Do đó, nghiên cứu “Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, những vấn đề đặt ra và giải pháp” là cần thiết nhằm phân tích cụ thể việc thực hiện các nội dung CSR của DN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án tiến sỹ có tiêu đề: “Trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, những vấn đề đặt ra và giải pháp” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong Luận án có nguồn trích dẫn đầy đủ và trung thực Kết quả nêu trong Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà nội, ngày tháng năm 2020
NCS Luận án
Trần Ngọc Mai
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Với tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, khoa Sau Đại học, Viện Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, bộ môn Kinh tế và Quản lý - Trường đại học Ngoại thương, khoa Kinh doanh Quốc tế - Học viện Ngân hàng Xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn, PGS.TS Vũ Chí Lộc,
đã trực tiếp chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà nội, ngày tháng năm 2020
NCS Luận án
Trần Ngọc Mai
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1.1 Mục tiêu chung 3
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 3
2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Nguồn dữ liệu 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Những đóng góp mới của Luận án 7
6 Kết cấu của luận án 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 9
1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 9
1.1.1 Các nghiên cứu tiêu biểu về nội hàm CSR 9
1.1.2 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR đối với các bên liên quan 11
1.1.3 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR và danh tiếng của doanh nghiệp 13
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
1.2.1 Các nghiên cứu tiêu biểu về nội hàm CSR 15
1.2.2 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR đối với các bên liên quan 16
Trang 61.2.3 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR và danh tiếng của doanh nghiệp 21
1.3 Khoảng trống nghiên cứu của đề tài 22
1.3.1 Về nội dung nghiên cứu 22
1.3.2 Về phương pháp nghiên cứu 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP FDI 29
2.1 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 29
2.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 29
2.1.2 Sự cần thiết thực hiện CSR 31
2.1.3 Các lý thuyết tiếp cận CSR 33
2.2 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI 44
2.2.1 Khái niệm doanh nghiệp FDI 44
2.2.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI và các bên liên quan 44
2.2.3 Nội dung CSR gắn với các bên liên quan của doanh nghiệp FDI 49
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI53 2.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI 59
2.3.1 Cơ sở lý thuyết 59
2.3.2 Khung lý thuyết và xây dựng mô hình 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 69
3.1 Khái quát về doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 69
3.1.1 Đặc điểm doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 69
3.1.2 Vai trò của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 74
3.1.3 Chính sách và thành tựu thu hút vốn FDI tại Việt Nam 79
3.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 80
3.2.1 Thực trạng thực hiện CSR đối với Chính phủ 81
3.2.2 Thực trạng thực hiện CSR đối với người lao động 85
Trang 73.2.3 Thực trạng thực hiện CSR đối với khách hàng 89
3.2.4 Thực trạng thực hiện CSR đối với cộng đồng 90
3.3 Kết quả mô hình nghiên cứu việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 92
3.3.1 Mô tả khảo sát, mẫu điều tra và kết quả thống kê mẫu điều tra 92
3.3.2 Kết quả phân tích thông kê các biến độc lập 97
3.3.3 Kết quả mô hình DEA 104
3.3.4 Kết quả phân tích kiểm định và hồi quy 107
3.4 Đánh giá việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 115
3.4.1 Kết quả đạt được 115
3.4.2 Những vấn đề đặt ra 116
3.4.3 Nguyên nhân 118
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 125
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM 126
4.1 Bối cảnh kinh tế xã hội trong nước và thế giới đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 126
4.2 Mục tiêu và định hướng nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 131
4.2.1 Mục tiêu nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 131
4.2.2 Định hướng 2030 132
4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 137
4.3.1 Nhóm giải pháp vĩ mô 137
4.3.2 Nhóm giải pháp vi mô 142
4.4 Hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu 151
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 153
KẾT LUẬN 154
Trang 8DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐƯỢC
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN CỦA NCS 156
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤC 176
Phụ lục 1 Lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp 176
Phụ lục 2 Các bộ tiêu chuẩn đánh giá CSR quốc tế 177
Phụ lục 3 Các quy định pháp lý liên quan đến các nội dung của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 181
Phụ lục 4: Các điều khoản thuộc trách nhiệm xã hội trong các thoả thuận tự do thương mại 187
Phụ lục 5: Doanh nghiệp FDI và các chương trình đóng góp cho cộng đồng tiêu biểu 190
Phụ lục 6: PHIẾU KHẢO SÁT 192
Phụ lục 7: Danh sách các doanh nghiệp tham gia khảo sát 193
Phụ lục 8: Kết quả chạy SPSS phiếu khảo sát 200
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết
tắt
Tên đầy đủ tiếng Anh Tên đầy đủ tiếng Việt
ATTP An toàn thực phẩm
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BVMT Bảo vệ môi trường
CSR Corporate Social
Responsibility
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
DEA Developed Efficiency
Analysis
Mô hình bao dữ liệu
DMU Decision Making Unit
ES Efficiency Score Hệ số hiệu quả
EU European Union Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài KCN Khu công nghiệp
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
PF Production Frontier Đường biên sản xuất
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Sự dịch chuyển trong nội dung nghiên cứu CSR qua các thời kỳ 9
Bảng 1.2 Các hướng nghiên cứu nghiên cứu tiêu biểu về CSR và danh tiếng của doanh nghiệp 13
Bảng 1.3 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR tại Việt Nam 16
Bảng 2.1 Các lý thuyết nghiên cứu về CSR và danh tiếng được sử dụng trong Luận án 41
Bảng 2.2 Các bên liên quan của doanh nghiệp FDI 46
Bảng 2.3 Các yếu tố đầu vào và đầu ra của mô hình 62
Bảng 3.1 Quy mô lao động của doanh nghiệp FDI theo thời gian từ 2012-2018 72
Bảng 3.2 Quy mô vốn của doanh nghiệp FDI theo thời gian từ 2012-2018 73
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu so sánh tốc độ tăng trưởng của 3 nhóm doanh nghiệp bình quân giai đoạn 2010-2017 75
Bảng 3.4 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI từ 2012-2018 82
Bảng 3.5 Mã hóa các biến 94
Bảng 3.6 Thống kê mô tả 96
Bảng 3.7 CSR đối với Chính phủ 97
Bảng 3.8 CSR đối với người lao động 98
Bảng 3.9 CSR đối với khách hàng 100
Bảng 3.10: So sánh kết quả khảo sát và kết quả thanh tra của Nhà nước 103
Bảng 3.11 Chỉ số hiệu quả theo ngành 105
Bảng 3.12 Kiểm định Cronbach’s Alpha 107
Bảng 3.13 Hệ số tương quan biến tổng 107
Bảng 3.14 Sự thay đổi của các biến sau các lần xoay 108
Bảng 3.15 Phân tích hệ số KMO và Kiểm định Bartlett 109
Bảng 3.16 Phân tích Tổng phương sai trích 109
Bảng 3.17 Ma trận xoay các biến độc lập 110
Bảng 3.18 Phân tích tương quan Pearson 112
Bảng 3.19 Phân tích ANOVA 113
Bảng 3.20 Thống kê tóm tắt mô hình 113
Bảng 3.21 Mô hình hồi quy 114
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Xu hướng dịch chuyển trong các nghiên cứu về CSR 23
Hình 1.2 Khoảng trống nghiên cứu của Luận án 25
Hình 1.3 Khung phân tích tổng thể của Luận án 27
Hình 2.1 Mô hình kim tự tháp (Carroll, 1991) 33
Hình 2.2 Khả năng tạo dựng giá trị cho doanh nghiệp thông qua thực hiện CSR với các bên liên quan 39
Hình 2.3 Các khía cạnh của CSR tương ứng với nội dung và các bên liên quan 42
Hình 2.4 Mối quan hệ giữa CSR và danh tiếng của doanh nghiệp 43
Hình 2.5 Nội dung CSR gắn với các bên liên quan của doanh nghiệp FDI 49
Hình 2.6 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI 53
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu 67
Hình 3.1 Tình hình thu hút FDI vào Việt Nam 69
Hình 3.2 Chỉ số hiệu quả của từng DN 104
Hình 3.3 Chỉ số hiệu quả theo quy mô lao động 106
Hình 3.4 Chỉ số hiệu quả theo số năm hoạt động 106
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khởi nguồn từ các nước phát triển, sau đó thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) phát triển rộng ra ở các nước đang phát triển và Việt Nam không phải là ngoại lệ, đặc biệt trong xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay Khái niệm CSR tại Việt Nam thường được xem xét từ khía cạnh của Chính phủ Có nghĩa là, CSR thường là những yêu cầu, đòi hỏi từ phía Chính phủ trong quá trình hoạt động tại địa phương, các doanh nghiệp (DN) cần phải có trách nhiệm với địa phương nơi mình hoạt động Ở góc tiếp cận này, các DN thực hiện CSR một cách bị động, và dưới góc độ chấp hành các quy định về pháp lý
Mặc dù vậy, trên thực tế, rất nhiều các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thực hiện CSR một cách chủ động có thể mang lại rất nhiều lợi ích cho DN như nâng cao năng suất của người lao động, tăng mức độ trung thành, tăng hiệu quả hoạt động, cải thiện danh tiếng, cải thiện mối quan hệ với các bên liên quan của DN do đó
DN nên tiếp cận CSR một cách chủ động Việc thực hiện CSR một cách chủ động không những giúp DN thỏa mãn các yêu cầu từ Chính phủ nước sở tại mà còn giúp
DN đạt được các mục tiêu phát triển, mục tiêu chiến lược khác Việc thực hiện CSR, nếu được các DN nhìn nhận một cách nghiêm túc sẽ tạo niềm tin cho người lao động và sự tin tưởng từ các nhà đầu tư Do đó, bên cạnh hướng tiếp cận từ Chính phủ coi thực hiện CSR như một nghĩa vụ và sự tuân thủ pháp luật, Luận án cũng đồng thời tiếp cận khái niệm CSR từ góc độ của chính DN, nhìn nhận CSR như một công cụ mà DN có thể sử dụng để quản trị mối quan hệ với các bên liên quan của DN qua đó đạt được các mục tiêu chiến lược
Trong các mục tiêu chiến lược của DN, mục tiêu duy trì và cải thiện danh tiếng dường như có vai trò quan trọng hơn cả Danh tiếng không chỉ là mục tiêu mà còn là một bước trung gian giúp DN đạt được tất cả các mục tiêu còn lại Một DN
có danh tiếng tốt sẽ giúp tạo dựng sự tin tưởng đối với khách hàng, các đối tác, Chính phủ qua đó giúp cho hoạt động kinh doanh, phát triển của DN thuận lợi hơn,
dễ dàng đạt được các mục tiêu về doanh số, thị trường, tài chính
Trang 13CSR không phải là một khái niệm mới nhưng ngày càng trở nên phổ biến hơn ở các DN trên toàn cầu (KPMG, 2015; Porter, 2006; Reid & Toffel, 2009) Sự phát triển của CSR luôn đồng hành với sự phát triển của các dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển những năm 1990s (Goyal, 2005) Sự tham gia của các DN FDI
có những tác động tích cực đến quốc gia nhận đầu tư thể hiện qua việc bổ sung vốn vào tổng vốn đầu tư quốc gia nhằm đạt được những mục tiêu tăng trưởng kinh tế; góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung thông qua việc tăng thẳng dư của cán cân vốn; tạo điều kiện cho các nước tiếp cận công nghệ mới, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, đồng thời nâng cao kỹ năng quản lý, sản xuất, trình độ NLĐ (Cao Thị Hồng Vinh, 2016) Tuy nhiên, trên thực thế, mặc dù nhận được nhiều ưu đãi, các DN FDI đang đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề bức xúc về môi trường và xã hội liên quan đến ô nhiễm môi trường, vi phạm đạo đức kinh doanh, thiếu trách nhiệm với an sinh an toàn của cộng đồng dân cư Chính những vấn đề
đó đang đòi hỏi các chủ thể kinh tế, đặc biệt là DN FDI, phải có trách nhiệm để góp phần giải quyết, nếu không bản thân sự phát triển kinh tế sẽ không bền vững và sẽ phải trả giả đắt về môi trường cũng như những vấn đề xã hội Do đó, DN FDI cần ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với sự phát triển bền vững của các quốc gia mà
DN đó đầu tư vào Nói cách khác, hoạt động của DN FDI ngoài mục tiêu lợi nhuận còn cần phải gắn liền với thực hiện CSR thông qua thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, bảo
vệ môi trường, đối xử có đạo đức với NLĐ, người tiêu dùng và các trách nhiệm khác với cộng đồng
Hiện nay, Việt Nam đang tham gia ký kết nhiều hiệp định thế hệ mới Các hiệp định thế hệ mới đều đề cập tới những khía cạnh khác nhau của CSR Do đó CSR của DN FDI đối với nước sở tại là yếu tố mang tính bắt buộc trong bối cảnh hội nhập DN FDI có vai trò vô cùng to lớn đối với nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt
là các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam Mặc dù vậy, những nghiên cứu về đề tài CSR chủ yếu được thực hiện ở các nước đã phát triển, còn ở các nước đang phát triển vẫn còn khá hạn chế, các lý thuyết CSR, khái niệm CSR trên thế giới không thể được áp dụng một cách máy móc vào trường hợp các nước đang phát triển hay trường hợp của Việt Nam do sự khác biệt về văn hoá,
cơ chế quản trị và đặc thù nền kinh tế Do vậy, các tác động, các mối quan hệ hay
Trang 14những kết quả của chủ đề này chưa được kiểm chứng, đánh giá đầy đủ mang lại những khó khăn cho nhà nghiên cứu và quản lý trong nước và thế giới Vì vậy, việc nghiên cứu về CSR đối với DN FDI tại các quốc gia đang phát triển lại càng quan trọng hơn bao giờ hết
Trong bối cảnh phát triển bền vững, các DN trên toàn thế giới đều quan tâm đến mục tiêu và triển khai thực hiện CSR Là nhóm DN có những ưu thế nhất định, khi tiến hành phát triển kinh doanh quốc tế, các DN FDI luôn tập trung thực hiện CSR và coi đó là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển Do đó,
nghiên cứu “Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam,
những vấn đề đặt ra và giải pháp” là cần thiết nhằm phân tích cụ thể việc thực
hiện các nội dung CSR của DN FDI và đề xuất một số giải pháp để nâng cao thực hiện CSR của nhóm DN này trong thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là nhằm nghiên cứu việc thực hiện CSR của
DN FDI tại Việt Nam, chỉ ra những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện
và thúc đẩy việc thực hiện CSR của DN FDI trong thời gian tới đến năm 2030
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Cụ thể hoá cho việc đạt được mục tiêu chung ở trên, luận án:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý thuyết về CSR của DN và nội dung CSR của DN FDI Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng và kết quả thực hiện CSR của DN FDI tại
Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020, từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn đọng
Thứ ba, xây dựng mô hình phân tích việc thực hiện CSR của DN FDI tại
Việt Nam tập trung vào mối liên quan giữa việc thực hiện CSR với việc nâng cao danh tiếng của DN
Thứ tư, đề xuất hệ thống giải pháp phù hợp, có tính khả thi và ứng dụng cao
nhằm nâng cao việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
1 CSR là gì? Hướng tiếp cận CSR của Luận án là gì?
2 DN FDI tại Việt Nam thực hiện CSR ở những nội dung nào?
Trang 152.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm nhằm đạt được mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu, 4 nhiệm vụ cụ thể đã được xác định như sau:
(i) Hệ thống hóa và bổ sung lý luận về CSR của DN FDI (xác định nội hàm, các bên liên quan và sự cần thiết của nghiên cứu CSR của DN FDI)
(ii) Phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam (iii) Tiến hành phân tích kết quả thực hiện CSR bằng cách sử dụng bảng câu hỏi điều tra, phân tích tác động của việc thực hiện CSR đối với các bên liên quan khác nhau của DN FDI đến danh tiếng của DN
(iv) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để giải quyết trọn vẹn các mục tiêu đã đặt ra, luận án tập trung nghiên cứu làm rõ ở các khía cạnh sau đây:
- Về không gian: Việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt
Nam trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2020 Đây là thời gian số lượng
và sự đa dạng của các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam nhiều nhất, đóng góp một phần lớn vào tăng trưởng kinh tế nước ta Bên cạnh đó, đây là thời gian Việt Nam tiến hành kí và thực thi các hiệp định quốc tế thế hệ mới như CPTPP và EVFTA, hai hiệp định có mức độ cam kết cao với nhiều nội dung liên quan đến CSR, việc
Trang 16nghiên cứu về CSR của DN FDI trong giai đoạn này sẽ có ý nghĩa quan trọng do có tính đại diện cao và phù hợp với bối cảnh hội nhập Các dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ 2016-2020, đây là giai đoạn NCS thực hiện luận án tiến sĩ, do vậy, các kết quả nghiên cứu về việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam có giá trị cả về thực tiễn, lý luận và có giá trị tham khảo trong các năm tới
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu về thực hiện CSR dưới góc độ của DN
và của Chính phủ Góc tiếp cận DN là cách nhìn hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển, bởi với xu thế phát triển toàn cầu, vai trò cũng như sự can thiệp của Chính phủ ngày càng được hạn chế, các DN cần theo đuổi việc thực hiện CSR một cách chủ động, có tính chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể, chứ không còn là cách tiếp cận thụ động, dưới góc độ chấp hành các quy định về pháp lý như trước Nghiên cứu đầy đủ cả hai góc tiếp cận giúp cho kết quả nghiên cứu có được sự đánh giá bao quát nhất về việc thực hiện CSR của DN
Bên cạnh đó, do phạm vi về CSR của DN FDI khá rộng, NCS chỉ tập trung vào trọng tâm nghiên cứu là phân tích thực trạng thực hiện, kết quả thực hiện CSR
và tác động của việc thực hiện CSR đối với các bên liên quan của DN FDI tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 Trên cơ sở đó, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế cũng như kết quả thực hiện và xác định nguyên nhân sâu xa của những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp, thực tiễn nhằm thúc đẩy các hoạt động này trong thời gian tới, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay (từ năm 2020), số lượng và độ lớn của các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam đang ngày càng tăng cao
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn dữ liệu
* Dữ liệu thứ cấp:
Các tài liệu được sử dụng để tham khảo trong Luận án bao gồm: Các số liệu, dữ liệu thống kê, cũng như các luận điểm nghiên cứu của các báo cáo và tài liệu nghiên cứu về CSR của DN FDI tại Việt Nam được thực hiện bởi các cá nhân,
tổ chức trong và ngoài nước Số liệu thống kê được lấy trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2020
Trang 174.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Nghiên cứu tại bàn (Phương pháp nghiên cứu tài liệu): Để thu thập dữ
liệu thứ cấp, NCS sử dụng phương pháp này để tìm kiếm, tổng hợp từ các nguồn như sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, các báo cáo tổng hợp của Bộ kế hoạch đầu tư, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), Viện nghiên cứu kinh tế trung ương (CIEM), đề tài nghiên cứu của các trường đại học, các website của các cơ quan ban ngành và các DN trong ngành cũng như của các tạp chí trong và ngoài nước Các dữ liệu thu thập được theo phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam
- Điều tra khảo sát: NCS sử dụng phương pháp này để thu thập được các dữ
liệu sơ cấp, phục vụ đánh giá sâu vào lĩnh vực nghiên cứu
+ Mẫu nghiên cứu:
Để thực hiện nghiên cứu, NCS đã tiến hành điều tra với số mẫu là 500 phiếu, đối tượng được điều tra là các chủ DN, trưởng phòng bộ phận chiến lược của DN FDI Số phiếu thu về là 233 phiếu, đạt tỷ lệ 46,6% Do hạn chế về thời gian cũng như kinh phí thực hiện Luận án nên NCS sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện – phi xác suất
Trang 18+ Đối tượng khảo sát: các chủ DN, trưởng phòng bộ phận chiến lược của
DN FDI trên lãnh thổ Việt Nam Đây là những người am hiểu về chức năng, nhiệm
vụ và các hoạt động của DN, do đó, câu trả lời của những đối tượng nay sẽ mang tính đại diện cao nhất
+ Thời gian điều tra tiến hành trong tháng 4/2018 Kết quả điều tra sau khi
đã làm sạch, thu được 208 phiếu có thể sử dụng để tiến hành chạy phân tích hiệu quả bằng phần mền DEAP 2.1 và phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy bằng phẩn mềm SPSS 22
* Phương pháp phân tích dữ liệu
Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp định tính: NCS sử dụng các phương pháp thống kê, mô tả, phân tích và tổng hợp để phân tích các dữ liệu thứ cấp Các đánh giá về thực trạng thực hiện CSR cũng dựa trên một số các nhận định, báo cáo và tự đánh giá của các bài nghiên cứu, đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước trong những năm gần đây
- Phương pháp định lượng:
+) NCS sử dụng công cụ phần mềm phân tích dữ liệu DEAP 2.1 và SPSS 22
để tổng hợp, phân tích dữ liệu sơ cấp NCS sử dụng phương pháp này với các tiêu chí như số lượng, phần trăm, số trung bình, tần suất, tỷ lệ để mô tả thực trạng thực hiện CSR và đánh giá kết quả thực hiện CSR đối với 4 bên liên quan quan trọng bao gồm Chính phủ, NLĐ, khách hàng và cộng đồng của DN FDI tại Việt Nam
+) NCS sử dụng phương pháp DEA để phân tích kết quả thực hiện CSR của
DN FDI tại Việt Nam
+) NCS sử dụng phương pháp kiểm tra độ tin cậy thang đo (hệ số Cronbach’s alpha), phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA – Exploratory Factor Analysis), sau đó thực hiện hồi quy đa tuyến tính xem có mối quan hệ tuyến tính giữa một biến phụ thuộc duy nhất (danh tiếng của DN) và các biến độc lập khác nhau (thực hiện CSR đối với 4 bên liên quan khác nhau, mỗi bên liên quan là một biến độc lập) nhằm ước lượng và kiểm định tác động của thực hiện CSR đối với các bên liên quan đến danh tiếng của DN FDI tại Việt Nam
5 Những đóng góp mới của Luận án
Luận án có một số đóng góp mới, cụ thể như sau:
Trang 19Thứ nhất, Luận án đã trình bày được tổng quan tình hình nghiên cứu cả trong
nước và trên thế giới về CSR nói chung và CSR của các DN FDI nói riêng Trên cơ
sở đó rút ra khoảng trống nghiên cứu về cả nội dung và phương pháp nghiên cứu
Thứ hai, Luận án đã trình bày các cơ sở lý luận về CSR, CSR của DN FDI,
các yếu tố tác động đến việc thực hiện CSR của DN FDI Xây dựng cơ sở lý thuyết
về mô hình đo lường việc thực hiện CSR của DN FDI
Thứ ba, Luận án đi sâu vào phân tích thực trạng thực hiện CSR của các DN
FDI tại Việt Nam đối với 4 bên liên quan tương ứng với các nội dung CSR tiêu biểu gắn liền với từng đối tượng (ở cả hai hướng tiếp cận: Nhà nước và DN) Đồng thời, Luận án cũng phân tích việc thực hiện CSR đối với các bên liên quan bao gồm Chính phủ, NLĐ, khách hàng và cộng đồng nhằm nâng cao danh tiếng của DN sử dụng phương pháp DEA, phương pháp kiểm tra độ tin cậy thang đo, phương pháp phân tích nhân tố khám phá và mô hình hồi quy dựa trên kết quả thu về của 208 phiếu điều tra để phân tích, đánh giá việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra kết quả, những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam Số liệu có nguồn gốc chất dẫn rõ ràng
Thứ tư, trên cơ sở các phân tích đánh giá việc thực hiện CSR của các DN
FDI tại Việt Nam và mục tiêu, định hướng thực hiện CSR của DN FDI, Luận án đã
đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi cao nhằm nâng cao việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận án
Ngoài danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án
Chương 2 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI Chương 3 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra
Chương 4 Giải pháp nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
1.1.1 Các nghiên cứu tiêu biểu về nội hàm CSR
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang trở thành chủ đề nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm trong vài thập kỷ gần đây Đã và đang có rất nhiều các công trình nghiên cứu chuyên sâu về CSR được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau Khi đề cập đến chủ đề CSR của DN, hầu hết các tác giả trên thế giới đều đi từ khái niệm CSR rồi mới mở rộng và nghiên cứu chuyên sâu về các mối quan hệ và các vấn đề liên quan Mặc dù vậy, mỗi tác giả lại tiếp cận các thuật ngữ này trên các góc nhìn khác nhau Sau đây, NCS tổng hợp các nghiên cứu về CSR qua các thời kỳ nhằm chỉ ra sự dịch chuyển cũng như phát triển trong nội dung nghiên cứu về CSR Đây sẽ là cơ sở giúp NCS xác định hướng nghiên cứ và hướng tiếp cận cho luận án của mình
Bảng 1.1 Sự dịch chuyển trong nội dung nghiên cứu CSR qua các thời
kỳ Thời
gian
Các nghiên cứu
chính
Nội dung chủ yếu
về khái niệm CSR
Kiểm soát các yếu tố bên ngoài DN
Xây dựng khái niệm,
cơ sở lý thuyết
Trung bình
1990s Freeman (1984), Tiếp cận theo các nghiên cứu thực Thấp
Trang 21các nghiên cứu thực nghiệm và lợi thế cạnh tranh
Rõ ràng
Nguồn: Lee, 2008 và NCS bổ sung
+) Trong những năm 1950 đến 1960, khái niệm CSR lần đầu tiên được đề cập hầu hết tập trung vào khía cạnh lý thuyết đối với các DN xã hội ở phạm vi vĩ
mô nhằm thúc đẩy việc thực hiện CSR Nổi bật, tác giả Bowen (1953) trong tác phẩm “trách nhiệm xã hội của doanh nhân” đã đưa ra cách tiếp cận được cho là tiên phong đối với CSR Cụ thể, CSR là nghĩa vụ của chủ DN trong việc theo đuổi các chính sách, đưa ra các quyết định hoặc thực hiện các chuỗi hoạt động được xã hội mong đợi xét cả về mục tiêu và giá trị của DN
+) Trong những năm 1970, một số nghiên cứu ra đời nhằm mục đích bác bỏ vai trò của CSR Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nhìn nhận dưới góc độ lợi ích của DN và cho rằng CSR là một tổn thất đối với doanh thu của DN và mục tiêu đối đa hoá lợi nhuận cho cổ đông (Friedman, 1970) Cũng trong những năm này, một số nghiên cứu phân tích hai quan điểm trái chiều về CSR nhằm tìm ra một góc nhìn đúng đắn nhất Wallich & McGowan (1970) đưa ra câu hỏi nghiên cứu liệu các
DN nên thực hiện CSR hay không? Ông cho rằng, dưới một góc nhìn hẹp tập trung vào tối đa hoá lợi nhuận cho cổ đông, quan điểm của Friedman là đúng đắn rằng
DN không nên thực hiện CSR Tuy nhiên, hoạt động của DN có mối quan hệ mật thiết đối với xã hội và các chủ thể xung quanh, do đó, DN cần thực hiện CSR nhằm đảm bảo những lợi ích dài hạn Quan điểm này đã mở ra hướng nghiên cứu mới về CSR và hiệu quả hoạt động của DN
+) Trong những năm 1980, nhiều nghiên cứu quan trọng ra đời tập trung vào các hoạt động xã hội của DN Nổi bật, Carroll (1979) đã khẳng định mục tiêu kinh
tế và mục tiêu xã hội của DN không phải là sự đánh đổi không tương xứng Mà thay vào đó, cả hai mục tiêu này được tích hợp vào mô hình CSR tổng hợp bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn Trong đó trách nhiệm kinh tế có
Trang 22thể có vai trò quan trọng hơn các trách nhiệm còn lại Tuy nhiên, mỗi trách nhiệm đều phải là một phần tích hợp trong CSR tổng thể của DN và DN cần có những chiến lược thực hiện cụ thể cho từng khía cạnh
+) Trong những năm 1990, nhiều nghiên cứu đã kế thừa cơ sở lý thuyết quan trọng của những năm trước để xây dựng các mô hình nghiên cứu thực nghiệm đưa
ra nhiều kết quả nghiên cứu quan trọng Cụ thể, Freeman(1984) đã đưa ra lý thuyết các bên liên quan và thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận về mục đích hoạt động của
DN Theo lý thuyết này, không còn sự khác biệt giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu
xã hội của DN, bởi vì mục tiêu cốt lõi ở đây là sự tồn tại của DN Trong khi đó, sự tồn tại của DN bị tác động không chỉ bởi cổ đông mà còn bởi rất nhiều các bên liên quan khác như NLĐ, Chính phủ và khách hàng Chính bởi lẽ đó, các nghiên cứu trong thời kỳ này tập trung vào mối quan hệ giữa CSR và các bên liên quan cụ thể của DN Đây chính là cơ sở để mở rộng ý nghĩa và phạm vi của CSR hơn nữa
+) Trong những năm 2000, các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra CSR đem lại hiệu quả tài chính và hiệu quả hoạt động cho DN (Orlitzky et al, 2003) Husted & Allen (2000) đưa ra khái niệm chiến lược là những kế hoạch và hành động được thực hiện để tạo ra những nguồn lực và khả năng đồng nhất nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững và hiệu quả kinh doanh tối ưu cho DN Các nghiên cứu này đề xuất cách tiếp cận CSR theo hướng quản trị chiến lược, sử dụng CSR như một công cụ chiến lược hữu hiệu giúp DN đạt được các mục tiêu của mình
Những nghiên cứu về CSR cho thấy sự dịch chuyển mạnh mẽ trong khái niệm CSR qua các thời kỳ Các khái niệm có sự khác nhau qua các thời kỳ chính là nhờ sự kế thừa và phát triển lên những lý luận mới mẻ Tất cả các cách hiểu đều cho thấy rõ tầm quan trọng của CSR đối với DN ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Theo thời gian, CSR không chỉ là một khái niệm được gắn liền với tính đạo đức mà càng ngày, khái niệm CSR lại được gắn nhiều hơn với DN trong cơ chế quản trị
1.1.2 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR đối với các bên liên quan
Điểm qua tình hình nghiên cứu tập trung vào CSR đối với các bên liên quan của DN, có thể nói, CSR mang đến đa dạng các lợi ích cho đa dạng các bên liên quan Do đó, việc thực hiện CSR một cách chất lượng, thực sự nghiêm túc sẽ mang
Trang 23đến lợi ích trực tiếp cho các bên liên quan, qua đó, mang đến lợi ích gián tiếp cho
DN trong dài hạn (Waddock & Graves, 1997; Luo & Bhattacharya, 2009)
CSR đối với Chính phủ
Đã có nhiều nghiên cứu chi ra vai trò của CSR đối với Chính phủ của một quốc gia thông qua việc đóng góp cho sự phát triền kinh tế, xã hội của quốc gia đó Trong nghiên cứu của mình, Skare & Golja (2014) đã thực hiện nghiên cứu trên 25 quốc gia trong suốt giai đoạn 2000 – 2008, và chỉ ra tầm quan trọng của CSR đối với tăng trưởng kinh tế (mối quan hệ thuận chiều) Theo nghiên cứu này, những quốc gia thúc đẩy thực hiện CSR mạnh mẽ thường có được tốc độ tăng trưởng cao hơn Ngược lại, các quốc gia không có môi trường tổ chức thực hiện CSR và có tính
hỗ trợ tốt sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế
CSR đối với NLĐ
Các DN có cam kết CSR mạnh thường có khả năng thu hút nhân tài và giữ chân NLĐ (Turban and Greening 1997; Tsoutsoura, 2004, Bauman và Mashruwala, 2007), dẫn đến giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo CSR tác động tích cực đến mức
độ cam kết của lao động vào các công việc được giao và kết quả làm tăng hiệu quả kinh doanh (Kang, 2009; Wieseke, et al., 2009) CSR có tác động ngược chiều với
sự bỏ việc của nhân viên và tăng tỷ lệ tuyển dụng được các nhân lực chất lượng cao trong tương lai (Carroll & Shabana, 2010; DeTienne, Agle, Phillips, & Ingerson,
2012) Solomon và Hanson (1985) chỉ ra rằng các hoạt động liên quan đến CSR sẽ
giúp cải thiện tinh thần của nhân viên, trong khi Banker và Mashruwala (2007) chỉ
ra các DN thực hiện CSR có mức độ thoả mãn trong công việc của nhân viên cao hơn Lee et al., (2012) chỉ ra nhận thức của nhân viên về CSR có tác động tích cực đến hiêu quả hoạt động của các công ty Hàn Quốc, mối quan hệ của nhân viên và
DN thực hiện CSR cũng tốt hơn
CSR đối với khách hàng
Nghiên cứu của Sen và Bhattacharya (2011) chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa thái độ và hành vi của khách hàng đối với các sản phẩm của công ty thực hiện các hoạt động CSR Khách hàng dựa vào danh tiếng của DN để đánh giá sản phẩm, vì vậy một DN có danh tiếng tốt sẽ đem lại những nhận định tích cực hơn đối với chất lượng sản phẩm và dịch vụ của DN đó (Shapiro, 1983) Xueming Luo &
Trang 24Bhattacharya (2006), Saei et al., (2015) Fatma và Rahman (2016) Karaosmanoglu et al., (2016) chỉ ra rằng CSR giúp gia tăng sự hài lòng, lòng trung thành và làm tăng doanh số bán hàng thông quan biến trung gian nhận thức của khách hàng Carroll & Shabana (2010) và Drucker (1984) khẳng định CSR có thể giúp DN thu hút các khách hàng mới
CSR đối với cộng đồng
Okeudo (2012) tìm ra mối quan hệ thuận chiều giữa CSR của DN và lợi ích cho toàn xã hội Cụ thể những lợi ích của CSR không chỉ là những lợi ích từ thiện
mà còn giúp tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, bởi
cơ sở hạ tầng sẽ được cải thiện giúp điều kiện kinh doanh tại các khu vực này trở nên hấp dẫn hơn
Do đó, DN có thể phát triển các mô hình kinh doanh với những giá trị cơ bản được thiết kế cho các bên liên quan khác nhau như như NLĐ, khách hàng, nhà cung ứng, Chính phủ, cộng đồng và nhà đầu tư Các lợi ích này đến từ việc thực hiện CSR một cách hiệu quả, qua đó mang lại lợi ích cho DN bao gồm các giá trị tài chính và phi tài chính trong dài hạn và ngắn hạn
1.1.3 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR và danh tiếng của doanh nghiệp
Các nghiên cứu chính thống tập trung phân tích mối quan hệ giữa CSR và danh tiếng của DN vẫn còn khá mới và hạn chế (Golob et al., 2013) Không những thế, hầu hết các nghiên cứu này lại tập trung vào mối quan hệ với khách hàng, NTD (Wang, 2010) Các nghiên cứu này coi khách hàng, NTD là một bên liên quan quan trọng và đánh giá nhận thức về CSR của đối tượng này đến hành vi và thái độ mua hàng (Becker-Olsen et al, 2006)
Bảng 1.2 Các hướng nghiên cứu nghiên cứu tiêu biểu về CSR và danh
tiếng của doanh nghiệp ở nước ngoài
Tác động của danh tiếng DN đến đối tượng khách hàng (sự hài lòng của
khách hàng, nhận thức của khách hàng, hành vi của khách hàng) (Trong
đó, CSR là công cụ để tạo dựng danh tiếng cho DN)
71,4%
Tác động của CSR đến danh tiếng , hình ảnh, thương hiệu 28,6%
Nguồn: Golob et al (2013), Pérez, Andrea (2015) và NCS
Trang 25Các nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa CSR và danh tiếng của DN chủ yếu
ở bối cảnh các nước phương tây như Hoa Kỳ (Michelon, 2011), Anh Quốc (Toms, 2002), Tây Ban Nha (Espinosa and Trombetta, 2004; De los Ríos et al., 2012) và
Bồ Đào Nha (Castelo and Lima, 2006) Một số nghiên cứu được thực hiện ở bối cảnh các quốc gia đang phát triển bao gồm Malaysia (Othman et al., 2011), Indonesia (Shauki, 2011), Libya (Bayoud and Kavanagh, 2012)
Đối tượng nghiên cứu trong chủ đề này hầu hết là khách hàng mà bỏ qua các bên liên quan quan trọng khác của DN như cổ đông, NLĐ, Chính phủ, cộng đồng Các nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa CSR và khách hàng (71,4%) và một
số ít các nghiên cứu đi theo hướng tiếp cận về tác động của CSR đến danh tiếng của
DN (29,6%) (Bảng 1.2) Mẫu nghiên cứu là DN thì lại chủ yếu là DN nội địa trong nước mà chưa có nhiều nghiên cứu tập trung vào DN FDI, DN đa quốc gia hay DN toàn cầu
Điểm yếu của các nghiên cứu này là tính đại diện không cao do tác giả chỉ nghiên cứu trường hợp của một hoặc một nhóm DN có thể tiếp cận được số liệu, nghiên cứu trường hợp của một nhóm công ty cùng đặc điểm, nguồn số liệu nghiên cứu chủ yếu là thứ cấp từ các báo cáo CSR của các tập đoàn
Trong các nghiên cứu chỉ ra lợi ích của CSR đối với DN, hướng nghiên cứu
CSR và danh tiếng của DN có nhiều không gian nghiên cứu hơn cả Thứ nhất, vai
trò của CSR và danh tiếng của DN ngày càng được nâng cao trong những năm gần đây, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị chiến lược, xét về cả mặt lý thuyết và thực
nghiệm Thứ hai, đây là một hướng nghiên cứu mới nên chưa nhận được nhiều sự
quan tâm, số lượng nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn chế cả trong và ngoài nước
Thứ ba, mặc dù ngày càng có nhiều mối quan tâm về mối quan hệ giữa CSR và
danh tiếng của DN, tuy nhiên ít nghiên cứu tìm ra được mối quan hệ tiềm năng giữa
hai khái niệm này Đây là những khoảng trống trong nghiên cứu mà NCS có thể khai thác
Trang 261.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Các nghiên cứu tiêu biểu về nội hàm CSR
CSR là khái niệm mới được du nhập vào Việt Nam khoảng hơn thập niên qua, bởi các công ty FDI, các công ty đa quốc gia và các công ty có nhà máy tại Việt Nam, thông qua các bộ quy tắc ứng xử Mặc dù vậy, hiện nay, số lượng các bài nghiên cứu về CSR tại Việt Nam còn hạn chế Các nghiên cứu của Việt Nam tập trung vào việc xây dựng và thống nhất quan điểm về CSR Một số nghiên cứu tiêu
biểu bao gồm: Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức (2009) trong bài viết “ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – CSR: một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý Nhà nước đối với CSR tại Việt Nam” đã khẳng định CSR là việc các
DN tối đa lợi nhuận nhưng vẫn thực hiện được các nghĩa vụ với môi trường và quốc
gia Phạm Văn Đức (2010) trong bài viết “ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách” đã chỉ ra rằng việc thực
hiện CSR là cách DN đóng góp lợi ích cho xã hội cũng như giúp bản thân DN phát
triển bền vững Hoàng Thu Thủy (2016) trong bài viết “ Nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam về trách nhiệm xã hội của công ty Yến Sào quyết định đến hành vi mua hàng” đã chỉ ra nội hàm chính phản ánh CSR gồm có ba điểm: Thứ nhất, DN cần gắn kết lợi ích kinh tể với sự phát triển chung của cộng đồng xã hội; Thứ hai, DN cần trú trọng đến ứng xử với các đối tượng có liên quan trong hoạt động của mình; Thứ ba, DN
cần thể hiện trách nhiệm với việc bảo vệ tài nguyên, môi trường, các hoạt động nhân đạo thiện nguyện nhằm đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội
Các đề tài về CSR được khai thác từ phạm vi hẹp đến rộng, nội dung từ đơn giản đến phức tạp Nội hàm của khái niệm CSR luôn được bổ sung phong phú, đa dạng hơn theo chiều hướng phát triển của xã hội, của thời đại Ví dụ, bên cạnh các công trình kế thừa những nghiên cứu của nước ngoài nhằm làm rõ khái niệm và nội dung của CSR, một số tác giả đã chủ động phân tích CSR ở những góc cạnh mới,
bổ sung những góc nhìn mới về khái niệm CSR Nổi bật, trong Luận án tiến sĩ triết
học của Nguyễn Thị Kim Chi (2016) với nội dung “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức biểu
hiện của CSR qua hướng tiếp cận triết học thông qua ba vị thế chính: (1) thiết chế kinh tế thuộc cơ sở hạ tầng, DN có mối quan hệ với thượng tầng kiến trúc, (2) thực
Trang 27thể xã hội, DN có mối quan hệ với tự nhiên, với (3) chủ thể trong xã hội, DN có mối quan hệ với các chủ thể khác trong xã hội
Nhìn chung, các bài viết đăng trong các tài liệu nêu trên đều đề cập đến một
số vấn đề lý luận và thực tiễn của CSR trong nước Cụ thể, nhận diện rõ hơn CSR trong xã hội hiện đại; chỉ ra xu thế tất yếu của việc thực hiện CSR tại Việt Nam; phân tích rõ hơn tình hình thực hiện CSR của các DN Việt Nam, từ đó đề xuất các chính sách, giải pháp tăng cường thực hiện CSR trong bối cảnh nước ta hiện nay
Mặc dù vậy, các nghiên cứu này có một nhược điểm là chủ yếu mang tính thống kê, mô tả, mang tính lý luận và định hướng chính sách Một số nghiên cứu mang tính tổng hợp phân tích, lý luận từ các tài liệu thứ cấp thì lại đưa ra những nhận định đánh giá, kinh nghiệm chủ quan của tác giả Phạm vi nghiên cứu còn hẹp chưa đi sâu vào các khía cạnh cụ thể của CSR
Bên cạnh đó, thực trạng và giải pháp cho vấn đề về CSR được trình bày trong các công trình trên, thường được thể hiện dưới góc độ kinh tế học, đạo đức học, khoa học và môi trường chứ chưa được đặt dưới góc độ của kinh tế quốc tế, kinh doanh quốc tế và quản trị chiến lược
Đồng thời, các nghiên cứu này thường đề cập một cách chung chung về CSR của DN Việt Nam, chưa có đề tài đề cập đến CSR của DN FDI Do đó, các vấn đề
về lý luận và kết quả nghiên cứu của các tác giả trước sẽ được NCS lựa chọn một cách có chọn lọc để đưa vào nghiên cứu của mình
1.2.2 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR đối với các bên liên quan
Bảng 1.3 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR tại Việt Nam
Các nhân tố thúc đẩy việc thực hiện CSR của DNNVV bao gồm lợi ích kinh tế, chính sách kinh tế
vĩ mô, trách nhiệm đạo đức, định hướng cộng đồng
Khảo sát 88 DNNVV trên địa bàn thành phố cần thơ và chạy mô hình kinh tế lượng nhân tố khám phá EFA
Trang 28in Managing Relationship Quality and Loyalty: An empirical Study among Vietnamese Young Consumers in Retail Context
Nhận thức về CSR của khách hàng có tác động tích cực trực tiếp đến sự trung thành, sự tin tưởng
và sự thoả mãn của khách hàng
CSR của DNNVV ngành may đang ở mức ứng phó, thụ động dưới áp lực của các bên liên quan hơn là chiến lược chủ động
Khảo sát 185
DN, định lượng
Nghiên cứu CSR ở các nội dung trách nhiệm nộp thuế, trách nhiệm với NLĐ, trách nhiệm với môi trường, các nhân tố ảnh hưởng
Khảo sát, định tính và định lượng
xã hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
CSR của các DNNVV tỉnh Đắk Lắk còn nhiều bất cập ở các nội dung:
đóng góp vào NSNN, chính sách đãi ngộ lao động, hoạt động BVMT
và vừa trong khu vực
CSR đối với NLĐ, môi trường
Khảo sát 120 DNNVV và
200 cán bộ
Trang 29Cảm nhận CSR ở các khía cạnh kinh tế, pháp lý, đạo đức, nhân văn có tác động đến niềm tin thương hiệu
Định lượng, khảo sát khách hàng
Nghiên cứu trường hợp
ở thành phố Hồ Chí Minh
CSR đối với NLĐ Khảo sát 31 cơ
sở SXKD cá thể và ba năm NLĐ, định tính
Nguyễn Thu
Linh và cs
(2008)
Trách nhiệm xã hội và môi trường của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Phân tích thực trạng CSR
ở các khía cạnh môi trường, người tiêu dùng, người lao động, cộng đồng
Thực hiện tốt CSR sẽ gia tăng kết quả tài chính, trường hợp DN FDI
Định lượng
Trần Thị Trách nhiệm xã hội Nghiên cứu CSR của Khảo sát, định
Trang 30ngành khách sạn ở các nội dung CSR đối với NLĐ, cộng đồng và môi trường
Thực hiện CSR giúp DN tạo dựng danh tiếng và danh tiếng là yếu tố trung gian giúp DN chiếm được niềm tin của khách hàng
và lòng trung thành của khách hàng
Khảo sát 350 khách hàng của ngân hàng,
mô hình SEM, SPSS20
Trần Thị
Nhinh
(2020)
Ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến sự gắn kết nhân viên dưới vai trò điều tiết của danh tiếng
tổ chức
CSR là đại diện của danh tiếng DN giúp gia tăng niềm tin tổ chức và sự hài lòng công việc của NLĐ qua đó tăng sự gắn kết của NLĐ với tổ chức
Khảo sát 480 NLĐ, định lượng
CSR tác động tích cực lên danh tiếng của thương hiệu là trung gian nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
và một số đề xuất
CSR có tác động đến danh tiếng, sự đổi mới và sự khác biệt hoá của DN
Định lượng
Nguồn: NCS tự tổng hợp
Trang 31Một số các tác giả trong nước đã thực hiện các nghiên cứu tiếp cận CSR và mối quan hệ với các bên liên quan từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy
và tạo dựng lợi ích cho DN
Tuy nhiên, các nghiên cứu về CSR thường chỉ tập trung vào một đối tượng
+) CSR đối với cộng đồng, môi trường (Châu Thị Lệ Duyên và Nguyễn Minh Cảnh, 2013); Trần Thị Minh Hòa và Nguyễn Thị Hồng Ngọc, 2014)
Hoặc một nhóm các đối tượng như:
+) CSR đối với Chính phủ, NLĐ và cộng đồng (Mai Lan Phương và cs.,2016
Trang 32vấn đề xã hội Mặc dù đã có những đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tuy nhiên việc thực hiện các CSR cốt lõi của khối DN này còn rất hạn chế Các nghiên cứu định lượng chưa đưa ra kết quả đồng nhất do có phạm
vi hẹp, mẫu khảo sát hạn chế hoặc chỉ nghiên cứu đối với một ngành nhất định; nội dung nghiên cứu cũng chưa bao quát, chưa có sự định nghĩa rõ ràng cho các nhân tố mục tiêu và nhân tố tác động Sự luận giải về mối quan hệ trong mô hình chưa có cơ
sở trích dẫn, chưa có sự luận giải thích hợp, chặt chẽ về các quy luật/mối quan hệ của các biến nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của các nghiên cứu trong nước tập trung vào nhóm DNNVV, có rất ít nghiên cứu tập trung vào nhóm DN FDI do những khó khăn trong việc thu thập dữ liệu nghiên cứu trong nhóm đối tượng này
1.2.3 Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR và danh tiếng của doanh nghiệp
Các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ giữa CSR và danh tiếng của DN khá hạn chế, chủ yếu được khai thác như một lợi ích của CSR đối với DN Cụ thể, Trần Thị Minh Hoà và Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2014) nghiên cứu tình huống trong lĩnh vực dịch vụ ngành khách sạn đã chỉ ra rằng lợi ích từ việc thực hiện CSR là gia tăng giá trị hình ảnh và danh tiếng thương hiệu Nghiên cứu của Hoàng Hải Yến (2016) phân tích vai trò của CSR trong lĩnh vực ngân hàng với sản phẩm mang tính
vô hình, nhấn mạnh tác động tích cực lên danh tiếng của thương hiệu là trung gian nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các nghiên cứu này hầu hết được triển khai bằng phương pháp nghiên cứu định tính, và chủ yếu tập trung vào nghiên cứu trường hợp một vài DN tiêu biểu hoặc một nhóm DN trong nước thuộc cùng một ngành Nguyễn Thị Phương Thảo và cs (2019) nghiên cứu nhóm khách hàng của ngân hàng ở thành phố Đà Lạt và chỉ ra rằng thực hiện CSR giúp DN tạo dựng danh tiếng và danh tiếng là yếu tố trung gian giúp DN chiếm được niềm tin của khách hàng và lòng trung thành của khách hàng Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào ngành dịch vụ với đối tượng khảo sát chính là khách hàng mà bỏ qua các bên liên quan khác Trên thực tế, danh tiếng không chỉ có vai trò quan trọng đối với khách hàng mà còn đối với nhiều bên liên quan khác tuỳ vào đặc điểm, quy mô và loại hình kinh doanh của DN Do đó, nếu chỉ tiếp cận CSR như công cụ xây dựng chiến danh tiếng đối với khách hàng là một hướng nghiên cứu rất nhỏ và chưa đầy đủ
Trang 333 mục tiêu chiến lược của DN bao gồm danh tiếng, sự đổi mới và khả năng tạo dựng
sự khác biệt Tuy nhiên mô hình nghiên cứu của đề tài là mô hình hồi quy đơn biến
do đó, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu chưa cao Khái niệm CSR được xây dựng trong bài được đo lường bởi 21 biến quan sát mà chưa đi sâu khám phá các nhân tố thành phần cấu thành Luận án của NCS nghiên cứu cùng đối tượng là CSR của nhóm DN FDI tuy nhiên tiếp cận ở góc độ CSR của các bên liên quan tác động đến danh tiếng của DN, sử dụng mô hình hồi quy đa biến cho ra nhiều kết quả phân tích chuyên sâu hơn Đồng thời Luận án cũng sử dụng i hai hướng tiếp cận từ phía Chính phủ và phía DN để có được sự đánh giá bao quát nhất về việc thực hiện CSR của DN
Qua tổng kết các công trình nghiên cứu tại Việt Nam, có thể nhận thấy, Luận
án không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
1.3 Khoảng trống nghiên cứu của đề tài
Từ những đánh giá về tổng quan tình hình nghiên cứu ở trên, có thể khẳng định rằng cho đến nay không có một công trình nghiên cứu nào trung lập với nội dung và phạm vi nghiên cứu của Luận án Trong các công trình nghiên cứu trên, NCS nhận thấy khoảng trống trong nghiên cứu lớn mà NCS qua nghiên cứu của mình mong muốn sẽ thu hẹp lại, để từ đây làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này
1.3.1 Về nội dung nghiên cứu
Số lượng công trình nghiên cứu về CSR ngày càng nhiều trong hai thập niên gần đây cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này đối với DN và xã hội
Trang 34Hình 1.1 Xu hướng dịch chuyển trong các nghiên cứu về CSR
Nguồn: NCS tự tổng hợp
Về nội dung, các nghiên cứu về CSR theo thời gian đã có những điểm thay
đổi rõ rệt, chuyển biến nghiên cứu từ cấp độ vĩ mô (xem xét mối quan hệ của CSR với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, xã hội) sang vi mô (xem xét mối quan hệ của CSR với các khía cạnh của DN như các bên liên quan hay các mục tiêu tài chính và phi tài chính của DN) Các nghiên cứu có sự dịch chuyển từ coi CSR là một đối tượng nghiên cứu thuộc môi trường bên ngoài của DN (CSR và các bên liên quan của DN) sang coi CSR là một đối tượng nghiên cứu thuộc môi trường bên trong của DN (CSR là một nguồn lực của DN, mối quan hệ giữa CSR và các mục tiêu của DN, CSR gắn với chiến lược kinh doanh) Các nghiên cứu cũng có sự dịch chuyển từ việc xem thực hiện CSR như một nghĩa vụ sang chủ động theo đuổi chiến lược CSR để đạt được các mục tiêu của DN Phạm vi nghiên cứu có sự dịch chuyển
từ nghiên cứu trường hợp của các DN sản xuất sang nghiên cứu trường hợp của các
DN kinh doanh dịch vụ Mỗi công trình có cách tiếp cận khác nhau, tổng hợp các cách tiếp cận ấy sẽ cho ta một cái nhìn tổng thể, đa chiều về hình ảnh của CSR trong một xã hội nhất định Các nghiên cứu này được thực hiện ở nhiều ngành, tại nhiều quốc gia khác nhau Mặc dù vậy, các kết quả nghiên cứu chưa thống nhất Việc không thống nhất này sẽ dẫn đến không giải quyết triệt để bài toán về CSR do thực tiễn đặt ra Các bằng chứng chủ yếu đến từ các nước có nền kinh tế phát triển,
Phạm vi Vĩ mô Vi mô
Xã hội Doanh nghiệp Bên ngoài Bên trong Hướng tiếp cận Chính phủ Doanh nghiệp
Nghĩa vụ Chủ động Đối tượng nghiên cứu DN sản xuất DN dịch vụ
Các nước đã phát triển Các nước đang phát triển Phương pháp nghiên cứu Định tính Định lượng
Trang 35các nghiên cứu DN ở các nền kinh tế mới nổi vẫn còn khá hạn chế Các nghiên cứu
về CSR được thực hiện ở các nước đang phát triển dưới góc nhìn của các nước đang phát triển do đó những khái niệm, yếu tố, khung lý thuyết được phát triển cho trường hợp các nước đã phát triển và không thể sử dụng máy móc đối với trường hợp của các quốc gia đang phát triển Tại Việt Nam, các DN, cơ chế quản lý, văn hoá DN có đặc thù nhất định, không thể áp dụng nguyên si mô hình lý thuyết về CSR của học giả nước ngoài vào thực tiễn trong nước Cần thiết có nghiên cứu mang tính định hướng, hệ thống hơn Khoảng cách nghiên cứu lớn giữa các nghiên cứu nước ngoài và trong nước tạo điều kiện cho các nghiên cứu trong nước có không gian để tiếp tục bổ sung và phát triển
Dựa trên đánh giá chung về nội dung của các nghiên cứu, NCS chỉ ra các khoảng trống mà qua đó Luận án sẽ được nghiên cứu như sau:
- Các nghiên cứu về CSR chủ yếu tập trung vào 1 bên liên quan cụ thể, hoặc một nhóm nhỏ (nhóm 2 hoặc nhóm 3) các bên liên quan Luận án nghiên cứu CSR đối với 4 bên liên quan nổi bật là Chính phủ, NLĐ, khách hàng và cộng đồng
- Các nghiên cứu về CSR chủ yếu tập trung phân tích 1 hoặc 1 vài khía cạnh của CSR, Luận án nghiên cứu đầy đủ các nội dung CSR của mô hình kim tự tháp Carroll (1991) bao gồm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện
- Các nghiên cứu về CSR chủ yếu tập trung khai thác từ hướng tiếp cận Chính phủ, điều tra đánh giá việc thực hiện CSR trên khía cạnh pháp lý, Luận án khai thác từ cả hai hướng tiếp cận bao gồm hướng tiếp cận từ phía Chính phủ (phạm
vi pháp lý và những yêu cầu từ phía Nhà nước) và hướng tiếp cận từ phía DN (CSR
là một nguồn lực giúp xây dựng danh tiếng của DN)
- Các nghiên cứu về CSR và danh tiếng của DN chủ yếu tập trung vào mối quan hệ của khách hàng và DN (CSR đối với khách hàng, cảm nhận CSR của khách hàng, nhận thức CSR của khách hàng), Luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa CSR
và danh tiếng từ việc thực hiện CSR đối với cả 4 bên liên quan bao gồm Chính phủ, NLĐ, khách hàng và cộng đồng
- Các nghiên cứu về CSR chủ yếu tập trung vào đối tượng DN nội địa, Luận
án nghiên cứu trường hợp của nhóm DN FDI, nhóm DN được đòi hỏi cao trong
Trang 36Hình 1.2 Khoảng trống nghiên cứu của Luận án
Nguồn: NCS đề xuất
1.3.2 Về phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, có sự dịch chuyển từ các nghiên cứu lý luận, tổng hợp, phân tích so sánh sang các nghiên cứu chuyên sâu, phỏng vấn chuyên gia, nghiên cứu tình huống sang các nghiên cứu định lượng sử dụng giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp
CSR đối với các bên liên quan
Danh tiếng &
CSR đối với Chính phủ, NLĐ,
Trang 37Các công trình nghiên cứu trên thế giới sử dụng khá nhiều phương pháp định tính, định lượng hoặc kết hợp cả hai, các công trình nghiên cứu tại Việt Nam lại chủ yếu sử dụng phương pháp định tính, phương pháp định lượng được sử dụng ít và
kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng thì rất hạn chế Luận án mạnh dạn tiếp thu và sử dụng có chọn lọc cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong phân tích việc thực hiện CSR của DN FDI tại Việt Nam và đánh giá tác động của thực hiện CSR đến danh tiếng của DN Từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao việc thực hiện CSR của các DN FDI tại Việt Nam trong thời gian tới
Trình tự nghiên cứu của luận án được thể hiện qua khung phân tích như sau:
Trang 38Nam
CSR đối với cộng đồng
CSR đối với khách hàng
CSR đối với NLĐ
CSR đối với Chính phủ
Thực trạng thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
Các yếu tố tác động đến việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI
Nhóm yếu tố bên ngoài
Nhóm yếu tố bên trong TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH
NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 Luận án giới thiệu đề tài, đã trình bày được tổng quan tình hình nghiên cứu cả trong nước và trên thế giới về CSR nói chung và CSR của DN FDI nói riêng Trên cơ sở đó rút ra khoảng trống nghiên cứu cả về nội dung và phương pháp nghiên cứu, từ đó, xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của Luận án
về lý thuyết và thực tiễn, kết cấu của Luận án
Trang 40CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP FDI 2.1 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Mặc dù, CSR của DN đã trở thành chủ đề nghiên cứu mới trong vài thập kỷ gần đây nhưng có rất nhiều lý luận xung quanh chủ đề này Có nhiều nghiên cứu lý luận cũng như thực nghiệm, nhưng chưa có một khái niệm nhất quán nào về CSR Wood (2010) cho rằng CSR rất khó để định nghĩa, mỗi đối tượng khác nhau lại có cách nhìn nhận khác nhau về CSR Mỗi ngành nghề, tổ chức, Chính phủ nhìn nhận CSR theo những góc độ và quan điểm riêng, từ đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR
Thuật ngữ CSR được đề cập từ những năm đầu thế kỷ 20 Các học giả đã đưa ra nhiều cách khác nhau để định nghĩa khái niệm này Chẳng hạn, Friedman Milton (1970) cho rằng CSR duy nhất của một DN là làm sao để tối đa hóa lợi nhuận và tăng giá trị DN trong thị trường cạnh tranh trung thực và công bằng Ông cho rằng CSR thuộc về Nhà nước, nên người chủ DN chỉ nên thực hiện các CSR mà
họ mong muốn và đã có sự thông qua của các cổ đông Keith Davis (1973) đã đưa
ra một khái niệm khá rộng, CSR là sự quan tâm và phản ứng của DN với các vấn đề vượt ra ngoài việc thoả mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ Trong khi
đó, Carroll (1979) cho rằng, CSR còn có phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm cả trách nhiệm kinh tế, đạo đức, pháp lý, từ thiện và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi từ DN trong mỗi thời điểm nhất định Cùng với quan điểm này, Matten và Moon (2004) cho rằng, CSR là một khái niệm chùm, bao gồm nhiều khái niệm khác nhau, như đạo đức kinh doanh, DN làm từ thiện, NLĐ, tính bền vững và trách nhiệm môi trường
Một số DN lựa chọn tiếp cận CSR theo quan điểm chiến lược thay vì đạo đức kinh doanh như trước đây DN chủ động sử dụng CSR như là công cụ chiến lược để đáp ứng sức ép từ thị trường và khách hàng với các hành động vượt hơn quy định của luật pháp về môi trường, xã hội (Carroll & Shabana, 2010; Wood, 2010) Hội đồng các DN quốc tế vì phát triển bền vững (WBCSB) đưa ra khái niệm CSR là những cam kết của DN trong việc hướng tới phát triển kinh tế bền vững