vụ
và trách nhiệm đội ngũ cán bộ y tế, mỗi người dân và của toàn xã hội đối với hoạtđộng chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong giai đoạn lịch sử đầy biến động ở miềnBắc
Công trình “Sơ lược lịch sử 90 năm Bệnh viện hữu nghị Việt Đức Hà Nội; Nxb
Y học, Hà Nội, 1996 là công trình tập thể của nhiều nhân chứng có nhiều cống hiếntrong quá trình hình thành và phát triển của bệnh viện Phủ Doãn (nay là bệnh việnhữu nghị Việt Đức) Để hoàn thành công trình, các tác giả đã sử dụng nguồn sử liệulưu trữ trong các bảo tàng để đem ra phân tích và đối chiếu Ngoài ra, những cuộchành hương về cội nguồn núi rừng Việt Bắc để nhìn sâu vào lịch sử, từ đó có nhữngđánh giá khách quan về vị trí, vai trò, của bệnh viện trong những giai đoạn lịch sử
Trang 19khác nhau cũng được tập thể tác giả sử dụng Công trình đã làm rõ sự tham gia tíchcực và năng động của một trong những cơ sở đầu tiên của ngành y tế, gợi mở chongười đọc hình dung được vai trò bệnh viện Phủ Doãn trong hai cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước Với 4 chương, các tác giả đã pháchọa những nét cơ bản trong quá trình hoạt động của bệnh viện theo tiến trình lịch sửdân tộc Các tác giả đã nêu rõ được bức chân dung của người đặt viên gạch đầu tiêncủa bệnh viện Việt Đức là nhà bác học A.Yersin Khi cách mạng Tháng Tám thànhcông, lòng yêu nước chân chính được giác ngộ, nhiều cán bộ công nhân viên đãtham gia hoạt động cứu quốc Một số người tình nguyện “Nam tiến”, trong khi đại
bộ phận tham gia kháng chiến phục vụ nhân dân Chính vì vậy, “Pháo đài PhủDoãn” đã có nhiều đóng góp trong hoạt động địch hậu, cứu chữa nhiều thương binh
và chiến sĩ cách mạng Khi hòa bình được lập lại trên miền Bắc, với sự ủng hộ, giúp
đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Hunggari, Pháp, Cu Ba, đặc biệt cácchuyên gia Cộng hòa Dân chủ Đức, nhiều công trình khoa học được tiến hành, gópphần xây dựng nền y học ngoại khoa với đầy đủ tính khoa học và bản sắc dân tộc.Đặc biệt, khi Đế quốc Mỹ tập trung không quân đánh phá miền Bắc, bệnh viện trởthành hậu phương chi viện về y tế cho các tỉnh khu IV và miền Nam góp phần chiếnthắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Năm 1997, Bộ Y tế, Bệnh viện Bạch Mai biên soạn công trình “Sơ lược lịch
sử 85 năm bệnh viện Bạch Mai; Nxb Y học, Hà Nội, 1997 Công trình đã phác họa
sự ra đời và trưởng thành của Bệnh viện Bạch Mai từ những ngày đầu thành lậpmang tên “Nhà thương Cống Vọng” – là cơ sở chữa bệnh truyền nhiễm nhỏ bé Trảiqua những bước thăng trầm của lịch sử, bệnh viện từng bước trưởng thành lớnmạnh, trở thành bệnh viện đa khoa tuyến Trung ương hoàn chỉnh, là cơ sở thực hànhchính của trường Đại học Y khoa Hà Nội Với kết cấu 5 chương, trong đó chươngIII, IV đã tập trung phân tích sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức và hoạt động củabệnh viện trong 10 năm đầu miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954-1964) vàkhi Mỹ mở rộng chiến tranh bắn phá miền Bắc (1965-1975) Trong chương III, côngtrình đã khái quát hoạt động tiếp quản, quá trình cải tổ về tổ chức và hoạt động củabệnh viện Bạch Mai sau năm 1954 Trong chương IV, các tác giả đã nhấn mạnh đếnvai trò của bệnh viện Bạch Mai trong hoạt động điều trị và cấp cứu chiến tranh khi
Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Tham khảo công trình, tác giả luận án đượctiếp cận nguồn số liệu về cơ sở vật chất, đội ngũ y bác sĩ và những hoạt độngchuyên môn của bệnh viện trong giai đoạn 1954-1975 Thông qua đó, giúp tác giả
đề tài có cách nhìn nhận, đánh giá khách quan, xác thực về tầm quan trọng củangành y tế trong hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Trang 20Năm 1998, công trình Lịch sử Viện sốt rét, kí sinh trùng và côn trùng
(1957-1997) của tác giả Vũ Nhai được Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản Công trình được
kết cấu 4 chương đã khái quát được sự ra đời, hình thành và phát triển của Viện sốtrét, kí sinh trùng và côn trùng từ năm 1957 đến năm 1997 Ngoài việc nêu rõ bốicảnh ra đời, công trình còn bổ sung thêm nguồn tư liệu về quá trình xây dựng tổchức và hoạt động của Viện theo tiến trình lịch sử dân tộc Công trình được cấu trúc
4 chương, trong đó chương II, III tập trung vào hoạt động và vai trò của Viện đốivới hoạt động phòng chống bệnh sốt rét và kí sinh trùng ở Việt Nam trong hai giaiđoạn 1957-1964 và giai đoạn 1965-1975 Thông qua hoạt động phòng chống bệnhsốt rét và kí sinh trùng, tác giả nêu lên một số kết quả trong hoạt động nghiên cứu,từng bước áp dụng những công trình nghiên cứu khoa học vào công tác phòngchống bệnh sốt rét Đặc biệt, công trình dành dung lượng 5 trang để viết về nhữngđóng góp lớn của Giáo sư Đặng Văn Ngữ - bác sĩ đầu ngành nghiên cứu về kí sinhtrùng ở Việt Nam đối với sự phát triển của Viện sốt rét và kí sinh trùng
Công trình Sơ lược lịch sử y tế Việt Nam tập II (1954-1975) của Bộ Y tế, do
Nxb Chính trị Quốc gia; Hà Nội ấn hành năm 1999 Công trình đã tái hiện được mộtthời kì vẻ vang nhưng cũng đầy gian khổ khi cả dân tộc Việt Nam phải chiến đấuchống một kẻ thù ngoại xâm hùng mạnh Đế quốc Mỹ đã sử dụng mọi vũ khí tối tânhiện đại không chỉ nhằm hủy diệt con người mà còn tàn phá cả môi trường, sinhthái, gây nhiều bệnh hiểm nghèo Công trình được biên soạn với những nội dung cơbản: chủ trương, đường lối y tế của Đảng, Nhà nước; quá trình thực hiện cácphương châm công tác y tế Việt Nam do Đảng và Chính phủ đề ra; đặc biệt đi sâuphân tích hoạt động y tế phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc, chi viện đắc lực cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam; qua đó rút ra những bàihọc lịch sử, những kinh nghiệm về y, dược, Thông qua các nội dung đó, công trình
đã tái hiện lại một giai đoạn lịch sử hào hùng, từng bước khẳng định vị trí, tầm quantrọng của ngành y tế với những nỗ lực không ngừng của đội ngũ y, bác sĩ góp phầnvào sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước Tham khảo công trình tác giả
kế thừa nhiều số liệu về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ y tế,… đặc biệt, tác giả cóthể hiểu được hoạt động của ngành trong các giai đoạn lịch sử khác nhau Tuy vậy,
cơ cấu tổ chức của y tế dân sự chưa được các tác giả tập trung khai thác
Công trình “Lịch sử Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương (1945-2000)” do Nxb Chính
trị Quốc gia xuất bản năm 2001 Công trình được biên soạn công phu, nghiêm túc trên
cơ sở nguồn tài liệu của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương Từ nguồn tài liệu gốc đượckhai thác, công trình cấu trúc thành 5 chương đã dựng lại quá trình ra đời, xây dựng,phát triển của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương từ những ngày đầu mới
Trang 21thành lập, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với nhiều tấm gương
về lòng yêu nước, về tinh thần chiến đấu quả cảm, về khả năng sáng tạo của đội ngũcán bộ nhân viên y tế Từ đó, các tác giả khẳng định: một trong những đóng góp lớnnhất của Viện là xây dựng thành công hệ thống y học dự phòng các tuyến từ Trungương đến địa phương Từ các bộ phận chuyên ngành của Viện đã tách ra và hìnhthành nhiều Viện nghiên cứu y học dự phòng tuyến trên của ngành y tế Tham khảocông trình giúp tác giả có cách nhìn khái quát về quá trình hình thành và phát triểncủa ngành y học dự phòng, đồng thời kế thừa nhiều số liệu để phục vụ cho quá trìnhviết luận án Tuy nhiên, đây chỉ là một mảng nghiên cứu trong tổng thể hoạt độngcủa ngành y tế dân sự Việt Nam
Công trình “100 năm Đại học Y Hà Nội, năm tháng và sự kiện”; Trường Đại học
y Hà Nội, 2002 Trên cơ sở nguồn tư liệu được thu thập và những nét đặc trưng củaTrường Đại học Y Hà Nội3, tập thể tác giả đã dựng lên bức tranh hoạt động của mộttrong những cơ sở đào tạo cán bộ y tế hàng đầu của đất nước trong suốt chiều dài lịch
sử dân tộc Công trình đã làm nổi bật quá trình hoạt động của trường trong những giaiđoạn lịch sử đặc biệt khốc liệt của các cuộc chiến tranh giữ nước Có thể nói, nơi nàocó dân, có bộ đội, có mặt trận là có sự tham gia tích cực của thầy và trò trường Đại học
Y Hà Nội, góp phần tích cực vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứunước của nhân dân Việt Nam Công trình khẳng định: Trường Đại học Y Hà Nội là cáinôi đào tạo nhiều bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế thuộc các chuyên ngành y học hiện đạiViệt Nam từ y học lâm sàng, y học cơ sở đến y học dự phòng trong dân y cũng nhưtrong quân y Đặc biệt, công trình cũng nêu lên công lao của nhiều Giáo sư, cán bộ nhàtrường với nhiều đóng góp quan trọng để xây dựng nền y học nước nhà, làm rạng rỡnền y học Việt Nam Tuy chứa đựng nguồn sử liệu khá phong phú về hoạt động y tếnhưng các tác giả mới phân tích về tổ chức và hoạt động của trường ở một số nội dung
Công trình “100 năm Đại học Y Hà Nội – những kỉ niệm”, Trường Đại học Y Hà
Nội, 2002 Công trình gồm nhiều bài viết ghi lại những kỉ niệm sâu sắc của nhiều thế
hệ thầy và trò từng học tập, công tác tại trường Đại học Y Hà Nội Các bài viết tậptrung vào các nội dung: công tác đào tạo cán bộ y tế từ năm 1954 đến năm 1975 với cácbài viết như: “Tiếp quản trường Đại học Y Dược Hà Nội” của bác sĩ Đinh Văn Chỉ; bài
“Chuyện kể của các trí thức ngành y” của dược sĩ Trần Giữ; hay bài “Từ trường Đạihọc Y Hà Nội đến chiến trường B2” của Giáo sư Nguyễn Đình Bảng, ; đóng góp củacác Giáo sư, bác sĩ đầu ngành trong lĩnh vực y tế gồm: bài “Bác sĩ Hoàng Tích Mịch,chuyên gia hàng đầu của Y học dự phòng Việt Nam” của Dược sĩ
3 Tiền thân là Trường Đại học Y Dược khoa
Trang 22Trần Giữa; bài “Giáo sư Vũ Đình Hòe, người thầy tiêu biểu của chuyên ngành giảiphẫu bệnh – y pháp học Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Vượng,…; hoặc các bàiviết về đóng góp của các cán bộ trường Đại học Y khoa với cách mạng miền Namnhư: “Những năm tháng ở chiến trường B” của Giáo sư Phan Thị Phi Phi; “Chúngtôi đi chiến trường B” của PGS.TS Phạm Hoàng Thế; “Phong trào thanh niêntrường Đại học y Hà Nội thời kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của bác sĩ PhạmVăn Thân,… Đặc biệt, cuốn sách còn có các cuốn hồi kí của các Giáo sư, bác sĩ nổitiếng như Giáo sư Đặng Văn Ngữ, Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư Tôn Thất Tùng,…ghi lại chặng đường xây dựng và phát triển của trường Đại học Y khoa trong giaiđoạn 1954 đến năm 1975 Thông qua các bài viết, bài hồi kí, công trình đã cung cấpnhiều tư liệu lịch sử về hoạt động đào tạo cán bộ y tế, hoạt động chuyên môn củacác y bác sĩ trong giai đoạn 1954-1975, qua đó giúp tác giả tiếp cận được chươngtrình, hoạt động đào tạo và vai trò, đóng góp của lực lượng y bác sĩ đối với nhiệm
vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân và thực hiện chi viện cho chiến trường miềnNam Tuy nhiên, đây là công trình sưu tầm các bài viết của nhiều tác giả khác nhaunên nguồn tư liệu chưa tập trung, nội dung bài viết mới ở mức độ khái quát
Năm 2012, Nhà xuất bản Dân Trí xuất bản cuốn sách Mười thế kỉ y tế Việt Nam
của T.S Nguyễn Minh San Công trình đã trình bày có hệ thống sự hình thành và pháttriển của ngành y tế theo tiến trình lịch sử dân tộc Công trình được tác giả chia làm 4chương, trong đó chương 2, tác giả phân chia theo từng thời kì lịch sử để làm rõ chứcnăng, nhiệm vụ, cơ cấu của ngành y tế gồm: Nước Việt Nam DCCH ra đời và sự hìnhthành nền y tế mới; Tổ chức và hoạt động y tế trong 9 năm kháng chiến chống Pháp(1946-1954); Y tế Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Với gần 800trang, nguồn tài liệu tham khảo được tác giả khai thác ở các cơ quan lưu trữ đã làm rõhoạt động y tế trên các phương diện như vệ sinh phòng bệnh, hoạt động điều trị, hoạtđộng đào tạo cán bộ y tế, nghiên cứu khoa học,… Mỗi giai đoạn, ngành y tế đã có sựđiều chỉnh về cơ cấu tổ chức và hoạt động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khám vàchữa bệnh, kết hợp Đông - Tây y, sản xuất thuốc, đào tạo cán bộ y tế,
Tiếp cận công trình, tác giả có thể kế thừa nhiều số liệu liên quan đến số lượng cơ
sở điều trị, cơ sở đào tạo, số lượng y bác sĩ,… Mặc dù cung cấp được nguồn tư liệukhá lớn qua các số liệu và sự kiện lịch sử nhưng tác giả chưa khái quát và làm rõ sựđiều chỉnh trong cơ cấu tổ chức, hoạt động chuyên môn của y tế trong tiến trình lịch
sử dân tộc Chính vì vậy, trên cơ sở tham khảo công trình, nhiệm vụ mới của tác giả
là làm rõ cơ cấu tổ chức và hoạt động của hệ thống y tế để phù hợp với đặc điểm,tình hình và nhiệm vụ mới
Trang 231.2 Những nội dung luận án kế thừa và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Những nội dung luận án kế thừa
Qua việc tìm hiểu về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án, vấn đề y tếdân sự đã được thể hiện qua nhiều công trình nghiên cứu trong nước:
Về nội dung
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về y tế chủ yếu được thể hiện dưới nhiều
dạng thức bao gồm: các cuốn thông sử, công trình nghiên cứu về hoạt động củangành y tế, lịch sử bệnh viện, lịch sử các cơ sở đào tạo y dược, Với nhiều cáchtiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã giúp tác giả có cái nhìn tổngthể và đại cương nhất về hoạt động y tế, mà ở đó chủ yếu đề cập đến hoạt độngkhám chữa bệnh của các y bác sĩ cả dân sự và quân sự… Đây là nguồn tài liệu thamkhảo hữu ích, là cơ sở quan trọng để tác giả luận án tham khảo, từ đó triển khai cácnội dung phù hợp với yêu cầu đặt ra khi nghiên cứu về y tế dân sự ở miền Bắc từnăm 1954 đến năm 1975
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về y tế và hoạt động y tế Việt Nam trong
giai đoạn này đã khái lược quá trình phát triển và hoạt động y tế ở miền Bắc trênmột số vấn đề cơ bản như: đội ngũ y bác sĩ, cơ sở vật chất, đặc biệt là phản ánhnhững hoạt động nghiệp vụ của đội ngũ y bác sĩ Trên cơ sở đó, một số nội dung
về đặc điểm, thành tựu cũng như hạn chế của ngành y tế bước đầu được phân tích,đánh giá khá khách quan Tham khảo các công trình trên giúp tác giả luận án có thể
kế thừa nguồn tư liệu khi tiến hành nghiên cứu đề tài
Thứ ba, phạm vi nội dung nghiên cứu về chủ đề y tế nói chung, y tế dân sự nói
riêng từ năm 1954 đến năm 1975 còn mang tính riêng lẻ Mỗi công trình chỉ mớikhai thác được một khía cạnh nhỏ hoặc chỉ tập trung vào quá trình hình thành vàphát triển của các cơ sở y tế theo tiến trình lịch sử dân tộc mà chưa có công trìnhnào nghiên cứu, tìm hiểu một cách trọn vẹn về hệ thống ngành y tế, nhất là y tế dân
sự Tuy vậy, tác giả luận án có thể kế thừa nguồn sử liệu về bối cảnh thành lập, quátrình hoạt động của các cơ sở y tế, từ đó khái quát, tổng hợp cơ cấu tổ chức và hoạtđộng của ngành y tế dân sự ở miền Bắc trong giai đoạn lịch sử đầy biến động
Thứ tư, khi nhận định, đánh giá về thành tựu, hạn chế hay vai trò, vị trí của ngành
y tế, một số nhà nghiên cứu đã có những quan điểm chưa thống nhất về chức năng củangành y tế từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc, nhất là giai đoạn Mỹ mở rộng chiếntranh khắp cả nước Các công trình nghiên cứu đã dựa theo cách phân kì lịch sử dân tộc
để phân chia cách mạng miền Bắc thành 2 giai đoạn: từ năm 1954 đến năm 1965 và từnăm 1965 đến năm 1975 Theo một số tác giả, hệ thống y tế dân sự chủ yếu phát triển
Trang 24mạnh trong 10 năm đầu miền Bắc hòa bình (1954-1965), còn trong khoảng thời gian
Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc thì hoạt động y tế dân sự hoạt động kém hiệu quảhơn, thay vào đó là y tế quân sự chiếm ưu thế Từ những ý kiến không đồng nhất đó,tác giả có thể phân tích, đối chiếu cơ cấu tổ chức, hoạt động của ngành y tế dân sựtrong 2 giai đoạn khác nhau, từ đó làm rõ sự chuyển hướng của ngành y tế dân sự đểphù hợp với thực tiễn lao động, sản xuất, chiến đấu của quân và dân miền Bắc
Về tư liệu:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu cung cấp cho đề tài luận án những tư liệu
về sự ra đời và phát triển của các Viện nghiên cứu, các cơ sở điều trị, các cơ sở đàotạo cán bộ y tế từ tuyến Trung ương và địa phương ở miền Bắc trong thời kì 1954-
1975 như Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương, bệnh viện Hữu nghị Việt Xô (nay làbệnh viện Hữu Nghị), bệnh viện Bạch Mai - từ một cơ sở chữa bệnh truyền nhiễmnhỏ bé, từng bước lớn mạnh với những thăng trầm của lịch sử đã trở thành bệnhviện đa khoa hoàn chỉnh, và là cơ sở thực hành chính của Trường Đại học Y dược(nay là Trường Đại học Y khoa Hà Nội),
Thứ hai, các công trình đã cung cấp thêm tư liệu về số lượng y bác sĩ hoạt động
ở các tuyến, số lượng các cơ sở đào tạo cán bộ y tế; trang thiết bị của các cơ sở điều trị;
tư liệu về công tác đào tạo cán bộ y tế,… Tham khảo các công trình, tác giả có thể kếthừa nguồn tư liệu, từ đó có cách nhìn tổng thể, bao quát về cơ cấu tổ chức, hoạt
động của hệ thống y tế dân sự ở miền Bắc trong giai đoạn này
Thứ ba, các công trình nghiên cứu đã gợi mở cho tác giả nguồn tư liệu khá lớn
để khai thác sử dụng trong luận án thông qua chính sử, tác phẩm hồi kí của các y,bác sĩ đã công tác trong các cơ sở y tế ở giai đoạn lịch sử này, Đó là những nguồn
tư liệu rất quan trọng để triển khai luận án
Thứ tư, các công trình tuy cung cấp một nguồn tư liệu khá lớn nhưng hầu hết
chưa khai thác được nguồn tư liệu gốc từ Trung tâm lưu trữ quốc gia III, các cơ sở y
tế cũng như một số tạp chí viết về y tế Chính vì vậy, tác giả luận án cần tập trungkhai thác, bổ sung thêm nhiều nguồn tư liệu trong quá trình thực hiện
Từ kết quả nghiên cứu các công trình đã công bố có thể nhận thấy chưa có mộtcông trình riêng biệt, cụ thể nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về y tếdân sự ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 Chính vì vậy, cơ cấu tổ chức và hoạtđộng của y tế dân sự trở thành đối tượng nghiên cứu chính của đề tài
1.2.2 Những nội dung luận án cần làm rõ
Với những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có thể thấy, một sốnội dung quan trọng thuộc ngành y tế nói chung, y tế dân sự nói riêng chưa được cácnhà khoa học tập trung nghiên cứu như cơ cấu tổ chức, hoạt động, vai trò, đặc điểm,
Trang 25Nếu có, các công trình mới chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó của ngành y tế nhưquá trình khám chữa bệnh, hoạt động đào tạo cán bộ y tế, hoạt động sản xuất dượcliệu, Trong khi đó, những vấn đề cần tập trung làm rõ như cơ cấu tổ chức củangành y tế dân sự được thiết lập như thế nào? Gồm những bộ phận gì? Cơ cấu tổchức đó được hoạt động như thế nào? thì chưa được các công trình nghiên cứu Đây
là những vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục nghiên cứu
Nguồn tư liệu của các công trình đã thể hiện nhiều mặt của hoạt động y tế dân
sự ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 với nhiều mức độ khác nhau Đây lànguồn tư liệu rất quan trọng được tác giả luận án tham khảo, kế thừa khi thực hiện
đề tài Bên cạnh tham khảo nguồn tư liệu của các công trình đã công bố, tác giả luận
án còn chú trọng khai thác thêm nguồn tư liệu ở Trung tâm lưu trữ quốc gia III, ởtrường Đại học Y khoa Hà Nội và một số cơ sở y tế Trên cơ sở nguồn tài liệu phongphú và tin cậy đó, luận án tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về y tếdân sự ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 với các vấn đề sau:
Thứ nhất, làm rõ tình hình miền Bắc và chủ trương của Đảng và Nhà nước về
xây dựng ngành y tế
Thứ hai, trình bày và phân tích có hệ thống, toàn diện về cơ cấu tổ chức của hệ
thống y tế dân sự ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 bao gồm: Tuyến Trungương, tuyến địa phương (mạng lưới y tế tuyến tỉnh, huyện, bệnh xá, tổ y tế hợp tácxã) Từ đó, đánh giá một trong những thành tựu nổi bật của y tế dân sự ở miền Bắc
từ năm 1954 đến năm 1975 là đã xây dựng được một hệ thống y tế rộng khắp từthành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi với nhiệm vụ cơ bản là chữabệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân
Thứ ba, làm rõ hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ y tế dân sự để thấy rõ hơn
chương trình đào tạo cán bộ y tế giai đoạn này được diễn ra như thế nào?
Thứ tư, đi sâu tìm hiểu hoạt động của hệ thống y tế dân sự miền Bắc trên cơ sở
trình bày và phân tích các nội dung: Thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh, phòngdịch theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”; kết hợp Đông - Tây y trongphòng bệnh và chữa bệnh; tổ chức sản xuất và cung cấp thuốc cho nhân dân,…
Thứ năm, đưa ra một số nhận xét về thành tựu, hạn chế, đồng thời rút ra một số
kinh nghiệm cho sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành y tế trong giai đoạn hiện nay
Như vậy, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về y tế đã được công bố cùng vớiviệc cập nhật và bổ sung thêm nhiều nguồn tài liệu mới, tác giả có thể phục dựng lạibức tranh về hệ thống y tế dân sự miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 một cáchtoàn diện, cụ thể hơn, từ đó thấy rõ sự chuyển biến, đổi thay của hệ thống y tế dân
sự qua mỗi giai đoạn lịch sử
Trang 26Chương 2 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN Y TẾ DÂN SỰ
Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965
2.1 Tình hình miền Bắc và chủ trương của Đảng và Nhà nước về y tế
2.1.1 Khái quát y tế dân sự trước năm 1954
2.1.1.1 Cơ cấu tổ chức
Năm 1945, cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam DCCH rađời Ngày 3-11-1946, trong kì họp thứ I của Quốc hội tại Hà Nội, Chính phủ ViệtNam DCCH do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, gồm có 14 bộ, trong đó có Bộ Y tế đượctrình diện trước Quốc hội Bộ Y tế ra đời trên cơ sở chọn lọc bộ máy và nhân viêncủa Sở Tổng thanh tra vệ sinh và Y tế Đông Dương, gồm hơn 10 nhân viên hànhchính Bác sĩ Hoàng Tích Trý, đại biểu Quốc hội khóa I, nhân sĩ trí thức yêu nướcđược cử làm Bộ trưởng Bộ Y tế [5; tr.149] Đây cũng là cơ quan cao nhất trong hệthống y tế của chính quyền nhân dân Vừa ra đời, Bộ Y tế đã đưa ra 3 nhiệm vụ:
Một là, thực hiện công tác phòng bệnh bằng cách tuyên truyền, phổ biến ăn uống vệ
sinh, đề phòng các bệnh truyền nhiễm Hai là, chống và chữa bệnh xã hội như bệnh sốt rét cơn, bệnh lao, bệnh hoa liễu, bệnh đau mắt hột Ba là, giúp đỡ nhân dân, nhất
là ở nông thôn trong hoạt động điều trị, bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh Để thực hiệnnhiệm vụ, ngành y tế tập trung xây dựng bộ máy y tế từ Trung ương, khu, tỉnh,huyện
Ở Trung ương, Bộ Y tế là tổ chức quản lí cao nhất có nhiệm vụ điều hành mọi
hoạt động y tế Các cơ quan chuyên môn tuyến Trung ương gồm có:
- Các viện nghiên cứu: Viện Vi trùng học Việt Nam được thành lập vào ngày
01-05-1946 trên cơ sở Viện Pasteur Hà Nội, đây là cơ quan nghiên cứu có vai trò quantrọng hàng đầu trong hoạt động phòng và chống các dịch bệnh Viện có nhiệm vụ sảnxuất các thuốc sinh hóa, nghiên cứu, xét nghiệm các bệnh truyền nhiễm, dịch tễ và cácphương pháp dự phòng Viện được phân thành 3 chi viện ở mỗi liên khu Đứng
đầu mỗi chi viện là một y sĩ chuyên môn
Viện Bào chế Trung ương được thành lập vào ngày 01-03-1951 tại Thanh Hóa,
có nhiệm vụ nghiên cứu, tiếp tế dược liệu và y cụ cho Viện bào chế ở các liên khu Ngoài 2 viện nghiên cứu, còn có Ban nghiên cứu Đông y được thành lập vào
tháng 2-1952 với nhiệm vụ nghiên cứu, bào chế thuốc Nam thay thế thuốc nhập nội
- Các cơ sở đào tạo cán bộ y tế: Đại học y dược với thời gian đào tạo 6 năm,
chương trình giảng dạy vẫn được thực hiện theo chương trình cũ nhưng được cảitiến qua từng năm
Trang 27- Các cơ sở điều trị: Bệnh viện Bạch Mai4 là cơ sở điều trị có quy mô lớn nhấtgồm các khoa: nội thương, truyền nhiễm và thần kinh, tai mũi họng, da liễu, sản khoa,nha khoa Bệnh viện có quy mô 962 giường điều trị Mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận1.117 người vào điều trị Phòng khám bệnh mỗi ngày tổ chức khám từ 200-300 bệnhnhân Phòng điện quang tiếp nhận 60 bệnh nhân/ngày, chụp hình ảnh cho 80 bệnh nhân
và chữa điện cho 10 bệnh nhân Các phòng xét nghiệm về huyết thanh, hóa học về vitrùng học, mỗi tháng xét nghiệm cho hơn 9.300 bệnh nhân [96; tr.3]
Sau bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Phủ Doãn5 là cơ sở điều trị có quy mô lớnthứ hai với các phòng: phẫu thuật chung, nha khoa, ung thư, điện quang Trung bìnhmỗi ngày bệnh viện tiếp nhận điều trị khoảng 420 người với 380 giường bệnh.Trang thiết bị và phương tiện chuyên môn khá đầy đủ để thực hiện những thủ thuậthàng ngày Trong đó, phòng điện quang chụp phim cho 70 bệnh nhân/ngày, chữađiện cho 5 bệnh nhân [96; tr.3]
Bệnh viện chữa mắt (nhà thương Hàng Gà)6 với quy mô khoảng 220 giường
điều trị Số bệnh nhân nằm điều trị hàng ngày khoảng 250 người Trung bình, mỗingày bệnh viện tiếp nhận khoảng 300-400 bệnh nhân, chủ yếu là nạo mắt hột, phẫuthuật nhỏ và nhỏ mắt [96; tr.4] Bệnh viện có đủ dụng cụ y tế và cán bộ để thực hiệnđiều trị các trường hợp đau mắt đỏ
Nhìn chung, các cơ sở điều trị tuyến Trung ương có đủ trang thiết bị y tế đáp ứng khu cầu khám và điều trị, bước đầu hạn chế tỉ lệ tử vong trong quá trình điều trị
Dưới cấp Trung ương là cấp liên khu với cơ quan phụ trách là Sở Y tế liên
khu7 Sở Y tế liên khu có nhiệm vụ thực hiện các yêu cầu của Bộ Y tế, đồng thời điềukhiển mọi hoạt động của Ty Y tế các tỉnh Phụ trách hoạt động y tế của mỗi liên khugồm: 1 giám đốc và 1 phó giám đốc có trình độ y sĩ Các cơ quan chức năng của y tế
liên khu bao gồm: - Viện bào chế dược phẩm gồm: Viện bào chế liên khu Việt Bắc8
4Được Pháp thành lập năm 1910 với tên gọi là Nhà thương Cống Vọng, đến năm 1945, bệnh viện đổi tên là bệnh viện Bạch Mai
5Vốn là nhà thương bảo hộ của Pháp được xây dựng năm 1906, đến năm 1945 được đổi tên thành bệnh viện Phủ Doãn
6Được Pháp thành lập năm 1917
7Sở y tế liên khu 1 gồm các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Phúc Yên, Thái Nguyên, Quảng Yên (nay
là thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh), Hồng Gai (nay là một phường thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh), Cao Bằng, Bắc Kạn, Hải Ninh (nay là tỉnh Quảng Ninh), do bác sĩ Bùi Đồng làm giám đốc Sở
-Sở y tế liên khu 10 gồm các tỉnh: Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, do bác sĩ Ngô Đăng Ngạnh làm giám đốc
-Sở y tế liên khu 3 gồm các tỉnh: Sơn Tây, Hà Đông, Nam Hà, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, do bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên làm giám đốc
-Sở y tế liên khu IV gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,
do bác sĩ Nguyễn Kinh Chi – Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm nhiệm
8Ở liên khu Việt Bắc lúc đầu có 2 viện bào chế: Viện bào chế liên khu 10 và Viện bào chế liên khu 12, đến năm 1950 hai viện được sát nhập thành Viện bào chế liên khu Việt Bắc
22
Trang 28(gồm liên khu I và liên khu XII); Viện bào chế liên khu III; Viện bào chế liên khu
IV Phụ trách các hoạt động của viện có 1 hoặc 2 dược sĩ Các viện có nhiệm vụthực hiện sản xuất và tiếp tế dược phẩm, y cụ cho các liên khu
- Nha Y tế thôn quê được thành lập vào tháng 11-1949 với nhiệm vụ tuyên
truyền, vận động nhân dân thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh Hoạt động củaNha Y tế thôn quê góp phần củng cố và tạo niềm tin của nhân dân trong các liên khuvào nền y học mà Chính phủ nước Việt Nam DCCH đang xây dựng
- Các trường huấn luyện y tá, dược tá, nữ hộ sinh, cán bộ vệ sinh, lớp đại lí
thuốc Tây bao gồm: trường Y sĩ Việt Nam Liên khu 3-49 và trường Y sĩ Liên khu
1-1010, trường Nữ hộ sinh trung cấp Liên khu 3-411 và trường Dược sĩ trung cấp12.Các cơ sở này có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng lực lượng cán bộ y tế có trình độtrung, sơ cấp nhằm củng cố và phục hồi hoạt động y tế, từng bước đưa nền y họchướng đến tính đại chúng
- Cơ sơ điều trị bao gồm: bệnh viện Liên khu Việt Bắc, bệnh viện Liên khu 3,
bệnh viện Liên khu 4 Mỗi liên khu có 1 bệnh viện với quy mô 150-200 giường Docác cơ sở điều trị được xây dựng trong kháng chiến nên cơ sở vật chất, trang thiết bị
y tế còn thiếu và lạc hậu
- Các đoàn giải phẫu lưu động được Bộ Y tế chủ trương thành lập vào tháng
12-1946 Đây là lực lượng hoạt động tích cực trong công tác chăm sóc sức khỏe chonhân dân Lực lượng có nhiệm vụ đi đến các địa phương vùng sâu, vùng xa thựchiện các công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phòng chống dịch bệnh, thựchiện khám và phẫu thuật các trường hợp mắc bệnh nặng ở địa phương
Cấp địa phương được phân cấp thành:
Ty y tế tỉnh có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc các phòng phát thuốc huyện và các
cơ sở y tế tại tuyến xã Phụ trách điều khiển mọi hoạt động của Ty Y tế là Ty trưởng,có trình độ y sĩ và thường có 1 đến 3 y sĩ giúp việc cho Ty trưởng
Cơ sơ y tế tuyến huyện bao gồm: phòng phát thuốc và nhà hộ sinh Phòng phát
thuốc huyện do một y tá trưởng phụ trách với đủ phương tiện để thực hiện nhiệm vụđiều dưỡng bệnh nhân nhẹ, cứu thương và tải thương Bên cạnh đó, mỗi huyện có 1-
2 nhà hộ sinh do nữ hộ sinh hay nữ y tá hộ sinh phụ trách
Y tế xã là tuyến gần sát với nhân dân nhất bao gồm 1 ban tải thương và cứu
thương, nhà hộ sinh, tủ thuốc thôn quê và vệ sinh viên
9 Thành lập vào ngày 20-8-1948 theo sắc lệnh số 234-SL của Chủ tịch nước Sau này thành trường quân y sĩ thuộc Cục quân y
10 Cũng được thành lập vào ngày 20-8-1948 theo sắc lệnh số 234-SL của Chủ tịch nước Sau này thuộc Bộ Y tế đào tạo cán bộ trung cấp cho các cơ quan dân y
11 Được thành lập vào tháng 3-1950 tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
12 Được thành lập vào tháng 7-1952, tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
23
Trang 292.1.1.2 Đào tạo cán bộ y tế
Ngay sau khi được thành lập, Bộ Y tế đã nỗ lực xây dựng ngành y tế phục vụnhân dân trong hoàn cảnh thiếu thốn về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế Thựchiện Tuyên cáo của Chính phủ lâm thời Việt Nam DCCH là: quyết định tự cải tổ, mờithêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mànhân dân giao phó, Bộ Y tế kêu gọi những trí thức ngành y dược vượt qua mọi cám dỗ
về vật chất để tham gia kháng chiến Theo đó, nhiều bác sĩ, y sĩ đã đi theo kháng chiến.Ngoài số lượng bác sĩ, y sĩ người Việt Nam được thu dung, ngành y tế tiếp tục mởrộng chương trình đào tạo bằng ba hình thức: đào tạo đại học, đào tạo y sĩ có trình độtrung cấp và cán bộ y tế có trình độ sơ cấp Về chương trình đào tạo đại học tiếp tụcđược thực hiện tại trường Đại học y dược khoa Chương trình và nội dung học tập vẫndựa theo chương trình của Pháp nhưng được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ giảng dạy làngười Việt Nam Thời gian đào tạo là 6 năm Chương trình giảng dạy vẫn thực hiệntheo chương trình cũ nhưng được cải tiến qua từng năm Tuy nhiên, do tính chất khắcnghiệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đặt ra yêu cầu cần cải tiến chươngtrình theo hướng: tập trung vào những môn cơ bản ở trường trong thời gian 2 năm Sauđó, sinh viên được cử đi phục vụ chiến trường với chức năng là y sĩ trung đoàn.Chương trình đào tạo được bác sĩ Hồ Đắc Di tổng kết thành phương pháp đặc thù của
công tác đào tạo cán bộ y tế trong thời gian này là: học tập - đi chiến dịch - về tổng kết,
tiếp tục học, rồi lại đi chiến dịch Phương pháp này được trường áp dụng uyển chuyển,
linh hoạt nên thời gian trung bình để sinh viên tốt nghiệp là 6 năm, thậm chí một sốtrường hợp 7-8 năm mới có điều kiện về trường thi tốt nghiệp
Trước yêu cầu và nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân trở nên bức thiết,một cơ sở đào tạo cán bộ y tế với thời gian 6 năm chưa thể đáp ứng được yêu cầu to lớn
và cấp bách của hậu phương cũng như tiền tuyến Chính vì vậy, ngày 20-8-1948, Chủtịch nước ra sắc lệnh số 234-SL về việc mở Trường y sĩ Việt Nam Liên khu 3-413 vàTrường y sĩ Liên khu 1-1014 Ban đầu, thời gian đào tạo cán bộ trung cấp y được quyđịnh là 4 năm, trong đó mỗi niên khóa chỉ học 9 tháng 15 Đến năm 1951, xuất phát từyêu cầu thực tiễn của Việt Nam để nhanh chóng bổ sung vào đội ngũ cán bộ y tế phục
vụ nhu cầu của đất nước, Bộ Y tế quyết định thời gian đào tạo hệ trung cấp y sĩ là 2năm Chương trình học được điều chỉnh theo hướng chỉ học những môn cần thiết.Ngoài công tác đào tạo cán bộ y tế bậc đại học, trung cấp, hoạt động đào tạo cán
bộ sơ cấp cũng được chú trọng Các lớp đào tạo cứu thương được mở ở khắp các địaphương trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 tháng Chương trình học chủ yếu là sơ cứu
13 Sau này thành trường quân y sĩ thuộc Cục quân y
14 Sau này thuộc Bộ Y tế đào tạo cán bộ trung cấp cho các cơ quan dân y
15 quy định thời gian đào tạo 4 năm, là do ảnh hưởng từ mô hình học tập của trường đào tạo y sĩ Đông Dương.
Trang 30vết thương, chuyển tải thương Học sinh là những nam, nữ thanh niên vừa làm côngtác cứu thương, vừa cầm súng chiến đấu Ngoài lực lượng cứu thương, công tác đàotạo đội ngũ cán bộ sơ cấp, nữ hộ sinh thôn quê bắt đầu được thực hiện Thời gian vàchương trình học được quy định theo thực tế của từng khu Có nơi học 1 tháng, cónơi học 2 đến 3 tháng Năm 1950, Bộ Y tế mở lớp đào tạo thí điểm cho cán bộ ởThanh Hóa Lớp học do Giám đốc Nha Y tế thôn quê phụ trách trong thời gian 1tháng Từ lớp học thí điểm này, chương trình đào tạo cán bộ y tế cơ sở được Bộ Y tếthực hiện thống nhất Theo đó, chương trình học gồm các môn: vệ sinh phòng bệnh,điều trị các chứng bệnh thông thường, cách sử dụng một số loại thuốc thông dụng
và ấn định thời gian học thống nhất là 3 tháng Từ năm 1952, công tác đào tạo cán
bộ xã được giao cho các Khu Y tế và một số Ty Y tế thực hiện thông qua việc mởcác lớp đào tạo y tá, dược tá, hộ sinh có trình độ sơ cấp Thời gian học thống nhất là
1 năm Học sinh theo học phải có trình độ văn hóa phổ thông cấp I
Như vậy, hệ thống đào tạo cán bộ y tế trước năm 1954 được thiết lập phù hợpvới chức năng, nhiệm vụ của ngành y tế Hệ thống đào tạo được thiết lập bao gồm:bậc đại học, trung cấp và sơ cấp Mặc dù số lượng đào tạo cán bộ y tế còn hạn chếnhưng bước đầu đã bổ sung lực lượng cán bộ cho các cơ sở y tế, tạo ra những thànhquả bước đầu làm tiền đề cho công tác đào tạo nguồn cán bộ y tế trong những giaiđoạn tiếp theo
2.1.1.3 Hoạt động của y tế dân sự
Ngay sau khi được thành lập, Bộ Y tế xác định vệ sinh phòng dịch là nhiệm vụhàng đầu để thực hiện chăm sóc sức khỏe của nhân dân Chính vì vậy, phong trào vệsinh phòng bệnh được phát động sôi nổi với khẩu hiệu “phòng bệnh, chữa bệnh, lấy kếtquả chữa bệnh để đẩy mạnh phòng bệnh” Bằng phương pháp tuyên truyền, giáo dục,vận động nhân dân thực hiện vệ sinh phòng bệnh, ngành y tế bước đầu giải quyết đượcvấn đề nước uống, nước sinh hoạt, dời chuồng gia súc ra xa nhà Công tác vận độngnhân dân thực hiện 3 sạch (ăn sạch, ở sạch, uống sạch), 4 diệt (diệt ruồi, muỗi, rận), xâydựng làng kiểu mẫu được phát động khắp nơi Công tác tiêm chủng ngừa đậu, phòng tả,thương hàn được chính quyền quan tâm, nhân dân hưởng ứng, cán bộ y tế thực hiệnnhiệt tình, nhờ đó tỉ lệ tiêm chủng đạt tỉ lệ khá cao, nhất là vùng tự do
Đối với hoạt động khám và điều trị bệnh nhân, với tinh thần khắc phục gian khổ,
ý chí tự lực cánh sinh, trong 9 năm kháng chiến (1946-1954) ngành y tế nhân dân đãxây dựng một số cơ sở điều trị khắp các tỉnh để phục vụ nhu cầu khám và điều trị chonhân dân Tuy cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhưng hiệu quả điều trị bước đầu được cảithiện Lần đầu tiên, người dân Việt Nam được tiếp cận với các hoạt động chăm sóc sứckhỏe, được đội ngũ cán bộ y tế trực tiếp điều trị ngay tại địa phương Nhiều dịch bệnhnhư sốt rét, đau mắt hột, viêm phổi được điều trị bằng Tây y…
Trang 31Đối với công tác sản xuất thuốc, ngành bào chế đã sản xuất được nhiều dượcphẩm hỗ trợ cho công tác điều trị như thuốc gây mê, Benzoate Na, tinh dầuChenopodium, Morphine,… Từ năm 1948 đến năm 1954, Viện bào chế Trung ương
đã sản xuất gần 70 triệu viên thuốc, hơn 22 triệu ống tiêm [96; tr.7] Về sinh hóa, từnăm 1946 đến năm 1954, các Viện Vi trùng học Trung ương đã sản xuất hơn 130triệu liều chủng đậu [96; tr.7] Từ năm 1952, nguồn vắc xin tiêm chủng phòng bệnhthương hàn, bệnh tả được sản xuất đảm bảo số lượng
Đối với vùng tạm chiếm, hoạt động y tế chưa được chú trọng mặc dù Pháp đã tậptrung thành lập các phòng y tế, phòng khám bệnh phát thuốc Khi ốm đau, nếu là ngườicó tiền người bệnh vẫn phải đến các phòng mạch tư, nhà hộ sinh tư, nếu không có tiềnthì tìm đến các thầy lang bắt mạch, cắt thuốc Riêng đối với người lao động nghèo chủyếu sử dụng Đông y và những kinh nghiệm dân gian để phòng và chữa bệnh Đối vớingành sản xuất thuốc, hoạt động sản xuất thuốc bị hạn chế Thuốc chủ yếu là thuốc Tâyđược nhập từ Pháp, Anh, Mỹ Nguồn thuốc Đông y chủ yếu nhập của Trung Quốc vàNam Triều Tiên Ở vùng tạm chiếm, nguồn thuốc Tây y đang tìm cách bóp nghẹt thuốcĐông y Về công tác vệ sinh phòng bệnh bị hạn chế bởi Pháp không chú trọng đến côngtác vệ sinh môi trường Chính quyền Pháp chỉ chú trọng vệ sinh môi trường ở các khuphố Tây, khu quân sự và khu người giàu có Chính vì vậy, nhiều nơi môi trường bị ônhiễm nghiêm trọng Công tác phòng bệnh, phòng dịch chỉ được thực hiện mang tínhđối phó, khi có dịch mới tổ chức tiêm phòng
Như vậy, trước năm 1954, ngành y tế Việt Nam trước năm 1954 được thiết lậpthành các tuyến gồm: Trung ương, khu, tỉnh, và huyện Ở mỗi cấp đều có các cơ sở
y tế phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử Cán bộ y tế để vậnhành tổ chức y tế đó được thu dung từ chính quyền cũ và được ngành y tế đào tạodưới nhiều chương trình đào tạo khác nhau Sự tham gia tích cực của lực lượng cán
bộ y tế đã giúp ngành y tế có nhiều đóng góp vào công tác chăm sóc sức khỏe củanhân dân, góp phần củng cố hậu phương, phục vụ chiến trường đưa cuộc khángchiến chống Pháp giành thắng lợi
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội sau khi miền Bắc được giải phóng
Sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được kí kết,miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng Dân tộcDân chủ Nhân dân Đối với miền Bắc, nhiệm vụ trước mắt được xác định là hàn gắnvết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, chuẩn bị tiền
đề cho quá trình cải tạo và phát triển kinh tế Tuy nhiên, miền Bắc đối mặt với nhiềukhó khăn, thách thức:
Về kinh tế: sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản, miền Bắc đứng trước nhiều
khó khăn trong lĩnh vực kinh tế Kinh tế nông nghiệp được xem là mũi nhọn nhưng sản
Trang 32xuất manh mún, kĩ thuật canh tác thô sơ, nghèo nàn Sau năm 1954, Miền Bắc có tới143.000 hecta ruộng đất bị bỏ hoang, hàng nghìn làng mạc bị tàn phá, hàng loạt hệthống thủy nông lớn nhỏ bị phá hủy, hàng vạn con trâu bò bị giết hại đã khiến chonguồn sức kéo phục vụ cho kinh tế nông nghiệp thiếu nghiêm trọng Về công nghiệp, ở
Hà Nội, Hải Phòng khi tiếp quản chỉ có hai nhà máy điện và nhà máy nước hoạt động.Hoạt động sản xuất của các xí nghiệp bị cản trở bởi Pháp phá bỏ và tháo dỡ máy mócmang đi Chiến tranh đã làm cho hơn 50% kho tàng, công sở thiếu nguồn nguyên liệu
để hoạt động Sản xuất thủ công nghiệp bị đình đốn, hàng hóa công nghiệp khan hiếm.Lực lượng cán bộ quản lí và cán bộ khoa học kĩ thuật bị thiếu nghiêm trọng
Về văn hóa, xã hội: kinh tế gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời
sống văn hóa - xã hội của nhân dân miền Bắc Hàng trăm nghìn gia đình không có nhà
ở, nạn đói lan rộng ra ở vùng mới giải phóng Cùng với nạn đói, số người mù chữ ởmiền Bắc cũng chiếm tỉ lệ lớn Hàng chục vạn người thất nghiệp ở cả nông thôn vàthành thị, phải lang thang khắp nơi Với những người lao động có tay nghề bị ép di cưvào Nam, trong đó có một bộ phận không nhỏ là giáo viên, y bác sĩ Các lực lượngchống phá cách mạng ra sức tung tin gây hoang mang, kích động quần chúng, nhất làthúc ép đồng bào theo đạo Thiên Chúa rời bỏ nhà cửa ruộng vườn di cư vào Nam
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngành y tế đã có nhiều đónggóp vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến Tuy nhiên, hoạt động y tế bị hạnchế, một mặt do thiếu cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế, mặt khác do các cơ sở y
tế chưa được đảm bảo về mặt không gian và điều kiện lao động Ở nhiều vùng nôngthôn, người ốm đau không được chăm sóc y tế, cách thức điều trị chủ yếu là cúngbái Công tác vệ sinh hạn chế đã làm bùng phát nhiều dịch bệnh, nhất là bệnh sốt rét
ở miền núi Theo số liệu điều tra của các đội lưu động, tỉ lệ dân số mắc bệnh sốt rétchiếm 90% Về mùa đông, bệnh viêm phổi đã gây chết hàng nghìn người Năm
1954, tỉnh Cao Bằng có 2.000 người chết, Hà Giang có 300 người chết Ở bệnh việncác tỉnh miền núi tỉ lệ tử vong do sốt rét chiếm từ 25-45% trong tổng số người bệnh
tử vong Tỉ lệ lách to trong nhiều xã chiếm hơn 80% Tỉ lệ kí sinh trùng trong máutrung bình từ 10-20% [98; tr.3]
Thiên tai khắc nghiệt, đói rét làm bùng phát nhiều dịch bệnh như đau mắt hột, sốtrét, dịch tả Dịch mắt hột xảy ra khắp nơi ở khu vực đồng bằng với 80-90% dân số mắcbệnh Ở khu vực miền núi, cảnh bụng báng da chì, tình trạng đẻ mười không nuôi đượcmột là hậu quả của dịch bệnh sốt rét Ngoài những bệnh do vi trùng, siêu vi trùng, cácbệnh do thiếu ăn, thiếu vệ sinh, bệnh tê phù do thiếu chất đạm cần thiết, thiếu vitaminB1 trở nên phổ biến đến mức “một số thầy thuốc Pháp cho là bệnh dịch do một thứ vitrùng mà chưa tìm được” Theo những cuộc điều tra năm 1953-1954 cho thấy tỉ lệ sơsinh chết do bà mụ vườn trung bình từ 130-200/00 Một số xã ở Kiến
Trang 33An tỉ lệ sơ sinh chết lên đến 600/00, nghĩa là đẻ 10 chỉ còn sống 4 vì dịch uốn ván rốn.
Số trẻ em dưới 1 năm tử vong nhiều nơi lên đến 500/00 nghĩa là 10 trẻ sơ sinh ra đời chỉcó 5 trẻ sống đến 1 năm Tỉ lệ sản phụ tử vong là 20/00 Tỷ lệ tử vong cả mẹ và conchiếm 30/00[159; tr.9] Vì vậy, ngay sau khi hòa bình được lập lại, nhiệm vụ đầu tiêncủa ngành y tế Việt Nam DCCH là: thực hiện tiếp quản các cơ sở y tế, tổ chức phòngchống dịch bệnh và cung cấp thuốc men cho nhân dân, trong đó chú trọng đến hoạtđộng tiếp quản các cơ sở y tế dân sự Quá trình tiếp quản các cơ sở y tế của Pháp đượcthực hiện bởi Ban tiếp quản ngành y tế - xã hội, gồm có 6 thành viên16 Ngoài cácthành viên chính, Ban tiếp quản có thêm 7 bác sĩ, 21 y sĩ, 6 dược sĩ, 1 kĩ sư hóa học, 3 y
tá trưởng, 7 y tá, 2 dược tá, 4 học sinh y sĩ, 8 cán bộ chính trị hành chính và 7 nhân viêntrong bộ phận giúp việc Tổng cộng toàn đoàn tiếp quản có 67 người [98; tr.4] Cácthành viên được tập huấn cả về chính trị và chuyên môn17
Dưới Ban tiếp quản ngành y tế - xã hội ở các thành phố lớn, Bộ Y tế thiết lập Bantiếp quản riêng cho từng khu vực Ngày 20-8-1954, Bộ Y tế quyết định thành lập Bantiếp quản Hà Nội18 do Giáo sư Hồ Đắc Di làm trưởng ban Dưới Ban tiếp quản là độitiếp quản được thành lập tại các cơ sở y tế Sau Hà Nội, các tỉnh thành miền Bắc nhanhchóng thành lập các ban tiếp quản với thành phần của Ban tiếp quản gồm: Trưởng Ty Y
tế (Trưởng ban); một lãnh đạo cơ sở y tế tại địa phương và các thành viên là các y, bác
sĩ có trình độ chuyên môn Dưới ban tiếp quản là các đội tiếp quản cơ sở
Bắt đầu từ ngày 02-10-1954, hoạt động tiếp quản các cơ sở y tế ở Hà Nội bắt đầuđược thực hiện Hai đơn vị y tế hàng đầu về chữa bệnh là bệnh viện Bạch Mai và bệnhviện Phủ Doãn được tiếp quản đầu tiên; tiếp đó, trường Đại học Y dược khoa Hà Nội;Nha Y tế Bắc Việt, Bệnh viện mắt Hàng Gà, Viện Bào chế Trung ương
Ngay sau khi các cơ sở điều trị quy mô lớn được tiếp quản, các cơ sở khác như Sở Y tế,phòng da liễu Sinh Từ, 7 phòng khám bệnh và phát thuốc ở nội thành cũng được tiếpquản Tiếp đó, các phòng khám và chữa bệnh gồm: quận 1,2,3,4 (nội thành) và 5,6,7(ngoại thành) được bổ sung cán bộ phụ trách, tiếp tục thực hiện khám và chữa bệnh chonhân dân [17; tr.32] Sau Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Hải
16 G.S Hồ Đắc Di – Giám đốc Trường đại học y dược khoa: Trưởng ban
- B.s Hoàng Đình Cầu – Giám đốc y tế liên khu 3: Phó ban
- Ông Nguyễn Đức Thắng - Phó ban văn phòng Bộ Y tế: Phó ban
- B.s Nguyễn Đức Khởi – Giám đốc Phân viện vi trùng học liên khu 4: Ủy viên
- Giáo sư Đặng Văn Ngữ - G.S Trường đại học y dược khoa: Ủy viên
- Dược sĩ Trương Xuân Nam – Giám đốc sở bào chế Trung ương: Ủy viên
17Về chính trị: thành viên Ban tiếp quản được giải thích rõ chính sách đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Chính phủ, nhằm vạch rõ âm mưu chia rẽ của Pháp.
Về chuyên môn: thành viên Ban tiếp quản được hướng dẫn việc khử trùng, tẩy uế, tuyên truyền, vận
động nhân dân và các cơ sở y tế tiến hành tổng vệ sinh toàn thành phố Sau đó, các thành viên di chuyển đến
các cơ sở y tế dân sự chuẩn bị lực lượng cấp cứu, tải thương, dự trữ thuốc chiến thương, đồng thời phổ biến một số kinh nghiệm để đảm bảo hoạt động y tế trong thành phố
18 Ban tiếp quản có nhiệm vụ theo dõi, chỉ đạo, phân công nhiệm vụ tiếp quản các cơ sở y tế ở Hà Nội
Trang 34Dương và một số tỉnh thành khác cũng nhanh chóng hoàn thành tiếp quản các cơ sở
y tế dân sự Như vậy, hoạt động tiếp quản các cơ sở y tế dân sự ở miền Bắc tronghoàn cảnh vừa kết thúc chiến tranh là quá trình khó khăn, phức tạp Tuy nhiên, do
sự chuẩn bị tốt cả về mặt chủ trương và lực lượng thực hiện tiếp quản, nhất là quytrình tiếp quản được thực hiện chính xác, hiệu quả đã góp phần quyết định sự thànhcông của hoạt động tiếp quản các cơ sở y tế dân sự sau năm 1954
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản, Đảng và Chính phủ xác định khôi phụckinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu Để thực hiệnnhiệm vụ, Đảng và Chính phủ đã tổ chức, huy động cả bộ máy chính quyền và cácđoàn thể nhân dân thực hiện nhiều biện pháp và đạt nhiều kết quả to lớn, góp phần khắcphục hậu quả chiến tranh, duy trì sản xuất, từng bước ổn định đời sống nhân dân Saukhi hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, Đảng vàChính phủ tiếp tục thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo XHCN, phát triển kinh tế, văn hóa(1958-1960) Với sự nỗ lực của toàn Đảng và toàn dân, trên tất cả các lĩnh vực đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.Năm 1960, khi cách mạng ở hai miền Nam Bắc có những bước tiến quan trọng,Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng lao động Việt Nam họp từ ngày 5 đếnngày 12-9-1960 đã xác định nhiệm vụ của miền Bắc là: hoàn thành cải tạo xã hội chủnghĩa, củng cố quan hệ sản xuất mới ở miền Bắc chuyển trọng tâm vào việc xây dựng
cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội bằng việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất1961-1965 Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), dưới sự lãnh đạo củaĐảng Lao động Việt Nam và sự điều hành của các cấp chính quyền, nhân dân miền Bắc
đã khắc phục khó khăn, hăng hái lao động thi đua sản xuất và đã đạt được một số thànhtựu về kinh tế - xã hội, xây dựng bước đầu về cơ sở vật chất và kĩ thuật của CNXH,thực hiện một bước công nghiệp hóa và cải tạo XHCN
Như vậy, trong 10 năm đầu xây dựng kinh tế - xã hội, miền Bắc Việt Nam đã
nỗ lực vượt mọi khó khăn, thi đua sản xuất và đạt nhiều thành tựu quan trọng trêntất cả các lĩnh vực Những thành tựu đạt được là động lực lớn cho ngành y tế nóichung, y tế dân sự nói riêng nhanh chóng củng cố, xây dựng và hoàn thiện về tổchức để thực hiện đúng chức năng chăm sóc sức khỏe của nhân dân
2.1.3 Chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng ngành y tế
Khi những vết thương của cuộc chiến tranh chưa liền ở miền Bắc, Chủ tịch HồChí Minh đã nêu ra quan điểm cơ bản về xây dựng hệ thống y tế Người nêu rõ:
“Trong nhiều năm nước ta bị nô lệ thì y học cũng như các ngành khác bị kìm hãm.Nay chúng ta đã độc lập, tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựngmột hệ thống y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta” [68; tr.476] Và, Ngườicăn dặn ba điều quan trọng:
Trang 35- Phải thật thà đoàn kết
- Thương yêu người bệnh, thực hiện “lương y phải như từ mẫu”
- Xây dựng một nền y học của ta dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng; chú trọng nghiên cứu phối hợp “Đông” và “Tây y” [68; tr.476]
Như vậy, những lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng đến xây dựng một
hệ thống y tế nhân dân Đây cũng được xem là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của
y bác sĩ và nhân viên y tế ở miền Bắc trong điều kiện hoàn cảnh mới.
Để quá trình xây dựng, hoàn thiện ngành y tế dân sự ở miền Bắc đáp ứng yêucầu và nhiệm vụ mới, trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu của hệ thống
y tế mà Chính phủ nước Việt Nam DCCH đã xây dựng được trong 9 năm khángchiến kiến quốc, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách và biệnpháp quan trọng nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống y tế phục vụ nhân dân.Theo đó, nhiều chỉ thị, nghị quyết, sắc lệnh đã được ban hành, từng bước xây dựng,củng cố ngành y tế dân sự
Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, ngày 13-5-1954, Bộ Y tế ra Nghị định
số 136 ZYO/NĐ/3 về việc sắp xếp lại tổ chức các cơ quan Trung ương của Bộ Y tế.Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Bộ Y tế, Nghị định nêu rõ: cần sắp xếp lại cơ cấu
tổ chức của các cơ quan Trung ương thuộc Bộ Y tế để thực hiện tốt công tác phòng vàchữa bệnh cho nhân dân Theo đó, Bộ Y tế gồm có các cơ quan chức năng sau: Vụphòng chữa bệnh, Vụ bào chế19 và cơ quan văn phòng Ngoài các cơ quan chức năng,
Bộ Y tế còn có các đơn vị trực thuộc gồm: Trường Đại học y dược; Viện Vi trùng họcTrung ương; Xưởng bào chế và kho thuốc; Ban y tế dân công; An dưỡng đường và các
Ty y tế20 Đây là cơ sở pháp lí quan trọng để ngành y tế sắp xếp, thiết lập lại cơ cấu tổchức của các cơ sở y tế tuyến Trung ương, đồng thời, khẳng định Bộ Y tế là cơ quanđiều hành cao nhất trong hệ thống y tế dân sự ở miền Bắc sau khi được giải phóng
Nhằm hoàn thiện tổ chức của ngành y tế nhân dân, một nhiệm vụ mới được đặt
ra là củng cố và phát triển hệ thống y tế ở nông thôn, mà trực tiếp là tuyến y tế ở cơ
sở Chính vì vậy, ngày 2-5-1958, Bộ Y tế ra Thông tư số 414-YT/TT về việc xâydựng y tế dân lập xã Thông tư nêu rõ mục đích, ý nghĩa xây dựng y tế dân lập xã:
“để đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp thì sức khỏe của nhân dân cần
được khôi phục và bảo vệ” [20; tr.275] Để thực hiện mục đích trên, Ban bảo trợ y tế
19 Hai phòng giúp việc cho giám đốc điều khiển trực tiếp công tác bào chế, sản xuất, nhập nội, bảo quản và phân phối thuốc men, y cụ.
20 Được chia làm Ty y tế 1 và Ty y tế 2 Ty Y tế 1 do Trưởng Ty điều khiển, chịu trách nhiệm trong công tác chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ và công nhân viên trong các cơ quan ở An Toàn Khu (ATK) Ty y tế 1 gồm có: các bệnh xá, các y xá các cơ quan Ty y tế 2 do 1 trưởng ty điều khiển mọi hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cán bộ và công nhân viên trong các Trung ương ngoài ATK Cơ cấu của Ty y tế bao gồm: các y xã của các cơ quan, bệnh viện điều trị của cán bộ và công nhân các cơ quan ngoài ATK, lớp đào tạo cán bộ y tế cung cấp nhu cầu của các tổ chức y tế Trung ương
Trang 36dân lập xã được thành lập có từ 3 đến 5 thành viên Các thành viên được nhân dântín nhiệm, có tinh thần phục vụ, được Ủy ban Hành chính và các đoàn thể ở xã côngnhận Rõ ràng, đây là một tổ chức quần chúng, chứ không thuộc hệ thống tổ chứcchính quyền Chính vì vậy, nhiệm vụ của Ban bảo trợ y tế dân lập xã được xác định:
Thứ nhất, huy động nhân dân đóng góp ủng hộ về vật chất và tinh thần để xây dựng
trạm xá, nhà hộ sinh xã; Thứ hai, vận động nhân dân tự nguyện góp tiền để xây
dựng, nơi nào có điều kiện có thể dùng quỹ của các đoàn thể để xây dựng tủ thuốc
xã và túi thuốc xóm Cán bộ y tế xã có nhiệm vụ điều tra nhu cầu thuốc men, cung
cấp thuốc cho nhân dân với giá vừa phải; Thứ ba, xây dựng cơ sở vật chất, trang
thiết bị cơ sở y tế xã, đồng thời trả thù lao cho cán bộ y tế xã và hộ sinh xã thôngqua việc chủ động xây dựng quỹ y tế dân lập xã
Thực hiện thông tư về xây dựng y tế tuyến xã, hoạt động y tế ở khu vực nôngthôn ngày càng phát triển Số lượng trạm y tế dân lập và trạm hộ sinh ở cả thành thị vànông thôn tăng nhanh Trong tình hình đó, ngày 29-7-1959, Bộ Y tế ra Thông tư số 21-BYT/TT về việc xây dựng trạm y tế dân lập Theo đó, Bộ Y tế đề ra mục tiêu: “đến cuốinăm 1960 mỗi xã, thị trấn có một trạm y tế (trong đó có nhà hộ sinh xã), các tỉnh miềnnúi một nửa số xã có trạm y tế dân lập Trình độ cán bộ y tế xã, nữ hộ sinh phải bổ túcdần dần từ 3 tháng đến 6 tháng, từ 6 tháng đến 9 tháng” [21; tr.651]
Trong kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế văn hóa (1958-1960), nhằmđảm bảo sức khỏe cho nhân dân, góp phần củng cố và phát triển phong trào hợp táchóa nông nghiệp, ngày 25-3-1960, Thủ tướng Chính phủ ra Thông tư số 077-TTg về
tổ chức y tế phục vụ nông thôn dựa trên cơ sở phong trào hợp tác hóa nông nghiệp.Theo nội dung của Thông tư, Thủ tướng Chính phủ giao cho Ủy ban hành chính cáccấp tiếp tục thực hiện chủ trương đào tạo, bổ túc cán bộ y tế, nữ hộ sinh, xây dựngtúi thuốc ở nông thôn theo các cách sau:
Thứ nhất, mỗi tổ đổi công thường xuyên hoặc tổ lao động của hợp tác xã cử
một vệ sinh viên thực hiện kiểm tra, đôn đốc các tổ viên và gia đình tổ viên làm
đúng những điều quy định về vệ sinh phòng bệnh
Thứ hai, mỗi thôn có từ một hoặc hai hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, ngư
nghiệp hoặc thủ công nghiệp sẽ cử một người trong các hợp tác xã hoặc vệ sinh viêntrong thôn có thành tích công tác tốt để đào tạo thành cán bộ y tế [22; tr.175]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960), trong báo cáochính trị của Ban chấp hành Trung ương, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã trình bày rõ quanđiểm của Đảng về công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân: “Con người là vốn quýnhất của chế độ xã hội chủ nghĩa Bảo vệ và bồi dưỡng sức khỏe của con người là nghĩa
vụ và mục tiêu cao quý của ngành y tế và thể dục thể thao dưới chế độ ta” [40, tr.351]
Do đó, Đảng lao động Việt Nam xác định: “Công tác y tế là nhiệm vụ quan
Trang 37trọng trong công cuộc xây dựng CNXH” bởi lẽ “công tác y tế không những có quan
hệ mật thiết đến tính mạng, đến việc nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân
mà còn có quan hệ trực tiếp đến sản xuất, đến chính trị; nó bảo vệ và phát triển sứclao động sản xuất của con người”[40; tr.351] Chính vì vậy, nhiệm vụ cần làm ngaycủa ngành y tế là “phát động một phong trào vệ sinh phòng bệnh và thể dục thể thaoyêu nước của quần chúng, gây thành một cuộc vận động cách mạng thường xuyên,liên tục và lâu dài, Đồng thời, cần ra sức củng cố và phát triển các cơ sở quốc lập
và dân lập về vệ sinh phòng bệnh và phòng dịch; tiến tới tiêu diệt dần các bệnh dịch
và bệnh xã hội, nhằm nâng cao không ngừng sức khỏe của nhân dân”[40; tr.351]
Phương hướng xây dựng ngành y tế dân sự là dựa vào nhân dân, vận động nhândân thực hiện, tuy nhiên ở những nơi tập trung thị trấn, thị xã, khu công nghiệp cầnthành lập Ban vận động thể dục vệ sinh ở các cấp (Trung ương, khu, tỉnh, thành, huyện,
xã, xí nghiệp, cơ quan, trường học) gồm: y tế, thể dục thể thao, thanh niên,
Đặc biệt, “cần phát triển thêm các bệnh viện chuyên khoa ở Trung ương, nâng caochất lượng và trình độ chuyên môn ở các bệnh viện tỉnh và bệnh xá huyện, xâydựng các cơ sở mổ cấp cứu đến tận huyện và tăng cường củng cố các trạm y tế dânlập ở các xã” [40; tr.887] Bên cạnh đó, phải thực hiện “xây dựng các bệnh việnthành những Viện nghiên cứu chuyên khoa hoặc những y viện và lập một số bệnhviện Đông y có kết hợp với Tây y để vừa làm nơi chữa bệnh, vừa tổ chức công tácnghiên cứu, vừa làm nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ” [40; tr.887]
Nhằm thi hành chủ trương cải tiến tổ chức, tinh giản biên chế các cơ quan nhà
nước, đồng thời cải tiến tổ chức cơ quan y tế địa phương trong cuộc vận động “3 xây, 3
chống”, ngày 24-2-1964, Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Y tế ra Thông tư liên bộ số
04-LB-TT hướng dẫn cải tiến tổ chức cơ quan y tế địa phương Theo đó, Thông tư nêu rõ
cơ cấu của hệ thống y tế theo từng cấp và nêu rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phậnnhằm xây dựng, hoàn thiện hệ thống y tế thống nhất và hoạt động hiệu quả
Như vậy, trong giai đoạn 1954-1965, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủtrương, biện pháp hướng đến xây dựng ngành y tế dân sự hoàn thiện về tổ chức,hiệu quả trong hoạt động Những văn kiện đó đã khẳng định sự nỗ lực của Đảng vàNhà nước đối với việc xây dựng, củng cố và từng bước hoàn thiện hệ thống y tế ởmiền Bắc hướng tới phục vụ nhân dân
2.2 Tổ chức, xây dựng hệ thống y tế dân sự
2.2.1 Hệ thống tổ chức
Sau khi miền Bắc được giải phóng, ngày 13-5-1954, Bộ trưởng Bộ Y tế raNghị định số 136.ZYO/NĐ/3 về việc sắp xếp lại các cơ quan Trung ương để thựchiện mục tiêu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Theo đó, ngành y tế dân sự ở miềnBắc được tổ chức, xây dựng theo các cấp sau:
Trang 382.2.1.1 Tuyến Trung ương
Tổ chức y tế tuyến Trung ương gồm có các đơn vị y tế trực thuộc: Trường Đạihọc y dược; Viện Vi trùng học Trung ương; Xưởng bào chế và kho thuốc; Ban Y tếdân công; An dưỡng đường và các Ty y tế Như vậy, cơ cấu các tổ chức y tế tuyếnTrung ương phủ rộng các lĩnh vực với các cơ quan đặc thù
Khi công cuộc khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh được hoàn thành,miền Bắc thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế, xã hội (1958-1960) Thựchiện nhiệm vụ mới, ngành y tế dân sự được tổ chức, thiết lập và xây dựng với sựphân cấp rõ rệt nhằm đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động chăm sóc sức khỏe củanhân dân Theo đó, tuyến Trung ương được phân cấp thành các nhóm có chức năng
và nhiệm vụ khác nhau, bao gồm:
*Các viện nghiên cứu
Trước thực trạng sức khỏe của nhân dân bị đe dọa nghiêm trọng với nhiều dịchbệnh nguy hiểm, Bộ Y tế xác định: công tác phòng bệnh là nhiệm vụ trọng tâm vàphải được tiến hành song song với hoạt động chữa bệnh Theo đó, Bộ Y tế tiến hànhcủng cố và thành lập các viện nghiên cứu để thực hiện nghiên cứu, sản xuất các loạivăc-xin phòng bệnh
-Viện Vi trùng học là cơ sở nghiên cứu phòng bệnh duy nhất ở miền Bắc sau
ngày hòa bình lập lại Viện được thành lập trên cơ sở Viện Pasteur Hà Nội Ngày19-7-1955, Bộ Y tế ra Nghị định quy định cơ cấu tổ chức của Viện Vi trùng học.Đứng đầu và phụ trách chuyên môn là Ban giám đốc Giám đốc là một bác sĩchuyên môn và 2 phó giám đốc, trong đó, một phó giám đốc phụ trách chuyên môn
và một phó giám đốc phụ trách công tác tổ chức Dưới Ban giám đốc là các phòngchuyên môn, gồm: phòng nghiên cứu, phòng sản xuất và phòng hành chính quản trị
- Viện Nghiên cứu Đông y được thành lập vào ngày 17-06-1957 theo Thông tư
số 22-BYT-TT của Bộ Y tế Viện có cơ cấu tổ chức như sau: đứng đầu là Ban giámđốc bao gồm 1 Viện trưởng, 1 Viện phó phụ trách công tác Đông y và 1 Viện phóphụ trách công tác tổ chức Dưới ban giám đốc là các phòng chuyên môn, bao gồm:phòng dược liệu21, phòng y lí22, phòng hành chính quản trị23; phòng cấp dưỡng24
21 Đây là phòng có nhiệm vụ nghiên cứu các loại dược phẩm phục vụ cho quá trình điều chế Phòng được phân thành: bộ phận bào chế được áp dụng trong bộ phận điều trị để nghiên cứu khoa học hóa; một vườn thuốc Nam để nghiên cứu cách sản xuất dược liệu để phổ biến trong nhân dân Theo đó, cơ cấu tổ chức của phòng gồm có 1 trưởng phòng (Đông y), 1 dược sĩ, 5 lương y, 1 dược tá, 4 y công, 4 quản lí và làm vườn ươm.
22 Là phòng phụ trách chuyên môn có nhiệm vụ nghiên cứu chẩn đoán bệnh, chữa bệnh với phương pháp nội khoa và ngoại khoa, phòng bệnh Phòng gồm có một bộ phận điều trị với 50 giường để nghiên cứu các phương pháp và 1 bộ phận y lí để tổng kết các phương pháp, xây dựng y lí Theo đó, cơ cấu tổ chức của phòng gồm có 1 trưởng phòng là bác sĩ; 2 y sĩ, 3 lương y, 6 y tá; 5 hộ lí; 1 xét nghiệm viên, 1 y công.
23 Gồm có 1 trưởng phòng, 1 tổ chức, 1 văn thư, 1 giao thông liên lạc, 1 thường trực, 1 kế toán kho, 1 thủ quỹ, 1 tài xế, 1 thợ giặt
24 Gồm 1 quản lí bệnh nhân, 5 cấp dưỡng bệnh viện, 1 quản lí cấp dưỡng nhân viên; 3 cấp dưỡng nhân viên
33
Trang 39- Viện Sốt rét và kí sinh trùng, năm 1957, bệnh sốt rét có nguy cơ bùng phát trên
quy mô rộng ở miền Bắc và trở thành một bệnh dịch nguy hiểm, phổ biến Trước tìnhhình đó, ngày 1-7-1957, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số 287/TTg thành lậpViện Nghiên cứu sốt rét trên cơ sở phòng sốt rét cơn của Viện Vi trùng học Đến năm
1961, Viện đổi tên thành Viện Sốt rét và ký sinh trùng25 với nhiệm vụ nghiên cứu cácphương pháp hỗ trợ nhằm đẩy trừ dịch bệnh sốt rét Thực hiện nhiệm vụ đó, cơ cấu tổ
chức của Viện gồm có: Ban giám đốc26, dưới Ban giám đốc có: phòng nghiên cứugồm với 2 bộ phận: bộ phận tĩnh tại27 và đội y tế lưu động28
- Viện Chống lao Trung ương 29 , cùng với bệnh sốt rét, bệnh lao cũng là căn bệnh
phổ biến đe dọa đến cuộc sống của hàng triệu người dân miền Bắc Trước tình hình đó,ngày 1-7-1957 Viện Chống lao Trung ương được thành lập Viện có nhiệm vụ nghiêncứu bệnh lao; khám và điều trị cho bệnh nhân ngoại trú; tổ chức thí điểm về an dưỡngcho bệnh nhân lao; khám và điều trị bệnh lao trong các công, nông trường, xí nghiệp;tuyên truyền, giáo dục ý thức và phương pháp phòng lao trong nhân dân và cán bộ;giáo dục cách dự phòng lây lan cho các gia đình có bệnh nhân lao; theo dõi bệnh nhânlao đã ra viện; bồi dưỡng đào tạo cán bộ chuyên khoa về lao Thực hiện chức năng vànhiệm vụ đó, cơ cấu tổ chức của Viện gồm: bộ phận nghiên
cứu30, bộ phận điều trị31 và bộ phận quản trị hành chính32.
-Viện Mắt hột, cùng với Viện Sốt rét và kí sinh trùng, Viện Chống lao, theo
Nghị định số 287/TTg ngày 1-7-1957 Viện Mắt hột được thành lập Viện có nhiệm
vụ nghiên cứu, bổ sung các phương pháp điều trị và phòng bệnh về mắt cho nhândân Viện Mắt hột có mối quan hệ mật thiết với bệnh viện mắt trong công tác phòng
và điều trị bệnh đau mắt hột Cơ cấu tổ chức của Viện gồm: Ban giám đốc có 1 bác
sĩ Viện trưởng kiêm giám đốc Bệnh viện mắt và 1 bác sĩ là Viện phó kiêm chính trị
25 Cơ sở của Viện vẫn được đặt tại số 5 phố Quang Trung, Hà Nội
26 Ban giám đốc gồm: 1 giám đốc là bác sĩ điều khiển và phụ trách phòng nghiên cứu; 1 phó giám đốc là bác sĩ phụ trách đội thí điểm và 1 cán bộ chính trị phụ trách phòng hành chính quản trị.
27 Bộ phận tĩnh tại với nhiệm vụ nghiên cứu thuốc, thử máu, khảo sát muỗi, bọ gậy, kiểm tra và huấn luyện Do đó, bộ phận phân thành các nhóm: nhóm muỗi gồm có 2 công nhân chuyên môn, 1 y sĩ, 1 y tá, 1 hoạ sĩ; nhóm bọ gậy gồm 1 y sĩ, 1 y tá; nhóm máu gồm 1 y sĩ, 1 y tá; nhóm trừ muỗi gồm 1 dược sĩ trung cấp, 1 dược tá; nhóm thuốc sốt rét gồm 1 y sĩ, 1 y tá.
28 Đây là lực lượng cán bộ y tế đi trực tiếp đến các vùng miền để trực tiếp tuyên truyền, vận động và phòng chống sốt rét Dịch sốt rét chủ yếu tập trung ở các địa phương có địa hình đồi núi Theo đó, năm 1957 toàn miền Bắc đã tổ chức được 24 đội y tế lưu động thuộc các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Vĩnh Linh, Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Hải Ninh, Hồng Quảng, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Khu Thái Mèo Trung bình mỗi tỉnh có
1 đội y tế lưu động, riêng khu Thái Mèo có 3 đội Mỗi đội được thành lập gồm có 2 y sĩ và 3 y tá, trực thuộc biên chế của Ty y tế địa phương
29 Nay gọi là Viện lao và bệnh phổi
30 Với nhiệm vụ tiếp nhận và theo dõi bệnh nhân lao bộ phận nghiên cứu thành lập 2 bộ phận nhỏ:
Một là, bộ phận lưu động có nhiệm vụ khám, điều trị ngoại trú, giới thiệu vào viện, thôn lao Hai là, bộ phận
tĩnh tại có nhiệm vụ nghiên cứu, điều tra tình hình bệnh tật, huấn luyện, hồ sơ và theo dõi bệnh nhân
31 Gồm có bệnh viện điều trị và trại An dưỡng
32 Có nhiệm vụ thực hiện các công tác hành chính, quản trị, tổ chức cán bộ
34
Trang 40viên Giúp việc cho Ban giám đốc có các phòng chuyên môn giúp việc bao gồm:phòng nghiên cứu tĩnh tại33; đội thí điểm trực tiếp34 Ngoài các phòng chuyên môn,Viện có phòng hành chính quản trị phụ trách các công tác tổ chức văn thư, kế toán,liên lạc, tiếp khách, mua sắm,… Cơ cấu tổ chức gồm: bộ phận hành chính có 1 kếtoán, 1 tổ chức, 1 đánh máy; bộ phận thống kê có: 1 y sĩ, 1 cán bộ, bộ phận kiểm tracó 4 y sĩ trung cấp, 2 y tá, 1 lái xe; bộ phận nghiên cứu có: 2 y sĩ trung cấp, 2 xétnghiệm viên, 1 hộ lí; bộ phận thí điểm có: 4 y sĩ trung cấp, 16 y tá, 3 hộ lí, 2 cấpdưỡng; bộ phận dược chính có: 1 dược sĩ, 1 dược tá, 1 hộ lí; bộ phận huấn luyện có:
1 y sĩ trung cấp, 1 phiên dịch Đội ngũ cán bộ được xây dựng đã góp phần củng cốmối quan hệ giữa Viện nghiên cứu với bệnh viện thực hành, từng bước giúp nhândân miền Bắc vượt qua dịch đau mắt đỏ nhanh chóng và hiệu quả
Từ năm 1957 đến năm 1959, các tỉnh miền Bắc có nhiều dịch bệnh xảy ra liêntiếp và nhanh chóng lan rộng Trước tình hình đó, yêu cầu nghiên cứu về vệ sinh phòngbệnh và phổ biến y học thường thức về vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân, nhất lànhững vấn đề về vệ sinh đã trở thành nghiêm trọng và phổ biến ở phạm vi rộng Do đó,ngày 30-6-1959, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Nghị định số 532/BYT-NĐ thành lập Viện Vệsinh Viện Vệ sinh được thành lập trên cơ sở điều chuyển một số cán bộ
ở phòng nghiên cứu của Viện Vi trùng học sang Viện có nhiệm vụ nghiên cứu, cảitiến điều kiện vệ sinh ăn uống, ở, làm việc, giáo dục kiến thức vệ sinh và y họcthường thức sâu rộng trong nhân dân
Sau khi được tách ra để thành lập Viện Vệ sinh, hoạt động chuyên sâu về y học
dự phòng không mang lại hiệu quả cao, ngày 25-3-1961, Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyếtđịnh số 291/BYT-QĐ về việc sáp nhập Viện Vi trùng học và Viện Vệ sinh thànhViện Vệ sinh dịch tễ học, trực thuộc Bộ Y tế Cơ cấu tổ chức gồm 11 phòng chuyênmôn bao gồm: phòng kiểm nghiệm; phòng huấn luyện (gồm tu thư, huấn luyệnphiên dịch và phòng đánh máy, in, vẽ); phòng hoá học (gồm sinh vật hoá học vànước hoá học); phòng quản trị kế toán (gồm tiếp liệu và kế toán); phòng hành chính
tổ chức (văn thư và tổ chức cán bộ); phòng chăn nuôi (thức ăn và chăn nuôi nghiêncứu); phòng sinh vật phẩm (dại và chủng đậu); phòng vi trùng (nuôi cấy dịch học vàtrực chuẩn); phòng môi trường (nghiên cứu nguồn nước và môi trường); phòngkiểm định, phòng siêu vi trùng Các phòng chuyên môn có nhiệm vụ phối hợp, báocáo mọi mặt hoạt động về phòng dịch, trừ dịch với Ban giám đốc
33 Có nhiệm vụ nghiên cứu mắt hột, đồng thời thực hiện công tác kiểm tra, thống kê, huấn luyện, bảo quản thuốc men và y cụ.
34 Có nhiệm vụ nghiên cứu bệnh tật tại chỗ để cung cấp tài liệu cho bộ phận tĩnh tại Đội thí điểm được xem là bộ phận lưu động, thuộc quyền quản lí trực tiếp của Viện về mọi mặt, tuy nhiên khi công tác tại địa phương, đội có sự liên hệ với chính quyền Khu, Ty y tế để thảo luận chương trình hoạt động Vì vậy, các
Ty y tế có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ về mặt chuyên môn với các đội thí điểm trong hoạt động điều trị, vừa cung cấp thêm nguồn tài liệu nghiên cứu của viện
35