1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

102 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn tìm ra những điểm tồn tại, vướng mắc trong q

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Hữu Chí Các số liệu trích dẫn nêu trong luận văn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; Các kết quả trình bày trong luận văn đảm bảo tính tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo quy định của Học viện và đã thực hiện thanh toán đầy đủ tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Học viện Khoa học xã hội

Nay tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật - Học viện Khoa học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lý Anh Quy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp 7

1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 12

1.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam 25

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 32

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 47

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 61

3.1 Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 61

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 62

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh 74

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 86

Trang 5

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Doanh nghiệp

Hợp đồng lao động Hợp đồng làm việc Người sử dụng lao động Người lao động

Lao động Người thất nghiệp Pháp luật lao động

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

Ủy ban nhân dân Trợ cấp thất nghiệp Trung tâm Dịch vụ Việc làm Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ chức Lao động Quốc tế International Labour Organization Việt Nam

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kết quả thực hiện cụ thể qua từng năm 2015 - 2019: 50

Bảng 2.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ qua từng năm: 52

Bảng 2.3 Kết quả cụ thể đào tạo nghề qua từng năm: 53

Bảng 2.4 Số lượng hồ sơ tiếp nhận qua từng năm: 55

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn ba mươi năm đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, ASXH được nâng cao và đang dần hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới Do đó, tình hình biến động cũng như tình hình khó khăn về kinh tế của thế giới ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tình hình kinh tế trong nước Đại dịch COVID-19 xảy ra trên thế giới đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế trong nước và dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng; Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội phát sinh khách quan và tồn tại trong nền kinh tế thị trường Vì vậy, bảo hiểm thất nghiệp trở thành một chính sách cần thiết trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp lần đầu tiên ở VN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, được quy định trong Luật BHXH năm 2006; tiếp theo Luật việc làm năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 trong đó có quy định về pháp luật BHTN nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ khi bị mất việc làm

Thành phố Sài Gòn được hình thành từ năm 1623, nhưng đến năm 1698, Chúa Nguyễn mới thành lập thành phố Sài Gòn Vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Sau khi đất nước thống nhất vào ngày 30/4/1975, thì Sài gòn được đổi tên là “thành phố Hồ Chí Minh” từ ngày 02-7-1976 và từ đó đến nay tp.HCM là đô thị lớn thứ hai của

VN về diện tích (chỉ sau thủ đô Hà Nội) và đông nhất về dân số, đồng thời cũng là một trong các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của VN; Hiện nay, Tp.HCM là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị đặc biệt của VN, cùng với thủ đô Hà Nội Tp.HCM nằm trong vùng chuyển tiếp giữa đông nam bộ và tây nam bộ; phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông bắc và đông giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, đông nam giáp Biển Đông và tỉnh Tiền Giang, nam và tây giáp tỉnh Long An; Tp.HCM cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo

Trang 8

đường chim bay Tp.HCM hiện nay có 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với

322 phường, xã và thị trấn, tổng diện tích 2.095,06 km² Tp.HCM đang là một đô thị lớn có dân số tăng rất nhanh, chỉ trong chưa đến 2 thập kỷ, dân số TP.HCM đã tăng gấp đôi, từ 4 triệu người năm 1990 lên 8 triệu người năm 2016 Cứ 5 năm, dân

số thành phố lại tăng hơn 1 triệu người

Theo kết quả điều tra thỉ tổng dân số của Tp.HCM vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 là 8.993.082 người, trong đó dân số nam là 4.381.242 người (chiếm 48,7%) và dân số nữ là 4.611.840 người (chiếm 51,3%); chiếm tỷ trọng 9,35% dân

số cả nước và 50,44% dân số vùng Đông Nam bộ Dân số thành thị là 7.125.497 người (chiếm 79,23%), dân số nông thôn là 1.867.585 người (chiếm 20,77%) Kể từ năm 2009 đến nay, tốc độ tăng dân số bình quân năm khu vực nông thôn là 4,47%/năm so với khu vực thành thị là 1,77%/năm cho thấy tốc độ đô thị hóa diễn

ra mạnh mẽ đặc biệt là khu vực nông thôn Tp.HCM là thành phố đông dân nhất nước, tăng 1.800.000 người so với năm 2009, với tỷ lệ tăng bình quân 2,28% Nhưng, theo thống kê cả các cư dân biến động cơ học thì dân số thực tế của tp.HCM năm 2018 khoảng 14.000.000 người Giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế nước ta, năm 2018 Tp.HCM đóng góp khoảng 1/3 giá trị sản xuất công nghiệp, 1/5 kim ngạch xuất khẩu, 27,8% tổng thu ngân sách quốc gia, Không chỉ dẫn đầu cả nước về phát triển kinh tế, Tp.HCM còn là nơi đổi mới, đột phá về thể chế và tiên phong trong rất nhiều mô hình phát triển, thể hiện rõ nét sự năng động, sáng tạo Với đặc điểm địa lý, kinh tế, dân số đặc thù như thế; Việc thực hiện pháp luật BHTN trên địa bàn Tp.HCM bước đầu đã có những thành công nhất định

Do pháp luật về BHTN mới được áp dụng hơn 11 năm, pháp luật VN hiện hành về BHTN còn tương đối bất cập, hạn chế nên trong quá trình áp dụng và thực hiện tại tp.HCM vẫn còn nhiều vướng mắc Việc tìm ra các biện pháp thích hợp nhằm khắc phục tình trạng trên là điều hết sức cần thiết để BHTN có thể phát huy được vai trò và ý nghĩa vốn có trong thực tiễn Chính vì vậy, để góp phần hoàn thiện pháp luật

về BHTN và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế và vì học viên đã có trải nghiệm thực tế quá trình thụ hưởng TCTN tại TTDVVL Tp.HCM nên quyết định

Trang 9

lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn tìm ra những điểm tồn tại, vướng mắc trong quy định của chính sách, pháp luật về BHTN, những khó khăn trong thực tiễn áp dụng, từ đó làm cơ sở để tìm ra những giải pháp nhằm bảo đảm quyền được hưởng BHTN Từ đó, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyên đề này

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Là một bộ phận cấu thành của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật VN về ASXH, quá trình thực thi BHTN đã phát huy vai trò to lớn đến sự phát triển kinh tế

xã hội của đất nước Vì thế, thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này, trong đó có những đề tài như:

- Đoàn Phương Thảo (2015), “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh”, luận văn thạc sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội

- Dương Thị Nguyệt Khuê (2017), “Bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật VN hiện nay”, luận văn thạc sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội

Ngoài ra, luận văn còn tham khảo một số bài viết trên các tạp chí:

“Nỗ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội” đăng trên tạp chí Cộng Sản số 789, ngày 12/7/2008 - Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - UVTW Đảng

“Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển” đăng trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 26 tháng 4 năm

2010, của Ông Nguyễn Hữu Dũng - Trợ lý Bộ Trưởng Bộ LĐTB-XH

“Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội

nỗ lực bảo đảm an sinh xã hội giai đoạn hiện nay” - Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - UVTW Đảng - đăng trên tạp chí Cộng Sản điện tử ngày 27 tháng 5 năm 2011

Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách BHTN trên

cả nước Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập tiếp cận lĩnh vực dưới nhiều góc độ phát triển khác nhau ở tầm vĩ mô, được xem xét điều kiện thực tế ở các địa phương khác nhau và những thời điểm khác nhau Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích để học viên hoàn thành luận văn của mình

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu phân tích, làm rõ thêm về cơ sở lý luận và chính sách, pháp luật về BHTN ở Việt Nam hiện nay nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về BHTN và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về BHTN, góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật về BHTN trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận pháp luật về BHTN tại VN hiện nay và những chính sách, quy định của pháp luật về BHTN trong hệ thống ASXH của nước ta hiện nay

- Phân tích các vấn đề liên quan đến thực trạng và đánh giá thực trạng của hệ thống các văn bản pháp luật về BHTN hiện hành

- Chỉ rõ những thành tựu đạt được cũng như chỉ ra những khó khăn, bất cập trong việc thi hành pháp luật BHTN trong giai đoạn hiện nay

- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về BHTN tại Tp.HCM

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về BHTN hiện nay nói chung và nâng cao hiệu quả thực thi tại địa phương nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận, nội dung của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số

quốc gia liên quan đến BHTN, quy định PLLĐ tại VN về BHTN ở VN từ năm 2009 đến nay

- Thực tiễn áp dụng của luận án là những vấn đề thực tiễn của pháp luật quốc tế

và pháp luật của một số quốc gia liên quan đến BHTN, thực trạng quy định pháp luật

và thực trạng thực thi PLLĐ tại VN về thực hiện pháp luật về BHTN ở VN hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung, vai trò, mục đích của pháp luật về BHTN ở VN hiện nay; Các yếu tố tác động đến pháp luật BHTN; Những ảnh hưởng của pháp luật về BHTN trên thế giới có tác động đến việc

Trang 11

xây dựng pháp luật BHTN tại VN; Phân tích các quy định pháp luật về BHTN của pháp luật VN

+ Về mặt thời gian nghiên cứu: Pháp luật về BHTN, qua thực tiễn tại thành phố

Hồ Chí Minh giai đoạn từ 2015 - 2020

+ Về nội dung nghiên cứu: Luận văn không nghiên cứu về giải quyết tranh chấp cũng như xử lý vi phạm pháp luật BHTN về hành chính và hình sự

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Trong quá trình nghiên cứu cùng với việc vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cũng như quan điểm của Đảng cộng sản VN về nhà nước và pháp luật nói chung

và về pháp luật BHTN nói riêng Nội dung nghiên cứu bám sát đường lối, chủ trương của Đảng về vấn đề ASXH, với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn với việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong đó có quyền được BHTN

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Tại chương 1 luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận: tổng hợp, phân tích lý thuyết, phân tích quy phạm, so sánh, đối chiếu thông qua việc hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật là Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản, quy định khác có liên quan

Tại chương 2 luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tổng hợp, thống kê, phương pháp so sánh, phân tích từ các Báo cáo tổng kết của các cơ quan hành chính nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh, số liệu thống kê, kết hợp với nguồn thông tin từ cơ quan thông tin đại chúng, nguồn thông tin hợp pháp và tin cậy khác để làm rõ thực trạng thi hành pháp luật về BHTN, nhằm đánh giá đúng thực trạng áp dụng pháp luật BHTN tại địa phương

Chương 3 luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, đánh giá nhằm đề xuất các giải pháp mang tính khả thi đối với các đề xuất, giải pháp trình bày trong luận văn để hoàn thiện pháp luật về BHTN để công tác quản lý BHTN được triển khai thi hành thuận lợi, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của VN

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài

Nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn quy định pháp luật BHTN

hiện hành để đánh giá vướng mắc, hạn chế tác động và thực tiễn thi hành của chế độ

BHTN, từ đó có kiến nghị sửa đổi, bổ sung khắc phục bất cập nhằm hoàn thiện pháp

luật BHTN, phát huy tối đa vai trò và chức năng của BHTN đối với đời sống NLĐ

nói riêng và đối với xã hội nói chung

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu và những phân tích, kiến nghị của luận văn có giá trị tham

khảo đối với cơ quan quản lý nhà nước về BHTN nhằm hoàn thiện pháp luật nói

chung và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật tại địa phương đặc thù nói riêng Bản

Luận văn cũng có thể là tài liệu học tập, tham khảo cho sinh viên và những người

quan tâm đến pháp luật hiện hành về BHTN

7 Kết cấu Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt và danh mục tài liệu

tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp và sự điều chỉnh của

pháp luật

Chương 2 Thực trạng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thi hành tại

Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định và nâng cao hiệu quả

thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp

Dưới góc độ kinh tế - xã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp NTN tạm thời đảm bảo được cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung Quỹ này được hình thành qua sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ có sự hỗ trợ của nhà nước, được sử dụng để trả trợ cấp thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp NTN có được việc làm mới Dưới góc độ pháp lý, BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả cho TCTN để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa NTN trở lại làm việc BHTN vì thế thường được hiểu là một chế độ trong

hệ thống các chế độ BHXH, có mục đích hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị mất thu nhập

do thất nghiệp BHTN là một phạm trù kinh tế - xã hội gắn với sự ra đời của sản xuất hàng hoá và phân công LĐ xã hội, giúp cho NLĐ giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình khi bị mất việc làm, tái hoà nhập thị trường LĐ

Theo ILO Convention (1952) và ILO Convention (1988): BHTN là một hình thức BHXH nhằm đảm bảo chi trả một khoản trợ cấp tối thiểu trong một thời gian giới hạn cho những cá nhân bị thất nghiệp mà không do lỗi của họ, gây ra việc mất thu nhập mà họ và gia đình họ dựa vào đó BHTN thường chỉ đảm bảo cho những NLĐ có thu nhập định kỳ, bởi vì theo lý thuyết những đối tượng này dễ gặp phải rủi

ro thất nghiệp không tự nguyện

Xuất phát từ những ý kiến trên, có thể xem khái niệm BHTN như sau: BHTN

là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung-quỹ BHTN-được hình thành do

sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình khi gặp rủi ro về việc làm Mặt khác,

Trang 14

TCTN của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khác với việc hình thành quỹ BHTN là một quá trình thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước BHTN không những là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ quỹ đó hỗ trợ tài chính cho một bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp; mà còn là sự góp chung rủi ro giữa các DN với nhau[18]

Về mặt kinh tế, các đối tượng tham gia BHTN đã huy động và hình thành một quỹ tiền tệ chung nhằm hỗ trợ cho những NLĐ bị mất việc làm, giúp đỡ họ giải quyết khó khăn tạm thời để sớm tìm được việc làm mới từ đó góp phần gia tăng năng suất

LĐ, thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm các nguồn chi từ ngân sách nhà nước hoặc các quỹ tiền tệ khác đối với các chương trình hỗ trợ liên quan đến NTN

Về mặt pháp lý, BHTN là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các bên tham gia vào quá trình thực hiện các chế độ về BHTN

Về mặt xã hội, BHTN giúp hạn chế những rủi ro có thể mang đến cho con người từ việc mất việc làm và thu nhập Nhà nước đã sử dụng công cụ này như là một trong những biện pháp đảm bảo ASXH, góp phần đảm bảo trật tự, an ninh xã hội để giải quyết những bất ổn về tâm lý của các NTN Những người tham gia BHTN họ cũng ổn định tinh thần trong quá trình làm việc, kích thích tăng năng suất LĐ, thu hẹp khoảng cách mâu thuẫn về quyền lợi giữa NLĐ và NSDLĐ

Vậy, BHTN là một trong những chế độ thuộc hệ thống các chế độ về ASXH của một quốc gia, được hình thành nhằm khắc phục những biến cố xảy ra đối với việc làm của NLĐ bằng các biện pháp trợ cấp kinh tế và hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới

1.1.2 Tác động của thất nghiệp đến kinh tế - xã hội

* Tác động đến sự tăng trưởng kinh tế

Thất nghiệp xảy ra đồng nghĩa rằng lực lượng LĐ đang bị lãng phí, họ không được sử dụng đúng cách Sức LĐ bị lãng phí thì nền kinh tế làm sao có thể phát triển? Tình trạng thất nghiệp tăng cao cũng là dấu hiệu của sự suy thoái kinh tế Nó là nguyên nhân chính gây ra tình trạng lạm phát

Trang 15

Đối tượng phải chịu ảnh hướng trực tiếp và cũng là ảnh hưởng nặng nề nhất của tình trạng thất nghiệp chính là NLĐ Họ không có việc làm đồng nghĩa họ không có thu nhập Không có tiền trong tay sẽ dẫn đến sự đói kém, gây sức khỏe giảm sút Một người trong gia đình không có thu nhập sẽ tạo ra gánh nặng cho những người còn lại Cha mẹ không có công ăn việc làm thì con cái sẽ không có cái ăn, không được đi học

và cũng chẳng ai còn lo cho sức khỏe của chúng

* Gây nguy hại đến trật tự xã hội

Thất nghiệp là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến xã hội bất ổn NLĐ không

có việc làm sẽ sinh ra tâm lý bất mãn, họ có thể tụ tập tiến hành biểu tình khiến sự yên bình trật tự xã hội thường ngày không còn Nhiều NTN đang là một NLĐ nghiêm túc thì bỗng nhiên “nhàn cư vi bất thiện” trở nên có những tính xấu như trộm cắp hoặc có thể dụ dỗ nghiện ngập hay mại dâm cũng chỉ vì “đói ăn vụng, túng làm liều” Tóm lại, thất nghiệp mang đến nhiều tác hại cho bản thân NLĐ, cho nền kinh tế

và cho cả xã hội Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng tận dụng kiến thức, kỹ năng của bản thân để tìm cho mình công việc thích hợp nhất tránh rơi vào tình trạng thất nghiệp

1.1.3 Ý nghĩa bảo hiểm thất nghiệp

BHTN có ý nghĩa rất thiết thực trong cuộc sống, đảm bảo mục tiêu ASXH và phát triển kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia cụ thể như sau[17]:

* BHTN có chức năng bảo vệ, bù đắp những tổn thất về mặt tài chính cho NLĐ

bị thất nghiệp và giúp họ có khả năng cũng như cơ hội quay lại thị trường làm việc

* BHTN không chỉ là công cụ giải quyết vấn đề thất nghiệp trong xã hội mà còn

Trang 16

* Cũng nhờ có BHTN mà gánh nặng ngân sách của nhà nước khi có thất nghiệp xảy ra được giảm thiểu

1.1.4 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp

BHTN là một chế định tiến bộ có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế -

xã hội của mỗi quốc gia[41], đó là:

1.1.4.1 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động

Khi tham gia quan hệ LĐ, NLĐ muốn tìm kiếm công việc tốt, thu nhập ổn định cao, đúng với chuyên môn kỹ thuật hoặc ít nhất là có việc làm, có thu nhập đủ để duy trì ổn định cuộc sống của cá nhân và gia đình bình thường BHTN là một giải pháp tạm thời giúp NTN có thể cân bằng được tâm lý cũng như tài chính trong thời gian đầu hụt hẫng do bị mất việc làm BHTN vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm thông qua việc trả TCTN vừa tạo cơ hội để họ có thể tiếp tục tham gia thị trường LĐ Tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho NLĐ khi lâm vào tình trạng mất việc làm Với bất kỳ NLĐ nào đều có nhu cầu tìm cho mình một công việc ổn định, phù hợp với trình độ, khả năng của bản thân, nhất là những công việc nhẹ nhàng nhưng có mức lương cao nhằm duy trì cuộc sống ở mức cơ bản so với mức sống chung của toàn xã hội Khi NLĐ không may gặp rủi ro và mất việc làm thì BHTN sẽ chịu trách nhiệm trong việc chi trả trợ cấp thông qua một khoản tiền nhất định giúp NLĐ ổn định cuộc sống và có thể tránh rơi vào tình trạng cùng cực, nghèo khó Khoản tiền trợ cấp tuy không quá lớn những cũng là một khoản hỗ trợ về mặt tài chính nhằm đảm bảo sự “cân bằng” trong cuộc sống của NLĐ khi bị thất nghiệp Đây chính là điểm đặc thù của BHTN so với các chế độ khác của BHXH, mang bản chất đặc trưng của chế độ việc làm Ngoài ra, NLĐ bị thất nghiệp còn được hưởng nhiều quyền lợi khác từ BHTN như được đóng bảo hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp hay được bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ Đây là một trong giải pháp hữu hiệu trong việc phòng ngừa từ xa tình trạng thất nghiệp có thể xảy ra

Vai trò của BHTN đối với NLĐ là: động viên NLĐ hăng hái - tích cực hơn trong quá trình làm việc; là bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị mất việc làm,

Trang 17

giúp họ và gia đình ổn định cuộc sống; là phân phối lại thu nhập giữa những người cùng tham gia BHTN; là Quỹ BHTN nhàn rỗi được tái đầu tư sẽ góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội

Các nguồn thu chủ yếu từ các đối tượng tham gia đã tồn tích, hình thành quỹ BHTN, trong thời gian nhàn rỗi có thể đầu tư một phần vào các hoạt động kinh tế để tạo lợi nhuận hợp lý, góp phần tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHTN Khoản đầu tư này vừa góp phần phát triển sản xuất - kinh doanh cho nền kinh tế, vừa đảm bảo an toàn cho quỹ BHTN không bị trượt rồi mất giá để chi trả trợ cấp BHTN cho NLĐ

1.1.4.2 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động

Gánh nặng tài chính của NSDLĐ sẽ được chia sẻ khi những NLĐ tại DN bị mất việc làm, NSDLĐ không phải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết các chế độ cho NLĐ Không chỉ dừng ở đó BHTN còn có vai trò hỗ trợ cho các DN khó khăn trong việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho NLĐ để họ có thể duy trì phát triển ngành nghề của mình Như vậy NSDLĐ vừa tiết kiệm được một khoản chi phí vừa có được một đội ngũ LĐ có tay nghề có kỹ thuật đã qua đào tạo để nâng cao hiệu quả và giảm chi phí trong sản xuất vượt qua khó khăn ổn định DN

1.1.4.3 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với nhà nước và xã hội

Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với nhà nước: Ngân sách nhà nước sẽ

giảm bớt chi phí khi nạn thất nghiệp gia tăng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tạo

sự chủ động về tài chính cho nhà nước BHTN chia sẻ gánh nặng ngân sách và ổn định tình hình chính trị xã hội khi tình trạng thất nghiệp xảy ra, thu hút đầu tư để xây dựng phát triển đất nước

Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp về mặt chính trị: Bất kỳ một quốc gia nào, vào

thời gian nào cũng luôn tồn tại một lực lượng thất nghiệp tuy mức độ và tỷ lệ có khác nhau Do đó, chế độ BHTN được thực hiện sẽ góp phần ổn định chính trị, kinh tế của đất nước

Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp về mặt xã hội: BHTN còn là một chính sách

xã hội, nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ tạo ra sự ổn định về mặt xã hội và ngược lại, làm không tốt sẽ khiến cho xã hội phát sinh nhiều tiêu cực, mất ổn định Một

Trang 18

trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội là do thiếu việc làm và thất nghiệp gây nên, bởi thất nghiệp thường đi kèm với không có thu nhập, mà con người thì bao giờ cũng có nhu cầu về ăn, ở, mặc, đi lại, đó là những nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống Khi NLĐ bị mất việc làm, thất nghiệp sẽ tác động rất lớn đến tinh thần và tâm

lý của họ Để ngăn chặn và hạn chế những hành vi tiêu cực có thể xảy ra cho xã hội thì có lẽ không có biện pháp nào phát huy tác dụng như chính sách TCTN Rõ ràng với chính sách này NLĐ cũng yên tâm phần nào về cuộc sống để dồn sức lo tìm kiếm một công việc mới, ổn định dần và tiến đến cải thiện đời sống của gia đình mình trong tương lai, góp phần giữ gìn sự ổn định xã hội

Tóm lại, vai trò của bảo hiểm thất nghiệp được biết đến là một chính sách ưu

việt có vai trò to lớn không chỉ đối với NLĐ mà còn đối với NSDLĐ, Nhà nước và xã hội trong nền kinh tế thị trường đầy biến động

1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Từ khái niệm, đặc điểm và vai trò của BHTN, đồng thời trên cơ sở quy định của pháp luật, có thể hiểu khái niệm pháp luật BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật

do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ về việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp hỗ trợ nhằm đưa NTN trở lại thị trường LĐ và tìm được việc làm

Pháp luật BHTN, kể từ khi xuất hiện đến nay, luôn phát huy tác dụng trong việc tạo cơ sở pháp lý để các bên quan hệ BHTN thực hiện các nghĩa vụ đóng phí BHTN

để được thụ hưởng chế độ khi bị mất việc làm Đồng thời pháp luật BHTN luôn là hình thức bảo hiểm bắt buộc, theo đó NLĐ và NSDLĐ khi đủ điều kiện bắt buộc phải tham gia đóng phí vào quỹ BHTN, nhằm để tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho NLĐ khi bị mất việc làm không có thu nhập

Từ đó có thể thấy, việc điều chỉnh pháp luật đối với thất nghiệp và BHTN trước hết là việc Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho việc giải quyết các mối quan hê ̣khi xuất hiện thất nghiệp, để các cơ quan có thẩm quyền

ra các văn bản áp dụng pháp luật Thông qua việc xây dựng và ban hành các văn bản

Trang 19

quy phạm pháp luật về thất nghiệp, Nhà nước định hướng cho những quan hê ̣xã hội trong lĩnh vực thất nghiệp phát triển phù hợp với các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Như vậy, cùng với quan niệm về BHTN đã phân tích ở trên, có thể hiểu pháp luật về BHTN là tổng thể các quy định của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hê ̣xã hội phát sinh trong lĩnh vực của BHTN như: việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN và thực hiện các biện pháp đưa NTN trở lại làm việc BHTN ra đời mang tính tất yếu khách quan, gắn liền với nền kinh tế thị trường, khi sức LĐ được coi là một loại hàng hóa đặc biệt Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý phải sử dụng các công cụ quản lý nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược phát triển của đất nước, trong đó có pháp luật BHTN

Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp là sự tác động của Nhà nước tới các đối tượng tham gia BHTN thông qua các biện pháp, công cụ pháp luật nhằm mục tiêu ASXH,

ổn định và phát triển kinh tế

Với khái niệm nêu trên về pháp luật BHTN, thì có ba đặc điểm cần lưu ý:

Thứ nhất, pháp luật BHTN là một chính sách pháp luật công Do vậy, chủ thể

pháp luật là Nhà nước

Thứ hai, đối tượng của pháp luật là những NLĐ tham gia đóng BHTN và

NSDLĐ Chỉ những NLĐ tham gia đóng BHTN bị thất nghiệp mới được hưởng lợi

từ pháp luật BHTN NSDLĐ được coi là đối tượng của pháp luật BHTN khi họ phải tuân thủ những quy định của Nhà nước về nghĩa vụ đóng góp tài chính hỗ trợ cho NLĐ trong trường hợp bị thất nghiệp

Thứ ba, các biện pháp, công cụ pháp luật được Nhà nước sử dụng bao gồm các

quy định về quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của những người tham gia BHTN là NLĐ và NSDLĐ, quy định về nguồn tài chính, chế độ BHTN,

Chế độ BHTN là một khái niệm có phạm vi hẹp hơn khái niệm pháp luật BHTN Chế độ BHTN chỉ đề cập tới những quy định về đối tượng, điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tư vấn tìm việc làm, đào tạo nghề và bảo hiểm y tế Pháp luật BHTN không chỉ bao hàm chế độ BHTN

Trang 20

mà còn cả các quy định về đối tượng tham gia, nguồn hình thành quỹ và các tổ chức chịu trách nhiệm triển khai thực hiện pháp luật BHTN

1.2.2 Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Nguyên tắc thứ nhất, pháp luật BHTN dựa trên nguyên tắc cộng đồng chia sẻ

rủi ro giữa những người tham gia BHTN BHTN là "hạt nhân" của pháp luật thị trường lao động, là một phần không thể thiếu trong chế độ ASXH của bất kỳ quốc gia nào và một trong những nguyên tắc cực kỳ quan trọng của chế độ an sinh - xã hội là bảo đảm sự chia sẽ rủi ro giữa những người tham gia Do vậy, BHTN dựa trên sự tương trợ giữa các cá nhân trong xã hội, theo đó số đông bù số ít Nếu nguyên tắc này không được đảm bảo thì các khoản trợ cấp thất nghiệp sẽ chỉ đơn thuần là một khoản

"tiền tiết kiệm trả muộn" và ý nghĩa xã hội của BHTN sẽ mất đi Một nguyên tắc thể hiện rõ tính nhân văn xã hội Chính vì vậy, việc tham gia vào BHTN phải là bắt buộc đối với NLĐ và NSDLĐ Những chủ thể này đều có trách nhiệm tham gia BHTN và đây được coi là một nội dung trong HĐLĐ Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản

lý và hỗ trợ khi cần thiết Chỉ khỉ có sự chung tay và chia sẽ của cả cộng đồng thì BHTN mới thực sự hiệu quả

Nguyên tắc thứ hai, chế độ BHTN được xây dựng trên cơ sở quan hệ hữu cơ

giữa mức hưởng của BHTN với mức đóng góp và thời gian đóng BHTN

Nguyên tắc này dựa trên mối quan hệ giữa sự đóng góp và hưởng thụ của NLĐ,

có đóng thì mới có hưởng Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý đối với các hoạt động kinh doanh, do đó khi xây dựng pháp luật BHTN cần có tỷ lệ tương xứng giữa đóng góp và thụ hưởng của NLĐ, hạn chế tới mức thấp nhất sự bù đắp của Nhà nước đối với quỹ BHTN Tuy nhiên, việc quy định tỉ lệ này phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người lao động, xuất phát từ vai trò quan trọng của BHTN đó là hỗ trợ cuộc sống cho NLĐ khi bị mất thu nhập do mất việc làm Việc xác định mức hưởng trợ cấp BHTN phải đảm bảo được khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm và tính khuyến khích NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm nhằm thoát khỏi tình trạng thất nghiệp Nếu quy định tỉ lệ hưởng trợ cấp BHTN quá thấp, thời gian được hưởng quá ít sẽ không bảo đảm được mức sống tối thiểu cho NLĐ, làm

Trang 21

mất đi ý nghĩa của BHTN Nhưng nếu quy định mức trợ cấp BHTN quá cao, thời gian hưởng trợ cấp kéo dài lại dẫn đến khó cân đối nguồn tài chính giữa thu và chi BHTN, thì sẽ gây lãng phí tiền quỹ trong việc chi trả BHTN cũng như sẽ tạo ra tâm

lý ỷ lại trông chờ vào sự trợ giúp của BHTN và tư tưởng lười LĐ sẽ không tích cực tìm việc làm của ở NLĐ Ngoài ra, nguyên tắc này cũng có mối quan hệ khắng khít với nguyên tắc chia sẽ rủi ro, lấy số đông bù số số ít BHTN không chỉ mang tính chất kinh tế thông qua các khoản trợ cấp thất nghiệp mà nó còn mang tính chất xã hội sâu sắc, có sự chung tay góp sức của cả cộng đồng nhằm giúp NLĐ vượt qua được khó khăn sau khi rơi vào tình trạng mất việc làm

Nguyên tắc thứ ba, là mức đóng BHTN dựa trên cơ sở tiền lương của NLĐ

Khác với các loại bảo hiểm dân sự hay thương mại, thì BHTN mang tính chất của chế

độ an sinh - xã hội Trong khi các loại bảo hiểm khác thì bảo đảm về tài sản hay tính mạng thì BHTN lại đảm bảo cho nguời lao động về vấn đề tài chính mà cụ thể là phần thu nhập được hưởng trong thời gian bị thất nghiệp Mức thu nhập được bảo hiểm chính là mức tiền lương hay mức tiền công hàng tháng do nhà nước quy định thống nhất Vấn đề tiền lương luôn luôn là một trong những vấn đề được NLĐ quan tâm hàng đầu trong bất kỳ bản HĐLĐ hay HĐLV; Về cơ bản, mức đóng (tỷ lệ đóng) BHTN dựa trên cơ sở mức tiền lương của NLĐ đã thống nhất và ký kết với NSDLĐ

Nguyên tắc thứ tư, Quỹ BHTN được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và

hạch toán độc lập

Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia là: NSDLĐ, NLĐ và Nhà nước nên hoạt động của quỹ phải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độc lập Quỹ được sử dụng vào các mục đích như: Chi trả trợ cấp BHTN cho NLĐ; Chi cho các hoạt động tìm việc làm cho NTN; Chi cho công tác đào tạo, đào tạo lại, học nghề cho NTN; Chi phí cho hoạt động của bộ máy quản lý BHTN… Do vậy, Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quản lý quỹ BHTN; quỹ BHTN là một quỹ tài chính độc lập, tự thu, tự chi do Nhà nước tập trung quản lý Sau khi thành lập, quỹ này độc lập với ngân sách Nhà nước

để chủ động giải quyết theo pháp luật BHTN Quỹ này không được sử dụng để giải

Trang 22

quyết các vấn đề xã hội khác Các kế hoạch thu chi của quỹ BHTN phải được công khai và báo cáo thường xuyên tới Nhà nước, việc sử dụng quỹ và hoạt động đầu tư quỹ phải đảm bảo tính minh bạch và an toàn cho quỹ BHTN

Nguyên tắc thứ năm, Nhà nước trực tiếp quản lý pháp luật BHTN

Nhà nước trực tiếp quản lý BHTN thể hiện trước hết là việc Nhà nước trực tiếp ban hành pháp luật về BHTN, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện chế độ này Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ mà Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia về BHTN, các qui định pháp luật về BHTN như thu hẹp hay mở rộng đối tượng, điều kiện hưởng và mức hưởng…Với tư cách là người đại diện và thực hiện các pháp luật xã hội, Nhà nước còn có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHTN, áp dụng các biện pháp để bảo toàn giá trị quỹ và làm cho quỹ tăng trưởng Ngoài ra, Nhà nước thống nhất tổ chức, quản lý sự nghiệp BHTN cho toàn xã hội nhưng không bao cấp, không lấy ngân sách để chi trả mà chỉ hỗ trợ một phần

Nguyên tắc thứ sáu, pháp luật BHTN đảm bảo nguyên tắc lành mạnh hóa thị

trường lao động Để giải quyết thất nghiệp đòi hỏi phải có một pháp luật tổng thể, được thiết kế để kích thích nền kinh tế Xu hướng chung của các nước hiện nay là, ngoài trợ cấp cho NLĐ, khi thất nghiệp, có điều kiện sinh sống, người ta còn thực hiện thêm biện pháp đào tạo lại NLĐ để họ có điều kiện dễ tìm việc làm mới Vì vậy, BHTN được liên kết chặt chẽ với các biện pháp thị trường LĐ tích cực như tạo ra chỗ làm việc mới, bảo vệ chỗ làm việc, nâng cao năng lực cho NLĐ, giới thiệu việc làm cho NTN Các biện pháp này luôn gắn liền với pháp luật và chương trình việc làm quốc gia BHTN thường được thống nhất với chương trình việc làm quốc gia Đây như một biện pháp, pháp luật hỗ trợ LĐ nhằm đẩy lùi thất nghiệp, nhanh chóng đưa NTN trở lại làm việc

1.2.3 Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Pháp luật BHTN đối với mỗi quốc gia khi xây dựng hệ thống chính sách pháp luật về BHTN, đều cần những nội dung cơ bản làm nền tảng Các nội dung này thường đề cập xoay quanh các vấn đề sau đây:

1.2.3.1 Đối tượng tham gia pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Trang 23

Đối tượng tham gia là nội dung được quan tâm đầu tiên, mang tính chất bắt buộc, nhằm xác định chủ thể đủ điều kiện tham gia vào pháp luật BHTN Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước mà có những quy định về việc làm khác nhau,

có thể mở rộng thêm cũng như thu hẹp lại đối tượng tham gia BHTN Có có ba chủ thể tham gia BHTN là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước

Về phía NLĐ: Theo Điều 2 Công ước số 44 của ILO về “Công ước về bảo đảm

tiền cấp cho NTN không tự nguyện” năm 1934, BHTN được áp dụng tới tất cả những NLĐ được trả tiền công, tiền lương Tuy vậy, tùy vào hoàn cảnh của mỗi nước tham gia Công ước mà có thể đặt thêm những ngoại lệ về đối tượng tham gia BHTN như người giúp việc, LĐ tại nhà, LĐ theo mùa vụ, hay những người công tác ổn định trong lĩnh vực công Không những vậy, một số quốc gia còn đặt điều kiện về độ tuổi tham gia BHTN, quốc tịch hay thời hạn LĐ để xác định đối tượng tham gia BHTN

Về độ tuổi thì BHTN thường được áp dụng với những người trong độ tuổi LĐ

Về phía NSDLĐ: Bên cạnh NLĐ, thì trong việc xây dựng pháp luật về BHTN,

hầu hết các quốc gia đều đưa NSDLĐ vào là một trong những đối tượng phải tham gia BHTN giống như NLĐ NSDLĐ tham gia BHTN có thể là cơ quan, tổ chức, DN, hợp tác xã đủ điều kiện theo pháp luật LĐ được phép sử dụng LĐ Tuy vậy, vai trò của NSDLĐ chỉ dừng lại ở việc đóng phí BHTN vào quỹ BHTN, chứ không được hưởng các lợi ích từ BHTN như NLĐ

Về phía Nhà nước: Một chủ thể nữa cũng được xem xét là đối tượng tham gia

BHTN, đó là Nhà nước Tuy nhiên, mức độ tham gia của Nhà nước vào BHTN ở các quốc gia là rất khác nhau Việc Nhà nước tham gia đóng phí BHTN thường tập trung

ở các quốc gia đang phát triển cũng như bước đầu mới triển khai thực hiện chính sách BHTN như VN Còn đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển, BHTN đã được thực hiện lâu đời, nguồn quỹ dồi dào, thì nhà nước không đóng phí mà chỉ đóng vai trò bảo trợ khi thiếu và quản lý quỹ

1.2.3.2 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Điều kiện hưởng BHTN là tổng thể các yêu cầu mà pháp luật đặt ra nhằm xác định đâu là đối tượng được hưởng BHTN và đâu là đối tượng không được hưởng

Trang 24

BHTN Không phải bất cứ NLĐ nào đã tham gia đóng BHTN sẽ đương nhiên được hưởng BHTN khi họ mất việc làm Một NLĐ được hưởng BHTN thì chắc chắn họ phải là người tham gia BHTN, có nghĩa vụ đóng phí BHTN hàng tháng trong một thời gian nhất định cho chính mình đồng thời đáp ứng các yêu cầu về việc chấm dứt HĐLĐ, về việc nộp hồ sơ hưởng BHTN, và khoảng thời gian chưa tìm được việc làm sau khi đã nộp hồ sơ trên Còn NLĐ tham gia BHTN thì không nhất thiết NLĐ đã là người được hưởng các chế độ của BHTN, vì họ có thể thiếu một trong các điều kiện

do pháp luật quy định như NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, hay không nộp hồ sơ hưởng TCTN đúng thời hạn quy định của pháp luật về BHTN Theo Công ước số 44 của ILO thì NLĐ chỉ đươc hưởng BHTN khi đáp ứng đủ các yêu cầu đã được đặt ra, như về khả năng LĐ và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu việc làm, về thời gian đóng, về nguyên nhân thất nghiệp, đã đăng ký tìm việc tại trung tâm giới thiệu việc làm hoặc tại các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quản

lý Hay như tại Đan Mạch, để NLĐ được hưởng TCTN thì họ phải đáp ứng đủ điều kiện như sau: NLĐ phải đóng bảo hiểm ít nhất 52 tuần trong vòng 3 năm trước khi bị thất nghiệp; NLĐ phải đăng ký tìm việc làm tại các trung tâm LĐ và phải sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu một công việc phù hợp; Không những vậy, việc thất nghiệp của NLĐ không phải xuất phát từ việc tự ý rời việc, chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật hay tranh chấp LĐ khác Nhìn chung để được hưởng BHTN thì NLĐ cần phải đáp ứng ít nhất các điều kiện về thời gian tham gia BHTN; nguyên nhân thất nghiệp; thủ tục hưởng BHTN; khả năng LĐ và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu việc làm mới

Muốn được hưởng trợ cấp BHTN, NTN phải có đủ các điều kiện sau (theo Công ước số 44 của ILO): Có năng lực làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng hiện tại không có việc làm; Có đăng ký tìm việc tại một phòng tìm việc do cơ quan có thẩm quyền xác nhận hay tại một trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm do Nhà nước quản lý; Có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng BHTN đủ thời hạn quy định của thời kỳ dự bị; Trước đó không tự ý nghỉ việc vô cớ hoặc không phải bị nghỉ việc

Trang 25

vì kỷ luật hay tranh chấp nghề nghiệp; Có giấy chứng nhận mức lương hay thu nhập trước khi bị thất nghiệp (trường hợp trả trợ cấp theo mức lương)

Thứ nhất, về điều kiện "có năng lực làm việc và sẵn sàng làm việc"

BHTN nhằm bảo vệ NLĐ bị mất việc làm do những nguyên nhân nằm ngoài ý muốn chủ quan của NLĐ Do vậy, nếu NLĐ không có việc làm do không có khả năng LĐ thì sẽ không thuộc trách nhiệm của BHTN Vì vậy, muốn được nhận trợ cấp thất nghiệp, NTN phải có "năng lực làm việc" (khả năng LĐ) Cùng với việc "có khả năng LĐ", muốn được hưởng trợ cấp BHTN, NTN phải "sẵn sàng làm việc" Đây là một điều kiện liên quan đến cá nhân NTN Người xin hưởng trợ cấp BHTN được xem như "sẵn sàng làm việc" nếu hoàn cảnh cá nhân của họ cho phép họ nhận ngay lập tức việc làm phù hợp mà cơ quan giới thiệu việc làm tìm được cho họ Sự "sẵn sàng làm việc" được xác nhận qua thủ tục ghi danh, trình diện tại cơ quan giới thiệu việc làm Qua thủ tục này, cơ quan giới thiệu việc làm sẽ có biện pháp nghiệp vụ để đánh giá sự "sốt sắng", ý chí muốn làm việc của từng người xin hưởng trợ cấp BHTN, NTN từ chối việc làm phù hợp do cơ quan giới thiệu việc làm tìm cho thì họ

có thể sẽ bị mất quyền hưởng trợ cấp

Thứ hai, về điều kiện "có đăng ký tìm việc tại một phòng tìm việc" Sự trợ giúp

lớn nhất mà xã hội có thể mang lại cho NTN là tìm cho họ một việc làm mới, việc cung cấp một khoản trợ cấp bù đắp thu nhập đã mất chỉ là thứ yếu Do đó, để được hưởng trợ cấp BHTN, NTN phải đăng ký tìm việc làm ở một phòng tìm việc Ngoài

ra, đây cũng là cách tốt nhất và đơn giản nhất đề kiểm trả khả năng LĐ, sự sẵn sàng

và ý chí làm việc của NTN

Thứ ba, về "thời kỳ dự bị" để tránh sự lạm dụng của NTN, pháp luật BHTN của

các nước đều quy định về thời gian dự bị

Quy định về thời kỳ dự bị có hai tác dụng

Thứ nhất, thời kỳ dự bị đảm bảo rằng chỉ có những người thực sự và thường

xuyên thuộc lao động hoạt động kinh tế thì mới có thể xem như mất thu nhập thực sự, khi lâm vào tình trạng thất nghiệp, do đó cần một khoản trợ cấp thay thế;

Trang 26

Thứ hai, nhờ thời gian dự bị mà cơ quan BHTN có thể đảm bảo số đóng góp

của mỗi người tham gia BHTN sẽ đạt tới mức tối thiểu khi xảy ra thất nghiệp, điều này góp phần cân đối tài chính quỹ BHTN Điều 6, Khuyến cáo số 44 của ILO có hướng dẫn: "Thời kỳ dự bị thường không vượt quá 26 tuần lễ làm việc (tức là tối thiểu phải có 26 lần đóng góp hàng tuần) trong thời gian 12 tháng trước khi xin hưởng trợ cấp BHTN"

Các trường hợp không được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

NTN có thể bị mất quyền hưởng trợ cấp BHTN trong các trường hợp sau: Bị mất việc làm do lỗi cố ý của mình hoặc tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng; Từ chối một việc làm phù hợp do cơ quan giới thiệu việc làm tìm cho; Có hành vi gian lận để hưởng trợ cấp

1.2.3.3 Các chế độ của bảo hiểm thất nghiệp

* Trợ cấp thất nghiệp

TCTN là việc NLĐ bị mất việc làm được hỗ trợ một khoản tiền từ quỹ BHTN sau khi đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định Các quy định về TCTN gồm

có các quy định về thời gian hưởng TCTN, mức hưởng và thủ tục hưởng

- Mức hưởng TCTN: về cơ bản được hiểu là tỷ lệ % trên mức lương bình quân của NLĐ và biểu hiện thông qua một khoản tiền lấy từ quỹ BHTN Mức hưởng trợ cấp thường phụ thuộc vào 2 yếu tố, đó là cơ sở mức đóng và thời gian đóng Nếu NLĐ có cơ sở mức đóng càng cao và thời gian đóng càng dài thì mức hưởng trợ cấp càng cao, tại mỗi quốc gia đều có cách tính tỷ lệ hưởng riêng, tuy nhiên tất cả đều phải đảm bảo mức sống tối thiểu của NLĐ bị thất nghiệp Nguyên tắc cơ bản mà tất

cả các quốc gia đều áp dụng đó là mức hưởng trợ cấp bao giờ cũng phải thấp hơn mức thu nhập của NLĐ trước khi bị mất việc làm nhưng cũng không quá thấp nhằm tránh trường hợp NLĐ không đủ tiền để trang trải và ổn định cuộc sống

- Thời gian hưởng TCTN: là khoảng thời gian mà NLĐ thất nghiệp nhận các khoản trợ cấp hàng tháng dưới dạng tiền mặt do quỹ BHTN chi trả Đối với nhiều quốc gia thì việc quy định thời gian hưởng TCTN đều dựa trên thời gian đóng BHTN, khả năng tài chính của quỹ BHTN, tình hình chung của thị trường LĐ-việc

Trang 27

làm Theo Công ước số 168 của ILO thì thời gian hưởng TCTN có thể đến 26 tuần đối với một chu kỳ thất nghiệp và tới 39 tuần trong mỗi giai đoạn 24 tháng Thông thường thì khoảng thời gian hưởng trợ cấp dao động từ 12-26 tuần, một số quốc gia thậm chí có thể kéo dài hơn

* Chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì

việc làm cho NLĐ

Đây là chế độ nhà nước hỗ trợ cho NSDLĐ và các DN Mục đích là để NSDLĐ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ NLĐ nhằm hạn chế tình trạng NLĐ bị mất việc làm Có thể nói, chế độ này thể hiện rõ nhất sự chủ động đơn vị sử dụng LĐ nói riêng, Nhà nước nói chung trong việc khống chế tình trạng mất việc làm, tránh ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị, cũng như đời sống của NLĐ và trật tự xã hội nói chung Điều này góp phần lý giải tại sao một số quốc gia trên thế giới, trong đó có VN, không quy định BHTN trong Luật Bảo hiểm xã hội mà quy định trong Luật Việc làm

* Chế độ hỗ trợ học nghề và tư vấn, giới thiệu việc làm

Ngoài hỗ trợ tài chính do bị mất thu nhập, người tham gia BHTN còn được hưởng các quyền lợi khác như hỗ trợ học nghề, là việc Nhà nước hỗ trợ NLĐ thất nghiệp được đài thọ chi phí đào tạo nghề nghiệp mới để nâng cao trình độ tay nghề,

từ đó NLĐ có thể tìm được một công việc mới phù hợp hơn Việc chi trả cho hoạt động hỗ trợ học nghề thường được trích từ quỹ BHTN và cả từ phía NLĐ Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm cho NTN: Mục đích của hoạt động này là giúp NLĐ tìm được một công việc mới bằng nhiều cách thức khác nhau, mà chủ yếu là thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm Tuy nhiên, để được hưởng các chế độ hỗ trợ tìm việc làm, NLĐ phải đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quy định Đồng thời, khi

đủ điều kiện hưởng, thì cũng như các chế độ nêu trên, NLĐ sẽ được hưởng các quyền lơi cụ thể Tại nhiều quốc gia, thì 2 chế độ này chưa thực sự phát huy được hiệu quả, tình hình thực hiện còn ở mức thấp, số NLĐ còn khá hạn chế

* Chế độ hỗ trợ bảo hiểm y tế trong thời gian hưởng pháp luật BHTN

Trang 28

Ngoài hỗ trợ tài chính khi bị thất nghiệp, người tham gia BHTN còn được hưởng quyền lợi khác là được hưởng chế độ bảo hiểm y tế mà không phải đóng phí bảo hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp theo quy định

1.2.3.4 Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

* Mức hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

Khi mất việc làm, NLĐ mất phương tiện mưu sinh do nguồn thu nhập không còn Để giúp đỡ họ giảm bớt khó khăn trong cuộc sống trong thời gian chờ tìm được việc làm mới, BHTN sẽ cung cấp cho họ khoản trợ cấp tạm thời để ổn định cuộc sống Trợ cấp này được trả hàng tháng và bằng tiền mặt

Quan điềm thứ nhất cho rằng mức trợ cấp BHTN phải xây dựng sao cho đem lại

sự bảo vệ tối thiểu cho NLĐ Điều này có nghĩa là mức trợ cấp phải đủ giúp NLĐ giải quyết các nhu cầu thiết yếu như lương thực, nhà ở, chất đốt…để tạm sống qua ngày, chờ tìm được việc làm mới

Quan điểm thứ hai cho rằng mức trợ cấp BHTN phải đảm bảo mức sống gần với mức sống trước khi thất nghiệp của từng loại đối tượng, tức là trợ cấp này phải chiếm tỷ lệ tương đối so với mức lương của NLĐ được lĩnh trước khi thất nghiệp Khi xác định mức trợ cấp phải lưu ý đến mức trợ cấp quá thấp sẽ không đủ giải quyết nhu cầu tối thiểu, kết quả là cuộc sống của NLĐ sẽ gặp khó khăn Còn nếu mức trợ cấp BHTN cao ngang bằng tiền lương trước khi thất nghiệp sẽ khuyến khích NLĐ không làm việc, kéo dài thời gian hưởng trợ cấp, gây thiệt hại cho quỹ BHTN và có ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất Do đó, mức trợ cấp BHTN hợp lý là mức được xác lập trên cơ sở dung hòa một cách tương đối hai quan điểm trên, tức là mức này vừa đảm bảo mức sống tối thiểu nhưng phải thấp hơn mức lương đang hưởng khi còn làm việc của NLĐ

* Thời gian hoãn hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

Trong BHTN có quy định rằng không phải NLĐ bắt đầu thời gian nghỉ do thất nghiệp là được hưởng trợ cấp BHTN ngay, mà trái lại, phải sau một thời gian nhất định mới được hưởng, đó là thời gian hoãn hưởng (chậm hưởng) BHTN Nói cách

Trang 29

khác, thời gian hoãn hưởng là thời gian kể từ khi NTN nộp đơn xin hưởng trợ cấp đến khi họ thực sự nhận được trợ cấp

* Thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

Theo Khuyến cáo số 44 của ILO, thời gian trả trợ cấp dài hay ngắn là tùy thuộc vào khả năng tài chính của quỹ BHTN Thời gian này càng dài càng tốt nếu quỹ còn

đủ khả năng chi trả và NLĐ còn có yêu cầu giúp đỡ (khi nào còn ở trong tình trạng thất nghiệp thì NLĐ còn cần được nhận trợ cấp BHTN) Điều 24, Công ước số 102 hướng dẫn: Trợ cấp thất nghiệp có thể trả suốt thời gian NLĐ bị mất việc làm ngoài ý muốn, và đôi khi trợ cấp này cũng có thể hạn chế trong nhiều trường hợp đối với các loại đối tượng hưởng trợ cấp Riêng đối với đối tượng hưởng trợ cấp là người làm công ăn lương, thời gian hưởng trợ cấp có thể bị hạn chế trong khoảng 13 tuần trong từng thời kỳ 12 tháng

Thời gian được hưởng trợ cấp BHTN cũng có thể được chia thành nhiều bậc theo thời gian tham gia đóng dài hay ngắn Nhưng đối với các nước đang phát triển,

số NTN là khá lớn thì thời gian trả trợ cấp tối đa thường chỉ là một năm

1.2.3.5 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

* Về quỹ BHTN

Quỹ BHTN là một quỹ tài chính tập trung và độc lập được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN nhằm mục đích chi trả các chế độ của BHTN cho NLĐ khi NLĐ đáp ứng đủ điều kiện của pháp luật quy định Quỹ BHTN thường được hình thành từ 3 nguồn đóng góp là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước Đối với những NLĐ độc lập (không có chủ sử dụng LĐ) thì chỉ có hai nguồn: NLĐ và Nhà nước

Ở các nước trên thế giới, đóng góp BHTN do Nhà nước và giới chủ gánh chịu, bởi vì ở một mức độ nào đó, trong sự ràng buộc về quan hệ HĐLĐ, NSDLĐ phải có trách nhiệm về các rủi ro (trong đó có rủi ro thất nghiệp) xảy ra cho NLĐ mà họ đang sử dụng Sự tham gia của Nhà nước vào quỹ BHTN là điều kiện tiên quyết không thể thiếu, bởi vì thất nghiệp là một vấn đề xã hội Do vậy, với các quốc gia chưa thực hiện BHTN thì Nhà nước thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội về thất nghiệp (cứu trợ cho NTN) Còn với những quốc gia thực hiện BHTN thì hoặc là Nhà nước đóng góp

Trang 30

thường xuyên cho quỹ BHTN bằng cách trích một phần tiền thuế theo một tỷ lệ cố định tính trên khoản đóng góp của NSDLĐ và NLĐ; hoặc Nhà nước chỉ tham gia với

tư cách bảo trợ cho quỹ khi phần đóng góp của NLĐ và NSDLĐ không đủ đáp ứng các chi phí hoặc dự trữ của quỹ bị ảnh hưởng do các biến động về tiền tệ khi Nhà nước thay đổi các pháp luật kinh tế - xã hội Ngoài ra, chính NLĐ là người hưởng TCTN nên NLĐ phải tham gia đóng góp

* Về hình thức đóng góp quỹ BHTN

Đóng góp của NLĐ và NSDLĐ vào quỹ BHTN có thể được thực hiện dưới hai hình thức là đóng theo một khoản cố định và hưởng theo một khoản cố định hoặc đóng theo mức lương và hưởng theo mức lương Mỗi hình thức đóng góp đều có mục đích và ý nghĩa riêng

- Đóng theo hình thức đóng góp này không có liên quan gì đến mức lương của NLĐ Mức này do cơ quan BHTN lựa chọn sao cho phù hợp với mức sống, với tình hình kinh tế - xã hội nói chung và phù hợp với nhu cầu của đa số người hưởng chế

độ

- Đóng theo mức lương và hưởng theo mức lương Hình thức này được NLĐ ủng hộ nhiều hơn, do đảm bảo công bằng, người lương cao đóng nhiều sẽ được thụ hưởng nhiều, người lương thấp đóng ít sẽ được hưởng ít Nếu không thì sẽ không có

cơ sở tính toán, cân bằng thu - chi quỹ, dễ dẫn đến mất cân đối nguồn quỹ

* Về tỷ lệ đóng góp quỹ BHTN

Tuy tình hình kinh tế - xã hội các nước mà quỹ BHTN được thành lập dựa trên

tỷ lệ đóng góp theo một trong hai phương thức sau:

- NSDLĐ đóng đúng bằng NLĐ theo tỷ lệ 1-1 (phương thức đồng đều) Phương thức này tạo tư tưởng hai bên cùng chia sẻ gánh nặng BHTN

- NSDLĐ đóng gấp đôi NLĐ theo tỷ lệ 2-1

1.2.3.6 Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Vi phạm pháp luật về BHTN là những hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực BHTN, do các chủ thể tham gia BHTN thực hiện gây ra những hậu quả nhất định tới

Trang 31

các bên, cũng như tổn hại cho Nhà nước và xã hội Những vi phạm này đều phải chịu trách nhiệm pháp lý cụ thể do Nhà nước đặt ra

Đặc điểm của vi phạm pháp luật về BHTN:

- Vi phạm pháp luật này do các bên tham gia BHTN thực hiện, cụ thể là NSDLĐ, NLĐ và các cơ quan quản lý và thực hiện BHTN

- Những vi phạm pháp luật này được thể hiện qua các hành vi trái pháp luật liên quan đến BHTN, như trốn đóng, nợ đóng BHTN, cấu kết trục lợi từ quỹ BHTN, từ các chế độ của BHTN,

- Những vi phạm pháp luật này gây ra những hậu quả nhất định cho các bên tham gia, đặc biệt là tới NLĐ, đối tượng yếu thế trong quan hệ pháp luật về BHTN Bên cạnh đó, những vi phạm này còn gây ra thiệt hại về mặt tài chính đối với Nhà nước và xã hôi

Để giải quyết tình trạng vi phạm về BHTN, các quốc gia đều đặt ra những chế tài riêng để xử lý; Thường thì có hai chế tài là hành chính và hình sự Về chế tài hành chính thì bên vi phạm sẽ bị chịu các hình thức xử phạt như phạt tiền, cảnh cáo, tịch thu tài sản từ việc vi phạm Chế tài hành chính thường tương đối nhẹ, không đủ sức răn đe, dẫn đến tình trạng tái phạm diễn ra thường xuyên, ngày càng nhiều, do đó nhiều quốc gia đã cứng rắn hơn trong việc xử phạt khi quy định trong phần trách nhiệm hình sự Theo đó, với những hành vi nghiêm trọng gây hậu quả lớn như trốn đóng BHTN với số tiền lớn, hay không giải quyết quyền lợi BHTN cho nhiều NLĐ hay cấu kết trục lợi gây thiệt hại nghiêm trọng đều phải chịu trách nhiệm hình sự Tùy theo mức độ sẽ có những hình phạt cụ thể, nếu nhẹ thì phạt tiền, quản chế tại địa phương hay cải tạo không giam giữ, nặng thì phạt tù, đồng thời cấm đảm nhiệm chức

vụ, cấm tham gia vào các quan hệ BHTN

1.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam

1.3.1 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp của Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization-ILO)

Trang 32

Việt Nam tham gia trở lại tư cách thành viên ILO từ năm 1992 và Văn phòng Quốc gia của ILO được mở tại Hà Nội năm 2003 Đến tháng 6 năm 2019 Việt Nam

đã phê chuẩn 22 công ước của ILO, bao gồm sáu công ước chính[26]:

• C029 -Công ước về LĐ cưỡng bức, 1930 (Số 29)

• C098 -Công ước về quyền tổ chức và thương lượng tập thể, 1949 (Số 98)

• C100 -Công ước về trả công bình đẳng, 1951 (Số 100)

• C111 -Công ước về chống phân biệt đối xử (trong việc làm và nghề nghiệp), 1958

• C138 -Công ước về tuổi LĐ tối thiểu, 1973 (Số 138)

• C182 -Công ước về xóa bỏ các hình thức LĐ trẻ em tồi tệ nhất, 1999

Công ước số 98 về Quyền Tổ chức và Thương lượng tập thể là công ước được phê chuẩnmới nhất, đã được Quốc hội bỏ phiếu thông qua vào tháng 6/2019

Việt Nam sẽ tiếp tục công việc chuẩn bị để tiến tới phê chuẩn hai công ước chính còn lại là: Công ước 105 về LĐ cưỡng bức dự kiến vào năm 2020 và Công ước

87 về tự do hiệp hội vào dự kiến năm 2023 Bên cạnh việc xem xét tổng quát các công ước liên quan của ILO, VN đã tham vấn hướng dẫn kỹ thuật của ILO về cách nhìn nhận tốt nhất mà VN nên có đối với những công ước và khuyến nghị này và gợi

ý những hướng đi nhằm cải cách luật pháp quốc gia[32]

Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những thách thức về việc làm thế nào có thể thực hiện các công ước đã thông qua Chìa khóa để giải quyết những vấn đề này

là sự đóng góp và tham gia tích cực từ cả ba bên (Chính phủ, tổ chức của NSDLĐ và NLĐ) và các bên liên quan khác Vấn đề đảm bảo cuộc sống cho NTN đã được ILO

đề cập trong các Công ước và khuyến nghị sau đây: Công ước số 44 “Bảo đảm tiền trợ cấp cho những NTN” năm 1934; Công ước số 102 “Quy phạm tối thiểu về ASXH” năm 1952; Công ước số 168 “Xúc tiến bảo vệ và phòng chống thất nghiệp” năm 1988

1.3.2 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của một số nước trên thế giới

1.3.2.1 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của Hàn Quốc

Hệ thống chính sách bảo hiểm việc làm của Hàn Quốc được xem như một hệ thống chính sách toàn diện, bao gồm chính sách thị trường LĐ và bảo hiểm xã hội

Trang 33

Chính sách bảo hiểm việc làm không chỉ thực hiện chức năng truyền thống là cung cấp trợ cấp thất nghiệp đối với NTN mà còn thực hiện chức năng xúc tiến điều chỉnh

cơ cấu các ngành, ngăn ngừa thất nghiệp, xúc tiến các hoạt động đảm bảo việc làm để tăng việc làm và xúc tiến các hoạt động phát triển kỹ năng nghề đối với NLĐ Bộ Lao động chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện hệ thống chính sách bảo hiểm việc làm này Cơ quan Phúc lợi LĐ Hàn Quốc triển khai và thực hiện thu bảo hiểm Các văn phòng LĐ địa phương thực hiện chi trả chế độ bảo hiểm việc làm (thông qua tài khoản cá nhân)

Hệ thống chính sách bảo hiểm việc làm của Hàn Quốc gồm ba phần chính: Chương trình đảm bảo việc làm, Chương trình phát triển kỹ năng nghề, Trợ cấp thất nghiệp Trách nhiệm đóng bảo hiểm việc làm được xác định cho NSDLĐ và NLĐ tùy theo từng loại hình hoạt động[27]

1.3.2.2 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của Thái Lan

Đối tượng tham gia BHTN ở Thái Lan chính là đối tượng tham gia BHXH, gồm tất cả các DN có sử dụng từ 1 LĐ trở lên Mức đóng góp BHTN được thu kể từ 01/01/2004; NSDLĐ và NLĐ hàng tháng đóng một mức như nhau cho quỹ BHTN là 0,5% mức tiền lương; Nhà nước đóng 0,25% quỹ tiền lương

Điều kiện hưởng BHTN là người được hưởng BHTN đã đóng BHTN ít nhất 6 tháng, trong vòng 15 tháng trước khi bị thất nghiệp Họ phải đăng ký thất nghiệp với

cơ quan dịch vụ việc làm của Nhà nước Họ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu một việc làm phù hợp NLĐ đã tham gia các khóa đào tạo nghề nghiệp được giới thiệu và phải trình diện với cơ quan dịch vụ việc làm ít nhất 1 lần/1 tháng Họ bị thất nghiệp không phải vì những lý do như không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc có hành vi phạm tội chống lại NSDLĐ, cố ý gây thiệt hại cho NSDLĐ, bỏ làm 7 ngày liên tục mà không có lý do chính đáng Về mức hưởng BHTN, NLĐ có đóng BHTN bị sa thải được hưởng 50% tiền lương làm căn cứ đóng BHTN và thời gian hưởng không quá 180 ngày trong vòng 1 năm; NLĐ có đóng BHTN mà tự ý bỏ việc được hưởng 30% tiền lương làm căn cứ đóng BHTN và

Trang 34

hưởng không quá 90 ngày trong 1 năm và tổng số ngày hưởng BHTN vì thất nghiệp

tự nguyện không quá 180 ngày [27]

1.3.2.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của Trung Quốc

Tại Trung Quốc, BHTN đã được triển khai từ lâu với đặc điểm, BHTN là một

hệ thống xã hội bắt buộc được thực thi thông qua pháp luật của Nhà nước; chỉ những NTN được quy định trong pháp luật có quyền được hưởng BHTN Mục đích của những hạn chế này là nhằm đảm bảo nhu cầu cơ bản, thay vì mọi khía cạnh của tất cả nhu cầu thất nghiệp Trong khi Nhà nước thành lập các quỹ BHTN thì xã hội phối hợp sử dụng của các quỹ đó BHTN có tác động tích cực hơn loại cứu trợ tài chính Quan trọng hơn, BHTN giúp cho việc đẩy mạnh cạnh tranh và khả năng tìm được việc làm của NTN thông qua đào tạo nghề để họ có thể tham gia lại vào lực lượng lao động Ở Trung Quốc, các khoản bồi thường BHTN được thực hiện trong thời gian ngắn Những người không tìm được việc làm trong một thời gian nhất định sẽ nhận trợ cấp xã hội DN đóng 1% tiền lương cơ bản cho chương trình BHTN Chương trình này được các cơ quan quản lý LĐ quản lý thông qua đại lý của các công ty dịch

vụ LĐ Những người thụ hưởng BHTN là NLĐ trong các DN nhà nước tuyên bố phá sản hoặc bên bờ vực phá sản và NLĐ bị sa thải hoặc những người mà HĐLĐ của họ

đã chấm dứt

Mức hưởng bảo hiểm dựa trên tiền lương tháng bình quân của 2 năm trước khi

bị thất nghiệp và được chi trả cho đến 12 tháng hoặc 24 tháng nếu đã có thời gian làm việc trên 5 năm Năm 1993, “Điều lệ BHTN đối với NLĐ trong các DN Nhà nước”

đã được Trung Quốc triển khai mạnh mẽ với việc đối tượng được mở rộng, cơ chế tài chính và chế độ hưởng được thay đổi như sau: phạm vi áp dụng được mở rộng đến một số nhóm bổ sung NLĐ trong các DN nhà nước Mức đóng góp được sửa đổi từ 0,6% đến 1% tổng tiền lương Nguyên tắc thay thế thu nhập được chuyển từ hình thức gắn với nhu cầu thu nhập sang hình thức quy định những mức chuẩn bằng 120%

- 150% mức trợ cấp cứu trợ xã hội của Nhà nước Năm 1998, chương trình BHTN tiếp tục được cải cách với mức đóng góp được ấn định là 2% đối với DN và lần đầu

Trang 35

tiên NLĐ là 1% tiền lương Chương trình BHTN lại được sửa đổi cơ bản và tổ chức lại vào năm 1999 thông qua “Điều lệ về BHTN” [27]

1.3.3 Những bài học kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam

Qua nghiên cứu chính sách BHTN của một số nước trên thế giới, có thể thấy nội dung chính sách và việc tổ chức thực hiện ở mỗi nước rất khác nhau, do điều kiện kinh tế - xã hội, thời điểm triển khai của mỗi nước khác nhau Tuy nhiên, có thể rút ra một số gợi ý mang tính tương đối thống nhất có thể nghiên cứu mở ra các giải pháp cho VN như sau:

Thứ nhất, về đối tượng áp dụng BHTN Ở hầu hết các nước là những người làm

công ăn lương Sau đó, nếu như có điều kiện, sẽ mở rộng đối tượng ra các nhóm LĐ khác như nông, lâm, ngư nghiệp, Hình thức BHTN chủ yếu là bắt buộc[27] Mặt khác, vấn đề kiểm soát đối tượng tham gia BHTN tại các nước cũng được thực hiện rất chặt chẽ, một phần do hệ thống công nghệ thông tin tại các nước tương đối phát triển Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với nước ta hiện nay để hiện đại hóa công tác thực hiện BHTN

Thứ hai, chính sách BHTN phải được bao phủ đến mọi lao động (lao động

chính thức và lao động phi chính thức), chỉ cần NLĐ đủ điều kiện đóng BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hưởng những quyền lợi trong chế độ BHTN[19]

Thứ ba, tuy có khác nhau ở rất nhiều điểm, song những điểm chung giống nhau

phải kể đến là chính sách BHTN của các nước đều quy định rất chặt chẽ và cụ thể về mức đóng góp vào quỹ BHTN của NLĐ, NSDLĐ, mức hỗ trợ chính phủ; điều kiện hưởng, mức hưởng, và thời gian hưởng trợ cấp BHTN,…

Thứ tư, chính sách BHTN phải gắn chặt chẽ với chính sách thị trường LĐ như

các chương trình việc làm, đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho NLĐ nhằm giúp NTN sớm có cơ hội tìm việc làm mới

Thứ năm, về quản lý quỹ BHTN Quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải được hạch toán

độc lập, vấn đề quản lý quỹ là do Hội đồng quản lý quỹ thực hiện gồm có: Đại diện của NLĐ - người sử dụng lao động - Nhà nước Một số nước cũng có cơ quan thu

Trang 36

quỹ riêng (tại Hàn Quốc - cơ quan Comwell hiện không thu phí nữa mà việc này chuyển sang cơ quan bảo hiểm y tế)

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Luận văn đã khái quát và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về thất nghiệp, người thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, pháp luật về BHTN tại VN Qua đó, BHTN là một chế độ bảo hiểm độc lập trong hệ thống bảo hiểm xã hội, bên cạnh những đặc điểm chung giống như các chế độ bảo hiểm khác, BHTN cũng có những đặc điểm riêng nhất định Thể hiện đối tượng mà pháp luật BHTN hướng tới là NLĐ

bị thất nghiệp, quyền lợi bảo hiểm chỉ được dành cho đối tượng đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật BHTN BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đã đóng vào quỹ BHTN BHTN thể hiện bản chất kinh tế và bản chất xã hội Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung của BHXH thì BHTN còn mang những nét riêng nhất định BHTN góp phần giải quyết tạm thời các khó khăn về tài chính cho NTN, giúp họ sớm tìm được việc làm, phát triển xã hội hài hòa về mặt lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ, thể hiện vai trò điều chỉnh của Nhà nước trong việc tạo ra một

xã hội nhân văn, giảm thiểu sự bất công cùng các tệ nạn xã hội và góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật hiện hành

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật BHTN phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng nước Vì thế, pháp luật mỗi nước đặt ra những tiêu chí riêng nhằm đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật BHTN của nước mình

Ở VN, trong từng thời kỳ, Nhà nước đã có những chính sách để hỗ trợ NLĐ mất việc làm, nhưng đó mới chỉ là giải pháp tình thế mà chưa giải quyết triệt để được hậu quả của tình trạng mất việc làm; Lúc đó, vấn đề nhức nhối của xã hội - mất việc làm mới được giải quyết Điều đó cho thấy, chính sách BHTN đã đi vào cuộc sống và phát huy tính tích cực của nó Với tư cách là người bảo trợ, trong thời gian tới, Nhà nước sẽ có những biện pháp và cơ chế chính sách hữu hiệu hơn nhằm phát huy vai trò của pháp luật về BHTN, cần bổ sung, chỉnh sửa thích hợp để bảo đảm cho quyền lợi

của NLĐ khi bị thất nghiệp

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ

THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Luât BHXH năm 2006 đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006; Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007; riêng đối với BHXH tự nguyện thì từ ngày 01/01/2008, đối với BHTN thì từ ngày 01/01/2009 Qua 6 năm (tính đến khi Luật Việc làm có hiệu lực) triển khai thực hiện, chính sách BHTN đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, được NLĐ và NSDLĐ đón nhận một cách tích cực và được dư luận xã hội đánh giá cao Ngày 16/11/2013, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Việc làm, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, trong đó có nội dung về chính sách BHTN đã tạo ra khung pháp lý kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi để NLĐ và NSDLĐ trong việc tham gia BHTN, đồng thời giúp cho việc tổ chức thực hiện BHTN được thuận lợi hơn

2.1.1 Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp:

Căn cứ theo Điều 43, Điều 44 Luật Việc làm 2013 và Điều 11 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN,

quy định chi tiết hai đối tượng bắt buộc tham gia BHTN như sau:

2.1.1.1 Người lao động

Căn cứ theo khoản 1 Điều 3 và khoản 1, 2, Điều 43, Luật Việc làm quy định NLĐ là công dân VN thì: “NLĐ phải tham gia BHTN khi làm việc theo HĐLĐ hoặc HĐLV như sau: (a) HĐLĐ hoặc HĐLV không xác định thời hạn; (b) HĐLĐ hoặc HĐLV xác định thời hạn; (c) HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định

có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng

Như vậy, theo quy định này, chỉ những NLĐ là công dân VN từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc; giao kết các loại HĐLĐ, HĐLV như trên với NSDLĐ mới là đối tượng của BHTN

Trang 39

Tuy nhiên, những NLĐ là người nước ngoài làm việc tại VN; những người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức LĐ hàng tháng, giúp việc gia đình; người giao kết HĐLĐ dưới 03 tháng không thuộc đối tượng tham gia BHTN Ngoài ra, theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN thì NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên sẽ không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, NLĐ tạm hoãn thực hiện HĐLĐ hoặc HĐLV đã giao kết theo quy định của pháp luật thì NLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHTN trong thời gian này Trong trường hợp NLĐ giao kết và đang thực hiện nhiều HĐLĐ quy định nêu trên thì NLĐ và NSDLĐ của HĐLĐ giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia BHTN NLĐ theo quy định nêu trên đang hưởng lương hưu, LĐ giúp việc gia đình thì không phải tham gia BHTN Như vậy, không phải tất cả các đối tượng NLĐ đều bắt buộc tham gia BHTN Những quy định trên

áp dụng từ năm 2015, so với quy định trước đây tại Khoản 3, Điều 2, Luật Bảo hiểm

xã hội 2006 thì đã mở rộng thêm đối tượng là NLĐ làm việc với HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, quy định này tiến bộ hơn vì nhóm những đối tượng này có tính chất công việc không ổn định, rất dễ mất việc làm và họ cần được quan tâm bảo vệ nhiều hơn

Khắc phục các nhược điểm trên, tại kỳ họp thứ 8 ngày 20/11/2019 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2019 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021; Trong đó đã quy định tại khoản 1 Điều 20 Loại HĐLĐ: “1 HĐLĐ phải được giao kết theo một trong các loại sau đây: a) HĐLĐ không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng; b) HĐLĐ xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng” Và tại khoản 2 Điều 163 Nghĩa vụ của NSDLĐ khi sử dụng lao động là người giúp việc gia đình: (1) Thực hiện đầy đủ thỏa thuận đã giao kết trong HĐLĐ (2) Trả cho người giúp việc gia đình khoản tiền BHXH, bảo

Trang 40

hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người LĐ chủ động tham gia BHXH, bảo hiểm y tế”

2.1.1.2 Người sử dụng lao động

NSDLĐ tham gia BHTN bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ VN; DN, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng LĐ theo HĐLV hoặc HĐLĐ quy định nêu trên HĐLĐ hoặc HĐLV không xác định thời hạn; HĐLĐ hoặc HĐLV xác định thời hạn; HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng

Quy định hiện hành bổ sung thêm đối tượng là hộ gia đình, mở rộng phạm vi NSDLĐ là đối tượng tham gia BHTN so với quy định trước 2015 thì chỉ trường hợp NSDLĐ có sử dụng từ 10 LĐ trở lên mới phải tham gia BHTN Những quy định này

đã mở rộng đối tượng bắt buộc tham gia BHTN và phù hợp với lộ trình cải cách, hoàn thiện chính sách BHTN phù hợp với thông lệ quốc tế

Bộ luật Lao động 2019; Trong đó đã quy định tại khoản 1 Điều 20 Loại HĐLĐ SĐBS không còn loại HĐLĐ có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng; trong khi Luật Việc làm quy định NSDLĐ chỉ nộp BHTN khi NLĐ làm việc trên 3 tháng trở lên Đây là điều còn chưa phù hợp cần hoàn thiện

2.1.2 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Luật Việc làm năm 2013 đã không quy định chung về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp đối với các chế độ

* Đối với chế độ trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ học nghề bao gồm 03 điều kiện

chung đó là điều kiện về chấm dứt hợp đồng đúng luật, nộp hồ sơ trong vòng 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ Tuy nhiên để được hưởng chế độ hỗ trợ học nghề thì điều kiện về thời gian đóng BHTN chỉ cần đủ 09 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi

Ngày đăng: 16/12/2020, 11:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w