Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn Chính sách ĐTN cho LĐNT là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các chính sách công của nhà nước do vậy trước khi đưa ra định nghĩa cần hi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN BẰNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI
HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Phạm Văn Bằng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 6
1.1 Lao động nông thôn và chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 6 1.2 Mục đích, yêu cầu và nội dung cơ bản của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 12 1.3 Quy trình thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 17 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 27
2.1 Tổng quan tình hình lao động của huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam 27 2.2 Mục tiêu, yêu cầu của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam 30 2.3 Quy trình thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay 32 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam 45 2.5 Đánh giá chung về thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 48
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 56
Trang 53.1 Một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả hơn chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 56 3.2 Một số kiến nghị 64
KẾT LUẬN 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lao động qua đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo40 Bảng 2.2: Số lượng LĐNT có nhu cầu học nghề huyện Nông Sơn năm 2017-
2019 42 Bảng 2.3: Ngành nghề đã đào tạo cho LĐNT tại huyện Nông Sơn 43
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với bất kỳ một nền kinh tế nào dù phát triển, đang phát triển hay là chậm phát triển thì nhiệm vụ đào tạo nghề luôn được chú trọng, quan tâm hàng đầu, bởi lẽ đây là lĩnh vực có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Là một nước chịu nhiều tổn thất do chiến tranh liên miên, thiên tai địch họa thường xuyên Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng đất nước với nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển, sản xuất mang nặng tính tự cung, tự cấp, trình độ thâm canh và năng suất lao động thấp, năng suất cây trồng vật nuôi phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, tỉ lệ lao động nông thôn trong cơ cấu lao động còn khá cao (70%) Tuy nhiên thực tế hiện nay lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp Hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm người lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình làm việc và truyền dạy của các thế
hệ trước, vì vậy mà cơ hội tìm kiếm việc làm chưa cao, mức sống của người lao động nông thôn còn khá thấp
Nhận thức được điều đó trong thời gian vừa qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương và chính sách có liên quan đến công tác ĐTN cho LĐNT Tại Quyết định số 1956/QĐ -TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã chỉ ra rằng: “ĐTN cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn”
Huyện Nông Sơn - tỉnh Quảng Nam là một huyện có thế mạnh về nông nghiệp, cơ cấu lao động nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn Tuy nhiên hoạt động sản xuất nông nghiệp nơi đây vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của rủi ro
Trang 8như thời tiết, giá cả thị trường… nên đời sống người dân còn nhiều khó khăn Bên cạnh đó hàng năm có một lượng lớn số lao động dôi ra nhưng rất khó để
bố trí việc làm, vấn đề cơ cấu lại lực lượng lao động là một trong những khó khăn ở địa bàn bởi những lao động này chưa được đào tạo hoặc một số được đào tạo nhưng không đáp ứng được yêu cầu của công việc đòi hỏi trình độ ngày càng cao
Trong thời gian đó huyện thực hiện chương trình “Nông thôn mới” Quá trình thực hiện NTM địa phương đã lồng ghép việc ĐTN cho LĐNT theo
đề án 1956 của TTg-CP Sau một thời gian triển khai chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn đã đạt được một số thành tựu nhất định, công tác đào tạo và giải quyết việc làm đã và đang góp phần phát huy được tác dụng góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương Tuy nhiên, việc triển khai Đề án cũng gặp không ít những khó khăn như năng lực của một số cán bộ địa phương, cơ sở dạy nghề còn hạn chế, đội ngũ giáo viên cơ hữu còn thiếu và yếu, cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và thực hành chưa đảm bảo Từ đó đã tác động không nhỏ đến số lượng và chất lượng ngành nghề đã được đào tạo Để đánh giá được những kết quả đã đạt được trong việc triển khai Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ khi triển khai ở địa phương Vì vậy câu hỏi đặt ra là quá trình phân cấp, tổ chức, thực hiện ở huyện như thế nào?; Tình hình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn huyện trong thời gian qua ra sao?; Những yếu tố nào ảnh hưởng tới tình hình thực hiện chính sách ĐTN trên địa bàn?; Cần phải có những giải pháp chủ yếu nào
để thực hiện tốt chính sách ĐTN cho LĐNT của địa phương trong thời gian tới?
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Thực thi chính sách ĐTN cho LĐNT tại huyện Nông
Sơn, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn tốt nghiệp
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là đề tài đã được nghiên cứu từ nhiều năm qua Có nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố và một số đề tài luận văn thạc sỹ, tiến sỹ nghiên cứu về thực thi đào tạo nghề
Trần Văn Đại (2012), Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ
kinh tế nông nghiệp: 62.31.10.01
Nguyễn Thị Thu Trang (2016), Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn Hội nông dân Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên tôi có các nhiệm vụ sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách ĐTN cho LĐNT
và nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT
Đánh giá thực trạng tình hình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn huyện Nông Sơn
Xác định những yếu tố ảnh hưởng tới tình hình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn huyện
Trang 10Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác ĐTN cho LĐNT trên địa bàn huyện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình thực thi chính sách đào
tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo cứu tài liệu
Dựa trên các tài liệu thống kê, các chính sách hiện có của Đảng và Nhà nước và chính sách của huyện Nông Sơn trong việc phát triển nguồn nhân lực nói chung
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác
Trang 116 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Giúp cho học viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, tạo điều kiện cho sinh viên tích lũy kiến thức và kinh nghiệm trong thực tiễn
Rèn luyện các kỹ năng thu thập và xử lý số liệu, viết báo cáo
Dùng làm tài liệu tham khảo
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài cũng góp phần nêu lên những yêu cầu cơ bản của phát triển ĐTN, đề làm rõ thêm việc ĐTN cho LĐNT là một trong những điều kiện quan trọng phát triển nền kinh tế tri thức
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Lao động nông thôn và chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.1.1 Lao động nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm lao động nông thôn
Thuật ngữ “LĐNT” được tiếp cận dưới nhiều chiều cạnh không giống nhau Quan niệm cho rằng: “LĐNT là những người thuộc lực lượng LĐNT và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ trong nông thôn” [1, tr.54] Từ cách tiếp cận này giúp xác định thành
phần LĐNT bao gồm: lao động trực tiếp sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, làm nghề rừng, ngư nghiệp, diêm nghiệp); lao động làm dịch vụ kinh tế - kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp (thú y, bảo vệ thực vật, giống và vật tư nông nghiệp, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, quản lý khai thác công trình thủy lợi, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn); lao động công nghiệp và lao động làm công ăn lương ở khu vực nông
thôn [1, tr.55]
Trong luận văn này tác giả cho rằng: LĐNT là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn có khả năng lao động Theo cách định nghĩa này, LĐNT là những người sống và làm việc ở nông thôn Đây là điểm khác biệt với lao động ở thành thị Thành phần quan trọng nhất của LĐNT là những người ở trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật Ở Việt Nam, độ tuổi lao động tính từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ Tuy nhiên, lực lượng này chỉ gồm những người có khả năng
Trang 13lao động còn nếu mất khả năng lao động thì không được tính Ngoài ra, LĐNT còn bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động Lực lượng này chiếm tỷ lệ không nhỏ ở nông thôn bởi vì LĐNT với những nét đặc trưng phù hợp đối với nhiều người Theo quy định hiện hành, những người ngoài độ tuổi lao động gồm: (1) người lao động trên
độ tuổi lao động: nam từ 61 tuổi trở lên và nữ từ 56 tuổi trở lên; (2) người lao động dưới độ tuổi lao động: từ 13 đến 14 tuổi đối với nam nữ
LĐNT đóng vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế của mỗi hộ gia đình và là nguồn nhân lực chủ yếu phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ĐTN, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật để người lao động có việc làm ổn định, tăng thu nhập là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1.2 Đặc điểm lao động nông thôn
Nông thôn là vùng lãnh thổ đặc thù, trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra chủ yếu vì vậy LĐNT có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, số lượng LĐNT chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động cả nước và phân bố không đồng đều giữa các địa bàn, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng Điều này là dễ hiểu vì nước ta là một nước nông nghiệp và địa hình khá đa dạng trong đó địa hình đồng bằng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sinh sống và lao động sản xuất
Thứ hai, chất lượng của LĐNT rất thấp (trình độ nghề nghiệp, kỹ năng lao động, thể lực, kiến thức xã hội, khả năng tiếp cận thị trường…) Đây là sản phẩm của tư duy “thuần nông” mang tính lịch sử Vì thế, vấn đề đào tạo nâng cao chất lượng cho LĐNT trở nên cần thiết và cấp bách
Thứ ba, LĐNT đa dạng, dễ thay đổi và mang tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp dẫn đến dư thừa lao động vào những lúc nông nhàn Để có việc làm tăng thu nhập, nông dân phải tham gia vào nhiều hoạt động lao động khác
Trang 14nhau, làm nhiều công việc ở những ngành nghề khác nhau Đặc điểm này đặt
ra những vấn đề cần quan tâm trong ĐTN cho đối tượng này
Thứ tư, LĐNT đang có xu hướng già hóa do phần lớn lao động trẻ có tay nghề có xu hướng di cư ra những thành phố lớn tìm cơ hội việc làm và thậm chí có sự dịch chuyển cơ cấu lao động tại nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp
1.1.2 Đào tạo nghề
Khoản 2 Điều 3 của Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định: ĐTN
là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp
Từ những cách tiếp cận trên cho thấy ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ không thể tách rời nhau đó là dạy nghề và học nghề Thế nên trong nhiều trường hợp, dạy nghề và ĐTN được đồng nhất với nhau Dạy nghề hiểu theo nghĩa chung nhất là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến người học Hiểu một cách đầy đủ, đó là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo về nghề nghiệp
Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận thuật ngữ “ĐTN” như sau: ĐTN là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định
1.1.3 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.1.3.1 Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn trong đó hoạt động nông nghiệp đóng vai trò quan trọng và nông dân là bộ phận dân cư chủ yếu Sự khác nhau giữa khái niệm ĐTN nói chung và ĐTN cho LĐNT là ở đối tượng của ĐTN
Trang 15đó là những người LĐNT và những điều kiện gắn với quá trình ĐTN đó
Từ những khái niệm đã được luận giải ở trên, khái niệm ĐTN cho LĐNT được hiểu đó là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về trình
độ chuyên môn nghiệp vụ để những người LĐNT có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
1.1.3.2 Đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn:
Về đối tượng đào tạo:
Số lượng lớn: trên thực tế, loài người xuất hiện bắt đầu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp vì vậy đa phần dân số bắt đầu từ làm nông nghiệp Ở nước
ta, với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp thuần túy, LĐNT chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng lực lượng lao động xã hội
Chất lượng thấp: chất lượng LĐNT được đo bằng các tiêu chí thể lực và trí lực Trí lực chứa đựng nhiều nội dung như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, tập quán, văn hóa, trình độ tổ chức cuộc sống… Thể lực được
đo bằng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động Những tiêu chí này đối với người LĐNT đều thấp hơn so với lực lượng lao động ở thành thị vì vậy đặt ra nhiều yêu cầu cho công tác ĐTN
Đa dạng: tính đa dạng của đối tượng đào tạo được biểu hiện qua tính đa dạng của nguồn LĐNT Đa dạng về độ tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh sống, điều kiện sản xuất Với mỗi đối tượng trên, điều kiện tham gia đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động nông nghiệp khác nhau
Đối tượng của ĐTN chủ yếu là nông dân nên đòi hỏi nội dung đào tạo
là các nghề trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản… Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ nên người nông dân có khuynh hướng kiêm nghề, vì vậy ĐTN cũng cần tiếp cận để tổ chức hiệu quả
Nguồn nội lực yếu: đối tượng học nghề là cư dân ở nông thôn có thu
Trang 16nhập thấp, chỉ đủ tái sản xuất giản đơn và chi dùng cho các nhu cầu đời sống tối thiểu Thu nhập dành cho học tập và tham gia vào các quá trình ĐTN, nhất
là học nghề thường hạn chế nên cần sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng Lao động nông nghiệp làm việc có tính chất thời vụ nên người nông dân cần có việc làm trong những thời gian nông nhàn để tăng thu nhập đáp ứng yêu cầu cuộc sống Vì vậy ĐTN cho LĐNT cần khuyến khích không chỉ các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng làm nghề nông, lâm, ngư mà còn khuyến công (đặc biệt là tiểu thủ công nghiệp) và khuyến thương (thương mại và dịch vụ)
Về chủ thể đào tạo: chủ thể đào tạo khá đa dạng, bên cạnh các cơ sở
đào tạo chính thống, chuyên nghiệp còn nhiều chủ thể khác tham gia ĐTN như các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh, các hợp tác xã, các tổ chức xã hội… Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề cũng có những nét riêng trong công tác ĐTN xuất phát từ những đặc thù của đối tượng đào tạo Đặc điểm này đặt ra những gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách
Tính chất đào tạo: đào tạo cho LĐNT được thực hiện trong thời gian
ngắn, lặp đi lặp lại, chủ yếu tập trung dạy thực hành, kĩ năng, linh hoạt về hình thức và phương pháp đào tạo Không chỉ ĐTN trong các trường nghề, trung tâm dạy nghề mà cần tổ chức dạy nghề lưu động; dạy nghề tại chỗ (trên đồng ruộng, trang trại, miệt vườn); dạy nghề theo hình thức kèm cặp, cầm tay chỉ việc, truyền nghề tại các làng nghề; dạy nghề trên các phương tiện thông tin đại chúng
Mục tiêu ĐTN cho LĐNT: Nâng cao chất lượng chuyên môn tay nghề
cho LĐNT; Tăng năng suất lao động và phát triển kinh tế hộ gia đình; Giải quyết việc làm cho LĐNT, ổn định xã hội và phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trang 171.1.4 Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách ĐTN cho LĐNT là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các chính sách công của nhà nước do vậy trước khi đưa ra định nghĩa cần hiểu thống nhất về khái niệm chính sách công ở nước ta hiện nay Có nhiều cách tiếp cận về chính sách công
Thomas Dye (1972) đưa ra một định nghĩa súc tích về chính sách công như sau: chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm
Tác giả William Jenkins (1978) tiếp cận cụ thể hơn, theo đó chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn mục tiêu
và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm
vi thẩm quyền
Năm 1984, James Anderson phát triển các định nghĩa trên thành định nghĩa: Chính sách công là một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một tập hợp các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm
Theo B Guy Peter (1990), chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân
Dựa trên các cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu nước ngoài, tác giả Nguyễn Hữu Hải hình thành định nghĩa như sau: chính sách công là những hành động ứng xử của nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy xã hội
phát triển
Một quan niệm khác cho rằng: chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong
Trang 18đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định Tại Nghị định
34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định
Kế thừa các cách tiếp cận trên, tác giả luận án cho rằng: chính sách ĐTN cho LĐNT là tập hợp các quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm nâng cao chất lượng LĐNT đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.2 Mục đích, yêu cầu và nội dung cơ bản của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.2.1 Mục đích, yêu cầu của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Mục đích
Mục đích của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn là nhằm đào tạo, nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn Đa phần lao động ở nước ta mà nhất là lao động khu vực nông thôn có trình độ thấp, ít được tiếp cận với khoa học kỹ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin Qua đào tạo nghề sẽ giúp người lao động thay đổi nhận thức về ngành, nghề nào đó sau khi được đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động từ đó tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống
Điều 33, Luật giáo dục 2005 và điều 4 Luật dạy nghề có nêu: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
Trang 19công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”
Yêu cầu
Chính sách ĐTN cho LĐNT đã được Nhà nước ban hành và đang trong quá trình triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước Để quá trình triển khai chính sách đạt kết quả và hiệu quả cao, cần tuân thủ các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, thực hiện chính sách phải đảm bảo mục tiêu của chính sách
Đảm bảo mục tiêu chính sách là yêu cầu hàng đầu trong thực hiện bất
kỳ chính sách nào Nếu không tuân thủ nguyên tắc này, mọi hoạt động triển khai dù tốt đi chăng nữa cũng không mang lại giá trị gì Mục tiêu của chính sách bao giờ cũng bao gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, mục tiêu
cả nước, mục tiêu của vùng, mục tiêu của địa phương (mục tiêu của tỉnh, mục tiêu của huyện và mục tiêu của xã) Theo đó, đạt được mục tiêu của từng cấp
sẽ góp phần đạt được mục tiêu cao nhất mà chính sách đã đề ra
Thứ hai, thực hiện chính sách phải gắn với đặc điểm địa phương
Công tác ĐTN cho LĐNT với những mục tiêu, nội dung, các hoạt động chủ yếu trong từng giai đoạn đã được quy định hết sức cụ thể và rõ ràng trong các văn bản pháp luật, cụ thể là trong Quyết định 1956 Vì vậy, thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT gắn với đặc điểm địa phương và vùng là xu hướng cần phải nhìn nhận và áp dụng trong tương lai Điều này giúp phát huy được lợi thế của từng vùng, miền, địa phương mà lại không rập khuôn, máy móc trong công tác chỉ đạo, điều hành, tránh bệnh thành tích, phong trào, hình thức, đảm bảo ĐTN cho LĐNT mang lại kết quả thực sự
Thứ ba, thực hiện chính sách cần sự quyết tâm của toàn bộ hệ thống chính trị
Quá trình triển khai bất kỳ chính sách nào cũng là quá trình phức tạp, lâu dài vì thế cần sự chung tay, góp sức của toàn bộ hệ thống chính trị ĐTN cho LĐNT được xác định là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các
Trang 20ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Thứ tư, thực hiện chính sách phải đảm bảo sự tham gia của người dân
Lý luận và thực tiễn chứng minh rằng sự tham gia của người dân là yếu
tố tạo nên thành công của mọi chính sách trong đó chính sách ĐTN cho LĐNT cũng không ngoại lệ Vì vậy, cần phải có các giải pháp đưa ra cần phát huy vai trò, vị trí của người dân trong quá trình thực hiện chính sách
Thứ năm, thực hiện chính sách cần đảm đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực
Hiệu quả là một thước đo hàng đầu để đo lường việc thực hiện chính sách Rõ ràng, mục tiêu chính sách là cái hướng đến của quá trình thực hiện nhưng không phải đạt mục tiêu bằng bất kỳ giá nào mà cần cân nhắc đến chi phí và lợi ích Công tác ĐTN cho LĐNT là một chủ trương lớn và đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị với nguồn lực về tài chính, con người tương ứng thì bài toán hiệu quả cần phải được quan tâm hàng đầu Nếu như không sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực thì nguồn lực sẽ hao mòn, cạn kiệt dần, chính sách không đủ khả năng đi vào đời sống, dẫn đến vấn đề không được giải quyết
Thứ sáu, thực hiện chính sách cần bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
Việc thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan, nhiều cá nhân do vậy yêu cầu về minh bạch và trách nhiệm giải trình là rất cần thiết Minh bạch giúp nhiều chủ thể khác nhau có thể tiếp cận được các công việc mà cơ quan nhà nước đang tiến hành, đồng thời giúp cho chính các cơ quan triển khai chính sách hạn chế những sai lầm trong quá trình ra quyết định Ngoài ra, trách nhiệm giải trình giúp quá trình triển khai chính sách tránh được những thất thoát về nguồn lực và xác định được trách
Trang 21nhiệm khi có sai sót, vi phạm xảy ra từ đó kết quả thực hiện chính sách sẽ đạt được như mong đợi
1.2.2 Nội dung chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách ĐTN cho LĐNT được thể chế hóa trong nhiều văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Ngoài các văn bản quy định trực tiếp về người LĐNT, các quy định liên quan đến đội ngũ ĐTN, quy định về cơ sở ĐTN cũng cần được quan tâm để nhìn nhận chính sách ĐTN cho LĐNT một cách hệ thống hơn Do vậy, chính sách ĐTN cho LĐNT bao gồm nhiều chính sách hợp phần Trong luận án, tác giả tập trung nghiên cứu 3 chính sách hợp phần gồm: (1) Chính sách đối với LĐNT tham gia học nghề; (2) Chính sách đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; (3) Chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp
Chính sách đối với LĐNT tham gia học nghề
Mục đích chính sách: hỗ trợ việc cung cấp kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ làm việc cho LĐNT nhằm tạo cơ hội tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm để cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống
Đối tượng tham gia học nghề là toàn bộ người lao động ở nông thôn Mỗi đối tượng khác nhau, nhà nước đều có các chính sách hỗ trợ tương ứng LĐNT là người khuyết tật được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối
đa 06 triệu đồng/người/khóa học; LĐNT thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; người thuộc hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 04 triệu đồng/người/khóa học; LĐNT là người dân tộc thiểu số, người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học Mức hỗ
Trang 22trợ tiền ăn 30.000 đồng/người/ngày thực học Mức hỗ trợ tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15 km trở lên Riêng đối với người khuyết tật và người học cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ: Mức hỗ trợ tiền đi lại 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 5 km trở lên
LĐNT thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ chi phí đào tạo trình độ sơ cấp
và dưới 3 tháng với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học
LĐNT khác được hỗ trợ chi phí đào tạo trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học
Riêng ngư dân học các nghề: Vận hành tàu vỏ thép, tàu vỏ vật liệu mới,
kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới đối với tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên được hỗ trợ 100% chi phí đào tạo và thực hiện theo quy định tại Nghị định của Chính phủ
LĐNT sau khi ĐTN được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm
Chính sách đối với các cơ sở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Mục đích của chính sách: khuyến khích sự tham gia của các tổ chức nhà nước hoặc các tổ chức tư ĐTN cho LĐNT
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông trường, lâm trường, trang trại và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ có đủ điều kiện hoạt động giáo dục nghề nghiệp được tham gia ĐTN cho LĐNT bằng nguồn kinh phí của Đề án 1956 Các cơ sở này được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo dục nghề nghiệp đối với giảng viên, giáo viên;
kỹ năng dạy học đối với người dạy nghề; nghiệp vụ quản lý dạy nghề cho LĐNT đối với cán bộ quản lý
Trang 23Chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp
Mục đích chính sách: hỗ trợ và khuyến khích giáo viên, người tham gia ĐTN cho LĐNT và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp gắn bó, nhiệt huyết với công tác ĐTN
Giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum, sóc thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung; giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu, xa, biên giới, hải đảo, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được giải quyết nhà công vụ; người dạy nghề được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ; người dạy nghề là các tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi Xây dựng các tiêu chuẩn, chế độ, cơ chế đãi ngộ phù hợp để thu hút những người giỏi, có năng lực đang hoạt động trên các lĩnh vực, mọi thành phần tham gia ĐTN
1.3 Quy trình thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.3.1 Lập kế hoạch triển khai thực thi chính sách
Thực hiện chính sách là quá trình lâu dài, phức tạp, vì vậy sau khi chính sách được ban hành cần có những văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền cũng như cần lập kế hoạch để các cơ quan cấp dưới triển khai thực hiện một cách chủ động
Chính sách ĐTN cho LĐNT được ban hành ở trung ương sau đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ban hành các văn bản hướng dẫn để làm rõ các nội dung trong chính sách Tiếp đến, chính quyền cấp tỉnh căn cứ vào các văn bản của trung ương để ban hành các văn bản phù hợp với thực tiễn địa
Trang 24phương mình Chính quyền địa phương các cấp tiến hành xây dựng các kế hoạch thực hiện chính sách theo từng giai đoạn hoặc từng năm
Việc xây dựng kế hoạch nhằm mục đích thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT là nhằm hệ thống hóa các chỉ tiêu, xác định mục tiêu cụ thể cho từng thời gian nhất định cũng như cụ thể các giải pháp, các nguồn lực để đảm bảo đưa chính sách vào thực tiễn một cách khoa học, hợp lý tránh việc lãng phí, thất thoát trong quá trình thực hiện
Kế hoạch cần đảm bảo những nội dung gồm: các mục tiêu cần đạt được trong khoảng thời gian xác định; dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ trì và
cơ quan phối hợp triển khai thực hiện; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia triển khai chính sách; dự kiến về trang thiết bị kỹ thuật phục vụ, kinh phí thực hiện; dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát
1.3.2 Phổ biến tuyên truyền chính sách
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách là một hoạt động quan trọng và có ý nghĩa rất lớn, không chỉ ở giai đoạn đầu mà là cả quá trình và diễn ra với tần suất thường xuyên, liên tục nhằm nâng cao sự hiểu biết nhất định về các nội dung của chính sách ĐTN cho LĐNT
Công tác này được các cấp chính quyền tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: trên các phương tiện thông tin đại chúng, đài phát thanh, các
tờ báo của địa phương, tổ chức các hội nghị, cuộc họp, tập huấn tuyên truyền chính sách Tùy vào từng hoàn cảnh, mục đích mà chính quyền địa phương
sẽ lựa chọn hình thức tuyên truyền, phổ biến sao cho thích hợp nhất vừa đạt được mục tiêu đề ra, vừa đảm bảo tiết kiệm, tránh lãng phí
Mục đích của công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách là giúp cho người LĐNT hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách, cũng như tính đúng đắn của chính sách; giúp cho mỗi cán bộ, công chức nhận thức được đầy
đủ quy mô, tầm quan trọng của chính sách đối với đời sống xã hội và chủ
Trang 25động tìm kiếm các giải pháp thực hiện chính sách một cách tối ưu nhất
Nội dung của công tác này là tập trung vào phổ biến nội dung của chính sách ĐTN cho LĐNT đến các đối tượng LĐNT và đội ngũ cán bộ, công chức triển khai chính sách; tuyên truyền sự tác động tích cực của chính sách đối với đời sống của người lao động; vận động LĐNT tích cực tham gia thực hiện chính sách; vận động các cá nhân, tổ chức đóng góp các nguồn lực cho công tác ĐTN; vận động các cá nhân có năng lực phù hợp tham gia công tác ĐTN…
Chủ thể tiến hành công tác này thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau tuy nhiên để việc tuyên truyền chính sách có hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội Chính các cơ quan này đại diện cho tiếng nói, quyền lợi của các thành viên tổ chức mình
1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Trong giai đoạn thực hiện chính sách, việc quan trọng nhất là công tác
tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp thực hiện chính sách Có thể ví tổ chức bộ máy thực hiện chính sách như xây dựng bộ khung của một ngôi nhà Khi người ta đã xây dựng được bộ khung với các trụ cột của ngôi nhà thì các công việc còn lại sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều
Chính sách ĐTN cho LĐNT là một chính sách lớn được thực hiện trên phạm vi rộng vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách rất nhiều Do vậy, chính sách này khi được thực hiện cần có sự chung tay thực hiện của nhiều cấp, nhiều ngành khác nhau cùng tham gia
Trong quá trình tổ chức bộ máy và phân công thực hiện chính sách, vai trò của chính quyền địa phương là rất quan trọng Trong đó, UBND cấp tỉnh
có trách nhiệm tiếp nhận các chỉ đạo của trung ương đồng thời có nhiệm vụ chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn UBND cấp huyện và cấp xã tổ chức thực hiện chính sách Ngoài cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện, trong quá trình triển
Trang 26khai chính sách còn có sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể, vì thế yêu cầu đặt ra là cần có sự phân công khoa học và phối hợp chặt chẽ trong thực hiện chính sách
Nội dung của công tác tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp thực hiện chính sách tập trung vào kiện toàn, sắp xếp bộ máy sao cho phù hợp nhất; sắp xếp một cách hợp lý, khoa học nguồn nhân lực thực hiện chính sách; cũng như xây dựng được cơ chế phối hợp giữa UBND các cấp, các sở chuyên môn, các phòng chuyên môn, các tổ chức chính trị - xã hội nhằm mục
đích thực hiện chính sách một cách linh hoạt, đồng bộ, hiệu quả
1.3.4 Đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách
Bất kì công việc gì, nếu không giám sát, kiểm tra thì khó đạt mục tiêu Quá trình thực hiện chính sách trên thực tiễn muôn hình vạn trạng và không địa phương nào có thể bê nguyên si mô hình của nhau mà cần áp dụng một cách sáng tạo, linh hoạt Sự sáng tạo này nhất định không được vượt quá thẩm quyền, không trái với quy định của nhà nước Điều đó chỉ có thể đảm bảo khi các cơ quan trong hệ thống chính trị bằng các cách thức khác nhau theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách
Chủ thể tiến hành kiểm tra thông thường là do các cơ quan quản lý trực tiếp cấp trên Trong khi đó, vai trò giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội khá quan trọng với tư cách là cơ quan giám sát “bên ngoài” Thông qua kênh giám sát này, giúp cho chính quyền các cấp phát hiện các sai lệch, nhìn nhận một cách khách quan về năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức từ đó kịp thời đưa ra các biện pháp chỉ đạo kịp thời giúp chính sách ĐTN cho LĐNT đi đúng quỹ đạo
1.3.5 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
Đánh giá và tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thực
Trang 27hiện chính sách nhằm đánh giá tác động của chính sách khi triển khai vào cuộc sống Tuy nhiên, việc đánh giá này không chỉ dừng lại ở việc xét xem, kết luận ở một khâu, một bước mà là cả quá trình chính sách từ khi hoạch định đến thực thi chính sách
Mục đích của việc đánh giá chính sách ĐTN cho LĐNT không chỉ dừng lại ở số lượng người lao động được ĐTN, số lượng lớp mở ra mà vấn đề quan trọng hơn là từ kết quả đó cơ quan nhà nước sẽ có cách nhìn nhận một cách toàn diện hơn cả về mục tiêu và giải pháp thực hiện Nhờ vậy, cơ quan ban hành chính sách có cơ sở để đưa ra quyết định tiếp tục thực hiện chính sách hay thay thế một chính sách khác tốt hơn, hiệu quả và khả thi hơn
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách công bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách Thước đo đánh giá kết quả thực hiện của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện không gian và thời gian
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Trong thực tế, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT Nhưng xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau thì việc triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn chịu ảnh hưởng chính của một số yếu tố sau đây:
1.4.1 Các chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề cho người lao động có chi phí đầu tư rất lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, vì thế muốn đào tạo nghề phát triển thì Nhà nước phải có các
Trang 28chính sách đầu tư; đồng thời phải ban hành hệ thống văn bản tạo hành lang pháp lý, tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đào tạo nghề phát triển
Luật dạy nghề ra đời năm 2006, là một bước ngoặt trong phát triển công tác đào tạo nghề ở nước ta Từ đó, các chính sách có liên quan đến đào tạo nghề cho người lao động được ban hành phù hợp với thực tế của đất nước, các chính sách được ban hành có sự kế thừa những chính sách trước kia nên phù hợp với yêu cầu của xã hội Một số chính sách được ban hành trong thời gian gần đây như: Dự án 7 tăng cường năng lực dạy nghề; Đề án đào tạo nghề cho LĐNT theo quyết định 1956 của TTg-CP đến năm 2020; Chính sách đối với người học nghề; Chính sách đối với trường nghề và trung tâm dạy nghề; Chính sách đối với giáo viên, giảng viên tham gia đào tạo nghề và cán bộ quản lý dạy nghề; Chính sách đối với DN tham gia đào tạo nghề, nhận lao động qua sau khi được đào tạo nghề
Hiện nay, Nhà nước quản lý dạy nghề thông qua hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật như: quy định về thành lập, đăng ký hoạt động dạy nghề, quy chế hoạt động của trường dạy nghề; chương trình khung; mã nghề; quy định liên thông các trình độ tay nghề; kiểm định chất lượng đào tạo nghề Đó là những chính sách quan trọng giúp phát triển đào tạo nghề tại Việt Nam
1.4.2 Trình độ nhận thức của người lao động nông thôn và xã hội về học nghề
Lao động tham gia học nghề là nhân tố trung tâm, có tính chất quyết định đối với công tác đào tạo nghề, nó ảnh hưởng rất lớn tới công tác đào tạo Trình độ văn hóa, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian, cùng với nhận thức và thái độ học nghề của những học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng đào tạo và hiệu quả đến thu nhập của chính bản thân người học nghề
Trang 29Nếu mọi lao động trong xã hội đánh giá được đúng đắn hơn tầm quan trọng của việc học nghề thì lượng lao động tham gia học nghề sẽ chiếm một
tỷ lệ lớn hơn so với toàn bộ số lao động trên thị trường và sẽ có cơ cấu trẻ hơn, đa dạng hơn Hơn nữa, nếu người lao động nhận thức được rằng giỏi nghề là một phẩm chất quý giá của mình, là cơ sở vững chắc để có việc làm
và thu nhập ổn định thì công tác đào tạo nghề sẽ nhận được thêm nhiều nguồn lực hỗ trợ cần thiết từ xã hội
1.4.3 Đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề
Trong đào tạo nghề thì giáo viên ĐTN là những người có vai trò rất quan trọng, họ là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở thiết bị đào tạo Vì thế, năng lực của đội ngũ giáo viên có tác động trực tiếp lên chất lượng công tác đào tạo nghề Đào tạo nghề có những nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền giáo dục quốc dân khác, đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng, học viên vào học nghề có rất nhiều cấp trình độ văn hoá khác nhau Cấp trình độ đào tạo nghề ở các cơ sở đào tạo nghề cũng rất khác nhau (bán lành nghề, lành nghề, bồi dưỡng nâng bậc thợ) Sự khác biệt đó làm cho đội ngũ giáo viên đào tạo nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau Năng lực của giáo viên đào tạo nghề tốt thì mới có thể đào tạo được các học viên được tốt bởi vì các học viên nắm được lý thuyết, bài giảng được học viên tiếp thu nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào năng lực giáo viên
1.4.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề
Một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ trong công tác đào tạo nghề cho lao động, đó là cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề Trong thực tế đào tạo nghề, ứng với mỗi ngành nghề thì có những trang thiết bị, máy móc kỹ thuật khác nhau, vì vậy đòi hỏi người đào tạo cần phải nắm bắt kịp thời theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Trang 30Hiện nay cơ sở vật chất và phương tiện máy móc ở nước ta còn thiếu thốn và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, chính vì vậy mà cần phải có sự quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất cho công tác đào tạo nghề cho lao động Theo quyết định 1956 đã chỉ rõ kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo nghề cho lao động trong thời gian triển khai đề án,
để từ đó việc đào tạo nghề cho lao động có hiệu quả hơn
1.4.5 Chương trình, giáo trình liên quan đến đào tạo nghề
Theo Wentling (1993) thì “Chương trình đào tạo là một bảng thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo, đó có thể là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần, hoặc một vài năm Bảng thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết các phương pháp đào tạo các cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ”
Qua thực tế trong quá trình đào tạo nghề nếu không có chương trình dạy học thì chất lượng dạy học nghề sẽ thấp, vì vậy việc xây dựng giáo trình dạy nghề là một trong những vấn đề có tính then chốt để tiến hành đào tạo nghề cho người lao động Vì thế yêu câu trong công tác xây dựng chương trình đào tạo nghề cần phải gắn với thực tế, phải cập nhật thường xuyên những tri thức mới để có thể đáp ứng nhu cầu thực tế của người học và xã hội
1.4.6 Liên kết trong hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Sự liên kết giữa các bên tham gia đào tạo nghề là một yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện tốt chính sách Thực tế trong quá trình phân cấp tổ chức thực hiện chính sách có sự tham gia của nhiều tổ chức, các cấp chính quyền từ khâu ban hành, đến triển khai thực hiện cần thông qua rất nhiều các văn bản, quyết định và nghị định Bên cạnh đó Nhà nước cần phải có sự quan
Trang 31tâm đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có thể tạo được nhiều việc làm cho người lao động nông thôn Chính vì thế cần phải có sự liên kết giữa Nhà nước, các doanh nghiệp và chính quyền địa phương, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia công tác đào tạo nghề và trực tiếp tuyển dụng những lao động mà họ đã đào tạo nhằm đáp ứng được yêu cầu công việc
và đồng thời chia sẻ gánh nặng với nhà nước cũng như thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội
Tiểu kết Chương 1
ĐTN cho LĐNT đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là khi nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Chính sách ĐTN cho LĐNT là một bộ phận của hệ thống chính sách quốc gia đã được ban hành và đang trong giai đoạn triển khai thực hiện
Trong chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý luận về chính sách ĐTN cho LĐNT và thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT Luận văn đã làm rõ khái niệm của chính sách ĐTN cho LĐNT Đồng thời cũng hình thành khái niệm thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT, quy trình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách Để đánh giá quá trình thực hiện chính sách một cách khách quan, đúng đắn, tác giả cũng đã hình thành các tiêu chí
cơ bản tập trung đánh giá các yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra của việc thực hiện chính sách
Đặc biệt, tác giả đã phân tích khá chi tiết quy trình thực hiện chính sách gồm 5 bước cơ bản và quan trọng: (1) lập kế hoạch triển khai chính sách; (2) phổ biến tuyên truyền chính sách; (3) phân công phối hợp thực hiện chính sách; (4) đôn đốc kiểm tra thực hiện chính sách và (5) đánh giá, tổng kết việc
Trang 32thực hiện chính sách Trong chương tiếp theo, tác giả cũng dựa trên quy trình này để phân tích và đánh giá về thực trạng của công tác này tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quang Nam
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN NÔNG SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Tổng quan tình hình lao động của huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nông Sơn là một huyện miền núi nằm về phía Tây tỉnh Quảng Nam, cách tỉnh lỵ Tam Kỳ khoảng 75 km về hướng Tây Lãnh thổ huyện nằm trong vùng nội chí tuyến, tại múi giờ thứ bảy Khu vực trung tâm huyện nằm trên giao lộ của hai tuyến giao thông quan trọng của tỉnh Quảng Nam là tỉnh lộ ĐT.610 và tỉnh lộ ĐT.611 có tọa độ địa lý là 15072’ vĩ độ Bắc và 108006’ kinh độ Đông Nông Sơn còn nằm trên đường Trường Sơn Đông, trong tương lai sẽ là tuyến giao thông huyết mạch của Vùng Tây Quảng Nam, nói riêng và của Miền Trung - Tây Nguyên, nói chung
Huyện Nông Sơn được thành lập theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CP ngày 08/4/2008 của Chính phủ, có điều kiện địa lý:
- Phía Bắc giáp với huyện Duy Xuyên và Đại Lộc,
- Phía Nam giáp với huyện Hiệp Đức và huyện Phước Sơn,
- Phía Đông giáp với huyện Quế Sơn,
- Phía Tây giáp với huyện Nam Giang
Huyện Nông Sơn có tổng diện tích tự nhiên 457,92 km².Toàn huyện
có 6 xã 01 thị trấn Trung tâm hành chính huyện đặt tại thôn Trung Phước 1,
xã Quế Trung
Nông Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng Nam Hải Vân, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa, có nền nhiệt độ cao, nắng
Trang 34nhiều, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt
đó là mùa mưa và mùa khô nóng, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 01 năm sau, đây là mùa có gió mùa Đông Bắc kéo theo mưa
- Độ ẩm không khí trung bình 84%
- Nhiệt độ trung bình 250C, mùa đông giao động từ 29- 340C
- Lượng mưa trung bình hằng năm: 2.580 mm, lượng mưa lớn tập trung vào tháng 9, 10, 11, chiếm 85% lượng mưa cả năm
Nằm trong lưu vực sông Thu Bồn và với địa hình đồi dốc, có lượng mưa lớn tập trung nên hằng năm, tại Nông Sơn thường xảy ra lũ quét và ngập lụt cục bộ, nhất là ở vùng ven sông Lũ sông Thu Bồn cấp báo động 1 gây ngập các vùng trũng ven sông, cấp báo động 2 gây ngập nhiều vùng dân cư, bãi bồi, đồng ruộng, đường giao thông, cấp báo động 3 gây ngập hầu hết các vùng đồng bằng, giao thông bị chia cắt
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Về kinh tế: Năm 2008, huyện Nông Sơn được thành lập Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2015-2019 bình quân đạt 17,23%/năm Cơ cấu ngành kinh tế có sự chuyển dịch hợp lý, trong đó xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ Tỷ trọng của ngành nông, lâm, thủy sản trong cơ cấu giá trị sản xuất trên địa bàn huyện tăng lên trong năm 2017 so với năm 2015 và giảm xuống trong năm 2018; tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng tăng
có xu hướng chững lại từ năm 2017 đến năm 2018 và đột phá tăng mạnh trong năm 2019; thương mại dịch vụ ổn định và tăng nhẹ trong giai đoạn 2017 – 2019
Cùng với việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huyện Nông Sơn đã
có nhiều cố gắng trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư để xây dựng các công trình như giao thông, hệ thống điện, thủy lợi, góp phần tăng năng lực sản
Trang 35xuất, làm thay đổi bộ mặt của huyện và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Về xã hội: Huyện Nông Sơn có 6 xã trong đó có 1 thị trấn Trung Phước Số thôn là 36 thôn Dân số trung bình năm 2018 là 31.954 người (nữ: 15.932 người) Mật độ dân số toàn huyện là 70 người/km2 Cơ cấu dân số theo giới tính của huyện tương đối cân bằng, dân số nam chiếm 51,1% và dân số
nữ chiếm 48,9 % so với tổng số dân Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ sinh,
tỷ lệ chết của huyện nhìn chung có xu hướng giảm qua các năm Trong đó hơn 88,4% dân cư sinh sống trên địa bàn nông thôn
Cơ sở vật chất ngành y tế, giáo dục và sức khỏe cộng đồng trong những năm qua đã được đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp từ các nguồn vốn của Trung ương, tỉnh và chương trình mục tiêu quốc gia Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 48% Hệ thống điện, đường, trường, trạm trên địa bàn huyện được quan tâm cải tạo, củng cố, nâng cấp cơ bản đáp ứng đủ phục vụ sản xuất, dân sinh Số trường học đạt chuẩn quốc gia 03 trường Các con đường trong làng, xóm, thôn đã được bê tông hóa
Tính đến năm 2020 Tại huyện Nông Sơn có 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 15%, hộ cận nghèo còn 10,52% Thu nhập bình quân đầu người 32 triệu/người/năm
2.1.3 Khái quát về lao động nông thôn ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Huyện Nông Sơn hiện đang có một nguồn lao động tương đối dồi dào Tính đến 2019, tổng số người tham gia hoạt động lao động là 21.958 lao động chiếm 68,72% tổng dân số Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn rất thấp, chiếm 26,43% tổng số lao động Trong đó, lao động trong độ tuổi là 18.309 lao động chiếm 57,3% dân số Dân số trong độ tuổi từ 15-18 và trên 60 đối với nam, trên 55 đối với nữ tham gia lao động là 1.516 người Số lao động trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động ( ốm đau, tàn tật, ) là 949
Trang 36lao động Số lao động không có việc làm, việc làm không ổn định là 1.184 lao động
2.2 Mục tiêu, yêu cầu của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
2.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu chung
Tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh công tác thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia các chương trình đào tạo phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và từng bước tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới
Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng; mở rộng quy
mô, bảo đảm sự phù hợp về cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo; nâng cao hiệu quả dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật phục vụ sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là đội ngũ lao động có kỹ năng nghề cao
Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo nhằm tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững; chuyển dịch
cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ góp phần xây dựng nông thôn mới và phát triển KT-XH ở địa phương
Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động từ nông nghiệp, tăng dần lao động sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Tạo việc làm ổn định, bền vững, có chất lượng giúp cho người lao động có thu nhập đảm bảo cuộc sống, góp phần giảm nghèo bền vững, hạn chế tệ nạn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện
Trang 37Mục tiêu cụ thể
Từ năm 2016 – 2020 đào tạo nghề cho 1.500 lao động nông thôn, trong đó:
- Nghề Nông nghiệp: 1.000 người;
- Nghề phi Nông nghiệp: 500 người
Hình thức đào tạo: Thực hiện giao, đặt hàng hoặc tổ chức đấu thầu với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các cơ sở có hoạt động giáo dục nghề nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện về đào tạo nghề theo quy định để thực hiện đặt hàng hoặc đấu thầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo quy định tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách Nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên
2.2.2 Yêu cầu
Huy động sự tham gia của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân vào việc triển khai thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tạo sự phối kết hợp chặt chẽ của các cấp, ngành trên địa bàn huyện trong việc thực hiện Quyết định 1956 và Quyết định số 3577/QĐ-UBND ngày 14/10/2016 của UBND tỉnh “Quy định về chính sách hỗ trợ đào tạo lao động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020“
Đào tạo gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp và quy hoạch xây dựng nông thôn mới của địa phương
Tổ chức đào tạo nghề đảm bảo hiệu quả, đúng đối tượng, đúng quy định; chỉ tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn khi xác định được nơi làm việc và mức thu nhập với việc làm có được sau khi học nghề
Trang 382.3 Quy trình thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
thôn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay
2.3.1 Lập kế hoạch triển khai thực thi chính sách
Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn đến năm 2020”; Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung, sửa đổi Quyết định 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
Quyết định số 46/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng
Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 25/10/2010 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Đề án đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn tỉnh
UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 494/QĐ- UBND ngày 15/02/2011 về phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho LĐNT tỉnh Quảng Nam đến năm 2020; Quyết định số 09/2011/QĐ-UBND ngày 09/6/2011 về phê duyệt định mức kinh phí dạy nghề cho LĐNT và nhiều văn bản trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện đề án Năm 2016 để tiếp tục triển khai thực hiện Đề án trong giai đoạn đến 2020, HĐND tỉnh có Nghị quyết số 12/2016/NQ-HĐND ngày 19/7/2016 “Về cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020”; Quyết định số 3577/QĐ-UBND ngày 14/10/2016 của UBND tỉnh “Quy định về chính sách hỗ trợ đào tạo lao động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020“
Ủy ban nhân dân huyện Nông Sơn đã tích cực triển khai trên địa bàn toàn huyện với những nội dung cụ thể: