pylori là một trong những vi khuẩn có tỷ lệ lây nhiễm cao nhất trên thế giới, với 20-30% dân số bị nhiễm ở các nước công nghiệp phát triển và tăng nhanh tới trên 50% ở tuổi 60.. pylori,
Trang 1VINH LY
TÌNH TRẠNG NHIỄM HELICOBACTER PYLORI Ở GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI NHIỄM
HELICOBACTER PYLORI TÌNH TRẠNG NHIỄM HELICOBACTER PYLORI Ở GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI NHIỄM
HELICOBACTER PYLORI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Trang 3
VINH LY
TÌNH TRẠNG NHIỄM HELICOBACTER PYLORI
Ở GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI NHIỄM HELICOBACTER PYLORI
Chuyên ngành : Nội khoa
Mã số: 60720140
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Đào Văn Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Y Hà Nội Trong quátrình làm khóa luận tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ để hoàntất luận văn
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành GS TS Đào Văn Long đãtận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quátrình thực hiện luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô bộ môn Nội tổng hợp, trường Đạihọc Y Hà Nội, những người đã truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi suốttrong thời gian học tập vừa qua Đồng thời xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộnhân viên bệnh viện Đại học Y Hà Nội và bệnh viện Bạch Mai đã tạo điềukiện học tập và nghiên cứu cho tôi trong thời gian qua
Sau cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, vợ yêu, đồng nghiệp, bạn bè vàcác bạn học viên lớp cao học K26 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quátrình làm luận văn
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2019
Học viên
VINH LY
Trang 5Tôi là VINH LY học viên lớp cao học nội K26, chuyên ngành Nội khoa,Trường Đại học Y Hà Nội xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của GS TS Đào Văn Long.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sởnơi nghiên cứu cho phép lấy số liệu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2019
Người viết cam đoan
VINH LY
Trang 6CI : Confidence interval Khoảng tin cậy
ELISA : Enzym linhed
immanosorbert ASSay.
Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme
H.pylor
i
: Helicobacter pylori Vi khuẩn Helicobacterpylori
PcR : Polymerase chain reactium Phản ứng khuếch đại gen RUT : Rapid urease test Test nhanh Urease
UBT : Urea breath test Test Urea qua hơi thở
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ .1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Lịch sử phát hiện Helicobacter pylori 3
1.2 Dịch tễ học .4
1.2.1 Tỷ lệ nhiễm trên thế giới .4
1.2.2 Tần suất nhiễm mới .5
1.2.3 Tỷ lệ tái nhiễm .7
1.2.4 Các con đường lây truyền H.pylori 7
1.3 Các yếu tố liên quan đến nhiễm H.pylori 9
1.3.1 Tuổi .9
1.3.2 Giới .9
1.3.3 Tình trạng kinh tế xã hội .10
1.3.4 Sống chật chội đông đúc .10
1.3.5 Tình trạng vệ sinh .11
1.3.6 Sống chung với người mang H.pylori hoặc bị bệnh do H.pylori .11
1.3.7 Vai trò sống tập thể .12
1.3.8 Địa dư .12
1.3.9 Một số yếu tố khác .13
1.4 Đặc tính sinh học của H.pylori 16
1.5 Các phương pháp chẩn đoán nhiễm H.pylori 18
1.5.1 Các phương pháp xâm lấn .18
1.5.2 Các phương pháp không xâm lấn .20
1.6 Tình hình nghiên cứu dịch tễ học nhiễm H.pylori ở Việt nam 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .24
2.1 Đối tượng nghiên cứu .24
Trang 82.2 Phương pháp nghiên cứu .24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu .24
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu .25
2.2.3 Cách chọn mẫu .25
2.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu 25
2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu .26
2.5 Các quy trình được sử dụng trong nghiên cứu .27
2.5.1 Quy trình xác định nhiễm H.pylori bằng Test urease qua Nội soi Dạ dày .27
2.6 Thu thập, phân tích và xử lý số liệu .29
2.6.1 Thu thập số liệu .29
2.6.2 Phân tích và xử lý số liệu .29
2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu .29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .31
3.1 Đặc điểm chung và tỷ lệ nhiễm H.pylori của quần thể đối tượng nghiên cứu: .31
3.1.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc và địa dư .31
3.1.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới và tuổi 32
3.1.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số thành viên trong hộ gia đình .33
3.1.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 33
3.1.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu .34
3.2 Tỷ lệ nhiễm H.pylori ở đối tượng nghiên cứu 34
3.2.1 Số người nhiễm và tỷ lệ nhiễm trong các hộ gia đình .34
Trang 93.2.4 Tỷ lệ nhiễm H.pylori theo địa dư 36
3.3 Đánh giá mối liên quan giữa nhiễm H.pylori với các nguy cơ biến số nghiên cứu .38
3.3.1 Nghề nghiệp .38
3.3.2 Học vấn và nhiễm H.pylori 39
3.3.3 Số người trong hộ gia đình và nhiễm H.pylori 39
3.3.4 Sử dụng chung dụng cụ ăn uống và tình trạng nhiễm H.pylori 40
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN .41
4.1 Đặc điểm nhiễm H pylori của quần thể đối tượng nghiên cứu 41
4.2 Nhiễm H.pylori và mối liên quan đến giới 42
4.3 Nhiễm H.pylori và mối liên quan đến dân tộc 42
4.4 Nhiễm H.pylori và mối liên quan đến học vấn 44
4.5 Liên quan giữa nhiễm H.pylori với nghề nghiệp 46
4.6 Mối liên quan giữa nhiễm H.pylori với điều kiện sống đông đúc 46
4.7 Nhiễm H.pylori và mối liên quan đến tình trạng nhiễm H.pylori của các thành viên hộ gia đình 48
4.8 Mối liên quan giữa nhiễm H.pylori với tập quán, thói quen ăn uống và vệ sinh .49
KẾT LUẬN .52
KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ .1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Lịch sử phát hiện H.pylori 3
Trang 101.2.2 Tần suất nhiễm mới .5
1.2.3 Tỷ lệ tái nhiễm 7
1.2.4 Các con đường lây truyền H pylori 7
1.3 Các yếu tố liên quan đến nhiễm H pylori 9
1.3.1 Tuổi 9
1.3.2 Giới 9
1.3.3 Tình trạng kinh tế xã hội .10
1.3.4 Sống chật chội đông đúc 10
1.3.5 Tình trạng vệ sinh 11
1.3.6 Sống chung với người mang H pylori hoặc bị bệnh do H pylori 11
1.3.7 Vai trò sống tập thể 12
1.3.8 Địa dư 12
1.3.9 Một số yếu tố khác 13
1.4 Đặc tính sinh học của H pylori 16
1.5 Các phương pháp chẩn đoán nhiễm H pylori 18
1.5.1 Các phương pháp xâm lấn .18
1.5.2 Các phương pháp không xâm lấn .20
1.6 Tình hình nghiên cứu dịch tễ học nhiễm H pylori ở Việt nam 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu .24
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu .24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
Trang 112.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu .25
2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu .26
2.5 Các quy trình được sử dụng trong nghiên cứu .26
2.5.1 Quy trình xác định nhiễm HP bằng Test urease qua Nội soi Dạ dày .26
2.6 Thu thập, phân tích và xử lý số liệu .29
2.6.1 Thu thập số liệu 29
2.6.2 Phân tích và xử lý số liệu .29
2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .31
3.1 Đặc điểm chung và tỷ lệ nhiễm H pylori của quần thể đối tượng nghiên cứu: .31
3.1.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc và địa dư .31
3.1.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới và tuổi 32
3.1.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số thành viên trong hộ gia đình 33
3.1.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 33
3.1.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu .34
3.2 Tỷ lệ nhiễm H pylori ở đối tượng nghiên cứu 34
3.2.1 Số người nhiễm và tỷ lệ nhiễm trong các hộ gia đình .34
3.2.2 Tỷ lệ nhiễm H pylori .35
3.2.3 Tỷ lệ nhiễm H pylori theo nhóm tuổi 36
3.2.4 Tỷ lệ nhiễm H pylori theo địa dư .36
Trang 123.3.1 Nghề nghiệp 38
3.3.2 Học vấn và nhiễm H pylori .39
3.3.3 Số người trong hộ gia đình và nhiễm H pylori .39
3.3.4 Sử dụng chung dụng cụ ăn uống và tình trạng nhiễm H pylori
40
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 41
4.1 Đặc điểm nhiễm H pylori của quần thể đối tượng nghiên cứu .41
4.2 Nhiễm H pylori và mối liên quan đến giới .42
4.3 Nhiễm H pylori và mối liên quan đến dân tộc (chủng tộc) .42
4.4 Nhiễm H pylori và mối liên quan đến học vấn 44
4.5 Liên quan giữa nhiễm H pylori với nghề nghiệp .46
4.6 Mối liên quan giữa nhiễm H pylori với điều kiện sống đông đúc 46 4.7 Nhiễm H pylori và mối liên quan đến tình trạng nhiễm H pylori của các thành viên hộ gia đình 48
4.8 Mối liên quan giữa nhiễm Helicobacter pylori với tập quán, thói quen ăn uống và vệ sinh .49
KẾT LUẬN .52
KIẾN NGHỊ 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 13Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc .31
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa dư .31
Bảng 3.3 Phân bố theo giới tính .32
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số thành viên trong gia đình 33
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn .34
Bảng 3.6 Tiền sử điều trị nhiễm H.pylori 35
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm H.pylori theo giới tính 35
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm H.pylori theo địa dư 36
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm H.pylori theo dân tộc 37
Bảng 3.10 Xác định nhiễm H.pylori theo phương pháp xét nghiệm 37
Bảng 3.11 Mức độ nhiễm Helicobacter pylori của các hộ gia đình 38
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa nghề nghiệp với tình trạng nhiễm .38
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa học vấn với tình trạng nhiễm H.pylori 39
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa số người sống trong gia đình với tình trạng nhiễm H.pylori 39
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa sử dụng chung dụng cụ ăn uống (bát, đũa, thìa) với tình trạng nhiễm H.pylori 40
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc .31
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa dư .31
Bảng 3.3 Phân bố theo giới tính .32
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số thành viên trong gia đình .33
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn .34
Bảng 3.6 Tiền sử điều trị nhiễm HP .35
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm HP theo giới tính .35
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm HP theo địa dư .36
Trang 14Bảng 3.11 Mức độ nhiễm Helicobacter pylori của các hộ gia đình .38Bảng 3.12 Mối liên quan giữa nghề nghiệp với tình trạng nhiễm .38Bảng 3.13 Mối liên quan giữa học vấn với tình trạng nhiễm H pylori 39Bảng 3.14 Mối liên quan giữa số người sống trong gia đình với tình trạng
nhiễm H pylori .39Bảng 3.15 Mối liên quan giữa sử dụng chung dụng cụ ăn uống (bát, đũa, thìa)
với tình trạng nhiễm H pylori .40
Trang 15Biểu đồ 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi .32
Biểu đồ 3.2 Phân bố theo nghề nghiệp .33
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ nhiễm H.pylori .34
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nhiễm H.pylori theo nhóm tuổi .36
Biểu đồ 3.5 Tình trạng nhiễm H.pylori trong gia đình .37
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi .32
Biểu đồ 3.2 Phân bố theo nghề nghiệp .33
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ nhiễm HP .34
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nhiễm HP theo nhóm tuổi .36
Biểu đồ 3.5 Tình trạng nhiễm HP theo gia đình .37
Trang 16Hình 1.1 Hình ảnh H.pylori với các lông roi ở đầu 17
Hình 1.1 Hình ảnh H pylori với các lông roi ở đầu 17
Trang 17ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm dạ dày (VDD) mạn tính chiếm tỷ lệ rất cao trong các bệnh lý
dạ dày – tá tràng (DD-TT) đến khám tại các cơ sở y tế, các chuyên khoa tiêu hóa Nguyên nhân gây bệnh đã được đề cập từ lâu nhưng chỉ tới
1983 Marshall B J và Warren J.R [1] mới phát hiện và nuôi cấy thành
công vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori) đã chứng minh vai trò chính
của nó trong bệnh lý DD-TT Dần dần hầu hết các nghiên cứu đều công nhận vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu của VDD mạn tính, loét DD-TT, u MALT (mucosa-associated lymphoma tissue) và ung thư
dạ dày (UTDD) Nhiễm H pylori mạn sẽ gây VDD mạn, dẫn tới viêm teo
niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản là những tổn thương tiền ung thư [2]
H pylori là một trong những vi khuẩn có tỷ lệ lây nhiễm cao nhất trên thế giới, với 20-30% dân số bị nhiễm ở các nước công nghiệp phát triển
và tăng nhanh tới trên 50% ở tuổi 60 Ở các nước đang phát triển những người
có điều kiện kinh tế xã hội thấp thường có tỷ lệ nhiễm cao Các nghiên cứu vềdịch tễ học cho thấy tình hình nhiễm H pylori ở 14 nước đang phát triển ở
tuổi dưới 15 là 80% [3], [4] Ở các nước này, nhiễm H pylori chủ yếu bịmắc từ tuổi nhỏ và sự khác nhau về tỷ lệ hiện nhiễm được theo dõi qua cácthế hệ nối tiếp đã phản ánh những điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường họsống Tỷ lệ nhiễm khuẩn H.pylori tại Việt Nam cũng tương đương với cácnước trong khu vực Năm 2001, Vương Tuyết Mai và cộng sự đã phát hiện tỷ
lệ nhiễm H.pylori H.p ở 528 người khỏe mạnh là 75,2% Trẻ nhỏ nhiễm
H.pylori thấp hơn người lớn thậm chí trẻ ở độ tuổi 1-2 tuổi cũng bị nhiễm
H.pylori
Tại châu Á và Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam nói riêng, thói quen sinh hoạt và ăn uống là nguyên nhân chính gây ra tình trạng lây
Trang 18nhiễm H.pylori, đặc biệt là những người sống cùng với người đã nhiễm
H.pylori Thông thường, khi ăn uống người Việt thường có thói quen
chấm chung một bát nước mắm, dùng đũa của mình gắp thức ăn cho
người khác Khi một người trong gia đình nhiễm H.pylori chưa điều trị,
sẽ dễ dàng lây nhiễm cho các thành viên khác trong gia đình, từ đó làm
cho H.pylori trở nên khó điều trị dứt điểm
Việc xác định mức độ nhiễm H.pylori và vai trò các yếu tố nguy cơ tăng lây nhiễm H.pylori ở các đối tượng sống trong gia đình là rất cần thiết để xác lập những biện pháp phòng lây nhiễm H.pylori và tránh các
hậu quả về bệnh lý đường tiêu hóa do vi khuẩn này trongcộng đồng.
Nhằm đánh giá tỷ lệ nhiễm H pylori ở các đối tượng sống trong gia đình
những người nhiễm H pylori, chúng tôi tiến hành đề tài: “Tình trạng nhiễm Helicobacter pylori ở gia đình có người nhiễm Helicobacter pylori” với mục tiêu:
Khảo sát tỷ lệ nhiễm H.pylori ở các đối tượng sống trong cùng gia đình bệnh nhân nhiễm H.pylori
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Lịch sử phát hiện Helicobacter pylori
Trong quan niệm kinh điển, dịch dạ dày được coi là vô khuẩn do
khả năng diệt khuẩn mạnh của axit clohydric Trước khi H pylori chính
thức được công nhận, đã có một vài thông báo về một loại vi khuẩn tìm thấy trong dạ dày người Năm 1940, Freedberg AS và cs đã công bố về sự tồn tại một loại vi khuẩn hình xoắn trên niêm mạc dạ dày bị cắt bỏ [13] Năm 1979, tại bệnh viện hoàng gia Perth (Australia), Robin Warren một nhà giải phẫu bệnh đã phát hiện thấy một loại vi khuẩn hình xoắn, thường xuất hiện trong các mảnh sinh thiết dạ dày ở lớp chất nhầy phủ lên tế bào niêm mạc dạ dày, quan sát dưới kính hiển vi điện tử, ông thấy chúng rất giống loại vi khuẩn đã tìm được trong các thông báo trước đó [1] Năm 1981, Barry Marshall khi đó đang thực hành tại Khoa Nội tiêu hoá của Bệnh viện Perth rất quan tâm đến quan sát của Robin Warren,
nhậnnhân tình cờ một bệnh nhân viêm hang vị dạ dày được điều trị bằng
Tetracycline, sau đó các triệu chứng hoàn toàn biến mất, nội soi và kiểm tra mô bệnh học thấy sự biến mất của các tế bào viêm cùng các xoắn khuẩn Ông đã tìm cách phân lập vi khuẩn này Sau nhiều lần nuôi cấy không thành công, đến mẫu nuôi cấy thứ 35 thì được để lại trong tủ ấm 5 ngày do nghỉ Lễ Phục Sinh, khi dĩa nuôi cấy được kiểm tra thì thấy xuất hiện một loại khuẩn lạc thuần, đường kính 1mm, kiểm tra trên tiêu bản nhuộm Gram thấy hình vi khuẩn cong, xoắn nhẹ phù hợp với hình thể trên
tiêu bản trực tiếp từ mảnh sinh thiết H pylori đã được phân lập thành công
và được Marshall B.J chính thức công bố [1] Vi khuẩn này ban đầu được gọi
là Campylobacter like organism, do chúng có hình thái tương tự như một
Trang 20nhóm tác nhân gây bệnh đường ruột được biết là các Campylobacters Tại hội thảo quốc tế về nhiễm trùng Campylobacters (Brussels, 1983), Skirrow
đề nghị gọi vi khuẩn mới này là Campylobacters pyloridis, về sau được đổi lại là Campylobacters pylori cho phù hợp với nguyên tắc đặt tên theo ngôn ngữ
Latin Năm 1988 Goodwin và cs trong khi nghiên cứu về siêu cấu trúc, thành
phần acid béo của tế bào và trình tự chuỗi rRNA 16S của Campylobacters
pylori và Campylobacters mustelae đã nhận thấy, chúng khác hẳn với
giống Campylobacters Trên cơ sở nghiên cứu đó, Goodwin và cs đề nghị xếp Campylobacters pylori và Campylobacters mustelae vào một giống mới, giống Helicobacter (Helicobacter genus) Tháng 6 năm 1989 tạp chí quốc tế về hệ thống vi khuẩn học (The International Journal of Systematic
Bacteriology) chấp nhận tên giống vi khuẩn mới Helicobacter, từ đó Campylobacters pylori được gọi là Helicobacter pylori [14] Bằng việc khám
phá ra vi khuẩn là nguyên nhân gây viêm loét dạ dày tá tràng, Warren B.J
và Marshall J.R đã giành được giải thưởng Nobel Sinh lý học và Y học vào năm 2005
Từ đó đến nay, có nhiều nghiên cứu lâm sàng làm sáng tỏ dần vai
trò của H pylori trong bệnh lý dạ dày tá tràng
1.2 Dịch tễ học
Trên thế giới có hơn 3,5 tỷ người nhiễm H pylori và trên 700 triệu
người bị bệnh lý đường tiêu hóa liên quan đến nhiễm H pylori Cũng như
đối với các bệnh khác, nghiên cứu dịch tễ học nhiễm H pylori có vai trò
quyết định các biện pháp cơ bản trong chiến lược y tế cộng đồng nhằm khống chế sự lây nhiễm của vi khuẩn này [15] Từ thời điểm được phát hiện, công bố rộng rãi, khẳng định vai trò bệnh lý của vi khuẩn này, hàng loạt các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã cho phép đi đến một số
kết luận về phân bố dịch tễ cũng như các bệnh liên quan đến nhiễm H.
Trang 21pylori [16]
1.2.1 Tỷ lệ nhiễm trên thế giới
Tỷ lệ nhiễm H pylori cao ở các nước đang phát triển và thấp ở các
nước phát triển và tùy theo vào mỗi khu vực, vùng địa lý, thành thị hay nông thôn
Trang 221.2.1.1 Tỷ lệ nhiễm ở các nước phát triển
Tỷ lệ nhiễm ở trẻ em các nước phát triển rất thấp, các bằng chứng
huyết thanh học nhiễm H pylori rất hiếm khi tìm thấy trước 10 tuổi (chỉ
khoảng 3 – 5%) nhưng tăng đến 10% ở lứa tuổi 18 đến 30 tuổi và 50% ở những người lớn hơn 60 tuổi Theo Malaty HM và cs [17] tỷ lệ nhiễm 1 – 3
tuổi là 8%, 18 – 23 tuổi là 24,5% Tỷ lệ nhiễm H pylori ở người lớn tăng dần
theo tuổi và nói chung nằm trong khoảng 15 – 43% đối với dân bản địa và 45 – 70% ở dân nhập cư
1.2.1.2 Tỷ lệ nhiễm tại các nước đang phát triển
Khác với hình ảnh ở các nước phát triển, đặc điểm chung về tỷ lệ
nhiễm H pylori ở các nước đang phát triển là nhiễm rất sớm từ trước 3
tháng tuổi, đạt 20 – 40% lúc 2 tuổi, tốc độ nhanh nhất ở tuổi 2 – 4 hoặc 4 – 6 đạt 40 – 80% tùy khu vực Cuối giai đoạn tuổi trẻ (15 – 18 tuổi), tỷ lệ
nhiễm H pylori ở mức rất cao từ 60 – 85%, so với 80 – 95% ở người lớn
[3]
Tỷ lệ nhiễm ở Việt Nam khá cao, và thay đổi theo một số nghiên cứu của các tác giả trong nước Vương Tuyết Mai và cộng sự năm 2001
đã phát hiện tỷ lệ nhiễm H.pylori ở 528 người khỏe mạnh là 75,2%.
Trong hai năm 2008 – 2009 Phan Tấn Tài và Huỳnh Chí Hùng (Bệnh viện đa khoa Phú Tân, An Giang) đã thực hiện nội soi dạ dày thực quản cho 370 bệnh nhân có triệu chứng của viêm dạ dày và xác định nhiễm
H.pylori dựa vào test urease Kết quả tỷ lệ nhiễm H.pyloriH.p 24,6%
(nam: 26,2% và nữ 23,6%) Năm 2012 Vũ Văn Khiên bệnh viện Trung ương Quân đội 108 [2] đã tiến hành nghiên cứu trên 494 người (210 nam,
284 nữ) từ 13 dân tộc khác nhau sống tại Đắc Lắc và Lào Cai.Trong
nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm H.pylori dựa vào test Urease nhanh, cấy vi
khuẩn, mô bệnh học hóa mô miễn dịch vàhuyết thanh học Tỷ lệ nhiễm
Trang 23H.pylori trong quần thể 38% (Đắc Lắc: 51%, Lào cai: 29,3%)
1.2.2 Tần suất nhiễm mới
- Tần suất nhiễm mới ở các nước đang phát triển
Một trong những nghiên cứu tiến cứu đầu tiên được thực hiện tại Peru, thực hiện bằng test thở C13 trên 56 trẻ từ 6 đến 30 tháng, có 74%
trẻ bị nhiễm H pylori, nghiên cứu về dịch tễ học chuyển đổi huyết thanh
ở trẻ em Peru thấy tần suất nhiễm mới là 24 – 31%/năm [18] Tỷ lệ nhiễm cao được ghi nhận trong một nghiên cứu trẻ em Thổ Nhĩ Kỳ 1 đến
4 tuổi định cư tại Đức [7] Nghiên cứu tại Bangladesh xác định tần suất nhiễm mới lúc mới sinh đến 2 tuổi ở 258 trẻ, các tác giả quan sát thấy rằng tần suất nhiễm mới lúc 6 tháng tuổi tăng lên 0,9% lúc 2 tuổi [19] Một nghiên cứu ở Israel nhận thấy tỷ lệ nhiễm mới và tái nhiễm <1% ở người lớn [20] Nghiên cứu thuần tập của Muhsen K và cs [21] ở trẻ em Israel lứa tuổi tiền học đường bằng thử nghiệm huyết thanh chẩn đoán
nhận thấy tỷ lệ nhiễm H pylori ở lứa tuổi tiền học đường và học đường là
49,7% và 58,9% trong thời gian 4 năm theo dõi có 14 trẻ nhiễm mới trong 70 trẻ không bị nhiễm trước đó (20%), tác giả suy ra tần suất nhiễm mới là 5%/người/năm
Nhìn chung tần suất nhiễm mới ở các nước đang phát triển nằm giữa 1 – 5%/người/năm nhưng có thể lên đến 33% như ở Pakistan
- Tần suất nhiễm mới ở các nước phát triển: thường thấp ở trẻ em Một nghiên cứu tại Nhật trên 112 trẻ 6 tuổi, nhận thấy tần suất nhiễm mới là 1,1%/năm [22] Nghiên cứu tại Newzealand tần suất nhiễm mới là 0,1%/năm ở trẻ từ 11 đến 21 tuổi Một nghiên cứu theo dõi dọc, một nhóm trẻ sinh ra từ 1960 trong một cộng đồng con lai tại nước Mỹ, theo dõi trẻ từ 7 – 9 tuổi đến tuổi trưởng thành các tác giả nhận thấy tỷ lệ nhiễm mới là 1,9%/năm [16], tuy nhiên tỷ lệ này cao gấp 4 lần ở người da
Trang 24đen Mức độ nhiễm mới duy trì khoảng 1% ở người lớn [23] Nhìn chung tần suất nhiễm mới ở trẻ em các nước phát triển nằm trong khoảng 1%/người/năm (0,33 đến 2,1 ở trẻ em da trắng, 3% ở trẻ da đen).
1.2.3 Tỷ lệ tái nhiễm
Tỷ lệ tái nhiễm H pylori sau khi điều trị diệt trừ H pylori ở các
nước phát triển rất thấp, nhưng thường cao ở các nước đang phát triển Hầu hết những trường hợp tái nhiễm ở các nước phát triển thường gặp
các chủng H pylori tương tự như trước, nhưng ở các nước đang phát
triển thì thường gặp chủng H pylori mới [20],[24] Nghiên cứu của Thang
– Ngam và cs [25] tại Thái Lan, trong 4 năm theo dõi bằng test thở 13 C tỷ
lệ tái nhiễm chung là 13,5% Tại Pakistan theo nghiên cứu của Javed Yakoob và cs [26] tỷ lệ tái nhiễm là 3% Tại Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Hà và cs trên trẻ em 3- 15 tuổi tỷ lệ tái nhiễm sau 1 năm điều trị là 25,2% [27] Tại các nước phát triển tỷ lệ tái nhiễm thấp khoảng 1%/người/năm (0,33 – 2,1%), tỷ lệ tự mất cũng tương tự (tự mất 1,8% ở trẻ em, 1,5% ở người lớn), nhưng tỷ lệ nhiễm tích lũy vẫn tăng dần, chứng tỏ ngoài hiện tượng hiệu ứng quần thể theo thế hệ, còn có hiện tượng tái nhiễm rất thay đổi và rất thường xuyên [20]
Tại các nước đang phát triển, có nhiều chứng cớ chứng tỏ hiện tượng tái nhiễm rất mạnh mẽ Niv Y và Hazazi [20] ghi nhận tỷ lệ tái
nhiễm H pylori ở trẻ em các nước đang phát triển là 13%, các tác giả
nhận thấy rằng tỷ lệ tái nhiễm thường gặp sau 1 năm ở trẻ được điều trị.
1.2.4 Các con đường lây truyền H pylori
Đường lây truyền nhiễm H pylori vẫn chưa được xác định rõ Tuy
nhiên con đường lây truyền phổ biến nhất được các nghiên cứu dịch tễ
Trang 25học khẳng định là lây truyền từ người sang người theo đường miệng – miệng, dạ dày- miệng và phân – miệng [28]
1.2.4.1 Lây truyền theo đường miệng – miệng
Một vài nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử như PCR phát hiện sự có mặt của vi khuẩn trong khoang miệng [29], tiếp xúc
miệng – miệng được xem là yếu tố nguy cơ làm tăng lây nhiễm H pylori.
Sự khác biệt về văn hóa và xã hội như tật mớm cơm hay dùng chung đũa thường gặp các nước Châu Phi và Châu Á có thể giải thích cho sự lây truyền miệng – miệng [30],[31] Bằng chứng về sự lây truyền này được chứng minh qua con của các bà mẹ Ấn Độ giáo thường xuyên lau đầu vú bằng nước bọt trước khi cho trẻ bú và nhai mớm cơm trước khi cho trẻ
ăn [32],[33] Ngoài ra một số nghiên cứu đã thấy rằng tỷ lệ nhiễm H.
pylori cao hơn ở người dùng đũa ăn chung một đĩa so với những người ăn
riêng đĩa bát (64,8% và 42,3%) [34]
1.2.4.2 Lây truyền theo đường dạ dày – miệng
Chất nôn cũng được xem là một tác nhân quan trọng lan truyền lây
nhiễm H pylori bởi vì vi khuẩn đã được phân lập bằng phương pháp
nuôi cấy từ các bệnh phẩm này Một vài nghiên cứu tại Brazil thấy rằng
có sự liên quan giữa nhiễm H pylori ở dạ dày và sự hiện diện của H pylori ở khoang miệng [32] Một nghiên cứu gần đây nhận thấy tỷ lệ
nhiễm H pylori ở khoang miệng bệnh nhân có H pylori dương tính ở dạ
dày cao hơn một cách có ý nghĩa so với bệnh nhân có H pylori trong dạ
dày âm tính (45% so với 23,9%) (OR=3,61, P<0,0001) [29] Thêm vào đó
các nghiên cứu này cũng nhận thấy rằng tỷ lệ tiệt trừ H pylori từ dạ dày
(85,8% cao hơn so với khoang miệng 5,7%) (OR=55,59, P<0,00001), và có
sự liên quan H pylori ở khoang miệng, đây có thể là nguồn tái nhiễm sau khi
điều trị tiệt trừ H pylori thành công [29]
Trang 261.2.4.3 Lây truyền theo đường phân – miệng
H pylori có thể nuôi cấy dương tính từ dịch của trực tràng và hồi
tràng [35] Al- sulami và cs ghi nhận H pylori có trong nước uống
(khoảng 2%) ở Barsa, Irag [36] Một nghiên cứu khác ở Pakistan, Samra
và cs dùng kỹ thuật PCR đã tìm thấy gien độc lực của H pylori trong
40% mẫu nước uống [37] Đường lây truyền này thường gặp các nước đang phát triển nơi mà điều kiện vệ sinh còn hạn chế và trẻ có nhiều nguy cơ mắc các bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng đường tiêu hóa [35],[36]
Ngoài ra một số tác giả còn nhận thấy lây truyền theo đường dạ dày – dạ dày Đây là đường truyền bệnh hiếm gặp do thầy thuốc tạo ra qua nội soi tiêu hóa Khi nội soi, kiềm sinh thiết bị ô nhiễm vì vậy khử
trùng không sạch có thể lây lan cho người nội soi [22] Tỷ lệ nhiễm H.
pylori do nội soi chiếm khoảng 0,4% Trong khi đó tỷ lệ H pylori dương
tính khi làm thủ thuật nội soi là 60% [29]
1.3 Các yếu tố liên quan đến nhiễm H pylori
1.3.1 Tuổi
Tại các nước đang phát triển, nhiễm H pylori bắt đầu từ rất sớm
từ tuổi sơ sinh và tăng nhanh trong những năm đầu, đặc biệt ở lứa tuổi
2-4 tuổi, sau đó có hiện tượng tự thoái lui và tái nhiễm nhiều lần và đạt đến 40-80% lúc 4-6 tuồi, và 60-80% cuối tuổi niên thiếu (15-18 tuổi) Tại Libya, tỷ lệ huyết thanh dương tính ở trẻ em không triệu chứng tuổi từ 1-
9 tuổi là 50%, và 84% ở trẻ 10-19 tuổi [38] Tỷ lệ nhiễm H pylori cao và
gia tăng nhanh ở Ả Rập Xê Út và Ấn Độ Những trẻ em người Ấn Độ sống tại Nam Mỹ hơn 80% có tỷ lệ huyết thanh dương tính ở 3 tuổi [39].
Tại Hàn Quốc tỷ lệ H pylori dương tính ở trẻ 6-8 tuổi là 1,3-1,6% năm
2003, và 4,4-7,9% ở trẻ từ 8-10 tuổi năm 2003 [40] Tỷ lệ nhiễm H pylori
ở Peru, Gambia và Trung Quốc cũng khá cao [4177] Một nghiên cứu tại
Ai Cập trên 200 bà mẹ có 90% bà mẹ có H pylori dương tính, và 15%
Trang 27con của họ bị nhiễm lúc 9 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm H pylori tăng lên 25%
lúc trẻ được 18 tháng tuổi và 30% lúc 3 tuổi Tại các nước công nghiệp
một số nghiên cứu thấy bắt đầu nhiễm H pylori sau 10 tuổi Ở Pháp lúc 1
tuổi Raymond thấy tỷ lệ nhiễm là 1,8% Me ’ graud và cs thấy nhiễm ở trẻ
<10 tuổi là 3,5% Theo nghiên cứu của Mourad-Baars PE và cs [42] ở các
nước phát triển tỷ lệ nhiễm H pylori ở trẻ em từ 1,2% đến 12,2%.
1.3.2 Giới
Đại đa số nghiên cứu không thấy có sự khác nhau về giới trong
nhiễm H pylori [16]
1.3.3 Tình trạng kinh tế xã hội
Nghiên cứu tại Brazil, Daltoni VC và cs [43] thấy tỷ lệ nhiễm H.
pylori gia tăng ở những trẻ học mẫu giáo, nhà không có phòng vệ sinh, điều kiện sống nghèo nàn và sống chật chội đông đúc Tương tự như vậy Fiahho AM và cs [44] đã chứng minh số người trong mỗi phòng và số trẻ
trong hộ gia đình là yếu tố nguy cơ lây nhiễm H pylori Nghiên cứu của Malaty HM và cs tại Houton, các tác giả nghiên cứu 13 trung tâm chăm sóc trẻ ban ngày và chọn những trẻ em dân tộc thiểu số từ những gia đình tầng lớp thấp có điều kiện kinh tế thấp đến trung bình, tuổi từ 2 đến
16 và không có triệu chứng về dạ dày ruột, nhận thấy 2 trung tâm chăm
sóc ban ngày đông đúc có nguy cơ nhiễm H pylori cao hơn những trẻ ở
những trung tâm chăm sóc ban ngày ít đông người, và ở những trẻ sống
trong những gia đình trên 4 người, thì có nguy cơ nhiễm H pylori cao
[45].
1.3.4 Sống chật chội đông đúc
Những nghiên cứu gần đây đánh giá mức độ sống đông đúc của trẻ ởthời kỳ niên thiếu và trưởng thành, có một số tiêu chí đánh giá chẳng hạn như:môi trường sống đông đúc, khoảng cách tuổi giữa các anh chị em ruột, số
Trang 28lượng trẻ trong một gia đình, số lượng trẻ trong một phòng, trẻ ngủ phòngriêng hoặc chung với bố mẹ, các yếu tố trên làm tăng lây nhiễm H pylori.
Hiện tượng tăng lây nhiễm H pylori còn thấy ở những nơi trẻ tập trung
đông đúc đặc biệt trong thời kỳ niên thiếu, điều này số mét vuông trong
một hộ gia đình có thể là chỉ số để đánh giá sự lây truyền H pylori giữa
các anh chị em và các thành viên khác trong hộ gia đình Những nghiên
cứu về mặt dịch tễ học đã cho thấy nhiễm H pylori phổ biến nhất ở khu
vực sống đông đúc, vệ sinh nghèo nàn Dattoli VC đã chứng minh điều này dựa trên các yếu tố nguy cơ [43] Cervantes DT và cs [46], xác định
nhiễm H pylori ở thời thơ ấu do sự lan truyền giữa các anh chị em ruột
sống trong những gia đình chật chội Tại Brazil, Daltoli VC và cs [43],
nghiên cứu trên 1104 trẻ tuổi từ 4 đến 11, nhận thấy có 28,7% trẻ có H pylori
dương tính và thấy rằng những trẻ sống trong môi trường đông đúc có tỷ
lệ nhiễm H pylori cao
1.3.5 Tình trạng vệ sinh
Vai trò của tình trạng thiếu vệ sinh tại gia đình và trẻ em làm tăng
lây nhiễm H pylori được nhiều nghiên cứu gần đây xác nhận Nhiều
nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa tỷ lệ nhiễm H pylori và vệ sinh
tại hộ gia đình, tỷ lệ nhiễm H pylori cao tại những hộ gia đình không
dùng nhà vệ sinh dội nước, sử dụng vệ sinh bên ngoài nhà, vòi nước bên ngoài và dùng nước ở sông hồ [47] Phương tiện vệ sinh nghèo nàn ở các
nước đang phát triển làm gia tăng tỷ lệ nhiễm H pylori [28] Những đứa
trẻ dùng chung thìa lúc ăn, bà mẹ cho trẻ ăn bằng cách nhai cơm và thức
ăn sau đó mới cho trẻ ăn, những trẻ tắm chung trong hồ bơi, và rửa tay chung trong chậu nước và cuộc sống gia đình có phương tiện vệ sinh hạn
chế làm tăng nguy cơ nhiễm H pylori [47]
1.3.6 Sống chung với người mang H pylori hoặc bị bệnh do H pylori
Trang 29Vai trò chung sống với người mang H pylori hoặc bị viêm loét dạ
dày – tá tràng trong gia đình hoặc cơ sở chăm sóc liên quan rất chặt chẽ với sự lây nhiễm, đã được nhiều nghiên cứu gần đây ghi nhận [48].Nghiên cứu dọc theo dõi 9 năm trong 46 gia đình Nhật Bản của Malaty HM
và cs [22] cũng đều có những nhận xét sống chung với người bị nhiễm H.
pylori hoặc bị bệnh do H pylori sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm H pylori
cho trẻ Trong một nghiên cứu gần đây của Brenner và cs nhận thấy yếu
tố nguy cơ nhiễm H pylori cao ở những trẻ có bố mẹ có tiền sử viêm loét
dạ dày hơn những trẻ có bố mẹ không có tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng Nghiên cứu của Kikuchi và cs ở Nhật Bản nhận thấy sự gia tăng
nguy cơ nhiễm H pylori ở những người công nhân phục vụ tại công cộng
có bố có tiền sử loét dạ dày tá tràng Ngược lại nghiên cứu của Brenner
và cs tại Đức thấy sự gia tăng nguy cơ nhiễm H pylori ở những trẻ có mẹ
có tiền sử loét dạ dày tá tràng Tại Brazil, Fialho AM và cs [44], nhận thấy
người mẹ, anh chị em trong gia đình bị nhiễm H pylori là yếu tố nguy cơ
gây nhiễm H pylori cho trẻ (20,26%) Con đường lây bệnh giữa các
thành viên trong gia đình được xem là đường lây chính Weyerman M và
cs [49], tại Đức đã xác định được bố mẹ, anh chị em ruột trong gia đình,
lây nhiễm H pylori cho trẻ thời thơ ấu Tình trạng nhiễm H pylori giữa
các anh chị em trong gia đình thường gặp nhiều hơn ở những gia đình
đông con So với các thành viên khác trong gia đình, tình trạng nhiễm H.
pylori của người mẹ ảnh hưởng mạnh đến con, kết hợp với yếu tố vệ sinh
và những yếu tố khác Một nghiên cứu ở Brazil đã chứng minh rằng các
bà mẹ bị nhiễm H pylori có khả năng lây nhiễm H pylori cho con gấp 20
lần, đặc biệt là các bà mẹ có Cag-A dương tính [50]. Một nghiên cứu tại Thổ
Nhĩ Kỳ xét nghiệm H pylori sàng lọc cho những trẻ không triệu chứng và
nhận thấy những trẻ có mẹ H pylori dương tính thì con bị nhiễm H pylori
cao hơn [48].
1.3.7 Vai trò sống tập thể
Trang 30Vai trò sống tập thể sớm như nhà trẻ, mẫu giáo, các nghiên cứu gần đâyđều có xu hướng xác nhận kết quả nghiên cứu tại Thụy Điển và cho rằng nhàtrẻ, trường học và các sinh hoạt hay chung sống tập thể ở môi trường có tổchức không phải là yếu tố tăng lây nhiễm H pylori [5],[9]
1.3.8 Địa dư
Đa số nghiên cứu thấy tỷ lệ nhiễm H pylori ở thành thị cao hơn
vùng nông thôn Tuy nhiên, một nghiên cứu khác lại thấy tỷ lệ nhiễm H.
pylori ở nông thôn cao hơn thành thị Tuy còn phụ thuộc vào phương
pháp nghiên cứu nhưng như vậy chứng tỏ tỷ lệ nhiễm H pylori phụ thuộc
nhiều yếu tố, trong đó địa dư có thể chỉ phản ánh một phần khác nhau
mà không thường xuyên của các yếu tố đó [51] Tỷ lệ nhiễm H pylori
không chỉ khác nhau giữa các chủng tộc nhưng cũng khác nhau giữa các vùng Fraser AG và cs [52] nhận thấy có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ
nhiễm H pylori giữa trẻ em người đảo Thái Bình Dương (49%) so với trẻ
em Châu Âu là 13,7%
1.3.9 Một số yếu tố khác
Tuy một số yếu tố liên quan nêu trên có tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp đến việc nhiễm H pylori nhưng không bao giờ có thể giải thích
được tất cả những yếu tố khác biệt trong nghiên cứu Ví dụ ngay các
thành viên trong một gia đình, không phải mọi người cùng nhiễm H.
pylori hoặc ngay cả trong 26 đứa con của 10 bà mẹ người Bỉ có test thở
(+), không phải cứ mẹ bị nhiễm H pylori thì đa số các con đều bị nhiễm.
Như vậy chắc chắn còn những yếu tố hoặc đồng yếu tố khác cũng có vai
trò tác động đến tính lây nhiễm H pylori nói chung và ở trẻ em nói riêng
[53]. Trong số đó, phải kể đến một số yếu tố sau đây đã ít nhiều được nghiêncứu
a Nguồn nước
Trang 31Có khá nhiều nghiên cứu tìm hiểu vai trò ảnh hưởng trực tiếp của
nguồn nước đến nhiễm H pylori Tuy nhiên chỉ có nghiên cứu tại Peru là
có chứng cứ khoa học về vai trò nguồn nước trong việc tăng lây nhiễm H.
pylori tại Peru Các tác giả thấy người uống nước máng dẫn từ thành phố
về có tỷ lệ nhiễm H pylori cao gấp 3 lần người uống nước giếng đào trong
gia đình [18] Trẻ em Trung Quốc sống hay tắm ao hồ có tỷ lệ nhiễm H.
pylori cao [51]. Ở Châu Phi, nước sinh hoạt được sử dụng trong gia đình từ
vòi nước được lấy từ đầm lầy, sông, hồ đều chứa kháng nguyên H pylori cao Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự có mặt của vi khuẩn hoặc ADN của
vi khuẩn trong các nguồn nước trên [54].
b Súc vật
Một số vùng trên thế giới có thói quen nuôi động vật trong nhà, làm
tăng khả năng lây nhiễm H pylori ở trẻ em Những nghiên cứu về huyết
thanh học nhận thấy tỷ lệ kháng thể kháng H pylori cao ở 1 số người làm
nghề nghiệp như: làm ở lò mổ bò, heo, những người chăn cừu, những người làm công tác thú y, có lẽ do những người này có nghề nghiệp tiếp
xúc với động vật bị nhiễm H pylori [55].
Tuy người ta đã tìm thấy H pylori trong dạ dày động vật hoang dã
(khỉ) và một số súc vật nuôi gần người (lợn, chó, mèo) nhưng những cố gắng nghiên cứu ở Nam Mỹ, Châu Phi, Trung Quốc chưa bao giờ xác
định được mối liên hệ giữa H pylori ở người với sự có mặt của các động
vật trên [56].
c Dinh dưỡng
Nghiên cứu của Jagannath Pal và cs [57] (Ấn Độ) nhận thấy rằng tỷ lệ
nhiễm H pylori cao liên quan đến nồng độ vitamin C thấp trong máu và trong dịch dạ dày Và nhận thấy rằng nồng độ vitamin C cao trong dịch
dạ dày làm bất hoạt men urease của H pylori , do đó vai trò của vitamin
C có tác dụng chống H pylori ở những bệnh nhân loét dạ dày tá tràng và
Trang 32đồng thời có tác dụng ngăn chặn sự tái nhiễm sau khi điều trị tiệt trừ nếu dùng liều vitamin C kết hợp trong quá trình điều trị và dùng thời gian kéo dài Nghiên cứu của Miroslaw Jarosz và cs [58] về chế độ ăn và những
yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến tái nhiễm H pylori trên 286 người phân
thành 2 nhóm: nhóm 1 có 111 người bị tái nhiễm H pylori và nhóm 2: Có
175 người không bị tái nhiễm, các tác giả kết luận rằng chế độ ăn giàu vitamin chủ yếu là vitamin C, và nhiều men vi sinh chủ yếu là
lactobacillus có thể làm giảm nguy cơ tái nhiễm H pylori Theo nghiên
cứu của M era RM và cs [59] trên 295 đứa trẻ lứa tuổi học đường tại
Columbia, các tác giả nhận thấy nhiễm H pylori làm chậm sự phát triển cơ
thể, sau khi điểu trị tiệt trừ H pylori thì chiều cao và cân nặng phát triển
một cách rõ rệt so với nhóm chứng
d Bú mẹ
Maryam Monajemzadeh và cs [60] ở Iran nhận thấy những trẻ bú
sữa mẹ trong 6 tháng đầu làm giảm nguy cơ nhiễm H pylori và nhận thấy
con của các bà mẹ có nồng độ IgA trong sữa cao bị nhiễm H pylori chậm
hơn con các bà mẹ có nồng độ IgA thấp trong sữa và cho rằng IgA đặc
hiệu trong sữa mẹ có vai trò bảo vệ chống H pylori Malaty (2001) cũng
thấy ở trẻ Houston (Hoa kỳ) được bú mẹ có nguy cơ nhiễm H pylori thấp
hơn 3 lần so với nhóm trẻ ăn nhân tạo Ngược lại, theo nghiên cứu của
Rothenbacher D và cs [61] tại Đức trên 946 trẻ em lứa tuổi đi học và mẹ
của trẻ bằng test thở C13, nhận thấy trẻ bú mẹ có tỷ lệ nhiễm H pylori cao
hơn những trẻ không bú mẹ Các tác giả đã kết luận rằng sữa mẹ không
bảo vệ chống lại H pylori ở trẻ em lứa tuổi học đường tại những nước
công nghiệp phát triển Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ertem D và cs [62] nghiên cứu trên 327 trẻ lứa tuổi vườn trẻ, nhận thấy những trẻ không bú sữa mẹ có
tỷ lệ nhiễm H pylori cao hơn những trẻ bú sữa mẹ và giải thích cơ chế ở
trẻ bú sữa mẹ làm giảm nhiễm H pylori và nghiên cứu trên in vitro thấy
Trang 33rằng sữa mẹ làm kết dính H pylori vào những tế bào dạ dày và ức chế sự
kết dính của H pylori với những tế bào KATO III Tại Việt Nam nghiên
cứu của Nguyễn Văn Bàng và cs [63] trên thấy rằng bú sữa mẹ có vẻ như
có tác dụng làm chậm lây nhiễm H pP ylori ở miền xuôi, trong khi tỷ lệ
nhiễm H.p P ylori tăng cao hơn ở những trẻ miền núi bú mẹ kéo dài Điều
này cho thấy có những quan điểm trái ngược về vai trò của bú sữa mẹ với
sự lây nhiễm H pylori ở trẻ.
e Kháng sinh và thuốc ức chế bơm Proton (PPI)
Một số nghiên cứu ở Đức Rothenbacher D và cs [64] thấy nhóm trẻ
không nhiễm H pylori có tiền sử dùng kháng sinh thông thường cao hơn
nhóm trẻ bị nhiễm, các tác giả cho rằng kháng sinh dùng trước đó vì
những bệnh khác có thể làm giảm tỷ lệ nhiễm H pylori ở trẻ em Theo
nghiên cứu của Cheryl S Broussasd và cs [65] ở Mexico trên 608 trẻ có tiền
sử dùng kháng sinh điều trị các bệnh thông thường từ 1998-2005, các tác giả
nhận thấy rằng dùng kháng sinh trước đó không làm giảm tỷ lệ nhiễm H.
pylori
Nghiên cứu trên súc vật cho thấy sau khi dùng thuốc ức chế dịch vị
loại ức chế bơm proton nuôi cấy H pylori từ phân dễ mọc hơn (Fox,
Castroenterol 1993) Ngày nay, việc chống chỉ định dùng thuốc ức chế
bơm proton trước khi nội soi sinh thiết chẩn đoán H pylori đã thành
thường quy trong chuyên khoa tiêu hóa
f Bệnh lý đường tiêu hóa
Một số bệnh tiêu hóa như tiêu chảy (làm tăng vận động đường ruột
và khả năng di chuyển của vi khuẩn qua ống tiêu hóa ra ngoài theo phân)
và tình trạng giảm độ toan dịch vị do nhiễm H pylori hay do viêm nhiễm
khác tại dạ dày (tăng khả năng tìm thấy vi khuẩn H pylori còn sống trong
phân khi nuôi cấy) có thể là một mối nguy cơ tăng lây nhiễm H pylori trong
môi trường [51].
Trang 34g Vấn đề sử dụng phân bắc
Brown LM và cs [51] nhận thấy sử dụng phân người để bón vườn,
rẫy làm ô nhiễm nguồn nước, làm lây truyền H pylori được ghi nhận.
Các tác giả đã phát hiện ADN H pylori ở nguồn nước bị nhiễm bẩn phân
người ở Châu Phi Tại Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Bàng
và cs [63], nhận thấy tỷ lệ nhiễm H pylori ở những trẻ sống trong những
gia đình dùng phân bắc tươi để bón vườn cao hơn những trẻ khác Tại vùng nông thôn nước Đức nghiên cứu của Richter và cs [66] nhận thấynhững trẻ sống trong những hộ gia đình dùng phân người để bón ruộng vườn
thì có tỷ lệ nhiễm H pP ylori cao hơn những trẻ sống trong những hộ gia
đình không dùng phân người để bón ruộng vườn.
1.4 Đặc tính sinh học của H pylori
H pylori là vi khuẩn Gam dương vi ái khí, dạng dấu phẩy, chữ S
hoặc C Dưới kính hiển vi điện tử, H pylori dài khoảng 1,5 - 5µm, có
đường kính 0,3-1µm, có 1-6 lông mảnh ở 1 đầu Trong điều kiện không
thuận lợi hoặc sau điều trị một số kháng sinh H pylori có thể biến thành
dạng cầu, và thường nằm trong lớp chất nhầy phủ bề mặt niêm mạc dạ
dày, bám trên mặt ngọn hoặc chui sâu giữa các tế bào biểu mô dạ dày, có
khi thấy H pylori trong lòng các khe tuyến nông trên gần bề mặt các
niêm mạc [67].
Trang 35Hình 1.1 Hình ảnh H pylori với các lông roi ở đầu
(Nguồn: http:// www medlatec vn)
- Cấu trúc gien của Helicobacter pylori: Đến nay người ta đã xác
định được rằng có ít nhất 9 gien trong cụm gien đảm nhiệm việc tổng hợp
urease của H pylori đó là các gien sau: A,B,C,D,E,F,G,H và I Trong đó
gien A,B là gien cấu trúc còn các gien ure F,G,H là gien điều hòa [68].
Ngoài cụm gien tổng hợp urease, trong số 1550 gien đã biết của H pylori
có một số gien quan trọng khác có liên quan nhiều tới các bệnh VDD, loét
DD-TT và UTDD đó là CagA và VacA CagA (cytotoxin Associated gene):
CagA là một protein có trọng lượng phân tử 120-140 Kda là biểu hiện của
gien CagA, gien này được định vị trong các chuỗi ADN của hệ gien H.
pylori, vị trí của nó ở vùng tiểu đảo sinh bệnh (PAI: pathogenicity island)
[2] VacA (Vacuolating cytotoxin gene): Là độc tố gây rỗng tế bào do gien
VacA của H pylori sản xuất ra, có trọng lượng phân tử 87 Kda Gien này
Trang 36được sản xuất bởi khoảng 60% các chủng H pylori và gần 100% các
chủng H pylori ở bệnh nhân loét hành tá tràng, người ta thấy rằng mặc
dầu các chủng đều có gien VacA nhưng chỉ có khoảng 40% sản xuất được
tế bào làm tổn thương tế bào biểu mô [2]
1.5 Các phương pháp chẩn đoán nhiễm H pylori
1.5.1 Các phương pháp xâm lấn
Phương pháp nội soi được áp dụng từ những năm của thập kỷ 70, được thực hiện bởi Warren và Marshall khi kiểm tra toàn bộ dạ dày và lấy mảnh sinh thiết để phục vụ chẩn đoán phát triển sự có mặt của
H pylori Để có kết quả tối ưu cần tuân thủ những nguyên tắc cơ
bản khi lấy mẫu sinh thiết [10]
1.5.1.1 Phương pháp chẩn đoán tế bào học
Là phương pháp soi tìm vi khuẩn H pylori trực tiếp từ mẫu sinh
thiết phết trên lam kính và nhuộm theo cách thông thường (Gram, Giemsa hoặc Fucxin) hoặc soi kính hiển vi đối quang phân kỳ Độ nhậy của phương pháp này là 75-85% độ đặc hiệu giống như trong xét nghiệm
mô bệnh học [69].
1.5.1.2 Phương pháp chẩn đoán mô bệnh học
Phương pháp mô bệnh học được coi là phương pháp chuẩn vàng nếukhông có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn Nhuộm HE và Giemsa được sử dụngthường quy vì rẻ tiền, đơn giản dễ thực hiện, nhưng độ nhạy thay đổi (33- 90% tùy kinh nghiệm người đọc) Các phương pháp nhuộm Giemsa - Romanowsky cải tiến và nhất là các phương pháp nhuộm bạc (Dieterle, warthin-starry, steiner, Gienta) có độ nhạy trên 90% Gần đây phương pháp hóa mô miễn dịch (Immunohistochmistry) dùng kháng thể đặc hiệu
kháng H pylori có độ nhậy rất cao nhưng tốn kém nên ít sử dụng rộng
rãi Nhiều nhà nghiên cứu đã lấy nó làm xét nghiệm quy chiếu để đánh giá độ nhậy và độ đặc hiệu của phương pháp khác [69]. Tại Việt Nam,
Trang 37phương pháp nhuộm Giemsa và Hematoxylin - Eosin (HE) thường được sửdụng để phát hiện sự có mặt của vi khuẩn
1.5.1.3 Phương pháp phát hiện bằng test urease nhanh trong mảnh sinh thiết
Nguyên lý của phương pháp này dựa trên đặc điểm sinh học của H.
pylori có hệ men urê rất phong phú nhanh chóng phân hủy urê thành
ammoniac và bicarbonate làm môi trường trở nên kiềm hóa và làm thay đổi chỉ thị màu có trong ống nghiệm
(NH¿¿ 2)2CO+2 H2O urease
→ CO2+H2O+2 NH3¿
Nguyên lý test urease (theo Bruleydes vanes, 1997)
Độ nhạy của xét nghiệm phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm, chính vì vậy nó có thể sử dụng để đánh giá sàng lọc sau điều trị thất bại [70]. Xét nghiệm độ nhạy 90%, độ đặc hiệu 100% khi đọckết quả sau 10 phút Tuy nhiên, phản ứng dương tính giả có thể xảy ra donhiễm với vi khuẩn sinh urease ở khoang miệng (sau 24 giờ) hoặc bệnh nhân
đã dùng thuốc ức chế bơm proton [70]. Từ 2003, tại Viện Vệ sinh Dịch tễTrung ương Việt Nam các nhà nghiên cứu đã sử dụng công thức tự chế, vớithời gian được kết quả tối đa sau 5 phút đạt độ đặc hiệu của test là 98% trongnghiên cứu quần thể bệnh nhân loét dạ dày tá tràng tại Việt Nam
1.5.1.4 Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn
Nuôi cấy vi khuẩn dương tính được coi là tiêu chuẩn vàng Tỷ lệ
nuôi cấy H pylori từ mảnh sinh thiết đạt từ khoảng 50% đến 70% phụ
thuộc vào kinh nghiệm, khả năng của các phòng thí nghiệm Môi trường
nuôi cấy H pylori là môi trường chuyên biệt như pylori agar, shirrow cải
tiến hoặc môi trường có 5-7% máu ngựa hoặc cừu như môi trường Columbia, Burcella, BHI cho thêm các yếu tố giàu dinh dưỡng và kháng sinh; giữ ở nhiệt độ 37 0 C, trong điều kiện vi hiếu khí 5% O 2 , 10% CO 2 , 85% N 2, độ ẩm cao [69]. Ưu điểm của phương pháp này ngoài xác định sự cómặt của vi khuẩn còn đánh giá độ nhạy cảm kháng sinh và phân tích đặc
Trang 38điểm, mối liên quan của chủng H pylori Tại Việt Nam, nuôi cấy chưa được coi là thường quy chẩn đoán phòng xét nghiệm, do vậy bệnh nhân
thường được điều trị khi chưa có chẩn đoán xác định dương tính với H.
pylori bằng nuôi cấy
1.5.1.5 Phương pháp sinh học phân tử PCR (khuếch đại gien)
Nguyên lý của kỹ thuật là dùng phản ứng chuỗi polymerase chung với cặp mồi (primers) được thiết kế dựa trên một đoạn gien đặc hiệu của
H pylori để khuếch đại nhiều lần và phát hiện vi khuẩn nếu chúng có
mặt trong bệnh phẩm PCR được coi là kỹ thuật có độ nhậy cao nhất trong việc phát hiện các vi khuẩn, PCR đạt độ nhậy và đặc hiệu tới 93%
và 100% cho việc phát hiện H pylori Các phương pháp sinh học phân tử
như: phân tích đặc điểm plasmid, phân tích cắt đoạn các nuclease của ADN, Ribotyping, khuếch đại ngẫu nhiên đa hình (PCR- based RAPD - Random amplified polymorphic DNA), đa hình độ dài đoạn giới hạn (PCR- based RFLP - restriction fragment length polymorphism) đã được
áp dụng cho việc nghiên cứu độc lực, cơ chế kháng thuốc, mối liên quan
các chủng, lây truyền trong gia đình chẩn đoán xác định các chủng H.
pylori [71]. Các kiểu gien CagA và VacA được xác định bằng phương pháp PCR trên các mẫu sinh thiết [72]. Tuy nhiên, phương pháp này cần nhiềutrang thiết bị hiện đại, giá thành cao nên chưa được ứng dụng rộng rãi [69]
1.5.2 Các phương pháp không xâm lấn
1.5.2.1 Test thở dùng cacbon phóng xạ (Urea Breath Test - UBT)
Thử nghiệm thở urea sử dụng 13 C hoặc 14 C là một phương pháp
chọn lọc để phát hiện nhiễm trùng H pylori cấp tính trước và sau điều trị
[46] So với phương pháp mô bệnh học test urease có độ nhạy 94, 9% và
độ đặc hiệu 100%, giá trị dự đoán dương tính 100% và giá trị dự đoán
âm tính 96, 3%
Do nhiễm trùng H pylori thường mắc phải từ tuổi nhỏ nên 13 C
Trang 39-UBT được coi là phương pháp hữu ích cho tình trạng đánh giá nhiễm H.
pylori ở trẻ em, đặc biệt nó dễ dàng nhận được sự chấp nhận của bệnh
nhân và có thể làm nhiều lần nếu được yêu cầu [73], đồng thời áp dụngđược ở phụ nữ mang thai Nhược điểm của UBT là dễ gây âm tính giả nếutrong khoảng thời gian 2-4 tuần trước đó người bệnh dùng một số thuốc nhưPPI, kháng sinh, Bismuth hoặc mật độ vi khuẩn quá thấp, hơn nữa để thựchiện UBT cần có máy quang phổ kế - là thiết bị rất đắt tiền [74], và sự phốihợp thực hiện từ bệnh nhân, điều mà rất khó thực hiện đối với trẻ nhỏ
1.5.2.2 Phương pháp phát hiện kháng nguyên trong phân
Bằng nghiên cứu đa phân tích đánh giá độ chính xác của test phát hiệnkháng nguyên trong phân ở bệnh nhân người lớn, Gisbert và cs [75], đã tìm ra
độ nhậy và độ đặc hiệu của test tương ứng là 94% và 97% Test phân sử dùngkháng thể đơn dòng cũng đã được áp dụng chẩn đoán trên bệnh nhi ở ViệtNam và cũng đạt độ nhậy 94., 6% và độ đặc hiệu 94, 9% [76]. Ngoài giá trịchẩn đoán cao, test này có ưu điểm là đơn giản, có thể trả lời trong ngày và có
độ chính xác tương đương test thở [77] Vì vậy nó được khuyến cáo dùng
theo dõi kết quả điều trị diệt H pylori khi không có test thở
1.5.2.3 Phát hiện nhiễm H pylori bằng xét nghiệm nước bọt và nước tiểu
Do độ nhậy và độ đặc hiệu còn thấp nên phương pháp này ít được
sử dụng trong nghiên cứu Tuy nhiên, chúng có lợi điểm lớn là bệnh phẩm dễ lấy, không sang chấn cho bệnh nhân nên rất thuận lợi cho trẻ
em [33] Gần đây các tác giả người Nhật đã chế tạo thành công một loại
test chẩn đoán H pylori bằng cách phát hiện IgG kháng H pylori trong
nước tiểu với độ nhậy 94,4%, độ đặc hiệu 96,9%, giá trị dương tính 96%, dựa trên nguyên lý sắc ký miễn dịch với màng nitrocellulose phủ kháng
nguyên H pylori Nghiên cứu nảy mở ra một triển vọng mới cho việc
nghiên cứu nhiễm trùng này, không những trong chẩn đoán lâm sàng mà
Trang 40còn phục vụ khảo sát trong một nghiên cứu dịch tễ học trên một diện rộng ở trẻ em [78].
* Các xét nghiệm nhanh
Loại xét nghiệm này có ưu điểm là nhanh chóng (sau 5-20 phút) nhưng
nó chỉ định tính, chỉ cho biết sơ bộ sự có mặt kháng thể kháng H pylori trong
máu, độ đặc hiệu thấp, nên kết quả chỉ có tính tham khảo [69].
1.6 Tình hình nghiên cứu dịch tễ học nhiễm H pylori ở Việt nam
Nghiên cứu H pylori ở Việt Nam thực hiện khá nhiều và những kết
quả công bố đã có những đóng góp không nhỏ cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh lý dạ dày, tá tràng Mặc dù vậy, những nghiên cứu hầu như mới
chỉ là đề cập tập trung quan tâm đến H pylori và bệnh lý dạ dày – tá
tràng như viêm dạ dày, loét dạ dày – tá tràng, ung thư dạ dày Một số ít
nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm H pylori ở trẻ em ở cộng đồng
- Điều tra tỷ lệ nhiễm H pylori trong cộng đồng bằng kỹ thuật
ELISA của Vương Tuyết Mai (2001) đưa ra tỷ lệ nhiễm H pylori <18 tuổi
là 55%; tác giả chưa nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến lây nhiễm ở trẻ [79].
- Nghiên cứu của Dương Quỳnh Hoa và cs trên 104 trẻ khỏe mạnh tại
thành phố Hồ Chí Minh thấy tỷ lệ nhiễm H pylori ở nhóm trẻ < 10 tuổi là
13,1%, và ở nhóm 10- 19 tuổi là 45% , tác giả cũng chưa nghiên cứu đến
các yếu tố liên quan đến tăng lây nhiễm H pylori ở trẻ em [80]
- Nghiên cứu của Nguyễn Văn Bàng, Phùng Đắc Cam và cs ở 824 trẻ
em từ 6 tháng đến 15 tuổi tại khoa Nhi của Bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ nhiễm
H pylori là 34% Có tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tỷ lệ
nhiễm: tuổi tăng dần, các điều kiện làm tăng tiếp xúc với người khác (gia đình đông anh em, ngủ chung giường với bố mẹ kéo dài>36 tháng, sống tập thể trước 6 tuổi), trẻ có tiền sử dị ứng là những yếu tố liên quan đến