Khái niệm tội cướp giật tài sản Trước khi làm rõ khái niệm của Tội cướp giật tài sản ta cần làm rõ kháiniệm của tội phạm: Khái niệm tội phạm: tại Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015: “Tội phạm
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐĂNG THÔNG
TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐĂNG THÔNG
TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn tận tìnhcủa TS Lê Tường Vy Các số liệu, tài liệu, kết quả được trình bày trong luậnvăn là hoàn toàn chính xác, khách quan và trung thực không trùng lặp và chưatừng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những nội dung trongluận văn có sử dụng tài liệu tham khảo đều được trích dẫn nguồn một cáchđầy đủ, chính xác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN ĐĂNG THÔNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản 7
1.2 Lịch sử quy định về tội cướp giật tài sản trong Luật hình sự Việt Nam 12
1.3 Phân biệt tội cướp giật tài sản với một số loại tội khác 17
Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TẠI QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 23
2.1 Tình hình tội cướp giật tài sản tại Quận 9 trong những năm gần đây 23
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với tội cướp giật tài sản tại Quận 9 29
2.3 Những khó khăn và nguyên nhân 45
Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TẠI QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 48
3.1 Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật đối với tội cướp giật tài sản 48
3.2 Một số giải pháp nhằm áp dụng đúng các quy định của pháp luật về tội Cướp giật tài sản 52
KẾT LUẬN 75
Trang 5: Viện kiểm sát nhân dân: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Số liệu tình hình khởi tố, truy tố và xét xử tội cướp giật tài
sản tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh từ 2015 đến 2019
Bảng 2.2: Số vụ án, số bị cáo phạm tội cướp giật tài sản bị Tòa án trả
hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh từ 2015đến 2019
Bảng 2.3: Hình phạt được áp dụng đối với tội cướp giật tài sản tại Quận
9, Thành phố Hồ Chí Minh từ 2015 đến 2019
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quận 9 là một quận nằm ở vị trí cửa ngõ Đông Bắc của Thành phố, nốiliền địa bàn kinh tế trọng điểm của khu vực có diện tích 113,896.200 km2, có
13 phường với dân số 235.268 nhân khẩu Địa bàn Quận 9 vốn là vùng sâuvùng xa nông thôn của huyện Thủ Đức cũ, là vùng oanh kích tự do của quânđội Mỹ và Sài Gòn trước kia, nên còn yếu kém nhiều về mọi mặt so với cácquận, huyện khác của Thành phố Với điểm xuất phát thấp, kinh tế phát triểnkhông đồng đều, phần lớn là sản xuất nông nghiệp, ngành công nghiệp –tiểuthủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ phát triển chậm, đời sống của nhân dâncòn nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế,yếu kém
Tuy nhiên nhờ được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy - UBNDThành phố, sự giúp đỡ của các Sở, ban, ngành Thành phố; sự lãnh đạo sâu sátcủa Quận ủy, sự chủ động động trong quản lý, điều hành của chính quyền, sựphối hợp có hiệu quả của Mặt trận và các đoàn thể, sự nỗ lực to lớn của nhândân, công cuộc xây dựng và phát triển của Quận 9 đã đạt được những thành tựunổi bật, làm thay đổi diện mạo của quận vùng ven một cách toàn diện và sâu sắc.Trên địa bàn Quận có thêm nhiều khu công nghiệp, đặc biệt có Khu công nghệcao của Thành phố Đang hình thành nhiều khu đô thị mới, tập trung và thu hútngày càng đông dân cư đến sinh sống, học tập và làm việc Do đó tình hình tộiphạm trên địa bàn quận cũng có những diễn biến rất phức tạp, ngày một gia tăng
cả về số lượng lẫn thủ đoạn phạm tội có thể nói ngày càng tinh
vi hơn, trong đó có tội cướp giật tài sản xảy ra khá nhiều trong thời gian gần đây với những thủ đoạn vô cùng manh động và liều lĩnh
Tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 9, TPHCM so với tổng số tộiphạm hình sự được khởi tố là lớn, từ năm 2015 đến năm 2019 CQĐT đã khởi
Trang 8tố từ nguồn tố giác, từ các tin báo về tội phạm và từ việc bắt quả tang với tổng
số 93 vụ/ 139 bị can
Trước tình hình đó, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm luôn đượccác cấp có thẩm quyền trên địa bàn Quận 9 quan tâm Được thể hiện rõ quachất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử được quan tâm chú trọng và hiệuquả nâng lên rõ rệt một phần là có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan tiếnhành tố tụng Tất cả các vụ cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 9 đều đượcđưa ra xét xử nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật Song bên cạnh
đó, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bànQuận 9 vẫn còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ
quan Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Tội cướp giật tài sản từ thực tiễn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sĩ của mình là vấn đề
phù hợp cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tộicướp giật tài sản, những công trình này nghiên cứu ở những góc độ và phạm
vi khác nhau Cụ thể như sau:
2.1 Nhóm Các luận án luận văn
- Trần Hữu Nghĩa (2014), Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc Gia Hà Nội;
- Nông Anh Vượng (2016), Tội cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ, Học viện KHXH;
- Trần Văn Đông (2017), Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ, Học viện KHXH;
- Phạm Tuấn Anh (2018),Tội cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ,
Học viện KHXH;
Trang 9Các công trình nghiên cứu trên đều nói đến lý luận và pháp luật về tội cướpgiật tài sản, đặc điểm của tình hình tội phạm nói chung,phân tích những nhữngđặc điểm của tội phạm cướp giật tài sản ở mỗi thời kỳ, mỗi vùng lãnh thổ - hànhchính nhất định Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học này đều mangtính toàn diện, chỉ ra các phương pháp và trang bị cho học viên có thể hệ thốngcác khái niệm và phương hướng nghiên cứu tội cướp giật tài Tuy nhiên đến thờiđiểm hiện tại thì chưa chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về tội cướpgiật tài sản thực tiễn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2 Nhóm Sách chuyên khảo, giáo trình
- Võ Khánh Vinh (2014), Luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội;
- Trịnh Tiến Việt (2001) ,“ Một số điểm mới về các tội xâm phạm sở
hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999, Pháp lý;
- Trương Quang Vinh (2000), Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS
năm 1999, Tạp chí Luật học số tháng 4/2000, Đại học Luật Hà Nội;
Đây là một số công trình cung cấp lý thuyết cơ bản, nền tảng về tội phạmnói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng Các công trình này mang tính lýthuyết như: Khái niệm tình hình tội phạm, khái niệm phòng ngừa tội phạm,khái niệm các tội xâm phạm sỏe hữu Những công trình trên cung cấp cơ sở
lý luận để học viên vận dụng nghiên cứu đề tài luận văn của mình
2.3 Nhóm các bài báo
- Nguyễn Tuấn Anh, “Tội phạm xâm phạm sở hữu ở nước ta và giải
pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh trong tình hình mới”, Tạp chí Cảnh sát nhân dân, số 8/2015;
- Nguyễn Mai Bộ, “Về các tội xâm phạm sở hữu”, Tạp chí Tòa án nhân
dân , Số 7, 8 và 9/2018;
Các bài báo trên đều nêu lên những khái niệm về Tội xâm phạm sở hữu
Trang 10nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng, thực trạng các tội này xảy ra trongthực tiễn Từ đó tác giả bài báo đưa ra những giải pháp để phòng ngừa đấutranh các loại tội phạm này, đây cũng là những giải pháp mà học viên thamkhảo để áp dụng đề xuất những kiến nghị trong luận văn của mình.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu luận văn này trên cơ sở nghiên cứu các lý luận, cácquy định của pháp luật, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tộicướp giật tài sản trên địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từnăm 2015 – 2019 Từ đó tác giả đề ra các biện pháp đảm bảo việc áp dụngđúng các quy định của pháp luật về tội cướp giật tài sản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất mục đích nghiên cứu đã đặt ra, tác giảtập trung:
- Phân tích khái niệm về các dấu hiệu pháp lý, các qui định của pháp luậthình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản theo Điều 171 BLHS năm 2015( Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Phân biệt tội cướp giật tài sản với tội trộm cắp tài sản, với tội cưỡng đoạt tài sản, với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội cướp tài sản
- Phân tích thực tiễn xét xử loại tội phạm này trên địa bàn Quận 9 dựa trên thực tiễn định tội danh và thực tiễn quyết định hình phạt
- Đề xuất các biện pháp đảm bảo việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật về tội cướp giật tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tất cả
các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tộicướp giật tài sản Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cướp giật tài
Trang 11sản trên địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi những vấn đề
có liên quan đến tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ ChíMinh trong thời gian 05 năm ( từ năm 2015 đến năm 2019) Về thực tiễn luậnvăn chỉ giới hạn ở định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dânQuận 9, Thành phố Hồ Chí Minh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận
của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tội phạm nóichung; các văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước về đấutranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam nói riêng trong quá trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra,
tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
+ Phương pháp lịch sử: Tác giả nêu ra và phân tích các quy định củapháp luật trong BLHS của Việt Nam qua các thời kỳ, Từ đó có cái nhìn tổngthể về pháp luật nói chung quy định của pháp luật Việt Nam đối với tội cướp giật tài sản nói riêng
+ Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê hình sự: Trong luận văn tácgiả đã thu thập số liệu thống kê qua báo cáo tổng kết và tổng hợp các số liệucủa VKSND Quận 9; từ đó tác giả phân tích số liệu theo các tiêu chí đánh giá
để phù hợp với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
+ Phương pháp khảo sát, phân tích, so sánh : Sử dụng phương pháp nàytrong quá trình nghiên cứu, tác giả đã khảo sát tình hình chung, lựa chọnnhững vụ án điển hình để nghiên cứu phân tích; tổng hợp kết quả phân tích từcác điển hình đã lựa chọn để so sánh, rút ra các đánh giá, nhận xét phù hợpphục vụ cho việc nghiên cứu
Trang 12+ Phương pháp phỏng vấn, trao đổi: Để làm rõ hơn các vấn đề nghiêncứu, nhất là những vấn đề chưa được làm rõ bằng các biện pháp khác, tác giả
đã trao đổi, phỏng vấn trực tiếp đối với một số chuyên gia và cán bộ làm côngtác thực tiễn phụ trách các vấn đề có liên quan đến đề tài, từ đó làm rõ hơnvấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài tác giả chọn nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về tội cướp giật tài sản góp phầnhoàn thiện nội dung quy định của pháp luật về tội cướp giật tài sản
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Các giải pháp đề xuất trong đề tài góp phần nâng cao hiệu quả đấutranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng.+ Đề tài góp phần giải quyết những vướng mắc khi xét xử loại tội này trên thực tế xét xử của Tòa án
+ Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể dùng làm tài liệugiảng dạy cho các trường giảng về Luật và làm tài liệu tham khảo cho những
ai quan tâm về loại tội phạm này
7 Kết cấu của luận văn
Bố cục của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội cướp giật tài sản
trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của luật hình sự Việt Nam
đối với tội cướp giật tài sản tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 : Yêu cầu và giải pháp bảo đảm việc áp dụng đúng các quy
định của pháp luật đối với tội cướp giật tài sản tại Quận 9, Thành phố Hồ ChíMinh
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI
CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản
1.1.1 Khái niệm tội cướp giật tài sản
Trước khi làm rõ khái niệm của Tội cướp giật tài sản ta cần làm rõ kháiniệm của tội phạm:
Khái niệm tội phạm: tại Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015: “Tội phạm là
hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người
có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.” [1 Điều 8].
Tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015: “Người
nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy mặc dù Điều luật chỉ nêu tội danh mà không mô tả hành vi cướp giậttài sản, nhưng căn cứ vào lý luận và thực tiễn xét xử thì tội cướp giật tài sảnthường xuất hiện với một số hành vi phổ biến sau:
Người phạm tội có hành vi công khai giật lấy tài sản trong tay ngườikhác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm về tài sản rồinhanh chóng tẩu thoát Điểm nổi bật của tội cướp giật tài sản khi so sánh vớinhững tội phạm khác là người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ tài sản hoặcngười quản lý tài sản để nhanh chóng giật lấy tài sản mà họ khó có thể giữđược hoặc giằng lại được thông thường tài sản mà người phạm tội cướp giật
Trang 14có thể là loại tài sản gọn nhẹ như: Đồng hồ, dây chuyền vàng, điện thoại hoặc những tài sản kồng kềnh như xe đạp, xe máy, ôtô người phạm tội dùngnhững tài sản sau khi giật được làm phương tiện tẩu thoát Yếu tố bất ngờtrong Tội cướp giất tài sản cũng là một dấu hiệu đặc trưng của tội phạm.
Hành vi công khai chiếm đoạt tài sản tức là người phạm tội không hềgiấu diếm hành vi phạm tội của mình và ngay sau khi bị mất tài sản người bịhại biết ngay người giật tài sản của mình Trong trường hợp này người phạmtội hoàn toàn không dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản cũng không đe doạdùng vũ lực hoặc không dùng các thủ đoạn khác nhằm uy hiếp tinh thần củachủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản
Có thể thấy tội cướp giật tài sản là một trong những tội xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt tài sản và người phạm tội thực hiện một cách cố
ý Mục đích chiếm đoạt có trước khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếmđoạt tài sản Qua nghiên cứu tài liệu, giáo trình Luật hình sự, các bài viết trêntạp chí, bình luận khoa học BLHS và một số tài liệu khác, tác giả có thể khái
quát tội cướp giật tài sản như sau: Tội cướp giật tài sản là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý bằng cách nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát.
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản
1.1.2.1 Khách thể của tội cướp giật tài sản
Tội cướp giật tài sản không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu của ngườikhác mà còn xâm hại đến quan hệ nhân thân nhưng trực tiếp vẫn là quan hệ sởhữu đối với tài sản của họ Điều này đã được thể hiện rất rõ trong điều luật khiquy định Tội cướp giật tài sản đã đưa vào trong cấu thành dấu hiệu về thiệthại đến tính mạng, sức khoẻ, đây là những tình tiết định khung hình phạt.Hành vi cướp giật tài sản đã gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của
Trang 15người bị hại ví dụ giật tài sản mà gây tai nạn cho người đi đường Mặc dù việcgây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ không phải là đối tượng tác động màngười phạm tội nhằm vào, nhưng vẫn thực hiện, mà bất chấp hậu quả xảy ra.Các tội phạm xâm phạm sở hữu trong chương XVI BLHS năm 2015 đều cóchung một khách thể là quan hệ sở hữu chính vì vậy để phân biệt Tội cướpgiật tài sản với các tội phạm xâm phạm sở hữu khác, chúng ta phải dựa vàodấu hiệu hành vi khách quan và các dấu hiệu chủ quan khác mà không thể dựavào yếu tố khách thể Như vậy có thể khẳng định tội cướp giật tài sản đã đồngthời xâm phạm đến hai quan hệ xã hội là quan hệ sở hữu và quan hệ nhânthân.
Đối tượng mà tội phạm tác động đến ở tội cướp giật tài sản là con người
cụ thể và tài sản
1.1.2.2 Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản
Hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản là công khai chiếm đoạt tàisản và nhanh chóng tẩu thoát
Đặc trưng của Tội cướp giật tài sản được chỉ rõ ngay trong tên của điều
luật đó là hành vi giật tài sản, tức là giằng lấy, giật lấy tài sản một cách nhanh
chóng
Dấu hiệu công khai: Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực
hiện một cách công khai khi hình thức thực hiện cho phép chủ tài sản có khảnăng biết ngay khi hành vi này xảy ra Đây cũng là một dấu hiệu đặc trưng đểphân biệt với những trường hợp phạm tội có tính lén lút, bí mật, gian dối khácnhư hành vi trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tính chất công khai củahành vi cướp giật tài sản chỉ là công khai về hành vi chứ không công khai vềnhân thân của người phạm tội Trong thực tế người phạm tội có che giấu thânphận của mình thì họ vẫn cấu thành tội cướp giật tài sản nếu thực hiện hànhhành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Thực tiễn cho thấy
Trang 16thủ đoạn phạm tội cướp giật tài sản của người phạm tội có thể thực hiện là rất
đa dạng như: lợi dụng chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sảnkhông chú ý, gặp vướng mắc hoặc các trường hợp khác như lái xe để giật tàisản Việc phân tích các thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng có tác dụng đểphân biệt tội cướp giật tài sản với các tội phạm khác ta cũng phải dựa vào thủđoạn phạm tội này
Dấu hiệu nhanh chóng: Đây là phương thức, thủ đoạn lợi dụng sơ hở
hoặc là tạo ra sự sơ hở của chủ tài sản, người phạm tội nhanh chóng tiếp cận,nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát Đây là dấu hiệu cơbản quan trọng, bắt buộc phải có trong mặt khách quan của phạm Đối với tộicướp giật tài sản thì đa phần tài sản bị chiếm đoạt có đặc điểm là gọn, nhẹ, dễdịch chuyển hoặc một số trường hợp là tài sản cồng kềnh nhưng sau khichiếm đoạt người phạm tội lại dùng chính tài sản đó làm phương tiện tẩu thoátnhư xe máy, ôtô Chính vì vậy đặc điểm của tài sản cũng là căn cứ để đánh giáthế nào là dấu hiệu nhanh chóng Trong các dấu hiệu nhanh chóng tiếp cận,nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát, thì dấu hiệu nhanhchóng chiếm đoạt là dấu hiệu quan trọng nhất, đây là dấu hiệu bắt buộc,không thể thiếu trong cấu thành tội phạm
Dấu hiệu nhanh chóng là một trong những dấu hiệu giúp chúng ta có thểphân biệt tội cướp giật tài sản với các tội khác trong chương các tội xâm phạm
sở hữu Rõ ràng trong mặt khách quan của một số tội phạm xâm phạm sở hữu
ở chương này không cần có dấu hiệu nhanh chóng Ví dụ như tội cướp tài sản,người phạm tội cũng không chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng màthông qua hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc dùngcác thủ đoạn khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thểchống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản
Hậu quả tội cướp giật tài sản xâm phạm đồng thời đến hai khách thể đó
Trang 17là quyền sở hữu và quyền nhân thân nên hành vi phạm tội cũng sẽ gây ra hậuquả trước hết là những thiệt hại về tài sản, ngoài ra còn có những thiệt hại vềtính mạng, sức khoẻ Qua nghiên cứu về lý luận tội phạm ta thấy tội cướp giậttài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, cho nên, tội phạm hoàn thành khingười phạm tội giật được tài sản, nếu người phạm tội chưa giật được tài sảnthì thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt Tội cướp giật tài sản là tội phạmnghiêm trọng nên pháp luật hình sự không quy định mức tài sản bị chiếm đoạt
là dấu hiệu cấu thành tội phạm
1.1.2.3 Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản
Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản là những biểu hiện bên trong củatội phạm, bao gồm lỗi, động cơ, mục đích
Lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp
mà không thể là lỗi có ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý Người phạm tội nhận thứcđược hành vi cướp giật tài sản là nguy hiểm cho xã hội thấy trước được hậuquả của tội phạm nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó
Người phạm tội cướp giật tài sản chỉ cấu thành tội phạm này khi họ cómục đích chiếm đoạt tài sản Nếu như các tội cướp, tội bắt cóc nhằm chiếmđoạt tài sản hoặc tội cưỡng đoạt tài sản, thì mục đích chiếm đoạt tài sản có thểxảy ra trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội Nhưng đối với tộicướp giật tài sản mục đích chiếm đoạt tài sản luôn có trước khi người phạmtội thực hiện hành vi giật tài sản
1.1.2.4 Chủ thể của tội cướp tài sản
Chủ thể của tội cướp giật tài sản được quy định trong bộ luật hình sự làngười có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Người thực hiện hành vi phạm tội không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnhkhác (được cơ quan y tế xác nhận là mất khả năng nhận thức hoặc khả năngđiều khiển hành vi)
Trang 18Điều 171 BLHS năm 2015 quy định bốn khung hình phạt Căn cứ vàoquy định tại Điều 9 BLHS phân loại tội phạm, tội cướp giật tài sản bao gồmcác loại tội nghiêm trọng (Khung 1), rất nghiêm trọng (Khung 2, 3) và đặcbiệt nghiêm trọng (Khung 4) thì chủ thể của tội cướp giật tài sản là bất kỳngười nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi (đối với khoản 1điều 171) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (đối với khoản 2, 3 và 4 Điều 171).
1.2 Lịch sử quy định về tội cướp giật tài sản trong Luật hình sự Việt Nam
1.2.1 Giai đoạn trước Bộ luật hình sự 1985
Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động ổn định an ninh trật tự, an ninhchính trị, bảo vệ đất nước non trẻ, bảo vệ thành quả cách mạng, Quốc hội,Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật Một trong những nội dungđặc biệt quan trọng được Hiến pháp ghi nhận “quyền tư hữu tài sản của côngdân Việt Nam được đảm bảo” Điều 12 Hiến pháp 1946 Vào thời điểm đóChủ tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã ký Sắc lệnh số 47/SL ngày10/10/1945 về việc áp dụng những văn bản của pháp luật không trái vớinguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa Sắclệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 quy định các hành vi phá hoại công sản Khichưa ban hành được các văn bản pháp luật mới nhà nước ta đã vận dụng phápluật của chế độ cũ để quản lý xã hội theo tinh thần của nhà nước dân chủ mới
và Nhà nước ta cũng đã từng bước ban hành những văn bản pháp luật mớithay thế, góp phần bảo vệ các quan hệ xã hội tiến bộ trong xã hội mới
Ngày 21/10/1970 ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 2 pháp lệnhmới đó là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN tại điều 5 quyđịnh “kẻ nào cướp giật tài sản XHCN thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm”, còntại điều 4 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân cóquy định “kẻ nào cướp giật tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 3 tháng
Trang 19đến 5 năm” Đến giai đoạn này có thể nói pháp luật về sở hữu nói chung vàtội cướp giật tài sản nói riêng cơ bản đã được thể hiện đầy đủ, toàn diện, độclập trong một văn bản riêng Ngoài ra tại thông tư liên bộ của TANDTC –VKSNDTC – BCA ngày 16/03/1973 hướng dẫn cụ thể 2 pháp lệnh kể trêntrong đó tội cướp giật tài sản được hiểu là “trường hợp kẻ phạm tội lợi dụng
sơ hở vướng mắc của người giữ tài sản, bất thần giằng lấy tài sản trên tayngười giữ tài sản” đây là hướng dẫn mà sau nay BLHS đã tách 2 hành vi nàythành 2 tội độc lập, với hướng dẫn lợi dụng “vướng mắc” sau này được táchthành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Còn hướng dẫn “bất thần giằng lấytài sản trên tay người giữ tài sản” sau này được tách thành tội cướp giật tàisản Năm1976 chính phủ đã ban hành sắc lênh quy định tội phạm và hình phạtSL/03 Tại đây tội cướp giật tài sản được quy định chung với các tội xâmphạm sở hữu khác tại điều 4 Như vậy các văn bản nói trên là cơ sở pháp lýquan trọng để đấu tranh với các đối tượng phạm tội cướp giật tài sản tronggiai đoạn này
1.2.2 Quy định của bộ luật hình sự 1985
Đảng và Nhà nước ta coi PLHS là công cụ không thể thiếu để bảo vệ chế
độ nên Nhà nước ta pháp điển hóa pháp luật hình sự được đẩy mạnh trong giaiđoạn 1982 - 1986 mà đỉnh cao của nó là sự ra đời của một bộ luật thống nhất,duy nhất xác định tội pham, và hình phạt BLHS năm 1985 được quy định rõPhần chung và Phần riêng gồm 12 chương được chia thành 280 điều BLHSnăm 1985 là bản tổng kết sâu sắc thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh chống tộiphạm của nước ta thời kỳ đó, để theo kịp sự phát triển của đất nước, cũng nhưđiều chỉnh pháp lý hình sự các quan hệ xã hội đang tồn tại và đáp ứng yêu cầucủa cuộc đấu tranh chống tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nóiriêng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật hình sự để sửa đổi bổ sung cácquy định của BLHS năm 1985, ban hành vào các năm 1991,1992 và
Trang 201997 Để phù hợp với tình hình mới, quy định về tội cướp giật tài sản như sau:
Điều 131 quy định:
1 Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủnghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 129, thì bị phạt tù từ 1năm đến 5 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3năm đến 12 năm:
a Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp
b Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát
c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác
d Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 đến 20 năm
Điều 154 quy định:
1 Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của ngườikhác, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 151, thì bị phạt tù từ ba 3tháng đến 3 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 2năm đến 10 năm:
a Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp
b Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát
c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác
d Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm
- Về hình phạt: Trong giai đoạn này pháp luật hình sự có tư tưởng chủ
đạo là chú trọng bảo vệ tài sản chung (tài sản XHCN) hơn tài sản riêng (tài
Trang 21sản tư nhân) Điểm mới nổi bật của BLHS năm 1985 so với các văn bản phápluật trước đây đó là, các hình phạt được quy định tập trung, sắp xếp theo mộttrật tự nhất định và có một hệ thống hình phạt và tiêu chí áp dụng tương đốiđầy đủ Hình phạt có mục đích khác nào giáo dục, răn đe chứ không chỉ làtrừng trị người phạm tội Mức phạt tối đa ở tội cướp giật tài sản quy định tạiBLHS năm 1985 cũng cao hơn so với mức phạt ở 2 pháp lệnh là Pháp lệnhtrừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và trừng trị các tội xâmphạm tài sản riêng của công dân Cụ thể ở BLHS năm 1985, mức phạt tối đa
là 15 năm tù với tội cướp giật tài sản riêng công dân và 20 năm tù với tộicướp giật tài sản XHCN Tuy nhiên mức hình phạt tối thiểu là một năm tù vớitội cướp giật tài sản XHCN và 3 tháng tù với tội cướp giật tài sản riêng củacông dân thì lại tương đương với hai Pháp lệnh năm 1970 Có thể thấy rõBLHS 1985 có mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với các văn bản pháp luật
ở giai đoạn trước Ngoài ra BLHS năm 1985 có quy định 3 khung hình phạtnhiều hơn so với 2 khung hình phạt của các văn bản trước đây Điều 131,Điều 154 BLHS 1985 có quy định tình tiết "dùng thủ đoạn nguy hiểm" và
"chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác" đây lànhững tình tiết mới
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Đây là điểm mới của BLHS 1985 là
một cơ sở quan trọng để người Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân khi xét xửđược chính xác, công tâm, khách quan Ngày 28/12/1989, Quốc hội thông quaLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, trong đó bổ sungthêm một tình tiết định khung tăng nặng TNHS đối với người "phạm tội cótính chất chuyên nghiệp" vào điểm a khoản 2 của các điều luật quy định về tộicướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản Như vậy ta có thể thấy Nguyêntắc xử lý quy định trong BLHS năm 1985 về cơ bản không thay đổi so vớiPháp lệnh năm 1970 Điều 3 BLHS năm 1985 thì mọi hành vi phạm tội nó
Trang 22phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng phápluật trong đó có các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cướp giật tài sảnnói riêng.
1.2.3 Quy định của Bộ luật hình sự 1999
Để phù hợp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, mởcửa và hội nhập quốc tế, đồng thời ngăn chặn những tác động tiêu cực củamặt trái của nền kinh tế thị trường, ngăn chặn sự phát triển với tốc độ nhanhchóng của tội phạm trong đó có các tội phạm xâm phạm sở hữu Hiến phápnăm 1992 đã xác định chúng ta có nhiều thành phần kinh tế, cùng với đóchúng ta có nhiều hình thức sở hữu Chính sách hình sự và pháp luật hình sựcũng cần phải thay đổi phù hợp để bảo vệ sở hữu chung và sở hữu riêng mộtcách công bằng, không đặt cái nào nặng cái nào nhẹ, không thiên vị dựa trênquan điểm nào BLHS 1985 chúng ta phân định hai hình thức sở hữu để quyđịnh thành hai khách thể bảo vệ độc lập là tài sản thuộc sở hữu thuộc sở hữuXHCN và tài sản thuộc sở hữu của công dân như vậy trong điều kiện thực tế
đã không còn phù hợp gây cản trở vướng mắc đến các chính sách đổi mới củađất nước Trước tình thế giới nhiều biến động Nhà nước đã tiến hành soạnthảo và thông qua BLHS năm 1999 tại kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa X(18/11-21/12/1999) mà trong hệ thống PLHS thực định Việt Nam hiện hành
và lần đầu tiên được thể hiện qua lần pháp điển hóa thứ hai và BLHS năm
1999 ra đời Chúng ta có thể so sánh hệ thống của BLHS năm 1985 và hệthông của BLHS 1999 đã thấy ro sự đổi mới và chăt chẽ hơn, có tất cả 24chương,10 chương trong phần chung với 77 điều, 14 chương trong Phần cáctội phạm với 267 điều, tổng cộng là 344 điều BLHS năm 1999 có điểm mới
so với BLHS 1985 khi quy định về các tội phạm xâm phạm sở hữu đó là, cácnhà làm luật đã ghép hai chương IV và VI của BLHS năm 1985 vào thànhmột chương (Chương XIV) “các tội xâm phạm sở hữu” trong BLHS năm
Trang 231999 với 13 tội danh Theo BLHS năm 1999 thì tội cướp giật tài sản có chếtài nặng hơn BLHS năm 1985.
1.2.4 Quy định của bộ luật hình sự 2015
Có thể nói trải qua hơn 14 năm thi hành, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổsung năm 2009) đã có những đóng góp rất lớn và hoàn thành sứ mệnh củamình trong chặng đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên trước nhữngthay đổi lớn lao trên các mặt của đời sống xã hội, sự phát triển của nền kinh tếtrong thời kỳ hội nhập, nhận thức pháp luật của của người dân ngày càng nângcao, những thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, nhiều loại tội phạm mới xuấthiện… những vấn đề đó đòi hỏi cần phải có sự điều chỉnh sửa đổi, bổ sungcủa hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật hình sự nhằm đáp ứng yêu cầuthực tiễn đặt ra trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Ngày 22tháng 7 năm 2014 Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ,ngành liên quan xây dựng dự án Bộ luật hình sự
Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10,Quốc hội khóa XIII vào ngày 27/11/2015 Quốc Hội quyết nghị kể từ ngày01/01/2018 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một
số điều theo luật số 12/2017/QH14 chính thức có hiệu lực pháp luật Tội cướpgiật tài sản quy định, hướng dẫn tại Điều 171 BLHS số 100/2015/QH13 năm2015
1.3 Phân biệt tội cướp giật tài sản với một số loại tội khác
1.3.1 Với tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản khác biệt với tội cướp giật tài sản tại một số điểmchính như sau:
Khách thể: Tội cướp giật tài sản xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản,ngoài ra trong một số trường hợp cụ thể tội phạm này gián tiếp xâm hại đếnsức khỏe và tính mạng của nạn nhân còn ở tội trộm cắp tài sản người phạm tội
Trang 24chỉ xâm phạm tới quyền sở hữu nhưng không xâm phạm tới sức khỏe, tínhmạng của nạn nhân.
Hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản: là hành vi công khai, nhanhchóng chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lýtài sản Còn hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lútchiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản
Về giá trị tài sản xâm phạm: nếu như tội cướp giật tài sản định lượng tàisản chiếm đoạt không phải là yếu tố định tội mà chỉ là yếu tố định khung hìnhphạt ngược lại với tội trộm cắp tài sản thì định lượng tài sản chiếm đoạt chính
là yếu tố định tội đồng thời là yếu tố định khung hình phạt Khoản 1 Điều 173
BLHS 2015 quy định, “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ
2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Về khắc phục hậu quả: nếu như ở tội cướp giật tài sản người quản lý tàisản có thể giành lại tài sản của mình bằng cách giật lại hoặc truy đuổi, còn ởtội trộm cắp tài sản người quản lý tài sản không thể quản lý tài sản, không thểgiành lại tài sản của mình do không phát hiện được hành vi lén lút, bí mật củangười trộm cắp tài sản của mình
1.3.2 Với tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 170 BLHS có một số đặc điểm
để phân biệt với tội cướp giật tài sản tại Điều 171 như sau:
Về khách thể: Tội cướp giật tài sản xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản,ngoài ra trong một số trường hợp cụ thể tội phạm này gián tiếp xâm hại đếnsức khỏe và tính mạng của nạn nhân còn ở tội cưỡng đoạt tài sản người phạmtội trực tiếp xâm phạm tới hai quan hệ xã hội đó là quan hệ sở hữu và quan hệ
Trang 25nhân thân thông qua việc xâm hại đến quan hệ nhân thân để chiếm đoạt tàisản của người bị hại.
Hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản: là hành vi công khai, nhanhchóng chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lýtài sản còn ở tội cưỡng đoạt tài sản người phạm có hành vi đe dọa sẽ dùng vũlực, thể hiện ở thái độ, cử chỉ, lời nói tạo cho người bị đe dọa cảm giác sợ vàtin rằng người phạm tội sẽ dùng bạo lực nếu không để cho lấy tài sản Giữathời điểm đe dọa sẽ dùng vũ lực với thời điểm dùng vũ lực có một khoảngcách nhất định về thời gian Hoặc hành vi dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinhthần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ làm một việcgây thiện hại về tài sản, danh dự, uy tín nếu người bị uy hiếp không thỏa mãnyêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội (như đe dọa hủy hoại tài sản,loan tin về đời tư, tố giác hành vi phạm pháp…của người bị đe dọa)
Khắc phục hậu quả: nếu như ở tội cướp giật tài sản người quản lý tài sản
có thể giành lại tài sản của mình bằng cách giật lại hoặc truy đuổi Còn ở tộicưỡng đoạt tài sản người quản lý tài sản không thể quản lý tài sản, không thểgiành lại tài sản của mình do sự đe doạ, uy hiếp của người phạm tội
1.3.3 Với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 172 BLHS có một
số đặc điểm để phân biệt với tội cướp giật tài sản tại Điều 171 như sau:
Khách thể: Tội cướp giật tài sản xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản,ngoài ra trong một số trường hợp cụ thể tội phạm này gián tiếp xâm hại đếnsức khỏe và tính mạng của nạn nhân còn ở tội công nhiên chiếm đoạt tài sảnngười phạm tội chỉ xâm phạm tới quyền sở hữu nhưng không gây thiệt hại vềsức khỏe, tính mạng của người bị hại hoặc người khác
Hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản: là hành vi công khai, nhanhchóng chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm
Trang 26quản lý tài sản còn ở tội công nhiên chiếm đoạt tài sản người phạm tội thựchiện hành vi công khai không cần nhanh chóng chiếm đoạt tài sản do lợi dụngvướng mắc của chủ tài sản, người quản lý hợp pháp, nên chủ tài sản không cóđiều kiện ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản.
Giá trị tài sản xâm phạm: nếu như tội cướp giật tài sản không giới hạngiá trị tối thiểu tài sản bị chiếm đoạt thì đối với tội công nhiên chiếm đoạt tàisản quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2 triệu đồng trở lên hoặcdưới 2 triệu phải có thêm một trong các điều kiện quy định tại BLHS
Khắc phục hậu quả: nếu như ở tội cướp giật tài sản người quản lý tài sản
có thể giành lại tài sản của mình bằng cách giật lại hoặc truy đuổi Còn ở tộicông nhiên chiếm đoạt tài sản người quản lý tài sản không thể quản lý tài sản,không thể giành lại tài sản của mình do bị vướng mắc
1.3.4 Với tội cướp tài sản
Tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản là hai tội danh thuộc nhóm tộixâm phạm đến quyền sở hữu được quy định trong Bộ luật Hình sự Do cócùng đối tượng tác động nên hai tội danh này có những điểm giống nhau trong
cấu thành tội phạm Khách thể của tội phạm: tội cướp tài sản và tội cướp giật
tài sản đều xâm phạm đến quan hệ sở hữu Mặt chủ quan của tội phạm: tộiphạm của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản đều thực hiện hành vi phạmtội với lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình lànguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậuquả xảy ra Mục đích của cả hai tội phạm này là chiếm đoạt tài sản của ngườikhác
Tuy nhiên 2 tội này có những điểm khác nhau như sau:
+ Tội cướp tài sản: Có 3 dạng hành vi khách quan Một là dùng vũlực: là dùng sức mạnh vật chất tấn công người chủ tài sản, người quản lý tàisản hoặc bất kỳ người nào khác ngăn cản việc chiếm đoạt của người phạm tội
Trang 27nhằm đè bẹp sự phản kháng, làm tê liệt ý chí của nạn nhân để chiếm đoạt tàisản Hành vi dùng vũ lực thường là đấm, đá, trói… hoặc kèm theo sử dụngcác phương tiện, công cụ như dao, súng…; Hai là đe e dọa dùng vũ lực ngaytức khắc: là đe dạo dùng tức khắc sức mạnh vất chất được thể hiện bằng lờinói, cử chỉ hành động đe dọa sẽ tấn công người quản lý tài sản hoặc nhữngngười khác nếu không đáp ứng yêu cầu hoặc có ý định ngăn cản hành vichiếm đoạt tài sản của người phạm tội Ví dụ: A dùng súng bắn chỉ thiên và
đe dọa, bắt B phải tháo đồ trang sức trên người đưa cho hắn nếu không hắn sẽbắn chết ngay… Ba là hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạngkhông thể chống cự được: hành vi thứ ba này tuy không phải là hành vi dùng
vu lực nhưng có khả năng làm cho người bị tấn công không thể ngăn cảnđược việc chiếm đoạt Ví dụ như: hành vi đầu độc, hành vi dùng thuốc mê
- Tội cướp giật tài sản:Khác với tội cướp tài sản, người thực hiện hành
vi cướp giật tài sản không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc dùng hành
vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cựđược mà lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ranhững sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản đang rồi nhanhchóng tẩu thoát Hành vi chiếm đoạt ở tội cướp giật tài sản có hai dấu hiệu đểphân biệt với tội cướp tài sản, đó là:Tính công khai của hành vi;Không sửdụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc những hành vi khác khiến nạn nhânlâm vào tình trạng không thể kháng cự được
Khách thể của tội cướp tài sản:Xâm phạm quyền sở hữu tài sản vàquyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe Khách thể của tội cướp giật tàisản:Xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhưng có thể có hoặc không xâm phạmquyền được bảo vệ tính mạng sức khỏe
Tiểu kết Chương 1
Trang 28Nội dung Chương 1 của luận văn trình bày khái quát hệ thống những vấn
đề lý luận và pháp luật về tội phạm cướp giật tài sản trong luật hình sự ViệtNam Trong đó học viên đã nêu khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội cướpgiật tài sản, làm rõ các dấu hiệu về khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan
và chủ thể, ngoài ra học viên đã nghiên cứu làm rõ lịch sử hình thành và pháttriển tội cướp giật tài sản từ năm 1945 đến nay Từ việc nghiên cứu khái niệm
và dấu hiệu pháp lý của Tội cướp giật tài sản học viên đã phân biệt rõ các tộitrộm cắp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản với tộitrộm cắp tài sản từ đó làm rõ giấu hiệu đặc trưng của tội phạm
Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội phạm cướp giật tài sản trongluật hình sự Việt Nam là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả nghiên cứu khảosát thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với tộicướp giật tài sản trên địa bàn Quận 9, TPHCM một cách có hệ thống, khoahọc sẽ được trình bày trong Chương 2
Trang 29Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TẠI QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tình hình tội cướp giật tài sản tại Quận 9 trong những năm gần đây
2.1.1 Khái quát chung về Quận 9
Quận 9 là một quận nội thành thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, là cửa ngõkết nối của toàn vùng Nam Bộ , nằm về phía Đông của TP.HCM, cách trungtâm thành phố khoảng 7km theo đường Hà Nội, có diện tích tự nhiên là11.362 ha (11.362 km²) Phía Đông của Quận 9 giáp huyện Nhơn Trạch vàhuyện Long Thành của tỉnh Đồng Nai, ; phía Tây Quận 9 giáp với quận thủĐức ; phía Nam của Quận 9 giáp với Quận 2 và sông Đồng Nai; phía Bắc củaQuận 9 giáp với tỉnh Bình Dương và một phần thành phố Biên Hòa tỉnh ĐồngNai
Ngày 18/3/1997, Ủy ban nhân dân TP.HCM, đã ra Quyết định số1196/QĐ-UB-NC về việc tách huyện Thủ Đức thành quận 2 (11 phường),quận 9 (13 phường) và quận Thủ Đức (12 phường) Trong đó đơn vị hànhchính quận 9 gồm toàn bộ diện tích tự nhiên các xã Long Bình, Long Phước,Long Trường, Long Thạnh Mỹ, Tăng Nhơn Phú, Phú Hữu, Phước Bình, 484
ha của xã Tân Phú, 891 ha của xã Phước Long, 172 ha của xã Hiệp Phú, 140
ha của xã Bình Trưng thuộc huyện Thủ Đức để lập thành 13 phường
Địa hình: Khu vực Quận 9 nằm trong vùng giáp ranh giữa Đông Nam
Bộ và đồng bằng sông Cửu Long ( hay có thể gọi là vùng chuyển tiếp), địahình Quận 9 có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam Là vùng cao của thànhphố Hồ Chí Minh với địa hình lượn sóng, độ cao trung bình từ 10m đến 25m,đặc biệt có những đồi cao tới 32m như đồi Long Bình Bên cạnh vùng đất cao
Trang 30còn có vùng trũng như vùng bưng sáu xã có độ cao từ 1m dến 2m Với địahình này sẽ tạo cho quận 9 có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển nhữngkhu công nghiệp và du lịch sinh thái.
Khí hậu: Quận 9 nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, nhiệt
độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa – khô rõ ràng, có tác dụng chi phốimôi trường cảnh quan sâu sắc Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từtháng 12 đến tháng 4 năm sau
Giao thông: Trên địa bàn quận có xa lộ Hà Nội chạy qua và nhiều con
đường liên xã đã tạo điều kiện cho việc đi lại của nhân dân và phát triển kinh
tế - xã hội của quận Bên cạnh đó, do nằm ở hạ lưu sông ngòi, kênh rạchchằng chịt đã tạo cho quận phát triển giao thông đường thủy Nhìn chung,quận 9 có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy tương đối thuận lợi
Dân số: Trong buổi đầu thành lập, dân số của quận 9 là 126.220 người
với nhiều thành phần dân tộc như Việt, Hoa, Khmer, Chăm và một số dân tộckhác Trong đó người Việt chiếm tỷ lệ nhiều nhất
Văn hóa: Được tách ra từ huyện Thủ Đức, quận 9 có bốn phường thuộc
“vùng bưng” kém phát triển, người dân ở các phường này đa số sống bằngnghề nông, điều kiện mức hưởng thụ văn hóa còn hạn chế Chỉ có một sốphường nằm trên trục đường Hà Nội là vùng thị tứ nên người dân ở đây cóđiều kiện tham gia và hưởng thụ các hoạt động văn hóa, thể thao Nhìn chungđời sống tinh thần của nhân dân trong quận những ngày đầu thành lập rấtnghèo nàn
Tôn giáo: Quận 9 có 10 đình, 23 chùa, 9 tịnh thất, 15 nhà thờ, 5 tu viện,
01 tiểu thánh đường Một số đình, chùa được Bộ Văn hóa công nhận là di tíchlịch sử như: Đình Phong Phú, chùa Phước Tường, chùa Hội Sơn Đình chùa ởquận 9 không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh của nhân dân mà còn là cơ sở cáchmạng, nơi cung cấp lương thực, tiền bạc, vận động phật tử tham gia cách
Trang 31mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâmlược như: chùa Bửu Thạnh (phường Long Trường), chùa Phước Tường(phường Tăng Nhơn Phú A), đình Phong Phú (phường Tăng Nhơn Phú B).Người dân quận 9 ngày nay, dù theo tôn giáo nào vẫn đoàn kết gắn bó vớinhau trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bànmình sinh sống.
Sau ngày thành lập, Đảng bộ và chính quyền quận đã chú ý đầu tư cơ sởvật chất, xây dựng và củng cố các hoạt động văn hóa ở cơ sở, đẩy mạnh việc
xã hội hóa các hoạt động văn hóa tạo ra nét khởi sắc mới trong hoạt động vănhóa của địa phương Với sự quan tâm của Đảng và các cấp chính quyền, đờisống vật chất và tinh thần của đồng bào theo đạo không ngừng được cải thiện.Các nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân được tôn trọng và đảm bảo Các lễ hội,sinh hoạt tôn giáo theo truyền thống được tạo điều kiện thuận lợi Các chứcsắc tôn giáo an tâm hành đạo gắn bó với dân tộc, sống tốt đời đẹp đạo, thamgia tích cực các hoạt động xã hội từ thiện, giáo dục, y tế… chấp hành đúngcác chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Những đặc điểm tình hình về địa hình, khí hậu, giao thông, dân số, vănhóa… trên đây ảnh hưởng lớn và theo mức độ khác nhau đến tình hình tộiphạm trên địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có Tội cướpgiật tài sản
2.1.2 Tình hình áp dụng pháp luật đối với tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 9
Áp dụng pháp luật theo nghĩa chung, đây là loạt động thực hiện phápluật, nó mang tính tổ chức quyền lực nhà nước; áp dụng pháp luật được thựchiện bởi cơ quan nhà nước và cơ quan này phải là cơ quan có thẩm quyền,hoặc được thực hiện bởi nhà chức trách hay các tổ chức xã hội khác được Nhànước trao quyền, mục đích của việc này nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật
Trang 32vào trong các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân cụ thể, tổ chức cụ thể Hoạtđộng áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ, hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do cơquan nhà nước có thẩm quyền và nhân viên nhà nước có thẩm quyền tiếnhành, có nghĩa rằng hoạt động áp dụng pháp luật không theo ý chí của các chủthể mà nó phải tuân theo theo quy định của pháp luật Điều này thể hiện tínhchất tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước trong các hoạt động áp dụng phápluật Hoạt động áp dụng pháp luật luôn gắn liền với quyền lực nhà nước đặcbiệt trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp, nên hoạt động áp dụng pháp luật có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực thi quyền lực nhà nước Thông qua hoạtđộng áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước có thẩmquyền ban hành các quyết định để thực thi trên thực tế các quyền và nghĩa vụchủ thể quan hệ pháp luật Do đó, một trong những hình thức thực hiện quyềnlực nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội chính là áp dụng phápluật
Trên địa bàn Quận 9, việc áp dụng pháp luật luôn được tuân thủ theođúng quy định của pháp luật TAND Quận 9 là cơ quan được giao quyền xét
xử các vụ án hình sự, hành chính, dân sự Hoạt động xét xử của TAND Quận
9 chính là hoạt động áp dụng pháp luật trong các lĩnh vực giải quyết án hình
sự, dân sự, hành chính khi TAND Quận 9 tiến hành thụ lý theo quy định củapháp luật Thẩm phán và Hội thẩm TAND là những chức danh hợp thành Hộiđồng xét xử của Tòa án TAND Quận 9 có quyền nhân danh nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án sẽ đưa ra những phán quyết nhằm thựchiện công lý và công bằng xã hội chủ nghĩa, theo những trình tự và nguyêntắc nhất định HĐXX của TAND nghiên cứu hồ sơ vụ án, đánh giá tính hợppháp và tính có căn cứ của các tình tiết sự việc có trong hồ sơ vụ án và tiếnhành xét xử, ; lựa chọn những quy phạm pháp luật phù hợp; sau đó HĐXX sẽban hành các bản án, quyết định theo một quy trình chặt chẽ, việc ban hành
Trang 33theo quy trình chặt chẽ như vậy nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền hợppháp của các chủ thể; buộc các chủ thể phải luôn luôn thực hiện đúng nghĩa
vụ của mình theo quy định của pháp luật
Trong quá trình HĐXX xét xử một vụ án hình sự, việc HĐXX tuyên bốmột người là có tội, và người đó phải chịu hình phạt theo một khung hình phạt
đã được pháp luật qui định thì nhất thiết phải thông qua hoạt động xét xử củaTòa án Một người không được coi là có tội khi người đó chưa bị Tòa án xét
xử và kết án theo các quy định của pháp luật Một người được coi là có tội thìngười đó phải được xét xử bằng một bản án của Tòa án và bản án đó đã cóhiệu lực pháp luật Việc xét xử của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quyđịnh của pháp luật tố tụng và phải trải qua các giai đoạn cụ thể như chuẩn bịxét xử, nghiên cứu hồ sơ, tổ chức phiên tòa xét hỏi, tổ chức và điều khiển việctranh luận, việc nghị án và ban hành bản án, quyết định của Tòa án Việc xét
xử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán
và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc mọi công dân đềubình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc xét xử tậpthể và quyết định theo đa số v.v chỉ có thông qua hoạt động xét xử, Tòa ánmới được phép ban hành các bản án, quyết định về hình sự, dân sự, hànhchính để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể, quyền và lợi ích hợp phápcủa cá nhân và các tổ chức đúng theo quy định của pháp luật Áp dụng phápluật trong hoạt động xét xử của TAND Quận 9 là một nội dung cụ thể, đặcbiệt và quan trọng của hình thức áp dụng pháp luật nói chung Áp dụng phápluật trong hoạt động xét xử của TAND Quận 9 là một trong những phươngtiện pháp lý trực tiếp và hữu hiệu để giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao ýthức tuân thủ pháp luật và xây dựng thói quen sử dụng pháp luật bảo vệ cácquyền, thực thi các nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân trong xã hội Với cơchế xét xử công khai có tranh tụng với một thủ tục chặt chẽ, tỉ mỉ, hoạt động
Trang 34áp dụng pháp luật của TAND Quận 9 có thể nói là một điển hình của việcthực hiện dân chủ và giữ gìn pháp chế trong đời sống xã hội.
Với đặc thù là một Quận thuộc nội thành TPHCM, là nơi cửa ngõ vàgiao thoa giữa Bình Dương, Đồng Nai, Quận 2 và Quận Thủ Đức, nơi cónhiều người dân các vùng miền đến sinh sống, nhiều khu công nghiệp đượcxây dụng nên thu hút lượng lớn người dân nhập cư ở nhiều nơi về sinh sống
và kinh doanh Người dân từ các vùng miền đến sinh sống trên địa bàn Quận
9, họ không có nơi ở ổn định, hầu hết họ chỉ tạm trú một thời gian ngắn nhằm
để kiếm các công việc thời vụ Việc những người dân đến sinh sống và làmviệc trên địa bàn Quận 9 sẽ giúp Quận 9 phát triển kinh tế , văn hóa, xã hội;tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực là mặt tiêu cực nó mang lại Đó là các
hệ quả xã hội như tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 9 luôn diễn biến rấtphức tạp và có xu hướng gia tăng, trong đó có tội cướp giật tài sản Chính vìthế việc xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn, áp dụng hình phạt đúng quyđịnh pháp luật, các bản án đưa ra hợp tình hợp lý đủ sức răn đe giáo dụcchung là nhiệm vụ rất quan trọng và khó khăn Tuy gặp khá nhiều khó khăn,nhưng nhìn chung trong thời gian vừa qua, TAND Quận 9 đã luôn luôn thựchiện tốt việc xử lý giải quyết các vụ án hình sự, cố gắng hạn chế tối đa sốlượng các bản án, quyết định của Tòa án, không để nhiều bản án hay quyếtđịnh bị hủy hoặc sửa do lỗi chủ quan; 100% các vụ không có người bị kết ánoan Trong suốt quá trình xét xử các vụ án hình sự nói chung trên địa bànQuận và các vụ án cướp giật tài sản nói riêng, các Thẩm phán luôn phấn đấu
để việc giải quyết các vụ án hình sự luôn đạt tỉ lệ giải quyết cao nhất, phiêntòa xét xử luôn đảm bảo tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp
Qua quá trình hoạt động thực tiễn gặp nhiều thuận lợi và khó khăn , nênviệc đúc rút, sơ kết, tổng kết, đánh giá lại thực tiễn áp dụng hình phạt trên địabàn Quận 9 luôn được các cơ quan có thẩm quyền chú trọng Trong giai đoạn
Trang 3505 năm (từ năm 2015 đến năm 2019), TAND Quận 9 đã thụ lý 404 vụ án/839
bị cáo; giải quyết 399 vụ án/832 bị cáo; xét xử 397 vụ án/826 bị cáo Trong đóđình chỉ 01 vụ án trên tổng số 02 bị cáo; có 01 vụ án Tòa án phải trả hồ sơViện kiểm sát ; Trong các vụ án được đưa ra xét xử , thì số các vụ án đưa raxét xử về Tội cướp giật tài sản là 98 vụ án trong tổng số 404 vụ của toànQuận, chiếm tỷ lệ 24%
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với tội cướp giật tài sản tại Quận 9
2.2.1 Thực tiễn định tội danh đối với tội cướp giật tài sản
Trong đời sống xã hội có nhiều người có hành vi gây nguy hại cho xãhội, nhưng không phải tất cả các hành vi gây nguy hại cho xã hội đều là tộiphạm Trong công tác xét xử án hình sự, yêu cầu là phải xét xử đúng ngườiđúng tội, và việc xác định đúng người phạm tội, đúng tội phạm đã phạm lại làtrách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự Để đạtđược yêu cầu này, thì vấn đề cơ bản là phải nắm vững nguyên tắc cơ bản vềxác Hiện nay trong thực tiễn định tội danh, có một số tội được mô tả có hành
vi khách quan mang những điểm tương tự nhau Trong thực tiễn việc xác địnhtội danh hiện nay gặp khá nhiều khó khăn và còn nhiều quan điểm tranh luậntrái chiều
Tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 9, TPHCM so với tổng số tộiphạm hình sự được khởi tố là lớn, từ năm 2015 đến năm 2019 CQĐT đã khởi
tố từ nguồn tố giác, từ các tin báo về tội phạm và từ việc bắt quả tang với tổng
số 93 vụ/ 139 bị can; Nổi lên là các đối tượng cướp giật tài sản hình thành ổnhóm , và ổ nhóm này ngày càng trẻ hóa về độ tuổi, chúng hoạt động rấtmanh động, liều lĩnh, táo bạo và được trang bị vũ khí sẵn sàng chống trả lựclượng chức năng và những người tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm,gây thương tích cho người khác khi bị đuổi bắt, gây hoang mang trong nội bộ
Trang 36quần chúng nhân dân,gây ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh trật tự, chínhtrị tại địa phương.
Hầu hết các hành vi phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 9,TP.HCM mà các đối tượng thực hiện đều được chúng chuẩn bị kỹ trước khigây án, như: Chuẩn bị phương tiện, quan sát những nạn nhân sơ hở trong quản
lý tài sản, chọn địa điểm dễ tẩu thoát nếu bị phát hiện, nơi có điều kiện giaothông thuận tiện Chúng sử dụng những thủ đoạn tinh vi để che giấu hành vicủa mình như: Tháo biển số xe, lắp biển số giả, bên cạnh đó chúng chuẩn bị ớtbột, gạch, đá để khi cần thiết sẽ ngăn cản sự truy bắt của nạn nhân hoặc củangười khác Tính nguy hiểm của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bànQuận 9, TP.HCM thể hiện ở chỗ, nó chỉ gây ra những thiệt hại về tài sản, gây
ra những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người khác Nhiều vụ cướp giậttài sản mà các đối tượng sử dụng xe gắn máy làm phương tiện phạm tội, cácđối tượng thường lựa chọn những“con mồi” mà luôn sơ hở mất cảnh giác, vídụ: nạn nhân vừa chạy xe vừa nghe điện thoại, nạn nhân đeo vòng vàng, dâychuyền, bông tai, túi xách có giá trị Nhiều vụ án xảy ra quá nhanh, nạn nhân
bị bất ngờ đã không làm chủ được tay lái , dẫn đến nạn nhân bị ngã xe gâythương tích cho bản thân mình và cho những người tham gia giao thông khác,một số trường hợp còn dẫn đến tử vong Các đối tượng cướp giật tài sản trênđịa bàn Quận, TPHCM chủ yếu nhắm vào những người là phụ nữ, bởi nhữngngười này thường mang theo trên người những tài sản có giá trị, do đặc tínhchân yếu tay mềm nên ít có khả năng chống trả, truy đuổi hơn các đối tượng
là nam giới
Theo quy định tại Mục I - Thông tư VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 về hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự thì tình
02/2001/TTLT-TANDTC-tiết: "Dùng thủ đoạn nguy hiểm" quy định tại tội cướp giật tài sản của Bộ Luật
Trang 37hình sự là dùng thủ đoạn để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến tính mạng,sức khoẻ của người bị hại hoặc của người khác như dùng xe mô tô, xe máy để
thực hiện việc cướp giật tài sản; cướp giật của người đang đi mô tô, xe máy
Cần chú ý là trong trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm để cướp giật tài sản
mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, thì phải áp dụng cả hai tình tiết định khunghình phạt…
Về việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị
sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng được xác định theo giá thịtrường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt, bịchiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng.Trong trường hợp có đầy đủ cằn cứ chứng minh rằng người có hành vi xâmphạm sở hữu có ý định xâm phạm đến tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủquan của họ, thì lấy giá trị tài sản đó để xem xét việc truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người có hành vi xâm phạm
Ví dụ 1: A thấy một người vừa nhận ở kho bạc 100 triệu đồng bỏ vàomột chiếc túi xách để trước giỏ xe máy nên có ý định cướp giật 100 triệu đồngnày A lấy xe máy đi theo người vừa nhận tiễn và đã cướp giật được chiếc túixách này, nhưng trong chiếc túi xách này chỉ còn có 200 nghìn đổng, bởi vì
100 triệu đồng người nhận tiền đã bỏ vào cốp xe máy Trong trường hợp nàyphải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A theo các điểm d và g khoản 2Điều 136 BLHS
Ví dụ 2: B thấy C đeo một chiếc nhẫn mầu vàng Qua các nguồn tin Btưởng đây là nhẫn bằng vàng 9,999, có trọng lượng 2 chỉ, nên đã dùng thủđoạn gian dối và đã chiếm đoạt được chiếc nhẫn này Trong trường hợp nàyphải lấy trị giá của một chiếc nhẫn bằng vàng 9,999 với trọng lượng 2 chỉ theothời giá tại địa phương vào thời điểm chiếm đoạt để xem xét việc truy cứutrách nhiệm hình sự đối với B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Trang 38Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vixâm phạm sở hữu có ý định xâm phạm đến tài sản, nhưng không quan tâmđến giá trị tài sản bị xâm phạm (trị giá bao nhiêu cũng được), thì lấy giá thịtrường của tài sản bị xâm phạm tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâmphạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vixâm phạm.
Ví dụ: M thấy một chiếc xe máy dựng trước cửa của một gia đình nên đãvào lấy trộm không quan tâm đó là xe Trung Quốc hay xe Nhật Bản Trongtrường hợp này nếu là xe Trung Quốc thì xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạttheo giá trị xe Trung Quốc; nếu là xe Nhật Bản thì xác định giá trị tài sản bịchiếm đoạt theo giá trị xe Nhật Bản
Để xác định đúng giá trị tài sản bị xâm phạm trong trường hợp tài sản bịxâm phạm không còn nữa, cơ quan điều tra cần lấy lời khai của những ngườibiết về tài sản này để xác định đó là tài sản gì; nhãn, mác của tài sản đó nhưthế nào; giá trị tài sản đó theo thời giá thực tế tại địa phương vào thời điểm tàisản bị xâm phạm là bao nhiêu; tài sản đó còn khoảng bao nhiêu phần trăm…
để trên cơ sở đó có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bị xâm phạm
Hướng dẫn điểm a khoản 2 “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”:
Về tình tiết “sử dụng thủ đoạn nguy hiểm khác” hoặc “dùng thủ đoạnnguy hiểm”.“Thủ đoạn nguy hiểm khác” quy định tại điểm d khoản 2 Điều
133 BLHS là ngoài các trường hợp sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm đểthực hiện việc cướp tài sản, người phạm tội có thể dùng thủ đoạn khác nguyhiểm đối với người bị tấn công hoặc những người khác như sử dụng thuốcngủ, thuốc mê với liều lượng có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ củanạn nhân; đầu độc nạn nhân; nhốt nạn nhân vào nơi nguy hiểm đến tính mạng,sức khoẻ; dùng dây chăng qua đường để làm cho nạn nhân đi mô tô, xe máyvấp ngã để cướp tài sản…“Thủ đoạn nguy hiểm khác” quy định tại điểm d
Trang 39khoản 2 Điều 134 BLHS là ngoài các trường hợp sử dụng vũ khí, phương tiệnnguy hiểm để thực hiện việc bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạttài sản, người phạm tội có thể dùng thủ đoạn khác nguy hiểm đối với người bịbắt làm con tin hoặc những người khác như sử dụng thuốc ngủ, thuốc mê vớiliều lượng có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân hoặc đầuđộc người bị bắt làm con tin để việc thực hiện bắt cóc được dễ dàng; nhốtngười bị bắt làm con tin vào nơi nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ…, cũng
có thể đầu độc những người khác để họ không thể cản trở được việc bắt làmcon tin…“Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136BLHS là dùng thủ đoạn để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến tính mạng, sứckhoẻ của người bị hại hoặc của người khác như dùng xe mô tô, xe máy đểthực hiện việc cướp giật tài sản; cướp giật của người đang đi mô tô, xe máy…Cần chú ý là trong trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm để cướp giật tài sản
mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, thì phải áp dụng cả hai tình tiết định khunghình phạt quy định tại các điểm d và h khoản 2 Điều 136 BLHS
Hướng dẫn điểm d khoản 2 “Hành hung để tẩu thoát”: Khi áp đụng tìnhtiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý: Phạm tội thuộc trường hợp
“hành hung để tẩu thoát” là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạtđược tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữhoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữhoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã… nhằm tẩu thoát.Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt đượctài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạmtội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bịhại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này
Trang 40không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấuthành tội cướp tài sản.
Do vậy, tình hình xét xử đối với Tội cướp giật tài sản được các Ngành,các cấp có thẩm quyền ở Quận 9 quan tâm chỉ đạo thường xuyên, Khi xét xửloại tội phạm này, mức hình phạt áp dụng thường rất nghiêm khắc nhằm đểrăn đe tội phạm khác sẽ xảy ra và mang tính phòng ngừa chung
Bảng 2.1 Số liệu phản ánh tình hình khởi tố, truy tố và xét xử tội cướp giật tài sản tại quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến năm 2019.
Dựa vào bản số liệu trên cho ta thấy rõ tình hình khởi tố, truy tố và xét
xử tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận 9, TP Hồ Chí Minh từ 2015 đến
2019 như sau:
Năm 2015, CQĐT đã khởi tố 40 vụ/ 50 bị can; VKS truy tố 27 vụ/47 bị can; TAND đã xét xử 25 vụ/ 46 bị cáo
Năm 2016, CQĐT đã khởi tố 28 vụ/ 25 bị can; VKS đã truy tố 16 vụ/22
bị can; TAND đã xét xử 14 vụ/20 bị cáo
Năm 2017, CQĐT đã khởi tố 29 vụ/ 25 bị can; VKS đã truy tố 23 vụ/ 23
bị can; TAND đã xét xử 21 vụ/26 bị cáo
Năm 2018, CQĐT đã khởi tố 25 vụ/ 24 bị can; VKS đã truy tố 25 vụ/ 21
bị can; TAND đã xét xử 18 vụ/ 22 bị cáo