Hiện nay có rất nhiều công trình khoa học liên quan đến đề tài của tác giả đã được đề cập và công bố như: Võ Khánh Vinh 2003, “Giáo trình lý luận chung về định tội danh”, Lê Văn Đệ 2004,
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN TRUNG THÀNH
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình của riêng tôi Các tư liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết quả trong luận văn
là trung thực Nếu có sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà nội, ngày tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Trực
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7
3.1 Mục đích nghiên cứu 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 10
1.1 Những vấn đề lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 10
1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 10
1.1.1.1 Khái niệm: 10
1.1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 12
1.1.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác 15
1.1.2.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (quy định tại Điều 174 BLHS) 15
1.1.2.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa lừa dối khách hàng 19
1.1.2.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 20
1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 25
1.2.1 Khái quát lịch sử quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hàng Bộ luật hình sự năm 2015 25
1.2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 25
1.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) 27
Trang 51.2.2 Những điểm mới của BLHS 2015 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản (Điều 175) 28
1.3 Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 31
1.3.1 Khái quát lý luận về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 31
1.3.1 Khái niệm định tội danh 31
1.3.2 Ý nghĩa việc định tội danh: 32
1.3.3 Cơ sở pháp lý để định tội danh 32
1.4 Khái quát lý luận về quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 33
1.4.1 Khái niệm quyết định hình phạt 33
1.4.2 Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt 35
Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM TÀI SẢN TẠI ĐỒNG NAI 37
2.1 Thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Đồng Nai 37
2.1.1 Khái quát tình hình khởi tố điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 37
2.1.1.2 Thực trạng định tội danh Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo cấu thành cơ bản 38
2.1.2 Đánh giá tình hình định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 41
2.2 Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Đồng Nai 46
2.2.1 Khái quát thực trạng quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 46
2.2.2 Đánh giá thực trạng quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 58
Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 63
3.1 Yêu cầu 63
3.1.1 Yêu cầu củng cố, tăng cường pháp chế XHCN 63
3.1.2 Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân 63
3.1.3 Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm 64
Trang 63.2.1 Hoàn thiện pháp luật 653.2.2 Kịp thời hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 663.2.3 Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ có thẩm quyền áp dụng pháp luật hình sự giải quyết các vụ án hình sự 673.2.4 Chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn
áp dụng pháp luật hình sự trong quá trình giải quyết vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 703.2.5 Đáp ứng kịp thời kinh phí, phương tiện công tác phục vụ cho việc giải quyết
vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản v.v 71KẾT LUẬN 72
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn đất nước ta đổi mới mạnh mẽ, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội quan trọng mà nước
ta đã đạt được trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thì mặt trái của nền kinh thị trường mang lại, đó là tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện với tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn Đặc biệt là nhóm tội xâm phạm sở hữu tài sản có những phương thức mới, phức tạp, trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra phổ biến trong sản xuất kinh doanh cũng như trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại nhiều địa phương trong cả nước trong đó có tỉnh Đồng Nai, tình trạng tín dụng đen, cho vay vốn với lãi suất cao do người dân tự huy động, không có sự đảm bảo của pháp luật vẫn diễn ra phức tạp, đã xảy ra nhiều vụ vỡ nợ, mất khả năn thanh toán và các dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (LDTNCĐTS) Xuất hiện nhiều hình thức tiêu cực phức tạp, các vấn đề liên quan đến xâm phạm sở hữu đã kéo theo những hệ luỵ cho sự ổn định phát triển kinh tế
và tài sản hợp pháp của công dân, tổ chức sở hữu Bên cạnh đó, về quản lý nhà nước còn chưa có những quy định đây đủ, thiếu sót trong quản lý về hụi, họ, phường, dịch vụ cầm đồ, dịch vụ cho thuê ôtô, xe máy, vay, mượn, cho thuê tài sản đã làm cho tội phạm LDTNCĐTS ngày tăng Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản còn nhiều vấn đề chưa thống nhất, còn gây tranh luận trong việc định tội và quyết định hình phạt dẫn đến hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm chưa cao
Qua thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cho thấy, loại tội phạm xâm phạm sở hữu đang diễn biến phức tạp, qua nghiên cứu các bản án từ thực tiễn của Toà án hai cấp (sơ thẩm và phúc thẩm) cho thấy còn một số tồn tại bất cập trong quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Trong đó vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt là hai nội dung chính,
Trang 8có ý nghĩa quan trọng trong việc xét xử đối với loại tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong thực tiễn
Nhằm góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm kinh tế nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng trong tình hình mới và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, tồn
tại, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật… Do đó, tác giả chọn đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” làm đề tài
luận văn nhằm góp phần làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý cho việc công tác điều tra, truy tố, xét xử tội LDTNCĐTS được áp dụng trong thực tiễn cho thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay có rất nhiều công trình khoa học liên quan đến đề tài của tác giả đã được đề cập và công bố như: Võ Khánh Vinh (2003), “Giáo trình lý luận chung về định tội danh”, Lê Văn Đệ (2004), “Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam”, … Ngoài ra, còn có các Luận án Tiến sĩ Dương Thị Hải Yến (2018) “tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của nhiều tác giả liên quan đến vấn đề tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn của nhiều tỉnh, thành phố của cả nước như Vũ Thị Oanh Kiều (2017) “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thành phố Hà
Nội” Cao Thị Thới (2019) Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long, những công trình nghiên
cứu, các bài viết, đề tài khoa học nêu trên đều có giá trị về mặt lý luận khoa học và thực tiễn nhưng một số nội dung các đề tài chỉ hướng đến việc phân tích, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong mối quan hệ tách biệt hoàn toàn với những kiến thức lý luận về định tội danh.[46] Tuy nhiên, tác giả cho rằng một số công trình chưa đánh giá rõ mức độ phạm tội và việc áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành với thực tiễn áp dụng luật chưa cập nhật diễn biến tội phạm trong tình hình hiện nay về mặt giá trị
Trang 9lý luận và thực tiễn Thực tế hiện nay, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, trong đó phần quy định chung cũng như phần các tội phạm có những sửa đổi, bổ sung so với quy định trong BLHS năm 1999
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định pháp lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản qua nghiên cứu các bản án đã được định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và quyết định hình phạt của Toà
án nhân tỉnh Đồng Nai, với tội phạm này từ đó đưa ra những kiến nghị, nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt sản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu có liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam như khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, phân biệt các tội phạm về xâm phạm sở hữu
- Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt về tội LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong khoảng
5 năm (2015 - 2019)
- Luận văn đưa ra những vấn đề còn hạn chế, bất cập, qua đó, đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận án là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm 2015 đến năm
2019 Cụ thể:
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định pháp lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tổng kết thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm này từ xem xét 2 cấp của Toà án là cấp sơ thẩm và phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Từ đó rút ra nhũng hạn chế, vướng mắc để đưa ra các giải pháp thiết thực, khả thi cho việc hoàn thiện pháp luật cũng như những thực tiễn áp dụng pháp luật
Việc áp dụng pháp luật không chỉ có định tội danh và quyết định hình phạt, nhưng tác giả chỉ xem xét định tội danh và quyết định hình phạt trong xét
xử tội LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để từ đó phát hiện những vấn
đề còn tồn tại, đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể cho việc áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội LDTNCĐTS
- Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự, việc áp dụng tội LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ
2015 - 2019 Cụ thê từ khi Luật Hình sự (BLHS) 1999, sửa đổi 2009 có hiệu lực đến khi Luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác – Lênin về nhà nước
và pháp luật, các quan điểm đường lối của Đảng nhất là về cải các tư pháp, các chính sách pháp luật của Nhà nước về tội phạm, về hình phạt Luận văn còn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp cụ thể như: các phương pháp đặc thù, phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích quy nạp, diẽn dịch phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu điển hình và một số phương pháp khác
Trang 11nghiên cứu điển hình về tội phạm này trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ nhũng vấn đề lý luận và pháp lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, luận văn đã đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nhằm nâng cao hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật
- Kết quả nghiên cứu của luận văn thống nhất về nhận thức các quy định của pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản góp phần khắc phục những hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, qua đó bảo vệ các quyền và lợi ích pháp của con người, của công dân góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tai Đồng Nai
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 Chương, cụ thể :
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tạ Đồng Nai
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1 Những vấn đề lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.1.1 Khái niệm:
- Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ biên soạn (2002) thì Lạm dụng
là “dùng, sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định” [57; tr 52]
- Tín nhiệm là “tin tưởng mà giao phó , trông cậy vào nhiệm vụ, sự việc cụ thể nào đó ” [57; tr 1646]
Theo quan điểm của GS TS Võ Khánh Vinh thì, “chiếm đoạt tài sản (Xã hội chủ nghĩa hoặc của công dân) và biến thành tài sản của mình hoặc chuyển cho người khác, được thực hiện bằng những hình thức quy định trong luật với mục đích vụ lợi” [58; tr 69]
Khái niệm tài sản là các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác, tài sản bao gồm: vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ
có hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế theo mẫu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiền
và giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản
Đối với vật là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải là vật có thực, đang tồn tại, có giá trị và nằm trong sự chiếm hữu của con người, những vật mà Nhà nước cấm các đối tượng được mua bán trao đổi như thuốc phiện, ngoại tệ, rừng cây, hầm mỏ, vũ khí, thuốc nổ, chất phóng xạ, chất cháy, chất
nổ … sẽ không phải là tài sản của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, những vật là tài sản không còn giá trị kinh tế như thuốc đã tiêu hủy, hàng hóa không còn giá trị sử dụng cũng không phải là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Các loại tiền, kim loại quý và các loại giấy tờ có giá cũng các loại tài sản thuộc đối tượng chiếm đoạt của tội phạm này [35]
Theo quy định BLDS 2005 Điều 181 “Quyền tài sản là quyền giá trị được
Trang 13bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” [1], quyền tài sản là loại tài sản gắn với chủ sở hữu, khi chủ tài sản bằng giao dịch dân sự chuyển giao quyền tài sản, sau đó người phạm tội lợi dụng dùng thủ đoạn gian dối thực hiện ành vi phạm tội, quyền tài sản cũng là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định lần đầu tiên tại Điều 140
Bộ luật Hinh sự năm 1999, đây là tội được nhập từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân quy định tại Điều 158, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng chỉ đến khi Bộ luật hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành thì Tội này mới được quy định khá chặt chẽ và cụ thể Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “1.Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ bốn triệu đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình
sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản” [46]
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật Hình
sự Việt Nam là một trong những tội phạm xâm phạm sở hữu Theo quy định ở Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội phạm này người phạm tội không dùng bất cứ thủ đoạn nào để lấy tài sản từ trong tay của chủ sở hữu Chỉ sau
Trang 14khi nhận được tài sản một cách ngay thẳng từ chủ sở hữu thông qua các giao kết hợp pháp, người phạm tội mới có hành vi chiếm đoạt Bằng các biểu hiện khác nhau, họ thể hiện sự chiếm đoạt của mình có thể là bỏ trốn, đến hạn trả lại tài sản mặc dù có khả năng, điều kiện mà cố tình không trả, dùng thủ đoạn gian dối hoặc
sử dụng tài sản vào mục đích hợp pháp dẫn đến không có khả năng để trả lại tài sản Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định chi tiết các dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội phạm này một các cụ thể, đầy đủ, chính xác hơn
Dưới góc độ khoa học luật hình sự thì lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
là hành vi của chủ thế có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên thông qua hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn hoặc đến thời hạn trả lại tài sản dù có khả năng, điều kiện trả lại tài sản mà cố tình không trả hoặc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản hoặc dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
1.1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 1.1.1.2.1 Các dấu hiệu định tội
- Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 thì người từ đủ
14 tuổi, nhưng chưa đủ 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hai loại tội phạm này
Do đó chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên Đây là một trong các điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình sự 1999, bộ luật mới đã có
sự tách bạch rõ ràng hơn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
- Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
Trang 15sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác
Những hành vi tác động đến đến các vật không còn giá trị kinh tế như: thuốc
đã bị tiêu hủy, hàng hóa không còn giá trị sử dụng thì không phải là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, những tài sản mà Nhà Nước cấm tư nhân mua bán, trao đổi như hàng quốc cấm như thuốc phiện, vũ khí, không phải là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [33]
- Về mặt chủ quan của tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội; lỗi là dấu hiệu không thể thiếu được của bất
cứ cấu thành tội phạm nào; cũng như đối với các tội có tính chất chiếm đoạt, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do cố ý, mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được cấu thành khi thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Giá trị của tài sản chiếm đoạt của người khác từ 4.000.000 đồng trở lên; (ii) Giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 4.000.000 đồng nhưng
đã bị xử lý phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết
án về tội này hoặc về một trong các tội về xâm phạm sở hữu khác: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội
Trang 16công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (iii) Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống của chính người bị hại hoặc gia đình họ
Những hành vi khách quan cần có những điểm đáng lưu ý sau: (i) Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua các hợp đồng vay, mượn thuê tài sản của người khác hoặc bằng hình thức khác Sau khi có được tài sản người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; (ii) Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.1.2.2 Các dấu hiệu định khung
- Các dấu hiệu định khung tăng nặng thứ nhất
Trong Điều 140 Bộ luật Hình sự, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ngoài khung cơ bản ở Khoản 1, các dấu hiệu định khung tăng nặng được quy định
ở các Khoản 2, 3, 4 Theo quy định tại (khoản 1 Điều 175 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ngoài khung hình phạt cơ bản là bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thì các dấu hiệu định khung tăng nặng còn được quy định tại các khoản của Điều 175, cụ thể như sau: Khung tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 02 năm đến
07 năm được áp dụng cho những trường hợp phạm tội khi thuộc một trong các tình tiết sau: Có tổ chức; Có tính chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tái phạm nguy hiểm
- Khung tăng nặng hình phạt thứ hai lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; gây hậu quả rất nghiêm trọng
Trang 17- Khung tăng nặng thứ ba có mức hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: Chiếm đoạt tài sản từ năm trăm triệu đồng trở lên; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
1.1.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác
1.1.2.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản (quy định tại Điều 174 BLHS)
- Cơ sở lý luận của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, là việc người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai
sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ, quản lý tài sản tin, tưởng giả là thật, mà “tự nguyện” giao tài sản cho người phạm tội
Điều 174 BLHS năm 2015 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
“1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…” Do đó, ta có thể đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân
Trên thực tế hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hợp thành bởi hai yếu tố Đó là đưa ra những thông tin gian dối và chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm lẫn, tin tưởng vào những thông tin không đúng sự thật
ấy mà trao tài sản cho người phạm tội Khi giao tài sản chủ tài sản không biết mình bị lừa dối Họ có thể phát hiện ra ngay sau khi trao tài sản nhưng bản chất của hành vi chiếm đoạt là dựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn bị xử lý về tội này Nếu tài sản chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức
Trang 18thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối Khi nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội đã làm chủ được tài sản đó trên thực
tế và cũng là lúc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành
Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản đó và cũng là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Về hành vi khách quan: (1) Hành vi của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác mà ngay lúc đó, người bị hại không biết được có hành vi gian dối; (2) Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật nhưng làm cho người bị lừa dối tin đó
là thật và giao tài sản cho người phạm tội Hiện nay, thủ đoạn lừa đảo của tội phạm rất tinh vi, tội phạm thường thực hiện hành vi lừa đảo trên các trang mạng xã hội hoặc các trang web, sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, tội phạm sẽ cắt đứt mọi liên hệ với người bị hại và thường người bị hại không biết hoặc biết những thông tin không chính xác về tội phạm
Ví dụ: A nói dối với B là cho A mượn xe máy đi thăm bố ở bệnh viện cấp cứu; B tin và đưa xe máy cho A để A thăm mẹ A đem xe máy của B ra tiệm cầm
đồ cầm cố lấy 15.000.000 đồng, sử dụng vào mục đích cá độ bóng đá và đã thua hết Nhưng trong một hoàn cảnh khác, A không nói dối với B là thăm bố của mình
bị bệnh mà lại nói dối với B là mượn xe chở bạn gái về rồi đem cầm cố lấy tiền đánh bạc Như vậy việc người phạm tội có hành vi sao cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin mà tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội, người phạm tội
có kế hoặch dùng mọi biện pháp khác nhau tạo niềm tin như: thuyết phục bằng lời nói dối, các nhân chứng giả, giả mạo giấy tờ, giả danh các cơ quan, tổ chức của nhà nước và xã hội để thực hiện hành vi gian dối, ví dụ: Trong các vụ án lừa đảo tín dụng của Ngân hàng, đối tượng phạm tội thường sư dụng làm giả hồ sơ tài sản
Trang 19thế chấp, …để được vay vốn sau đó chiếm đoạt
Đây cũng là đặc điểm để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng thủ đoạn gian dối gây lòng tin đối với chủ tài sản, làm chủ tài sản tin tưởng người phạm tội mà trao tài sản cho họ Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội lừa đảo phải dùng thủ đoạn gian dối trước, chính thủ đoạn gian dối là nguyên nhân làm người có tài sản tin tưởng mà trao tài sản
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc giao nhận tài sản là ngay thẳng thông qua các giao dịch dân sự hợp pháp như hợp đồng vay mượn, cho thuê, nhờ giữ hộ… do đó sau khi có được tài sản thông qua các hợp đồng, giao kết thì hành vi lừa dối mới xảy ra nhằm giữ lại tài sản đáng lẽ phải trả cho chủ tài sản Sau khi hết thời hạn vay mượn, cho thuê … nhưng người phạm tội cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích khác dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm phải chi trả tài sản, do đó hành vi lừa dối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện nhằm che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản và được thực hiện sau khi có sự giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội, sự gian dối chiếm đoạt tài sản sảy ra sau khi nhận được tài sản nên lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là bội tín của chủ tài sản
Hậu quả của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là làm thiệt hại về tài sản của người khác là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nếu hành vi gian dối bị phát hiện trước khi người bị lừa dối giao tài sản hoặc người bị lừa dối không phát hiện
ra hành vi gian dối nhưng không thực hiện việc giao tài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Về mối quan hệ nhân quả, cũng như những tội có cấu thành vật chất khác, hậu quả và hành vi khách quan của tội phạm có mối quan hệ nhân quả với nhau Hậu quả thiệt hại về tài sản phải được xuất phát từ hành vi lừa dối, nếu việc thiệt hại về tài sản từ nguyên nhân khác thì sẽ dựa vào những dấu hiệu khách quan để xác định xem có dấu hiệu của tội phạm không và được pháp luật điều chỉnh như thế nào
Trang 20Tuy nhiên, ở đây cũng nên lưu ý là cần phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với những tội phạm có dùng thủ đoạn gian dối khác “tự nguyện” giao tài sản cho mình, còn đối với những thủ đoạn gian dối nhưng không phải do người bị hại
tự động giao tài sản của mình thì phải căn cứ vào dấu hiệu khách quan để xác định tội phạm tương ứng, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo, đếm gian dối nhằm
ăn gian, bớt của khách hành hoặc để bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính thì sẽ cấu thành tội lừa dối khách hành hoặc tội buôn bán hàng giả
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ý của chủ thể, mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người
bị hại, mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản
Thực tế việc chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội thường căn
cứ vào tài sản thực có, tình trạng tài chính, nhu cầu tài sản của người phạm tội kết hợp với lời khai nhận của người phạm tội như thế nào Thông thường trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị rơi vào hoàn cảnh
nợ nần do thua cờ, bạc, lô đề, kinh doanh…, không có khả năng trả nợ cho chủ nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, như đã trình bày, người phạm tội có được tài sản thông qua hợp đồng hợp pháp và bản thân họ, tại thời điểm giao kết hợp đồng hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, ý thức chiếm đoạt chưa xuất hiện Nhưng, sau khi nhận được tài sản, trong quá trình thực hiện hợp đồng, người phạm tội mới nảy sinh ý định chiếm đoạt Việc họ thực hiện hành vi chiếm đoạt là rất thuận lợi khi đã có được tài sản, họ có thể không trả lại tài sản như đã cam kết trong hợp đồng khi đến thời điểm phải trả tài sản, cũng có thể bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Vì thế, thời điểm hoàn thành của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được xác định kể từ thời điểm ngời phạm tội cố tình không thực hiện nghĩa
vụ trả lại tài sản cho người có tài sản theo hợp đồng mà chiếm đoạt luôn tài sản đó
Về việc giao nhận tài sản giữa người có tài sản với người phạm tội, đối với
Trang 21cả hai tội phạm này, người phạm tội đều nhận được tài sản do người có tài sản tự nguyện giao cho Tuy nhiên, ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội được nhận tài sản do việc sử dụng thủ đoạn gian dối, họ tạo dựng các thông tin giả, khiến cho người có tài sản tưởng thật và giao tài sản Trong khi đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người có tài sản giao tài sản cho người phạm tội thông qua các hợp đồng, giao dịch hợp pháp, họ tin tưởng rằng, người phạm tội hoàn toàn có khả năng trả lại tài sản, có đủ điều kiện để thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng
1.1.2.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa lừa
dối khách hàng
Điều 170 Bộ luật hình sự năm 1985, điều 162 BLHS 1999 và hiện nay là điều 198 BLHS 2015 quy định: 1- Người nào trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã
bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… [3]
Theo quy định của điều luật này, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền hoặc tài sản của người khác Tuy nhiên, với tội lừa dối khách hàng, hành vi gian dối chỉ trong phạm vi mua bán đối với khách hàng và cũng chỉ trong việc cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng, chỉ có khách hàng mới
là người bị thiệt hại, đây là dấu hiệu để phân biệt tội lừa dối khách hàng với các tội chiếm hữu tài sản khác
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hầu như hành vi lừa dối khách hàng rất ít khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, do không nắm được số liệu toàn quốc nhưng việc khởi tố bị can tội "lừa dối khách hàng" là rất ít, thậm chí rất hiếm Trong khi đó, theo quy định của tội lừa dối khách hàng trong BLHS thì hành vi này diễn ra khá
Trang 22phổ biến, chủ thể của tội phạm này là những người tham gia vào quá trình mua bán và thường là người bán mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm này
Để thực hiện thủ đoạn gian dối, người phạm tội có thể thực hiện một trong các hành vi như: cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc có những hành vi khác lừa dối khách hàng
Hành vi lừa dối khách hàng, "cân điêu, bán thiếu" hoặc bán sản phẩm không đạt chất lượng như cam kết gây ra thiệt hại cho khách hàng là nhữnh hành vi cấu thành tội lừa dối khách hàng
Điểm giống nhau của cả hai tội này đều được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối, tuy nhiên đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hành vi gian dối được người phạm tội có được tài sản thông qua hợp đồng hợp pháp và bản thân
họ, tại thời điểm giao kết hợp đồng hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, ý thức chiếm đoạt chưa xuất hiện Nhưng, sau khi nhận được tài sản, trong quá trình thực hiện hợp đồng, người phạm tội mới nảy sinh ý định chiếm đoạt, còn đối với tội lừa dối khách hàng hành vi gian dối chỉ diễn ra trong quan hệ mua bán bằng những hành vi cụ thể như cân, đo, đong đếm thiếu, mua bán hàng giả …
1.1.2.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lạm
dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã làm những việc vượt ra ngoài phạm vi chức vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật quy định (cho phép) để chiếm đoạt tài sản của người khác quy định tại Điều 355 của BLHS năm 2015: “Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm: a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…’’ [3]
Trang 23Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, nhà làm luật quy định chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn nếu chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải có thêm những điều kiện như: đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội quy định tại mục 1 chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
+ Về mặt khách quan: Trước hết, người phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền
hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, phải là người có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình Người có chức vụ, quyền hạn, lạm dụng chức vụ, quyền hạn phải chiếm đoạt tài sản của người khác thì mới cấu thành tội phạm này Nếu không
có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, mà chỉ gây thiệt hại đến lợi ích của người khác thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ theo Điều 357 Bộ luật hình sự; tội nhận hối lộ theo điểm b khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự hoặc tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt
tù theo Điều 378 Bộ luật hình sự v.v
Hành vi khách quan của tội này là trường hợp người phạm tội đã thực hiện
hành vi vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình khi thi hành công vụ nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thể hiện ở các thủ đoạn sau: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản; lạm dụng chức
vụ, quyền hạn lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ; lạm dụng chức
vụ quyền hạn để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Cũng như hành vi chiếm đoạt trong các tội có tính chất chiếm đoạt khác, hành vi chiếm đoạt trong tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi chuyển dịch trái phép tài sản thuộc sở hữu hoặc quyền quản
lý hợp pháp thành của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm
Hậu quả của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là những thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất cho xã hội Đối với tội lạm dụng
Trang 24chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, thiệt hại trước hết là thiệt hại về tài sản, ngoài ra còn có những thiệt hại khác phi vật chất
Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, nhà làm luật quy định chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn nếu chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải có thêm những điều kiện như: đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội quy định tại mục 1 chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
+ Về khách thể: Hành vi nêu trên đã xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức kinh tế của Nhà nước Đồng thời còn xâm phạm quyền sở hữu, tài sản của công dân , của Nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và của các chủ sở hữu thuộc các hình thức sở hữu khác Vì vậy, tham ô hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là đối tượng phải đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi
+Về Chủ thể: Quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự, chủ thể của tội lạm dụng
chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và phải
có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, chủ thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là chủ thể đặc biệt, tức là chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn mới chiếm đoạt được tài sản của người khác Những người không có chức vụ, quyền hạn vẫn có thể trở thành chủ thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản với vai trò là đồng phạm (ví dụ: Người xúi giục)
Việc phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thực chất là việc phân biệt trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn” lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều
175 BLHS với tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác quy định tại Điều 355 BLHS
Trước hết, người phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Trang 25của người khác, phải là người có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình Người có chức vụ, quyền hạn, lạm dụng chức vụ, quyền hạn phải chiếm đoạt tài sản của người khác thì mới cấu thành tội phạm này Nếu không có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, mà chỉ gây thiệt hại đến lợi ích của người khác thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ theo Điều 357 Bộ luật Hình sự; tội nhận hối lộ theo điểm b khoản 2 Điều 354 Bộ luật Hình sự hoặc tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù theo Điều 378
Bộ luật Hình sự v.v
Cũng như hành vi chiếm đoạt trong các tội có tính chất chiếm đoạt khác, hành vi chiếm đoạt trong tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi chuyển dịch trái phép tài sản thuộc sở hữu hoặc quyền quản
lý hợp pháp thành của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm Hành vi chiếm đoạt tài sản vừa là hệ quả vừa là mục đích của hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn của người phạm tội Mối quan hệ giữa hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn với hành vi chiếm đoạt là mối quan hệ nhân quả, trong đó hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn là nguyên nhân còn hành vi chiếm đoạt là hậu quả
Hậu quả của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là những thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất cho xã hội Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, thiệt hại trước hết là thiệt hại về tài sản, ngoài ra còn có những thiệt hại khác phi vật chất Hậu quả của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, xét về phương diện các yếu tố cấu thành tội phạm thì không phải là dấu hiệu bắt buộc, tức là, dù hậu quả chưa xảy ra nhưng hành vi vẫn cấu thành tội phạm
Tuy nhiên, với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội chiếm đoạt tài sản do chính họ đang quản lý còn đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì tài sản do người khác quản lý
Điểm khác nhau rõ nét nhất đó là về chủ thể của hai tội danh này Nếu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì chủ thể là người được chủ tài sản tín
Trang 26nhiệm giao quản lý tài sản, là chủ thể thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản thì ngoài các dấu hiệu trên thì chủ thể của tội phạm này phải là người có chức vụ, quyền hạn
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã thực hiện hành
vi lạm dụng sự “tín nhiệm” của chủ tài sản, chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản trong hợp đồng Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã lạm dụng “chức vụ, quyền hạn” uy hiếp tinh thần chủ tài sản hoặc gian dối hoặc dung thủ đoạn khác để chiếm đoạt tài sản
Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, người thực hiện tội phạm có thể thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng nhiều thủ đoạn khác nhau: cũng có thể là lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối để chiếm đoạt tài sản, lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp người khác để chiếm đoạt tài sản…
Cùng là lợi dụng sự tín nhiệm của người khác để chiếm đoạt tài sản nhưng nguồn gốc của sự lợi dụng này là khác nhau Ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì sự tín nhiệm có được từ uy tín của người phạm phạm tội, trong khi đó ở tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản sự tín nhiệm lại bắt nguồn từ chức vụ, quyền hạn mà họ có
Như vậy, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản mình được giao trên cơ sở hợp đồng (lạm dụng tín nhiệm của chủ tài sản) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình (chức vụ, quyền hạn được sử dụng như phương tiện để chiếm đoạt) Tuy nhiên, để phân biệt rõ trên thực tế, trường hợp nào chỉ sử dụng sự tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản và trường hợp nào sử dụng chức vụ, quyền hạn để lấy sự tín nhiệm của chủ tài sản lại là việc không dễ, cần căn cứ vào tổng hợp các tình tiết trong vụ án thực
tế để xác định tội danh một cách chính xác
Ví dụ: A là Chủ tịch phường, tuy không có thẩm quyền giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng A đã nói với B là mình có thẩm quyền và
Trang 27nhận của B số tiền 100.000.000 đồng để ký quyết định giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái quy định
1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.2.1 Khái quát lịch sử quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hàng
Bộ luật hình sự năm 2015
1.2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985
- Giai đoạn 1945-1954, Sau cách mạng tháng 8 thành công, Đất nước ta vừa giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, đây chính là thời kỳ mà Nhà nước ta đang trong hoàn cảnh đầy khó khăn thử thách, thù trong, giặc ngoài, các vấn đề xã hội như nạn đói, nạn dốt, giặc ngoại xâm trở thành những vấn đề nóng bỏng, nhu cầu xây dựng lại nền tảng cơ sở vật chất, kinh tế cho
xã hội trở nên cấp thiết Các cơ quan nhà nước đã ban hành một số lượng rất lớn các văn bản để xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, duy trì trật tự xã hội, những quy định để bảo vệ tài sản của Nhà nước làm cơ sở nền tảng để xây dựng và củng cố chính quyền, chăm lo đời sống nhân dân và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua Hiến pháp 1946, ghi nhận
"quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được đảm bảo" Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ sở hữu, đặc biệt sở hữu xã hội chủ nghĩa như Sắc lệnh số 26/SL( 25/02/1946) trừng trị các tội phá hủy công sản, Sắc lệnh số 233/SL (17/11/1946) trừng trị các tội phù lạm, biển thủ công quỹ,… đây là những văn bản đầu tiên đặt nền móng cho việc hoàn thiện các quy định về tội xâm phạm
sở hữu sau này, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm trong giai đoạn này chưa được quy định cụ thể, chủ yếu xét xử theo nguyên tắc và án lệ, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định với tên gọi “Bội tín”.[33] “…1- Lừa gạt, bội tín: phạt tù từ ba tháng đến năm năm." Có thể nói đây chính là những quy định đầu tiên của nhà nước ta về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [33]
Trang 28- Giai đoạn từ 1954-1975, sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, hòa bình lập lại ở miền Bắc, bên cạnh những thuận lợi đạt được, Nhà nước ta lại đứng trước hàng loạt các cấn đề cần phải giải quyết để khôi phục lại cơ sở vật chất, nền kinh
tế Để bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân ngày 15/06/1956 Chủ tịch nước ký lệnh công bố Sắc lệnh 267/SL.[33] Điều 7 Sắc lệnh 267 quy định: “Kẻ nào vì tham lam, tư lợi mà phạm tội trộm cắp, lãng phí, làm hỏng, hủy hoại, cướp bóc tài sản của nhà nước, của nhân dân thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.” Sắc lệnh 267
đã có sự phân biệt tài sản của nhà nước và tài sản của công dân, giúp việc xử lý tội phạm được chính xác và hiệu quả hơn
Trong giai đoạn mới của cách mạng, Nhà nước ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới Ngày 31/12/1959 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới để ghi rõ những thắng lợi cách mạng to lớn đã giành được trong thời gian qua và nêu rõ mục tiêu phấn đấu của nhân dân ta trong giai đoạn mới Hiến pháp năm 1959 quy định chế độ chính trị, kinh tế và xã hội của nước ta; quy định trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước, quyền
và nghĩa vụ của công dân, nhằm phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng nước nhà, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc Năm 1959, là thời
kỳ miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bước vào khôi phục kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa; chuẩn bị cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho phát triển kinh tế CNXH là nhiệm vụ trọng tâm Do đó, việc bảo vệ sở hữu tài sản của Nhà nước, và tập thể là đặc biệt được quan tâm coi trọng Theo đó Điều 40 Hiến pháp năm 1959 quy định:
“Tài sản công cộng của nước Việt nam dân chủ cộng hòa là thiêng liêng không thể xâm phạm, công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng”
Đất nước ngày càng phát triển qua những biến đổi to lớn về mọi mặt kinh tế
xã hội Ngày 21/10/1970, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành hai pháp lệnh: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản công dân Ở các quy định này, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt là hành vi “bớt xén” hoặc “đánh tráo” chiếm đoạt một phần
Trang 29hoặc toàn bộ tài sản được giao ngay thẳng trên cơ sở hợp đồng gửi giữ, gia công, vận chuyển…, đối tượng của hành vi chiếm đoạt là tài sản XHCN hoặc tài sản công dân, hình phạt được áp dụng đối với đối tượng phạm tội tương đối nghiêm khắc: Hình phạt tù ít nhất là 3 tháng, nhiều nhất là 20 năm [33]
- Giai đoạn 1975-1985: Năm 1975 Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và có nhiều sự đổi mới, để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đất nước, Nhà nước ta đã ban hành thêm nhiều văn bản pháp luật hình sự trong đó có quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Miền Bắc áp dụng hai pháp lệnh do Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành năm 1970, miền Nam áp dụng Sắc lệnh số 03-SL/76 ngày 15/03/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời
1.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Từ năm 1986 nước ta chính thức bước vào thời kỳ đổi mới, để đáp ứng yêu cầu của tình hình phát triển kinh tế, xã hội cũng như tình hình an ninh trật tự trong giai đọan này, ngày 01/01/1986, Quốc hội thông qua Bộ Luật hình sự năm 1985
và có hiệu lực từ ngày 27/06/1985, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc trong lịch
sử lập pháp hình sự [33] Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, do đó đòi hỏi pháp luật cũng phải thay đổi cho phù hợp với sự chuyển biến phức tạp của tình hình tội phạm mới phát sinh Bộ luật hình sự LHS 1985 đã được sửa đổi 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế hã họi và tình hình an ninh trật tự Trong đó Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS được Quốc Hội thông qua ngày 22/12/1992 đã bổ sung thêm một số tình tiết tăng nặng ở khoản 2 Điều 135-Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN là: “c-Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội” Theo đó BLHS sửa đổi, bổ sung có quy định
áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản XHCN từ hai năm đến năm năm trong trường hợp trên
Qua thực tiễn áp dụng và thi hành Bộ luật hình sự năm 1985 và các Bộ luật
Trang 30bổ sung và sửa đổi vào các năm 1991, 1992, 1997, khi các quan hệ dân sự phát sinh với nhiều hình thức phức tạp khác nhau thì cũng đồng thời dẫn đến thực trạng
là các cơ quan tiến hành tố tụng ở nhiều địa phương đã không theo kịp việc phát sinh các mối quan hệ dân sự, kinh tế và tình hình tội phạm hình sự cũng như các tội chiếm hữu tài sản Trước một thực trạng như vậy, ngày 21/12/1999, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa X đã thông qua Bộ luật hình sự năm 1999 thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định lần đầu tiên tại Điều 140 Bộ luật Hinh sự năm 1999, đây là tội được nhập từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân quy định tại Điều 158, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1985, đây cũng là lần đầu tiên, Bộ luật hình sự quy định cụ thể, rõ ràng các tình tiết là dấu hiệu định tội trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.2.2 Những điểm mới của BLHS 2015 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật Hình
sự Việt Nam là một trong những tội phạm xâm phạm sở hữu Theo quy định ở Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội phạm này người phạm tội không dùng bất cứ thủ đoạn nào để lấy tài sản từ trong tay của chủ sở hữu Chỉ sau khi nhận được tài sản một cách ngay thẳng từ chủ sở hữu thông qua các giao kết hợp pháp, người phạm tội mới có hành vi chiếm đoạt Bằng các biểu hiện khác nhau, họ thể hiện sự chiếm đoạt của mình có thể là bỏ trốn, đến hạn trả lại tài sản mặc dù có khả năng, điều kiện mà cố tình không trả, dùng thủ đoạn gian dối hoặc
sử dụng tài sản vào mục đích hợp pháp dẫn đến không có khả năng để trả lại tài sản Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định chi tiết các dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội phạm này một các cụ thể, đầy đủ, chính xác hơn
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 ra đời là một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập phù
Trang 31hợp với tình hình thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và thực sự là một bước tiến trong lịch sử lập pháp của nước ta
Những thay đổi về tội lạm dụng tín nhiệm tài sản trong pháp luật hình sự tại Bộ luật hình sự năm 2015
Đối chiếu với Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 thì Điều 175 Bộ luật hình sự
2015 đã có những thay đổi mang tính hoàn thiện hơn hành lang pháp lý đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thứ nhất, để cụ thể hóa điều luật, tránh hiểu sai, hiểu không thống nhất về quy định “đã gây hậu quả nghiêm trọng” “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản”, Bộ luật hình sự 2015 đã
bỏ cụm từ “đã gây hậu quả nghiệm trọng” và quy định cụ thể rõ ràng đã bị xử
phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc một số tội danh cụ thể4 Các tội danh được liệt kê cụ thể, tránh hiểu chung chung không rõ ràng như Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
Thứ hai, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 còn quy định bổ sung trường hợp “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại” Đây cũng là quy
định cần thiết, phù hợp, thể hiện rõ việc bảo vệ người bị hại Nếu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại thì đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không cần phải xem xét đến yếu tố định lượng tài sản trị giá bao nhiêu hay trước đó đã bị kết án về tội phạm nào hay chưa
Thứ ba, Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
không quy định các tình tiết định khung hình phạt, đây cũng chính là một điểm mới mang tính tiến bộ của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 [35]
Hiện nay tình trạng vay nợ nhưng đến hạn không chịu trả diễn ra tràn lan trên khắp cả nước, nhiều đối tượng sử dụng thủ đoạn này liên tục nhiều lần, thực hiện
Trang 32trong thời gian dài và coi đây như công cụ kiếm sống của mình Trong các tội danh thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu cũng quy định đây là tình tiết định khung hình phạt Do vậy để phù hợp với tình hình thực tế cũng như cân đối phù
hợp với các tội danh khác, các nhà làm luật đã đưa tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” làm tình tiết định khung hình phạt
Thứ tư, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thể hiện cao
tính nhân đạo khi quy định giảm nhẹ hơn các khung hình phạt trong từng điều khoản của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Cụ thể khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định khung hình phạt chỉ còn
từ 5 năm đến 12 năm trong khi đó Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm Tương tự khoản 4 Điều 174 mức hình phạt cũng nhẹ hơn, bỏ hình phạt chung thân
Khoản 5 Điều 140 của Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định hình phạt bổ sung khi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là phạt tiền, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt trên Đến Bộ luật hình sự 2015 thì hình phạt bổ sung quy định chỉ áp dụng 1 trong hai hình phạt bổ sung theo quy định chứ không được áp dụng cả hai hình phạt bổ sung trong một số trường hợp như Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định, Theo khoản 5, Điều
175 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền
từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” [3]
Tuy nhiên, xem xét đến hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản”, ta thấy Điều
175 Bộ luật hình sự năm 2015 đã không quy định hành vi này là hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là đúng đắn, bởi lẽ: Trên thực
tế, những người nhận được tài sản thông qua các hình thức hợp đồng ngay thẳng như vay, mượn, thuê tài sản sau đó “bỏ trốn”
Tuy nhiên, việc quy định khung hình phạt ở khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình
Trang 33sự năm 2015 không có khoảng giao thoa với khung hình phạt ở khoản 3 thì cần phải xem xét lại, để các quy định của luật hình sự ngày một hoàn thiện hơn
1.3 Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.3.1 Khái quát lý luận về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.3.1 Khái niệm định tội danh
Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lí sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã thực hiện với dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự [58, tr10]
Như vậy định tội danh được hiểu là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
và tố tụng hình sự; đồng thời dựa trên các tài liệu chứng cứ thu thập được phản ánh các tình tiết thực tế của vụ án đã xảy ra để so sánh, đối chiếu và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp của chúng với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định
Một số quan điểm cho rằng định tội danh là một trong những giai đoạn hoạt động áp dụng pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử tiến hành, các cơ quan này căn cứ vào tình tiết đã được xác định về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của một hành vi cụ thể nào đó mà quyết định xem hành vi đó có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đã được pháp luật quy định hay không
Xuất phát từ cách nhìn nhận, đánh giá ở góc độ cá nhân nhận thấy: “Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một quá trình nhận thức lý luận
có tính lôgic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, được thực hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thể hiện qua các nội dung quy phạm pháp luật hình
sự quy định phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội phạm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 34và mối tương đồng giũa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội này bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn
nhất định”
1.3.2 Ý nghĩa việc định tội danh:
Việc định tội danh đúng, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, loại trừ việc khởi tố, truy tố, xét xử và kết án oan sai, không có căn cứ đối với những người có hành vi không nguy hiểm cho xã hội, không trái pháp luật hình sự và tạo cơ sở pháp lý cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thể quyết định một hình phạt đúng đắn, chính xác, tương xứng với hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, dể định tội danh đúng, công bằng cần phải có những Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và các Hội thẩm nhân dân có trình độ, kiến thức pháp luật cao và hiểu biết một cách đúng đắn, sâu sắc các quy định của pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, lợi ích của nhân dân Bên cạnh đó những người tiến hành tố tụng cũng cần phải có những kiến thức hiểu biết
về điều kiện chính trị-xã hội, đồng thời phải bảo đảm tính độc lập của Tòa án, của các cơ quan tiến hành tố tụng không bị những tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài, bảo đảm việc tuân theo pháp luật trong quá trình xét xử
1.3.3 Cơ sở pháp lý để định tội danh
Là những căn cứ giúp cho việc định tội danh đảm bảo tính chính xác, khoa học, gồm:
- Bộ luật hình sự - Cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh
Tại Điều 2 BLHS hiện hành quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được
Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Điều này có nghĩa
là, một người chỉ bị cho là phạm tội và bị xử lý khi hành vi mà họ thực hiện được quy định trong Bộ luật hình sự, không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào có quyền
tự cho mình quyền được xác định hành vi do một người thực hiện có phải là tội phạm hay không và mức xử phạt như thế nào
- Cơ sở pháp lý gián tiếp, bổ trợ cho việc định tội danh
Trang 35Trong quá trình định tội danh Bộ luật TTHS giữ vai trò là cơ sở pháp lý gián tiếp, bổ trợ cho quá trình này, Bộ luật TTHS quy định về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; ngoài
ra, toàn bộ các quy phạm của Bộ luật TTHS cũng quy định về cả cách thức của quá trình định tội danh nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân trong lĩnh vực hoạt động tư pháp hình sự
Bên cạnh Bộ luật Tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như: Nghị quyết, Thông tư liên tịch, Nghị định…cũng có vai trò là cơ sở pháp lý gián tiếp, bổ trợ cho việc định tội danh Bởi
vì, những văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định cụ thể nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội mà theo đó sự mô tả trong dấu hiệu cấu thành tội phạm của Bộ luật hình sự không thể khái quát được
Hơn nữa, những biến đổi theo xu hướng phát triển của xã hội đòi hỏi phải ban hành những văn bản mới thay thế cho những văn bản đã không còn phù hợp Các cơ quan có thẩm quyền trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử phải nắm vững
và hiểu rõ nội dung quy định của những văn bản này mới có thể vận dụng để định tội danh được chính xác
- Cơ sở khoa học của việc định tội danh
Khoa học luật hình sự phân chia cấu thành tội phạm theo hành vi phạm tội, gồm bốn nhóm: nhóm dấu hiệu về khách thể của tội phạm, nhóm dấu hiệu về chủ thể, nhóm dấu hiệu về mặt khách quan và nhóm dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm, tội phạm là một thể thống nhất, do vậy việc tách riêng từng yếu tố trong quá trình định tội danh nêu trên chỉ có ý nghĩa tương đối, căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể để chúng ta vận dụng các yếu tố này cho hợp lý trong quá trình định tội danh
1.4 Khái quát lý luận về quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.4.1 Khái niệm quyết định hình phạt
Trang 36Quyết định hình phạt là việc Toà án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành Toả án lựa chọn loại hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu phải tuân theo những quy định của BLHS
Luật Hình sự chỉ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật cho hành vi phạm tội của mình
Một người hoặc pháp nhân chỉ bị coi là tội phạm và bị áp dụng hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự khi có Bản án có hiệu lực của Tòa án Tòa án nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định mức hình phạt đối với người phạm tội bằng Bản án dựa trên các quy định của pháp luật và kết quả xét xử tại phiên tòa
Quyết định hình phạt đúng là điều kiện đảm bảo tính khả thi của hệ thống hình phạt, để mỗi hình phạt trong hệ thống hình phạt thực sự là công cụ hữu hiệu trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần bảo đảm pháp chế Nhà nước XHCN Việt Nam
Hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự có khá nhiều quan điểm đã được nêu ra về khái niệm quyết định hình phạt Tuy nhiên với quan điểm “Quyết định hình phạt là một giai đoạn, nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản, điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội” [60,tr386] đã cho rằng: quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Toà án có thẩm quyền thực hiện sau khi đã định tội danh và tuỳ thuộc vào từng trường hợp để quyết định mức hình phạt trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật quy định áp dụng đối với người có hành vi phạm tội
Quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của hoạt động xét xử do HĐXX tiến hành căn cứ vào các quy định của BLHS để QĐHP, nên quyết định hình phạt
có những đặc trưng sau:
Trang 37Một là: QĐHP là hoạt động thực tiễn của Toà án có thẩm quyền do hoạt động xét xử thực hiện dựa trên cơ sở áp dụng quy định của pháp luật hình sự và kết quả định tội danh
Hai là: Toà án quyết định miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, loại hình phạt và mức hình phạt hay biện pháp tư pháp được quy định trong luật hình sự để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án kết tội đối với họ
- Hình phạt với ý nghĩa là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nhằm thực hiện quan hệ pháp lệnh hình sự (PLHS) nảy sinh giữa người có hành vi phạm tội và Nhà nước
- Hình phạt là công cụ đảm bảo cho LHS có thể thực hiện được nhiệm vụ bảo
vệ cũng như nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm
- Hình phạt có thể đảm bảo cho Luật hình sự thực hiện được những nhiệm vụ nói trên, bởi lẽ khi được áp dụng đối với người phạm tội, hình phạt nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội không phạm tội mới, đồng thời hình phạt còn nhằm giáo dục mọi công dân tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm Quyết định hình phạt được thực hiện trên cơ sở các căn cứ pháp luật hình sự quy định và mang tính tuỳ nghi cao
Việc quyết định hình phạt đối với tội LDTNCĐTS đã được quy định ở Điều
175 (BLHS 2015) cần thực hiện theo quy định của BLHS và căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, có tính định hướng chung cho việc quyết định hình phạt, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Để đánh giá được mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tòa án cần phải dựa vào nhiều tình tiết như: tính chất và mức độ hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra; mức độ lỗi; tính chất của dộng cơ phạm tội; tính chất của hành vi phạm tội như phương thức, thủ đoạn phạm tội, công cụ phương tiện phạm tội, … Ngoài
ra Tòa án còn cần phải xem xét về dặc điểm nhân thân của người phạm tội để bảo đảm hình phạt đạt được mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội
1.4.2 Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt
Trang 38Quyết định hình phạt có ý nghĩa vô cùng to lớn, khi quyết định hình phạt đúng sẽ làm cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hình phạt Mục đích của hình phạt là kết quả mà Nhà nước đặt ra khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Tuy nhiên, mục đích của hình phạt có đạt được hay không lại phụ thuộc vào quyết định hình phạt của Tòa án Quyết định hình phạt đảm bảo tính công minh, đúng pháp luật là điều kiện bắt buộc để hình phạt đã tuyên đạt được mục đích trừng trị
và giáo dục, cải tạo người phạm tội
Áp dụng hình phạt đúng là cơ sở pháp lý đảm bảo và nâng cao hiệu quả, tính khả thi của hình phạt, góp phần bảo đảm pháp chế của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
Kết luận Chương 1
Chương 1 của luận văn chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm tài sản, và phân biệt giữa tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các tội chiếm hữu tài sản khác, như: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lừa dối khách hàng, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, để làm rõ hành vi, các dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nhũng vấn đề lý luận về dịnh tội và quyết định hình phạt nói chung và đối với tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản nói riêng Khái quát lịch sử quy định tội tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn phát triển và ngày càng hoàn thiện hơn, cho đến nay các quy định trong điều luật khá rõ ràng, hợp lý, làm cơ sở cho việc xác định tội phạm và truy cứu trách nhiệm hành sự thống nhất và khách quan
Những vấn đề trên là những lý luận để tác giả vận dụng làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Trang 39Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LẠM DỤNG
TÍN NHIỆM TÀI SẢN TẠI ĐỒNG NAI
2.1 Thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Khái quát tình hình khởi tố điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thực tế theo số liệu thống kê hàng năm của Viện kiểm soát tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 đến 2019 tình hình tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh diễn ra khá phức tạp trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, cụ thể như sau:
Năm 2015, Cơ quan điều tra các cấp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã khởi tố 58
vụ với 61 bị can, Viện kiểm sát các cấp trên địa bàn truy tố 55 vụ với 58 bị can và Tòa án xét xử 55 vụ với 58 bị can, đình chỉ 1 vụ 1 bị can, tạm đình chỉ 2 vụ 2 bị can
Năm 2016, Cơ quan điều tra các cấp khởi tố 51 vụ với 55 bị can, Viện kiểm sát truy các cấp tố 49 vụ với 51 bị can và Tòa án xét xử 49 vụ với 55 bị can, đình chỉ 1 vụ 2 bị can, tạm đình chỉ 1 vụ 2 bị can
Năm 2017 Cơ quan điều tra các cấp khởi tố 29 vụ với 30 bị can, Viện kiểm sát các cấp truy tố 21 vụ với 33 bị can và Tòa án xét xử 21 vụ với 23 bị can, đình chỉ 1 vụ 1 bị can, tạm đình chỉ 6 vụ 6 bị can
Năm 2018, CQĐT khởi tố 21 vụ với 25 bị can, Viện kiểm sát truy tố 19 vụ với 19 bị can và Tòa án xét xử 19 vụ với 19 bị can, đình chỉ 1 vụ 2 bị can, tạm đình chỉ 1 vụ 2 bị can
Năm 2019, CQĐT khởi tố 32 vụ với 33 bị can, Viện kiểm sát truy tố 32 vụ với 33 bị can và Tòa án xét xử 32 vụ với 33 bị can
Như vậy, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong khoảng thời gian 5 năm từ năm
2015 đến năm 2019 CQĐT đã tiến hành khởi tố 191 vụ với 204 bị can; Viện kiểm
Trang 40sát truy tố 176 vụ với 184 bị can; Tòa án tỉnh đã xét xử 176 vụ với 184 bị cáo phạm tội LĐCĐTS
Bảng thống kê số liệu số vụ án, bị cáo phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được giải quyết trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ 2015 đến
2019
Số vụ Bị can Số vụ Bị can Số vụ Bị can
(Số liệu thống kê của VKS tỉnh Đồng Nai)
Qua khảo sát các đối tượng trong các vụ án LDTNCĐTS cho thấy tình hình tội phạm LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian qua diễn biến khá phức tạp
2.1.1.2 Thực trạng định tội danh Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo cấu thành cơ bản
Thực tiễn trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử được thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong những năm trước đây còn một số vướng mắc trong quá trình định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiêm đoạt tài sản
Thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo tại khoản 1, Điều 140 BLHS 1999
Tại Khoản 1 Điều 140 BLHS quy định sau khi nhận được tài sản thì việc thực hiện hành vi bỏ trốn hoặc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt; hoặc sau khi nhận được tài sản và sử sụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không
có khả năng trả lại tài sản Về xác định một người có hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” là thực hiện việc bỏ đi khỏi nơi cư trú, nơi làm việc một cách bí mật,