1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn huyện hoài ân, tỉnh bình định

70 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 465,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là docác cơ quan áp dụng pháp luật chưa nhận thức được đầy đủ các quy định củaBLHS về trách nhiệm hình sự, hình phạt và việc quyết

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIỆT NAM

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI

18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN

HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIỆT NAM

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI

18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng của tôi

Số liệu và kết quả nghiên cứu đề cập trong Luận văn là trung thực có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

Tác giả

Nguyễn Việt Nam

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 91.1 Khái niệm và các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người dưới

18 tuổi phạm tội 91.2 Khái quát lịch sử phát triển quy định của pháp luật về quyết định hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đến trước khi ban hành Bộ luậtHình sự năm 2015 141.3 Quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong

pháp luật một số nước trên thế giới 20

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BLHS NĂM 2015 VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI

ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 262.1 Quy định của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội 262.2 Thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội củaTAND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định 36

CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 503.1 Yêu cầu đảm bảo áp dụng đúng quy định về quyết định hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội 50

Trang 5

3.2 Giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định về quyết định hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội 52

KẾT LUẬN 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật Hình sự

BLTTHS: Bộ luật Tố tụng Hình sự.NCTN: Người chưa thành niên.TNHS: Trách nhiệm hình sự.TAND: Tòa án nhân dân

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao.CTKGG: Cải tạo không giam giữ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê các vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện đã

được xét xử trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định từ năm 2016 đến

6 tháng đầu năm 2020 38Bảng 2.2 Thống kê các vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện đã được thụ

lý, giải quyết trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định Định từ năm

2016 đến 6 tháng đầu năm 2020 39Bảng 2.3 Thống kê người dưới 18 tuổi phạm tội theo nhóm tuổi trên địa

bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định từ năm 2016 đến 6 tháng đầu năm

2020 40Bảng 2.4 Hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địabàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định từ năm 2016 đến 6 tháng đầu năm

2020 41

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới đất nước, những năm qua tình hình kinh tế

-xã hội của tỉnh Bình Định nói chung, huyện Hoài Ân nói riêng đã có nhữngbước phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể Đời sống của nhân dânđược đảm bảo; tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữvững; đã triển khai và tổ chức thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa,đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm; công tác điều tra, truy tố, xét xử, thihành án đảm bảo đúng quy định pháp luật, không xảy ra oan sai, lọt tội phạm

Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội cả nước nói chung, ở tỉnh và huyệnnói riêng còn nhiều khó khăn; tình hình tội phạm chưa có chiều hướng giảm,các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, hành chính tiếp tục giatăng và ngày càng phức tạp, trong đó có tình trạng người dưới 18 tuổi phạmtội Theo thống kê, trong những năm gần đây, tình trạng tội phạm do ngườidưới 18 tuổi thực hiện ngày càng tăng cả về số lượng và mức độ phạm tội.Nếu những năm trước đây người người dưới 18 tuổi thường thực hiện cáchành vi trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích không gâynguy hại lớn thì hiện nay thủ đoạn phạm tội của các đối tượng này không cònđơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng

và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguyhiểm cao Từ đó có thể thấy, tình hình vi phạm pháp luật người dưới 18 tuổigây ra tiếp tục diễn biến phức tạp với tính chất, mức độ phạm tội ngày càngnguy hiểm Có nhiều vụ án các bị cáo là người dưới 18 tuổi thực hiện thuộctrường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là 20năm tù, chung thân hoặc tử hình, như các hành vi phạm tội rất nghiêm trọng

và đặc biệt nghiêm trọng như: giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, ma

Trang 9

túy Do vậy, vấn đề quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tộitrở thành vấn đề quan trọng; việc quy định TNHS và quyết định hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS một cách hợp lý sẽ có ý nghĩaquan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng đượcyêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước nói chung, trên địa bàn huyệnHoài Ân, tỉnh Bình Định nói riêng.

Chính sách hình sự của đảng và Nhà nước đối với người dưới 18 tuổiphạm tội có vị trí quan trọng trong phòng, chống tội phạm ở nước ta, nên đãban hành nhiều văn bản pháp luật với nhiều nội dung điều chỉnh đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn cònnhiều hạn chế Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là docác cơ quan áp dụng pháp luật chưa nhận thức được đầy đủ các quy định củaBLHS về trách nhiệm hình sự, hình phạt và việc quyết định hình phạt đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội, với các biểu hiện như: việc quyết định hình phạtquá nặng hoặc quá nhẹ, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặctình tiết tăng nặng chưa đúng, đánh giá chưa chính xác căn cứ tính chất, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; v.v… Ngoài ra, các quy địnhcủa BLHS về vấn đề này còn một số hạn chế, vướng mắc nhất định, chưa đápứng được các yêu cầu của thực tiễn xã hội, như: chưa quy định việc quyếtđịnh hình phạt trong các trường hợp đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi phạmtội, mức cao nhất của khung hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt; v.v

Theo khảo sát, tính đến thời điểm hiện tại thì trên địa bàn tỉnh BìnhĐịnh chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ vấn

đề về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; với mongmuốn đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện các quy định của BLHS vềquyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, từng bước đáp ứng

Trang 10

yêu cầu cải cách tư pháp của nước ta giai đoạn hiện nay Vì vậy, học viên

quyết định lựa chọn đề tài: “Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định” làm Luận văn Thạc

sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của Hội đồng xét xử, là kếtquả cuối cùng của hoạt động xét xử, để việc quyết định hình phạt phải đảmbảo tính chính xác thì không thể tách rời với việc định tội danh chính xác.Ngoài việc định tội danh chính xác làm tiền đề cho hoạt động quyết định hìnhphạt thì Tòa án còn phải xem xét cân nhắc đến các yếu tố khác như tình hìnhchính trị, kinh tế, xã hội của từng địa phương nơi có tội phạm xảy ra cũng nhưyêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa, phòng chống tội phạm và các yếu tốkhác được quy định trong BLHS để làm căn cứ quyết định hình phạt

Trong thực tiễn đã có nhiều công trình nghiên cứu và một số bài viết vềhình phạt nói chung và quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội nói riêngnhư:

2.1 Các luận án, luận văn: Hồ Sĩ Sơn (2007), Nguyên tắc nhân đạo trong Luật Hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật; Hoàng Minh Đức (2016) Luận án tiến sĩ luật học “Chính sách hình

sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Xuân Bốn, Luận văn thạc sĩ luật học “Các căn cứ quyết định hình phạt từ thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương”,

2.2 Các sách tham khảo giáo trình:Võ Khánh Vinh (2002), Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, phần chung, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, phần chung, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội.Võ Khánh Vinh (1994) PGS.TS Trịnh Quốc Toản

Trang 11

(chủ biên), Tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007;

TS Hoàng Văn Hùng, “Chương XVI - Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội”, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000 (GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên);

PGS.TS Trần Đình Nhã, “Chương XXIV - Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội”, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003 (GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên);

GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, “Chương 27 - Phòng ngừa các tội phạm do người chưa thành niên gây ra”, Trong sách: Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; ThS Trịnh Đình Thể,

Áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2006; TS Vũ Đức Khiển, Bùi Hữu Hùng, Phạm Xuân Chiến,

Đỗ Văn Hán, TS Trần Phàn, Phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1987; 8) ThS Trần Đức Châm, Thanh, thiếu niên làm trái pháp luật - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2002

2.3 Các bài báo khoa học: Võ Khánh Vinh (Tạp chí Luật học số 4/1986) “Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội”; Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội,ThS Trương Hồng Sơn, Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề quyền của người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí điện

tử ngày 20/8/2009 (Http://hvcsnd.edu.vn/); TS Trịnh Tiến Việt, Những khía

cạnh pháp lý hình sự về các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7, 8/2010

2.4 Những điểm kế thừa và phát triển

Trang 12

Luận văn là một công trình nghiên cứu dưới góc độ Luật Hình sự và Tốtụng Hình sự, có sự tiếp thu tri thức của các công trình khoa học đã được công

bố trước đây về vấn đề hình phạt và quyết định hình phạt người dưới 18 tuổiphạm tội, đi sâu phân tích, luận giải một cách có hệ thống và khoa học vềnhững vấn đề khác nhau có liên quan đến lý luận và thực tiễn quyết định hìnhphạt người dưới 18 tuổi phạm tội hiện nay, từ đó kiến nghị hoàn thiện quyđịnh pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổiphạm tội và đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng quyết địnhhình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói chung, trên địa bàn huyệnHoài Ân, tỉnh Bình Định nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một cách tổng thể về lý luận, căn cứ pháp lý vàthực tiễn Tòa án áp dụng quy định của BLHS Việt Nam khi quyết định hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnhBình Định; luận văn chỉ ra những vướng mắt, hạn chế và một số giải pháp gópphần nâng cao chất lượng quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổiphạm tội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết nhữngvấn đề sau:

- Tìm hiểu lý luận quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới

18 tuổi phạm tội như: khái niệm về quyết định hình phạt và quyết định ngườidưới 18 phạm tội; các căn cứ quyết định hình phạt và nguyên tắc xử lý đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội; các biện pháp tư pháp; hình phạt và quyết địnhhình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trang 13

- Khái quát lịch sử phát triển quy định của pháp luật về quyết định hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đến trước khi ban hành Bộ luật Hình

- Luận văn đã chỉ ra yêu cầu đảm bảo áp dụng đúng quy định về quyếtđịnh hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và những giải phápnâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự hiện hành vềquyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn quyếtđịnh hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua các báo cáo, các

số liệu và các bản án của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu và đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội tại địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định từnăm 2015 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn lấy phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng

Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sự

Trang 14

đối với NCTN làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của mình.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu, như: Phương phápphân tích; phương pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp nghiên cứu tài liệu;phương pháp so sánh; phương pháp giải quyết các vụ án điển hình để phântích các căn cứ khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề khoa học cầnnghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về thực tiễnquyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn huyệnHoài Ân, tỉnh Bình Định, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung vàquyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được thực trạng quy định củapháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn quyết định hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội Thông qua kết quả nghiên cứu của luận văn

có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, học tập và sử dụng trong thựctiễn quyết định hình phạt, nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án khi giảiquyết các vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn huyệnHoài Ân, tỉnh Bình Định

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và lịch sử phát triển quy định củapháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạmtội

Trang 15

Chương 2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về quyết định hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhândân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Chương 3 Những giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quyết định hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1.1 Khái niệm và các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội

1.1.1 Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội

Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (The United Nation Convention onthe Rights of the Child - CRC) đã định nghĩa “trẻ em” là bất kỳ người nàodưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia có quy định khác BLHS năm 2015 sử

dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” để thay thế cho thuật ngữ “người chưa thành niên” được sử dụng trong BLHS năm 1999 Như vậy, theo quy định

của BLHS năm 2015 thì tất cả những người chưa thành niên đều được gọi làngười dưới 18 tuổi, người từ đủ 18 tuổi trở nên được tham gia vào mọi quan

hệ pháp luật và tự chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi mà mình đãthực hiện Dựa trên đặc điểm về tâm lý của người chưa thành niên, cho thấyngười chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, còn hạnchế về nhận thức và kỹ năng sống, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt độngmang tính thiếu suy nghĩ dẫn đến vi phạm pháp luật Do vậy, việc chăm sóc,giáo dục người chưa thành niên là trách nhiệm của Nhà nước và cả hệ thốngchính trị Trong quá trình xây dựng pháp luật, Đảng và Nhà nước ta đã cónhiều cố gắn, từng bước hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa

thành niên phạm tội, đáp ứng với nội dung của Công ước năm 1989“Trẻ em

do còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, kể

cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” và Quy

tắc của Liên hiệp quốc thông qua ngày 14-12-1990

Trang 17

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục ”(Điều 37) Luật trẻ em năm 2016 quy định: “ Không phân biệt đối xử với trẻ em Bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ

em trong các quyết định liên quan đến trẻ em Tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em ” Hiến pháp và pháp luật nước ta

luôn coi trẻ em, người dưới 18 tuổi là đối tượng cần bảo vệ, chăm sóc và quantâm đặc biệt đối với cả hai trường hợp, khi họ là chủ thể của tội phạm cũngnhư khi họ là nạn nhân của tội phạm Nhận thức này đã được thể chế hóatrong các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luậtthi hành án hình sự cũng như pháp luật về phòng ngừa tội phạm, là cơ sở pháp

lý cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạmtội, đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm

Như vậy, người chưa thành niên phạm tội nói chung là người mà tạithời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự chưađến tuổi trưởng thành nhưng có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đủ tuổichịu trách nhiệm hình sự theo luật định Vận dụng vào các điều kiện cụ thểtrong pháp luật thực định của Việt Nam thì khái niệm này được định nghĩa

như sau: Người chưa thành niên phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 14 nhưng chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Bộ luật hình sự quy định là loại tội phạm mà người đó phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm phải.

1.1.2 Khái niệm quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trong thực tiễn có rất nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này, như:

TS Nguyễn Ngọc Chí cho rằng: Quyết định hình phạt“Là việc nhận thức và

áp dụng pháp luật hình sự do Toà án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để

Trang 18

quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) mức hình hạt cụ thể áp dụng cho các nhân người phạm tội trong phạm

vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức đọ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự” TS Nguyễn Văn Hiện đưa ra định nghĩa Quyết định hình phạt là: “Kết quả pháp lý của quá trình điều tra, truy tố, xét xử, là kết quả mang tính Nhà nước về áp dụng loại và hình phạt đối với người phạm tội” Theo TS Phạm Minh Tuyên thì khái niệm này được hiểu là: “Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án trong việc cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể bao hồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội”.

Như vậy, có thể khẳng định: Quyết định hình phạt là hoạt động tư duycủa Hội đồng xét xử là kết quả cuối cùng của hoạt động xét xử, để việc quyếtđịnh hình phạt phải đảm bảo tính chính xác thì không thể tách rời với việcđịnh tội danh chính xác Ngoài việc định tội danh chính xác làm tiền đề chohoạt động quyết định hình phạt thì Tòa án còn phải xem xét cân nhắc đến cácyếu tố khác như tình hình kinh tế - xã hội của từng địa phương nơi có tộiphạm xảy ra cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa và phòngchống tội phạm và các yếu tố khác được quy định trong BLHS để làm căn cứquyết định hình phạt

Quyết định hình phạt đối với người người dưới 18 tuổi phạm tội làtrường hợp đặc biệt; tính chất này thể hiện khi quyết định hình phạt phải nhẹhơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết khác tương đương vàmức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức tuổi của người phạm tội Lý do ngườingười dưới 18 tuổi được hưởng chính sách hình sự đặc biệt của Nhà nước khi

Trang 19

họ có hành vi phạm tội, vì người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ

về thể chất, tâm sinh lí, chưa thể nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi mà mình thực hiện Nhận thức của họ thường thiếu chín chắn, họ

dễ bị kích động, lôi kéo bởi những người xung quanh, nếu ở môi trường xấu

và không được chăm sóc giáo dục tốt, người người dưới 18 tuổi dễ bị ảnhhưởng dẫn đến vi phạm pháp luật Cho nên, người dưới 18 tuổi phải chịutrách nhiệm hình sự khác với người trên 18 tuổi Chính vì thế, khi quyết địnhhình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải nhẹ hơn so với người đã

thành niên Như vậy, có thể xem: “Quyết định hình phạt đối với người dưới

18 tuổi phạm tội là việc Hội đồng xét xử lựa chọn và đưa ra chế tài hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, theo quy định pháp luật hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các đặc điểm nhân thân của người dưới 18 tuổi và những chính sách hình sự đặc biệt đối với họ”.

1.1.3 Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Luật Hình sự là một hệ thống các nguyên tắc để chỉ đạo toàn bộ hoạtđộng xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự Vì vậy, hoạt động quyết địnhhình phạt nhất định phải chịu sự tác động bởi các nguyên tắc chung của LuậtHình sự Tuy nhiên, để quyết định hình phạt một các chính xác đối với ngườiphạm tội, các nguyên tắc chung của luật hình sự phải được cụ thể hóa thànhcác nguyên tắc riêng trong hoạt động quyết định hình phạt của Hội đồng xét

xử nhằm đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách đúng đắn đối vớingười phạm tội bị kết án

Khi quyết định hình phạt, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo; nguyên tắc cá thể

-hóa hình phạt [16, tr.237] Tuy nhiên, cũng có một số nhà khoa học bổ sung

Trang 20

thêm nguyên tắc công bằng Tác giả tán thành với quan điểm cho rằng trong

quyết định hình phạt phải có nguyên tắc công bằng vì, “quyết định hình phạt

đúng pháp luật, công bằng là tiền đề, điều kiện để đạt được các mục đích củahình phạt Nguyên tắc công bằng khi quyết định hình phạt đòi hỏi Tòa ánphải tuyên hình phạt phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức phápluật và đạo đức xã hội chúng ta… định hướng để Tòa án quyết định hình phạtdựa trên cơ sở pháp luật và công bằng” Ngoài những nguyên tắc chung, Tòa

án còn phải tuân thủ các nguyên tắc riêng khi quyết định hình phạt đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội, cụ thể như sau:

- Nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt: Như đã nêu trên, người dưới 18 tuổi

phạm tội là những người chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần,khả năng nhận thức hạn chế, hành vi bồng bột, dễ bị rủ rê, tác động nên việctrừng phạt họ cần khoan hồng hơn so với người đã thành niên Do đó, hìnhphạt phải được quyết định đối với người dưới 18 tuổi theo hướng giảm nhẹ;tuy nhiên, mức độ giảm nhẹ hình phạt đối với người người dưới 18 tuổi đượcxác định trong khuôn khổ luật định chứ không phải giảm nhẹ một cách tùytiện dẫn đến không tương xứng với hành vi phạm tội

* Nguyên tắc coi trọng và đề cao mục tiêu giáo dục, cải tạo người dưới

18 tuổi phạm tội: Việc quyết định hình phạt nói chung đều nhằm đến kết quả

đạt được các mục đích của hình phạt là: trừng trị, cải tạo, phòng ngừa nhưngtrong quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên thì mục tiêu giáodục, cải tạo cần đặc biệt coi trọng hơn Bản chất của con người không phảisẵn có khi người đó sinh ra, điều đó thể hiện trong câu thơ của Hồ Chủ tịch:

“Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên” Do không

phải bản chất sẵn có của tất cả người phạm tội nên dù có phạm lỗi đến đâuđều có khả năng giáo dục để trở thành một công dân có ích Người dưới 18tuổi lại càng có khả năng phục thiện cao hơn vì tâm sinh lý của họ đang trong

Trang 21

quá trình hình thành, dễ cải tạo nếu nhận được sự giáo dục, giúp đỡ, khi hoànlương họ cũng có nhiều cơ hội đóng góp cho xã hội hơn so với người đã thànhniên Vì vậy, khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tộiphải đặt mục tiêu giáo dục lên hàng.

- Nguyên tắc không áp dụng các hình phạt đặc biệt nghiêm khắc: Xuất

phát từ nguyên tắc giảm nhẹ và coi trọng mục tiêu giáo dục người dưới 18tuổi phạm tội, nên những hình phạt nghiêm khắc cần cần phải được loại bỏ.Bởi vậy, trong hệ thống hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không

có loại hình phạt loại bỏ hoàn toàn người phạm tội ra khỏi xã hội như hìnhphạt tù chung thân hoặc tử hình Hình phạt tù có thời hạn cũng được hạn chế

áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

- Nguyên tắc hạn chế việc cách ly người dưới 18 tuổi phạm tội khỏi đời sống xã hội: Người dưới 18 tuổi hầu hết là những người chưa có khả năng

sinh sống độc lập mà còn lệ thuộc vào sự nuôi dưỡng, quan tâm, chăm sóc,giáo dục của gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội nơi họ sinh sống Đócũng là môi trường cần thiết cho sự phát triển nhân cách bình thường củangười chưa thành niên Do vậy, khi lựa chọn biện pháp xử lý chưa thành niênphạm tội cần hạn chế tối đa việc áp dụng hình phạt cách ly họ khỏi môitrường sống bình thường, bảo đảm cho họ có thể cải tạo, giáo dục trong môitrường ngoài xã hội

1.2 Khái quát lịch sử phát triển quy định của pháp luật về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015

Từ năm 1945 đến trước năm 1985, Nhà nước ta đã nỗ lực ban hànhnhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự, nhưngtrong giai đoạn này vấn đề quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổiphạm tội chưa được đề cập đến một cách chính thức trong các văn bản luật

Trang 22

mà chủ yếu thể hiện qua các hướng dẫn áp dụng pháp luật của ngành Tòa án,nguyên nhân là do điều kiện chiến tranh, hạn chế về công tác lập pháp…Chỉthị số 46-TH ngày 14/01/1969 của TANDTC về việc tăng cường và phát huyhơn nữa tác dụng của Tòa án trong công tác bảo vệ trật tự, trị an, bảo vệ tàisản của nhà nước và quản lý thị trường ở thành phố Hà Nội đã lần đầu tiên đềcập đến NCTN, trong đó có quy định: Đối với trẻ em hư dưới 14 tuổi thìkhông đưa ra Tòa án xét xử; từ 14 đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cầnthiết phải đưa xét xử thì châm trước đến tuổi còn non trẻ của chúng; riêng đốivới loại từ 14 đến 16 tuổi, chỉ nên xét xử trong những trường hợp phạm tộinghiêm trọng Chỉ thị này đã quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự và phânhóa mức độ chịu TNHS của NCTN, theo đó người từ 14 tuổi trở lên phải chịutrách nhiệm hình sự nhưng nếu chưa đến 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệmtrong trường hợp phạm tội nghiêm trọng Hơn nữa, Chỉ thị bước đầu đề ra yêucầu của việc xem xét TNHS (là nền tảng của nguyên tắc quyết định hình phạt)đối với NCTN phạm tội Sau Chỉ thị số 46-TH, Báo cáo tổng kết củaTANDTC tiếp tục hướng dẫn đường lối xử lý NCTN phạm tội: Về nguyêntắc, từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu TNHS Đối với độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi,nếu hành vi phạm pháp có tính chất tương đối nghiêm trọng, nói chung cầnxét xử, nhưng so với người lớn cần xử nhẹ hơn Hướng dẫn này có một bướctiến trong quy định về tuổi chịu TNHS, phải là tuổi đủ - “đủ 14 tuổi tròn trởlên” chứ không phải là đến 14 tuổi Mức độ chịu TNHS tương ứng với tuổicủa NCTN phạm tội cũng được phân hóa rõ ràng hơn Mặc khác, Báo cáo đãđặt ra những yêu cầu của quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội: xửnhẹ hơn người lớn và nhằm mục đích giáo dục là chủ yếu Báo cáo tổng kếtcũng đề xuất việc ưu tiên áp dụng các biện pháp tư pháp thay vì hình phạt tùđối với NCTN phạm tội Xử phạt tù giam, nhất là những án phạt tù ngắn hạnhoàn toàn không thích hợp với lứa tuổi đó và cũng không đạt được một tác

Trang 23

dụng thiết thực nào Quan điểm nhận thức được thống nhất ở đây là hình phạt

tù không thích hợp và hiệu quả để cải tạo NCTN phạm tội nên khi xét xử đốitượng này, các tòa án phải ưu tiên áp dụng các biện pháp như: giao cho giađình bảo lãnh và giáo dục hoặc cho hưởng án treo Do chưa có một Bộ luậtthống nhất, nên ở giai đoạn này quy định về quyết định hình phạt đối vớiNCTN phạm tội cũng nằm rải rác trong cả các văn bản hướng dẫn về tội phạm

cụ thể Chẳng hạn như về các tội phạm tình dục, Hướng dẫn số 329-HS2 ngày11/2/1967 của Tòa án nhân dân tối cao đã đề ra yêu cầu áp dụng biện pháp tưpháp thay thế hình phạt nhằm mục đích giáo dục NCTN phạm tội: Riêng đốivới các can phạm còn ít tuổi (phạm tội hiếp dâm), cần phân biệt đối với nhữngcan phạm trong lứa tuổi, từ khoảng 14 đến 16, chủ yếu dùng những biện phápgiáo dục như: giao cho cha, anh, chú, bác bảo lĩnh và giáo dục; giữ trong cáctrại giáo dưỡng vị thành niên; chỉ trong một số ít trường hợp có tình tiết thực

sự nghiêm trọng mới cần xét xử Những biện pháp tư pháp được đề xuất ở đâycho đến hiện nay vẫn còn nguyên giá trị sử dụng (được quy định chính thứctrong BLHS hiện hành bằng biện pháp - Đưa vào trường giáo dưỡng và giáodục tại xã, phường, thị trấn) Không chỉ đề xuất áp dụng biện pháp tư pháp,Hướng dẫn 329-HS2 còn nêu căn cứ quyết định hình phạt và xác định mứchình phạt giảm nhẹ cụ thể trong trường hợp cần áp dụng hình phạt đối vớiNCTN phạm tội: Khi xét xử cần chiếu cố thích đáng đến trình độ hiểu biếtpháp luật non kém và khả năng dễ cải tạo, giáo dục, đến việc NCTN nhậnthức chưa đầy đủ tính chất nguy hiểm của hành vi của mình mà xử nhẹ hơncác can phạm đã lớn tuổi… Vấn đề loại trừ hình phạt tử hình đối với

người chưa thành niên phạm tội cũng đã được đặt ra trong hoạt động quyếtđịnh hình phạt bởi Bản tổng kết số 452-HS2 ngày 10/8/1970 của Tòa án nhândân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người: Vì tội giết người là một tộihết sức nguy hiểm mà lứa tuổi từ 14 tuổi tròn trở lên đã có thể nhận thức được

Trang 24

ít nhiều, cho nên, cần truy tố xử các trường hợp giết người mà người phạm tội

có từ 14 tuổi tròn trở lên Tuy nhiên, vì nhận thức của can phạm còn non nớt,cho nên cần xét xử nhẹ hơn Đối với các can phạm đã có từ 16 tuổi tròn trởlên cho đến dưới 18 tuổi một ít cũng có thể xử nhẹ một phần so với can phạm

đã lớn và đối với tất cả các loại can phạm này, nói chung, không nên áp dụnghình phạt tử hình Bên cạnh đó, nó còn phân hóa đối tượng NCTN phạm tội

để có chính sách xử lý phù hợp Tóm lại, trong giai đoạn từ Cách mạng ThángTám năm 1945 đến trước năm 1985, Việt Nam chưa có văn bản luật chínhthức quy định về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội Việc quyếtđịnh hình phạt cho đối tượng này được định hướng bởi các văn bản hướngdẫn áp dụng pháp luật trong ngành Tòa án, trong đó thể hiện các quan điểmchính: Một là, khi quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội phải chútrọng hiệu quả giáo dục, cải tạo; Hai là, cân nhắc việc không xử lý về hình sựhoặc ưu tiên áp dụng biện pháp tư pháp; Ba là, NCTN phạm tội phải đượcquyết định mức hình phạt giảm nhẹ hơn NCTN phạm tội tương tự và mức độgiảm nhẹ phân hóa theo độ tuổi (dưới 16 và 16 trở lên); Bốn là, không ápdụng hình phạt tù chung thân, tử hình

Năm 1985, lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành một đạo luật riêng, đã cómột chương riêng để quy định về NCTN phạm tội, tại Chương VII với tên gọi

“Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội” Điều 58 quy định

hai mức tuổi chịu TNHS như sau:

1 Người từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải TNHS về nhữngtội phạm nghiêm trọng do cố ý

2 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm

Theo quy định này NCTN phạm tội phải là người từ 14 tuổi trở lên (“từ

14 tuổi” chứ không phải tròn 14 tuổi), tuy nhiên điều luật nêu trên không xácđịnh đến bao nhiêu tuổi thì không được coi là NCTN phạm tội Việc xác định

Trang 25

NCTN phạm tội do không có căn cứ chính thức nên buộc phải tham chiếuquan điểm trong các ngành luật khác Điều đó sẽ dẫn đến cách hiểu: NCTNphạm tội là người phạm tội từ 14 tuổi nhưng chưa đến 18 tuổi vì Hiến phápnăm 1980 (Điều 57) và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 sử dụng cáchtính tuổi đến chứ không phải tuổi tròn (Điều 5) Theo đó người phạm tội khi

13 tuổi 1 ngày trở lên đến tròn 17 tuổi mới là NCTN phạm tội còn bước sangngày đầu tiên của tuổi 18 mà phạm tội thì sẽ không được coi là NCTN phạmtội nữa Tuy nhiên, hiểu như vậy lại không thống nhất với quy định ở Điều 65của chính Bộ luật này quy định về tổng hợp hình phạt đối với NCTN phạmtội Điều 65 lấy căn cứ tội phạm nặng nhất thực hiện trước khi đủ 18 tuổi vàkhi đã đủ 18 tuổi để phân hóa chính sách tổng hợp hình phạt Như vậy, cáchtính tuổi ở đây lại là tuổi đủ Tựu chung lại, do thiếu một định nghĩa pháp lý

về NCTN phạm tội nên BLHS năm 1985 sẽ gây ra việc áp dụng không thốngnhất

* Về căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội: Chương VIIkhông giải quyết mọi vấn đề liên quan đến NCTN phạm tội chỉ đặt ra một sốquy định đối xử đặc biệt áp dụng riêng cho NCTN phạm tội nên TNHS củaNCTN phạm tội đồng thời được xem xét trên cơ sở quy định của Chương VII

và các quy định chung khác của Bộ luật Căn cứ quyết định hình phạt đượcquy định ở Điều 37 BLHS năm 1985, gồm:

1 Các quy định của Bộ luật hình sự;

2 Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội;

3 Nhân thân người phạm tội;

4 Các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự

Theo đó, căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội chỉ có sự

khác biệt ở căn cứ thứ nhất Sẽ không phải là “Các quy định của Bộ luật hình sự” mà là “Các quy định của Chương VII và quy định khác của Bộ luật hình

Trang 26

sự mà không trái với quy định của Chương VII” Ngoài ra, việc phạm tội của

NCTN đa phần do hạn chế về nhận thức và tác động của điều kiện, hoàn cảnhsống Vì vậy, bên cạnh các căn cứ chủ yếu trên, khi quyết định hình phạt còncần cân nhắc đến khả năng nhận thức và nguyên nhân, điều kiện phạm tội bởi

vì Điều 59 quy định: Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành viphạm tội của NCTN, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khảnăng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm

* Về nguyên tắc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội: Việcquyết định hình phạt phải chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ NCTNphạm tội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội; khi quyếtđịnh hình phạt chú trọng áp dụng những biện pháp giáo dục, phòng ngừa với

sự tham gia tích cực của gia đình, nhà trường và xã hội, chỉ áp dụng hình phạttrong những trường hợp thực sự cần thiết và không áp dụng hình phạt chungthân hoặc tử hình NCTN phạm tội

BLHS năm 1999 đã bổ sung theo hướng:

Việc xử lý hành vi phạm tội của NCTN chủ yếu nhằm mục tiêu giáodục, giúp đỡ họ sữa sai lầm, để trở thành người có ích cho xã hội Cho nênNCTN phạm tội có thể được miễn truy cứu trách nhiệm Hình sự nếu phạm tội

ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tìnhtiết giảm nhẹ và được gia đình cơ quan tổ chức nhận giám sát giáo dục

Việc áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợpcần thiết và phải căn cứ tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểmcủa nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm

Không áp dụng hình phạt phạt tù chung thân hoặc tử hình đối vớiNCTN phạm tội, khi xét xử người ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi thì không

áp dụng các hình phạt bổ sung, hình phạt tiền Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa

Trang 27

án cho NCTN tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên

Theo quy định của BLHS năm 1999, việc quyết định hình phạt được tiến hành như sau:

Đối với phạt tiền: BLHS năm 1999 đã quy định phạt tiền được áp dụng

là hình phạt chính đối với NCTN phạm tội nếu người phạm tội ở độ tuổi từ đủ

16 đến dưới 18 tuổi và họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng Mức phạt tiền đốivới NCTN phạm tội không vượt quá 1/2 mức phạt tiền mà điều luật quy định

Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: BLHS năm 1999 quy địnhgiới hạn hình phạt áp dụng cho NCTN phạm tội không vượt quá 1/2 thời hạn

và điều luật quy định và không khấu trừ thu nhập của họ nếu họ bị kết án

Đối với hình phạt tù có thời hạn: Người phạm tội từ đủ 14 tuổi đếndưới 16 tuổi thì được áp dụng hình phạt nhẹ hơn người từ đủ 16 tuổi đến 18tuổi

Tóm lại, BLHS năm 1985, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp nước ta

đã đặt ra một hệ thống quy định riêng thể hiện chính sách hình sự riêng đốivới NCTN phạm tội Kế thừa BLHS năm 1985, BLHS 1999 đã thể hiện sâusắc tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, phùhợp với tư tưởng xuyên suốt là lấy giáo dục, phòng ngừa làm mục đích trungtâm đối với người phạm tội là người dưới 18 tuổi; điều người dưới 18 tuổiphạm tội có cơ hội cải tạo, sửa chữa những sai lầm để trở thành người có ích

1.3 Quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong pháp luật một số nước trên thế giới

1.3.1 Pháp luật hình sự Liên bang Nga

BLHS hiện hành của Liên bang Nga cũng đã xây dựng một Chươngriêng quy định về TNHS của NCTN phạm tội với những điều luật tương đồngvới pháp luật nước ta (Chương 14, Mục 5 - TNHS đối với NCTN) Theo đó,

Trang 28

NCTN là người thực hiện tội phạm đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi (Điều87) Điều 89 BLHS Liên bang Nga quy định về trường hợp quyết định hình

phạt đối với NCTN phạm tội [32].

Trước hết, về căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc tuân thủ các căn

cứ chung như: tính có lỗi của hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểmcho xã hội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thì khi quyết định hình phạt đốivới NCTN, Tòa án còn phải: Tính đến hoàn cảnh sinh sống và giáo dục, mức

độ phát triển tâm sinh lý, các đặc điểm khác về nhân thân khác và cả tầm ảnhhưởng của những người lớn tuổi hơn đối với chúng

Về hình phạt áp dụng đối với NCTN, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga

quy định: “Đối với NCTN phạm tội có thể quyết định hình phạt hoặc áp dụng biện pháp giáo dục bắt buộc” [32] Điều kiện để áp dụng biện pháp giáo dục

là: NCTN phạm tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng có thể được miễn tráchnhiệm hình sự nếu xác định được rằng việc giáo dục cải tạo NCTN phạm tội

có thể đạt được hiệu quả thông qua áp dụng các biện pháp giáo dục bắt buộc(Điều 90)

Ngoài ra, BLHS Liên bang Nga cũng loại trừ việc áp dụng hình phạt

tù chung thân, tử hình đối với NCTN phạm tội (Điều 88) Các hình phạt tước

tự do (tù giam, tù có thời hạn) được áp dụng đối với NCTN nhẹ hơn so vớingười trưởng thành và chỉ áp dụng đối với người từ 16 tuổi trở lên (Điều 88).Mức phạt tù giam được quyết định đối với NCTN phạm tội đủ 16 tuổi khituyên án là từ 01 tháng đến 04 tháng (thời hạn phạt giam đối với người thànhniên quy định tại Điều 55 là từ 01 tháng đến 06 tháng) Mức phạt tù đối vớiNCTN bị kết án là không quá 10 năm (thời hạn phạt tù đối người thành niênquy đinh tại Điều 57 là không quá 20 năm)

Đặc biệt, để hạn chế áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội, Bộluật Hình sự Liên bang Nga cũng được quy định về miễn trách nhiệm hình sự

Trang 29

và miễn chấp hành hình phạt có điều kiện đối với NCTN phạm tội Ngoài ra,

Bộ luật hình sự Liên bang Nga còn cho phép áp dụng các biện pháp xử lýchuyển hướng đối với NCTN như: Cảnh cáo; giao cho cha mẹ hoặc ngườithay cha mẹ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Buộc bồi thường thiệt hạigây ra; hạn chế sự nhàn rỗi và đặt ra những đòi hỏi riêng đối với cư xử NCTN

[32, Điều 90, 91].

Chương V Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cũng lưu ý: Trường hợpphạm nhân là NCTN được hưởng án treo, mà trong thời gian thử thách lạiphạm một tội mới, nhưng không đặc biệt nghiêm trọng thì Tòa án sẽ căn cứvào những tình tiết của vụ án và nhân thân người phạm tội có thể lặp lại quyếtđịnh về hình phạt án treo đối với người đó sau khi đã xác định thời hạn thửthách mới và buộc người này phải thực hiện những trách nhiệm đã được quy

định đối với được hưởng án treo căn cứ vào khoản 5 Điều 73 Bộ luật này [32, tr.130].

Như vậy, mặc dù có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên, khác vớiBLHS Việt Nam, BLHS Liên bang Nga quy định rõ nội dung và căn cứ quyếtđịnh hình phạt đối với NCTN phạm tội thành một điều luật độc lập, cũng nhưquy định những biện pháp xử lý chuyển hướng đối với đối tượng này nhằmmục đích giáo dục, phòng ngừa là chủ yếu

1.3.2 Pháp luật hình sự Nhật bản

Pháp luật hình sự của Nhật Bản là BLHS năm 1907, sửa đổi gần đâynhất năm 2011 BLHS Nhật Bản không quy định riêng về quyết định hìnhphạt đối với NCTN mà vấn đề chỉ được đề cập đến về mặt nguyên tắc bởiLuật NCTN Trong đó có xác định mục tiêu “không trừng phạt những NCTNphạm tội mà giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ

để thay đổi tính cách của NCTN phạm tội và tạo ra một môi trường giáo dục

để điều chỉnh NCTN đã mắc phải sai lầm” [12] Do không phải đạo luật hình

Trang 30

sự nên Luật NCTN của Nhật Bản không quy định chi tiết về việc quyết địnhhình phạt đối với NCTN phạm tội mà chỉ quy định nguyên tắc xét xử là phải

“chân tình, có lợi” cho NCTN và “cần có mọi cố gắng để bảo vệ cho đượcnhững thuộc tính cao đẹp nhất của NCTN và làm cho NCTN có niềm tin”

[12].

Nhìn chung, Nhật Bản là một đất nước có nền kinh tế - xã hội pháttriển, trong nhiều năm gần đây tỷ lệ sinh rất thấp, do đó, NCTN được xã hộiđặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục nên tình hình phạm tội trong lứa tuổiNCTN là không đáng kể Theo chính sách đã đặt ra bởi Luật NCTN; NCTN ởnước này ít bị xét xử về hình sự và áp dụng hình phạt mà chủ yếu được xử lýbằng các biện pháp cải tạo phi hình sự Nghiên cứu BLHS Nhật Bản cho thấykhi xét xử đối với NCTN phạm tội phải theo hướng giảm nhẹ trách nhiệmhình sự và áp dụng hình phạt không quá nghiêm khắc đối với NCTN phạmtội

1.3.3 Pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển

Pháp luật hình sự hiện hành của Vương quốc Thụy Điển không có quyđịnh riêng về NCTN phạm tội nhưng những quy định liên quan đến việc quyếtđịnh hình phạt đối với NCTN phạm tội trong Bộ luật thể hiện một chính sáchđặc biệt nhân đạo

BLHS Vương quốc Thụy Điển quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự

là đủ 15 tuổi trở lên nhưng các chính sách đối xử với NCTN được áp dụng tớingười chưa đủ 21 tuổi

Về căn cứ và nguyên tắc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội,Điều 7 Chương 29 của Bộ luật quy định:

“Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội dưới 21 tuổi, Tòa án cần đặc biệt cân nhắc đến độ tuổi của người đó nhưng hình phạt không được nhẹ hơn so với hình phạt đã quy định đối với tội đã thực hiện Hình phạt tù

Trang 31

chung thân không áp dụng đối với người phạm tội dưới 21 tuổi”.

Điều này cũng quy định việc loại trừ hình phạt tù chung thân - hìnhphạt nghiêm khắc nhất trong luật Hình sự Vương quốc Thụy Điển đối vớingười dưới 21 tuổi Các hình phạt được phép áp dụng đối với NCTN đượcquy định trong BLHS bao gồm: tù có thời hạn, buộc phải chịu thử thách, laođộng phục vụ cộng đồng, phạt tiền Trong đó, hình phạt tù có thời hạn bị hạnchế áp dụng đối với người dưới 21 tuổi

Ngoài ra, Điều 5 Chương 30 quy định: “Đối với người phạm tội dưới

18 tuổi, Tòa án chỉ có thể quyết định hình phạt tù trong trường hợp có lý do đặc biệt cho thấy phải áp dụng hình phạt đó”.

Như vậy, độ tuổi người chưa thành niên trong BLHS Vương quốc ThụyĐiển là từ đủ 15 tuổi trở lên nhưng các chính sách đối xử với NCTN được ápdụng tới người chưa đủ 21 tuổi Khi quyết định hình phạt, trước hết, Tòa áncần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chăm sóc NCTN thể hiện chính sáchkhoan hồng, nhân đạo đặc biệt Ngoài ra, chính sách này cũng được mở rộngtrong trường hợp người phạm tội từ đủ 18 tuổi nhưng chưa đủ 21 tuổi thì Tòa

án chỉ có thể áp dụng hình phạt tù trong trường hợp nếu tính chất, mức độnguy hiểm của tội phạm hoặc vì các lý do đặc biệt khác mà phải áp dụng hìnhphạt đó

Tiểu kết Chương 1

Người dưới 18 tuổi phạm tội là đối tượng đặc biệt được điều chỉnhtrong pháp luật hình sự Việt Nam; xuất phát từ đặc điểm tâm, sinh lý củangười dưới 18 tuổi, trên cơ sở niềm tin vào khả năng cải tạo, giáo dục ngườidưới 18 tuổi phạm tội nên chính sách hình sự Đảng, Nhà nước luôn mang tínhnhân đạo, hướng thiện, với mong muốn giúp họ tích cực cải tạo, sửa chữa sailầm để trở thành người có ích cho xã hội Việc quyết định hình phạt tù đối với

Trang 32

người dưới 18 tuổi phạm tội luôn được thực hiện chỉ trong trường hợp cầnthiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm

về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Tinh thần ấy được thểchế hóa vào trong các quy định của BLHS hiện hành về xử lý đối tượng này

và những vấn liên quan đã được quy định hết sức chi tiết và phù hợp với luậtpháp quốc tế Chỉ có thể áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổiphạm tội trong những trường hợp thật cần thiết, khi mà việc áp dụng các hìnhphạt khác nhẹ hơn đối với họ như phạt tiền, cải tạo không giam giữ không có

ý nghĩa về mặt giáo dục, cải tạo và cần phải tước quyền tự do của họ trongmột thời gian nhất định để họ nhận thức được mức độ sai lầm do việc thựchiện hành vi phạm tội gây ra

Trang 33

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BLHS NĂM 2015 VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 2.1 Quy định của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

2.1.1 Áp dụng BLHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các quy định của pháp luật hình

sự đã dành sự quan tâm đặc biệt cho đối tượng là người dưới 18 tuổi phạm tội

BLHS năm 2015: “Khi xét xử, không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa” (khoản 4).

Với việc sửa đổi và bổ sung các nguyên tắc trên, BLHS năm 2015 đượcthiết kế để đảm bảo tính nhân đạo và tạo cơ hội cho những người chưa thànhniên được giáo dục, cảm hóa, sửa chữa lỗi lầm

Về phạm vi chịu TNHS của người dưới 18 tuổi: BLHS năm 2015 quyđịnh, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rấtnghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong 28 điềuluật, được quy định tại khoản 2 Điều 12 của BLHS sự năm 2015

Ngoài ra, BLHS năm 2015 cũng sửa đổi phạm vi chịu trách nhiệm củangười từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội theo hướng thu hẹphơn, cụ thể, họ chỉ phải chịu TNHS nếu chuẩn bị phạm tội thuộc một trong 2tội danh đó là: Giết người (Điều 123) và Cướp tài sản (Điều 168)

Về quyết định hình phạt: Điều 103 của BLHS 2015 đã quy định chi tiếthơn các trường hợp tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm

Trang 34

nhiều tội; đồng thời có sự phân định rõ giữa người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Mặt khác, Bộ luật mới còn bổ sung quy định về quyết định hình phạttrong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 102) và Tha tùtrước hạn có điều kiện (Điều 106) để cụ thể hóa cũng như tách biệt với trườnghợp người thành niên phạm tội, thống nhất với các nguyên tắc trong việc xử

lý người dưới 18 tuổi phạm tội

Về các biện pháp giám sát, giáo dục: Trước đây BLHS 1999 chỉ quyđịnh chung chung rằng NCTN phạm tội được miễn TNHS thì sẽ có gia đìnhhoặc cơ quan/tổ chức giám sát, giáo dục

BLHS 2015 bổ sung một số biện pháp giám sát, giáo dục đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự là: biện pháp khiểntrách (Điều 93), hòa giải tại cộng đồng (Điều 94) và giáo dục tại xã, phường,thị trấn (Điều 95) Đây là những quy định cụ thể nhằm đưa việc giáo dục,nâng cao nhận thức đối với người phạm tội đi vào thực tế và có hiệu quả

Trên cơ sở quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015 cũng bổ sung cácquy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáodục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại các Điều từ 426 đến 429 của bộluật

Ngoài ra, BLHS2015 bỏ đi biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường,thị trấn theo quy định của BLHSnăm 1999 (do đã có các biện pháp giám sát,giáo dục cụ thể nêu trên) và chỉ giữ lại 1 biện pháp tư pháp áp dụng đối vớingười người dưới 18 tuổi phạm tội, đó là biện pháp giáo dục tại trường giáodưỡng (Điều 96)

Trang 35

2.1.2 Các căn cứ quyết định hình phạt và nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Về căn cứ quyết định hình phạt: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét

xử có toàn quyền trong việc quyết định hình phạt sao cho hình phạt được ápdụng đối với người phạm tội bị kết án đạt được các mục đích của hình phạt,điều đó có nghĩa Hội đồng xét xử có toàn quyền trong phạm vi và trên cơ sởtuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt

Để đảm bảo cho việc quyết định hình phạt một cách đúng đắn, trách được cáckhuynh hướng tùy tiện và mang nặng yếu tố chủ quan, duy ý chí, xâm phạmđến quyền và lợi ích của người phạm tội, BLHS đã quy định căn cứ quyếtđịnh hình phạt buộc Hội đồng xét xử phải dựa vào và tuân theo các quy định

đó khi quyết định hình phạt và tuân thủ quy định tại Điều 50 của BLHS, đó là:Quy định của BLHS; Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành viphạm tội; Nhân thân người phạm tội; Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặngtrách nhiệm hình sự

Các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Người

dưới 18 tuổi là NCTN, do chưa có sự phát triển đầy đủ về thể chất cũng nhưtâm sinh lý nên khả năng nhận thức cũng như khả năng tự kiềm chế của ngườidưới 18 tuổi không cao và họ dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội khi bị lôikéo, dụ dỗ Vì vậy, khi xử lý hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi thìngoài căn cứ quyết định hình phạt các cơ quan tiến hành tố tụng cần tuân thủcác nguyên tắc theo quy định tại Điều 91 của BLHS năm 2015, như sau:

Ngày đăng: 16/12/2020, 11:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w