Bài báo phân tích thực trạng kinh tế của Hữu Lũng, một huyện miền núi nghèo của tỉnh biên giới Lạng Sơn. Cũng như nhiều huyện miền núi khác trong cả nước, nền kinh tế của huyện hiện tại vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp với năng suất, sản lượng của các ngành trồng trọt đã đạt đến giới hạn, tốc độ tăng trưởng rất chậm trong những năm gần đây, tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao.
Trang 1This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
KINH TẾ HỮU LŨNG (LẠNG SƠN): THỰC TRẠNG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG THỜI KÌ MỚI
Nguyễn Bích Diệp
Khoa Lí luận chính trị – Giáo dục công dân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt Bài báo phân tích thực trạng kinh tế của Hữu Lũng, một huyện miền núi nghèo
của tỉnh biên giới Lạng Sơn Cũng như nhiều huyện miền núi khác trong cả nước, nền kinh
tế của huyện hiện tại vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp với năng suất, sản lượng của các
ngành trồng trọt đã đạt đến giới hạn, tốc độ tăng trưởng rất chậm trong những năm gần đây,
tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao Cần phải có sự chuyển đổi trong cơ chế và cơ cấu kinh
tế để kinh tế của Hữu Lũng có thể phát triển.
Từ khóa: Hữu Lũng, Lạng Sơn, kinh tế, nông nghiệp, du lịch.
1 Mở đầu
Hữu Lũng là một huyện miền núi nghèo của Lạng Sơn, thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc là vùng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, nhận định là “địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước, có vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái của cả vùng Bắc Bộ” [3] Trong những năm sau đổi mới, kinh
tế Hữu Lũng đã có những bước phát triển khá tốt, đời sống của nhân dân được nâng cao, bộ mặt của Hữu Lũng đã có nhiều khởi sắc Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, kinh tế Hữu Lũng có dấu hiệu chững lại Công tác xóa đói giảm nghèo chưa đạt hiệu quả cao
Phát triển kinh tế để xóa đói giảm nghèo luôn là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng như trong chiến lược phát triển chung của xã hội Tuy nhiên chính sách này đòi hỏi phải có những nghiên cứu đầy đủ về đặc thù của từng địa phương để có phương hướng, chiến lược phù hợp, tránh áp dụng một cách đơn giản, máy móc, “mặc đồng phục mô hình cho phát triển nông nghiệp” [8] Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng chỉ rõ:
“Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng khu vực ” [2]
Trong những năm qua huyện Hữu Lũng đã chú trọng thực hiện công tác điều tra, thu thập số liệu, đánh giá tiến độ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và đề ra kế hoạch cho các năm tiếp theo, tuy nhiên vẫn còn rất thiếu những nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm ra những vấn Ngày nhận bài: 10/11/2014 Ngày nhận đăng: 10/2/2015.
Liên hệ: Nguyễn Bích Diệp, e-mail: diepnguyen@ftu.edu.vn.
Trang 2đề cốt lõi từ đó đề xuất những giải pháp mang tính đột phá Bài báo này, dựa trên việc phân tích các số liệu thống kê do UBND huyện Hữu Lũng cung cấp và một số quan sát, tính toán cá nhân của tác giả, nêu lên một góc nhìn và đưa ra những kiến giải cho sự phát triển kinh tế của huyện
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Hiện trạng kinh tế Hữu Lũng
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Hữu Lũng
Hữu Lũng là một huyện miền núi nằm ở phía nam của tỉnh Lạng Sơn, cách thành phố Lạng Sơn 80 km về phía nam Phía bắc, Hữu Lũng tiếp giáp với các huyện Bắc Sơn, Văn Quan (Lạng Sơn); phía tây tiếp giáp với các huyện Võ Nhai (Thái Nguyên), Yên Thế (Bắc Giang); phía đông giáp huyện Chi Lăng (Lạng Sơn); nam và đông nam giáp các huyện Lạng Giang, Lục Nam (Bắc Giang)
Địa hình có thể chia thành ba phần: Phần phía bắc là các dãy núi đá vôi, phần phía nam, đông nam và tây nam là vùng đồi núi thấp với độ cao không quá 400m cấu tạo chủ yếu bởi đá phiến, phần trung tâm nằm dọc theo đường quốc lộ 1A là vùng thung lũng, đồng ruộng
Khí hậu Hữu Lũng thuộc tiểu vùng khí hậu núi thấp khu Đông Bắc với nhiệt độ trung bình hàng năm 22,7◦C Trong năm có 2 tháng có nhiệt độ dưới 15◦C Lượng mưa trung bình hàng năm
1500 mm [9]
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 80.674 ha chủ yếu là đất đồi núi với 4 loại đất chính: đất đỏ vàng trên đá sét, đất vàng nhạt trên đá cát, đất vàng đỏ trên macma axit, đất đỏ nâu trên đá vôi [9]
Tài nguyên nước: Hệ thống sông suối trên địa bàn huyện khá phong phú bao gồm sông Thương dài 157 km và các phụ lưu của sông Thương như sông Trung, sông Hóa Trên sông Hóa
có hồ Cấm Sơn (chủ yếu thuộc địa bàn Bắc Giang) Hệ thống sông suối này là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt trong huyện
Tài nguyên khoáng sản: Hữu Lũng chỉ có đá vôi (khoảng 14 triệu tấn), đất sét (khoảng 9,8 triệu tấn) là những nguyên liệu để sản xuất xi măng Ngoài ra còn có nguồn cát, sỏi phân bố trên các sông suối rải rác trên toàn huyện [9]
2.1.2 Dân cư và nguồn lao động
Theo số liệu năm 2013, dân số trên địa bàn huyện là 114.860 người Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,2%, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động là 56% Số lao động qua đào tạo chiếm tỉ lệ rất thấp, chưa đến 10%, lao động chưa có việc làm là 9,2% [7]
2.1.3 Hiện trạng kinh tế Hữu Lũng
Huyện Hữu Lũng có 25 xã và một thị trấn, gồm 244 thôn bản với 7 dân tộc anh em sinh sống Đây là một trong những huyện nghèo của tỉnh Lạng Sơn với điều kiện tự nhiên có nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân còn chưa cao
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền từ huyện đến cấp cơ sở cùng với sự phấn đấu bền bỉ của nhân dân, kinh tế của huyện đã đạt được những bước tiến đáng kể Theo số liệu của UBND huyện Hữu Lũng, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn
2011 – 2014 ước đạt 10,6%/năm, cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến theo hướng tích cực Ước tính đến hết 2014, tỉ trọng ngành nông – lâm nghiệp chiếm 34%; công nghiệp, xây dựng chiếm 27%; thương mại, dịch vụ chiếm 39% Thu nhập bình quân đầu người đến 2014 ước đạt 24 triệu đồng [6]
Mặc dù vậy, nhìn chung Hữu Lũng vẫn là một huyện có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông
Trang 3– lâm nghiệp; công nghiệp và dịch vụ còn chiếm một tỉ trọng rất khiêm tốn Có thể thấy được điều này qua một số số liệu sau đây
- Về sản xuất nông - lâm nghiệp:
Tổng giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp, thủy sản thời kì 2011 – 2014 bình quân đạt 1.108.211 triệu đồng/năm Dự kiến năm 2015 sẽ đạt 1.250.576 triệu đồng, tăng 216.000 triệu đồng so với 2011 Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 5,23% Trong đó:
+ Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng bình quân năm đạt 17.763 ha Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân đạt 48.122 tấn/năm Các sản phẩm chính là lúa, ngô, sắn, thuốc lá, lạc, đỗ tương, rau các loại, các cây ăn quả: na, hồng
+ Chăn nuôi: Tổng đàn trâu tính đến cuối năm 2014 là 17.000 con, đàn bò 3.300 con, đàn gia cầm 900.000 con Số lượng đàn gia súc, gia cầm không tăng nhưng do nhân dân đã biết áp dụng các tiến độ khoa học kĩ thuật vào chăn nuôi nên trọng lượng vật nuôi và tổng sản lượng xuất chuồng vẫn tăng
+ Lâm nghiệp: Giai đoạn 2011 – 2014, công tác bảo vệ và phát triển rừng của huyện đã được chú trọng Điều đó góp phần nâng độ che phủ rừng của toàn huyện từ 52,7% năm 2011 lên 54% năm 2014 Diện tích trồng rừng mới bình quân hàng năm là 1.579 ha
- Về sản xuất công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp mới được hình thành và phát triển trong những năm gần đây Trong những năm 2011 – 2014 giá trị sản xuất bình quân là 218.422 triệu đồng/năm, nhịp độ tăng bình quân là 8,2%/năm Các sản phẩm chủ yếu là: gạch nung, đá các loại,
xi măng, gỗ Ngoài các sản phẩm chủ yếu nêu trên, một số ngành khác cũng có những đóng góp đáng kể: khai thác cát, sỏi, xay xát, nước sạch
- Giao thông vận tải và các ngành dịch vụ:
Giao thông vận tải đã đáp ứng về cơ bản nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân Các tuyến đường giao thông do huyện quản lí được duy tu bảo dưỡng thường xuyên, đảm bảo giao thông thông suốt Đường giao thông nông thôn được xây dựng rộng khắp, trong đó một phần đáng kể được bê tông hóa Tổng giá trị công trình đạt 23.012 triệu đồng, trong đó nhà nước hỗ trợ 7.684 tấn xi măng (trị giá 8.070 triệu đồng), nhân dân đóng góp 14.942 triệu đồng
Các cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn hoạt động tốt bảo đảm cung ứng đủ hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng, sản xuất của nhân dân Các mặt hàng thuộc nhóm nhà nước trợ giá, trợ cước được cung ứng kịp thời và đúng đối tượng, không có hiện tượng khan hiếm và đầu cơ tích trữ Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội trên địa bàn ước đạt 240.000 triệu đồng Các hoạt động dịch vụ ăn - nghỉ, du lịch lễ hội – tâm linh tiếp tục phát triển tích cực, thu hút được một lượng khách khá lớn tới tham quan, hành hương
Hoạt động tín dụng phát triển ổn định Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện tính đến tháng 12/2013 đạt tổng nguồn vốn huy động là 545 tỉ đồng, phòng giao dịch ngân hàng Chính sách xã hội huyện Hữu Lũng đạt tổng nguồn vốn 212,8 tỉ đồng
- Đầu tư xây dựng cơ bản:
Tổng vốn đầu tư cơ bản trên địa bản do huyện làm chủ đầu tư là 38,6 tỉ đồng, trong đó vốn ngân sách tỉnh cân đối giao cho huyện làm chủ đầu tư là 13,5 tỉ đồng vốn chương trình 135 là 2,42
tỉ đồng, vốn phát triển và bảo vệ rừng bền vững là 2,0 tỉ đồng, vốn chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới là 1,4 tỉ đồng, vốn thu tiền sử dụng đất 5,64 tỉ đồng Về cơ bản các dự án được triển khai đúng tiến độ, kế hoạch đề ra [6]
2.1.4 Tình hình xóa đói giảm nghèo
Công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả nhất định, thể hiện qua số hộ nghèo giảm dần, từ 6.879 hộ (chiếm 24,60%) năm 2010 xuống 5.180 hộ (chiếm 18,28%) năm 2012 và xuống 4.308 hộ (chiếm 14.93%) năm 2014 Tuy nhiên có thể thấy tỉ lệ đói nghèo trên toàn huyện
Trang 4vẫn còn cao: tổng số hộ nghèo và cận nghèo là 7.425 hộ, với 20.213 nhân khẩu, chiếm tỉ lệ 25,73% Bên cạnh đó, kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỉ lệ hộ tái nghèo cẫn còn cao ở một số xã [6]
2.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển kinh tế - xã hội ở Hữu Lũng trong thời kì mới
2.2.1 Sản xuất lương thực đã đến giới hạn
Khi nhận định về nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay, Nguyễn Kế Tuấn đã nhận xét rất xác đáng rằng: “Động lực từ các chính sách “cởi trói và giải phóng” để phát triển nông nghiệp, nông thôn đã phát huy đến điểm tới hạn trong khi các chính sách “thúc đẩy” chưa mang lại kết quả mong muốn” [5] Điều này cũng biểu hiện rất rõ ở Hữu Lũng
- Đối với nông nghiệp: Có thể thấy rõ trong cơ cấu kinh tế hiện nay của Hữu Lũng, nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo Theo “Báo cáo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2013; mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu năm 2014” trình tại kì họp thứ 9, Hội đồng nhân dân huyện khóa XVIII thì: nông – lâm nghiệp chiếm 35,8%, thương mại dịch vụ chiếm 37,9%, công nghiệp – xây dựng cơ bản chỉ chiếm 26,3%
Trong sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm chính vẫn là cây lương thực (lúa, ngô, sắn ) Tuy nhiên diện tích các loại cây này đã đạt đến giới hạn, đặc biệt là cây lúa do đòi hỏi về đất đai nên không thể tăng thêm diện tích Về năng suất, cũng như các địa phương khác trong cả nước, từ sau khi đổi mới (1986) cho đến những năm 90 của thế kỉ XX, với cơ chế khoán 10 và những tiến bộ về khoa học kĩ thuật trong ngành trồng trọt, năng suất lúa đã tiệm cận đến giới hạn Có thế thấy điều
đó qua các số liệu của phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hữu Lũng (Bảng 1)
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính
ở huyện Hữu Lũng
Năm
Cây lúa
Cây ngô
Cây sắn
Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hữu Lũng [6]
Qua bảng trên có thể thấy: so với năm 2010 thì các năm 2012, 2013 diện tích cây lúa có tăng nhưng không đáng kể, còn năng suất lúa gần như không tăng (thậm chí giảm tùy theo điều kiện thời tiết, dịch bệnh) Diện tích cây ngô có tăng nhưng năng suất lại giảm bởi vậy sản lượng không tăng Sở dĩ như vậy là do việc phá rừng làm rẫy để mở rộng diện tích được một ít nhưng những diện tích gieo trồng trước đó thì năng suất lại giảm do đất bị rửa trôi, kiệt màu trong khi mức độ
Trang 5bón phân hạn chế Cây sắn cũng giống như cây ngô, diện tích lúc tăng lúc giảm nhưng năng suất các vụ sau thường giảm Hơn nữa những năm gần đây, sắn thường chỉ dùng để chăn nuôi và giá cả cũng bấp bênh
Như vậy có thể thấy, ngành trồng trọt nói chung mà trong đó sản xuất lương thực là bộ phận chủ đạo đã đạt đến giới hạn, không thể tăng thêm được nữa Với diện tích gieo trồng hạn chế của Hữu Lũng thì ngành này cùng lắm chỉ đáp ứng cho tiêu dùng tại chỗ một cách hạn chế Chưa nói đến chi phí sản xuất ngày một tăng cao nên sản xuất không có lãi Theo điều tra của chúng tôi, chi phí sản xuất tối thiểu cho một sào lúa trong một vụ như sau (Bảng 2)
Năng suất lúa hiện nay ở Hữu Lũng khoảng 42 tạ/ha (bảng 1) tương đương với 150 kg/sào/vụ Với giá lúa 6.500 đ/kg, mỗi sào mỗi vụ thu được 975.000 đ Trừ các chi phí, mỗi sào lúa còn lại 418.900 đ Mỗi hộ nông dân ở đây thường chỉ có khoảng 4 – 5 sào ruộng Như vậy mỗi vụ một hộ nông dân (thường có từ 4-5 người, trung bình 4,1 người/hộ) thu hoạch được 418.900 đ x 5 = 2.094.500 đ Thu nhập từ trồng lúa mỗi năm (2 vụ) theo đầu người do đó chỉ vào khoảng trên dưới 1.000.000 đ/người/năm
Về ngô: Mỗi gia đình ở đây thường trồng 3 – 4 sào ngô, mỗi năm thu được khoảng 500 kg Với giá ngô hiện nay là 6.000 đ/kg sẽ thu được 3.000.000 đ/vụ Sau khi trừ 750.000 đ chi phí còn khoảng 2.250.000 đồng Mỗi năm mỗi gia đình còn thu hoạch khoảng 1,0 – 1,2 tấn sắn với giá bán 1.600 đ/kg sẽ thu được từ 1,6 – 2,0 triệu đồng Như vậy thu nhập từ trồng cây lương thực chỉ khoảng 2 – 2,5 triệu đồng/ người/ năm
Bảng 2: Chi phí sản xuất tối thiểu cho một sào (360 m2) lúa/vụ
Loại chi phí Số lượng Đơn giá Thành tiền
Tổng cộng: 556.100 đ
Nguồn: theo tính toán của tác giả
Vấn đề đặt ra là phải chuyển hướng, thay đổi cơ cấu cây trồng Trong điều kiện đất đai canh tác hạn hẹp, đồi núi dốc, để có thêm thu nhập đồng thời bảo vệ môi trường cần phải chú ý phát triển các loại cây lâu năm: cây lấy gỗ, cây ăn quả, cây làm thuốc Về cây lấy gỗ, ngoài các loại cây
có chu kì ngắn như keo, mỡ cần động viên dân cư phát triển các loại cây chu kì dài như dẻ Trùng Khánh Đối với cây ăn quả, ngoài các loại đã được phát triển với diện tích và sản lượng đáng kể như vải (1981 ha, 8.625 tấn), nhãn (240 ha, 930 tấn), na (1.025 ha, 9.231 tấn), hồng (139 ha, 1.459 tấn) , ở đây còn có thể phát triển cây bưởi với giống bưởi địa phương mà chất lượng không kém
gì bưởi Đoan Hùng của Phú Thọ Về cây thuốc, do nằm trong vùng Đông Bắc, Hữu Lũng có thể phát triển các loại cây như thảo quả, sa nhân, ba kích v.v là những loại cây có thể phát triển dưới tán rừng, giống như mô hình kinh tế sinh thái ở nhiều vùng núi các tỉnh phía bắc [4]
Về chăn nuôi, số lượng gia súc, gia cầm những năm gần đây được trình bày trong Bảng 3 Qua Bảng 3 có thể thấy đàn trâu trong những năm gần đây liên tục giảm Đàn bò năm 2011 giảm mạnh so với năm 2010 (giảm 11,5%), sau đó có sự phục hồi, nhưng đến năm 2013 chưa đạt mức cũ Đàn lợn năm 2011 cũng giảm 0,43% so với năm 2010, sau đó tăng dần, đến năm 2013 tăng 37% so với năm 2010 Đàn gia cầm lúc tăng lúc giảm nhưng quy mô nhìn chung không quá 972.000 con Nuôi thủy sản ở Hữu Lũng rất ít, diện tích không quá 350 ha, sản lượng không quá
Trang 6320 tấn/năm [7].
Bảng 3: Số lượng gia súc, gia cầm ở Hữu Lũng (đơn vị: con)
Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hữu Lũng [5]
Tuy nhiên, chăn nuôi là một ngành rất quan trọng Đặc biệt là chăn nuôi trâu bò sinh sản, lấy thịt bởi ở đây đất đai tương đối rộng, có điều kiện chăn thả Thu nhập từ chăn nuôi của mỗi hộ gia đình mỗi năm sẽ là: một con bê hoặc nghé giá 6 triệu đồng, 140 kg lợn (trừ chi phí còn 5 triệu đồng), 20 con gà (trừ chi phí còn thu được 3 triệu đồng)
Như vậy thu nhập thuần về nông nghiệp mỗi gia đình mỗi năm vào khoảng 20 triệu đồng Bình quân đầu người khoảng 4,5 – 5,0 triệu đồng/người/năm
2.2.2 Công nghiệp ít có điều kiện phát triển
Để phát triển công nghiệp cần có nhiều điều kiện: nguồn nguyên liệu, nhân lực, vốn Tuy nhiên những điều kiện này ở Hữu Lũng đều thiếu
Về nguyên liệu, một trong những nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp là khoáng sản thì ở Hữu Lũng có rất ít Như đã nói ở trên, Hữu Lũng chỉ có một ít đá vôi (khoảng 14 triệu tấn), đất sét (9,8 triệu tấn) Số khoáng sản này không đủ để xây dựng nhà máy xi măng lớn (xi măng lò quay), còn xi măng lò đứng (công suất nhỏ) thì không đảm bảo hiệu qủa kinh tế lại gây ô nhiễm môi trường Chính vì vậy, cơ sở xi măng ACC 78 chỉ sản xuất được một thời gian ngắn đã phải ngừng hoạt động
Về nguồn nhân lực, số lao động ở Hữu Lũng không nhiều (do dân số không đông), trình độ học vấn và tay nghề còn thấp Số lao động đã qua đào tạo chỉ đạt 10% [6]
Chính vì lẽ đó, cho đến nay sản xuất công nghiệp ở Hữu Lũng rất không đáng kể Toàn huyện chỉ có một số cơ sở khai thác vật liệu xây dựng (đá, cát, sỏi) phục vụ nhu cầu tại chỗ Các ngành sản xuất khác gần như chưa có gì Do vậy, dự án khu công nghiệp Hữu Lũng với diện tích 49
ha đến nay vẫn chưa được tiến hành (và có lẽ cũng cần cân nhắc xem có nên xây dựng hay không trong tình hình hiện nay )
Ngành sản xuất được coi là có triển vọng ở đây là chế biến gỗ lạng (nguyên liệu để sản xuất
gỗ dán) mới có một số cơ sở nhỏ phân bố rải rác trong huyện Đây là ngành có thể phát triển với nguồn nguyên liệu là gỗ trồng tại địa phương và nhu cầu của xã hội khá lớn Hữu Lũng hiện có hơn 18.000 ha rừng trồng [6] Với chu kì 5 năm, các loại cây keo, bạch đàn có thể cho năng suất khoảng 50-60 m3 gỗ/ha Như vậy mỗi năm diện tích rừng này có thể cung cấp trên dưới 200.000
m3 gỗ nguyên liệu Số nguyên liệu này có thể đảm bảo cho một dây chuyền chế biến gỗ khá lớn, không chỉ gỗ lạng mà còn gỗ dán, gỗ ép nếu được đầu tư đúng mức
2.2.3 Hữu Lũng có tiềm năng về du lịch nhưng chưa được chú ý phát triển
Hữu Lũng có tiềm năng về du lịch vô cùng phong phú Tài nguyên du lịch tự nhiên của huyện bao gồm rừng tự nhiên, địa hình đá vôi, suối phun phía tây thị trấn , trong đó mới chỉ một vài địa điểm bắt đầu được khai thác như Hang Gió, hệ sinh thái rừng tự nhiên xã Minh Sơn (do Trung tâm Tư vấn quản lí bền vững tài nguyên và phát triển cộng đồng Đông Nam Á (CIRUM) phát hiện) Tài nguyên du lịch nhân văn của huyện bao gồm rất nhiều các phong tục tập quán, lễ hội đặc sắc của 7 dân tộc anh em, các di tích lịch sử tâm linh như Đền Bắc Lệ, Đền Quan Giám
Trang 7Sát, Đền Chầu Lục Nằm trên tuyến đường 1A Hà Nội – Lạng Sơn, với khoảng cách từ Hà Nội không quá 100 km, Hữu Lũng có thể phát triển các hình thức du lịch tham quan sinh thái, tâm linh theo các tuyến Hà Nội – Hữu Lũng – Chi Lăng, Hà Nội – Hữu Lũng – Cấm Sơn, Hà Nội – Hữu Lũng – Yên Thế với thời gian từ 1 đến 2 ngày
Việc phát triển du lịch sẽ kéo theo các ngành khác: trồng cây đặc sản (cây ăn quả, cây làm thuốc), chăn nuôi (lợn rừng, lợn mán, dê, gà thả vườn, nhím ), sản xuất đồ lưu niệm, lữ hành – khách sạn v.v Tuy nhiên để khai thác hết tiềm năng quý báu này, huyện cần có một quy hoạch hợp lí, nhóm chuyên viên phụ trách và chuyên gia tư vấn có đủ năng lực chuyên môn và lòng nhiệt tình, đồng thời liên kết chặt chẽ với các tổ chức, các công ty du lịch ở các nơi
Hiện tại, số lượng khách du lịch đến đây vẫn còn ít và tập trung trong thời gian ngắn (chủ yếu vào mùa xuân) với loại hình du lịch chủ yếu là tâm linh, tham quan và một số khách dừng nghỉ trong tuyến Hà Nội – Lạng Sơn
3 Kết luận
Trên đây là một số nét chính về kinh tế của Hữu Lũng trong mấy năm qua Thực trạng kinh
tế Hữu Lũng có thể cũng là thực trạng chung của rất nhiều huyện ở các tỉnh trung du, miền núi phía bắc nước ta Có thể thấy rằng: kinh tế ở các huyện miền núi hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp sản xuất nhỏ, trong đó trồng cây lương thực vẫn là bộ phận chủ đạo Tuy nhiên sản xuất lương thực với cây lúa, cây ngô trong những năm gần đây đã đạt đến ngưỡng giới hạn Cơ cấu cây trồng cần phải thay đổi, trong đó chú ý các loại cây đặc sản để tăng giá trị và bảo vệ môi trường bền vững Trong sản xuất nông nghiệp bên cạnh việc giữ vững ngành trồng trọt, Hữu Lũng cần chú trọng ngành chăn nuôi Bên cạnh việc áp dụng những tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp, cần chú
ý tính đặc thù của địa phương, “Nông nghiệp, những vùng núi cao, biên giới phải là không gian văn hóa, tâm linh, sinh kế của đồng bào dân tộc, vùng sản xuất gắn với an ninh quốc phòng” [1]
Về lâu dài, Hữu Lũng cần chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế Bên cạnh việc phát triển một số ngành công nghiệp chế biến nhỏ, thì du lịch cũng là một ngành có thể và cần chú ý phát triển Đây
là ngành không tiêu tốn nhiều tài nguyên nhưng có thể thu được giá trị cao Vấn đề là cần phải có
kế hoạch, có biện pháp cụ thể, khoa học và sự liên kết với các tổ chức, các địa phương khác Cũng rất cần có sự hỗ trợ tích cực của trung ương
Hi vọng rằng trong thời gian tới kinh tế Hữu Lũng sẽ có sự khởi sắc, vượt khỏi vị trí của một huyện nghèo và vươn lên làm giàu, góp phần bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía Bắc của
Tổ quốc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Vũ Trọng Bình, 2013 Nông nghiệp Việt Nam 2012 và triển vọng phát triển Tạp chí Kinh tế
và phát triển Số 187 1/2013 (tr 23-29)
[2] Nghị quyết số 26-NQ/TW ra ngày 05/08/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
[3] Quyết định số 1064/QĐ-TTg ngày 08/07/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2020
[4] Nguyễn An Thịnh, Hà Thị Mai Phương, 2004 Phân tích cấu trúc mô hình hệ kinh tế sinh
thái – xã hội phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình khu vực miền núi (Nghiên cứu mẫu tại xã San Sả Hồ - Huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) Tạp chí Địa lí nhân văn Số 2(07) 12/2004
[5] Nguyễn Kế Tuấn, 2014 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Thực trạng
và kiến nghị giải pháp Tạp chí Kinh tế và phát triển Số 202 tháng 4/2014 (tr 2-11)
[6] UBND huyện Hữu Lũng, 2014 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2015 – 2020)
huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
[7] UBND huyện Hữu Lũng Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2014) Số liệu thống
kê kinh tế các năm 2010 – 2014.
Trang 8[8] “Đừng “mặc đồng phục” mô hình cho phát triển nông nghiệp”, Cổng thông tin điện tử Viện
Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
http://ipsard.gov.vn/news/tID8043_Dung-mac-dong-phuc-mo-hinh-cho-phat-trien-nong-nghiep.html truy cập ngày 15/01/12015
[9] “Giới thiệu chung”, Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn
http://www.langson.gov.vn/huulung/node/374, truy cập ngày 15/12/2014
ABSTRACT Huu Lung district’s economy: Current situation and challenges for the next stage
This article analyses the current economic situation of Huu Lung, a poor mountainous district in the bordering province of Lang Son Currently, like many other mountainous districts in the whole country, Huu Lung’s economy mainly relies on agriculture However, productivity and output of the cultivation sector have reached their frontiers, exhibiting very slow growth in recent years As a result, the rate of poor and near-poor households in the district has remained high Management policy improvement and economic structural transformation are therefore crucial for the district’s future development
Từ khóa: Huu Lung, Lang Son, economic, agriculture, tourism.